Công ty được giao nhiệm vụ tổ chức lưu thông, kinh doanh tiêu thụ và bình ổn giá cả xi măng trên địa bàn thành phố Hà Nội với hình thức là tổng đại lý tiêu thụ sản phẩm cho các doanh ngh
Trang 1THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG TÀI SẢN LƯU ĐỘNG Ở
CÔNG TY VẬT TƯ KỸ THUẬT XI MĂNG
I ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC QUẢN LÝ SẢN XUẤT KINH DOANH Ở CÔNG
TY VẬT TƯ KỸ THUẬT XI MĂNG.
1 Lịch sử hình thành và phát triển.
- Công ty vật tư kỹ thuật xi măng được thành lập theo quyết định số 023A/BXD-TCLĐ ngày 12/2/1993 của Bộ trưởng Bộ Xây Dựng Công ty vật tư kỹ thuật xi măng là một doanh nghiệp Nhà nước hạch toán kinh doanh độc lập thuộc Tổng Công ty xi măng Việt Nam
- Tại quyết định số 445/BXD-TCLĐ ngày 30/09/1993 của Bộ trưởng
Bộ Xây Dựng đã bổ sung thêm chức năng nhiệm vụ, quyền hạn cho công
ty Theo đó hoạt động kinh doanh của công ty được mở rộng, đó là việc công ty được phép tham gia các liên doanh nghiền xi măng
- Từ ngày 1/8/1995 để phù hợp với tình hình thực tế, các hoạt động liên doanh của Công ty được bàn giao lại cho các thành viên khác thuộc Tổng Công ty xi măng Việt Nam
- Ngày 10/07/1996, Chủ tịch Hội đồng quản lý Tổng Công ty xi măng Việt Nam ra Quyết định số 833/HĐQL-TCTXMVN quyết định sáp nhập hai chi nhánh Hà Nội của Công ty xi măng Bỉm Sơn và Công ty xi măng Hoàng Thạch vào Công ty vật tư kỹ thuật xi măng Công ty được giao nhiệm vụ tổ chức lưu thông, kinh doanh tiêu thụ và bình ổn giá cả xi măng trên địa bàn thành phố Hà Nội với hình thức là tổng đại lý tiêu thụ sản phẩm cho các doanh nghiệp sản xuất như: Công ty xi măng Hoàng Thạch, Bỉm Sơn, Hải Phòng Công ty sẽ được hưởng hoa hồng đại lý và phải chịu trách nhiệm tiêu thụ xi măng theo kế hoạch được giao
- Từ ngày 1/1/1998 Tổng Công ty xi măng Việt Nam quyết định mở rộng địa bàn hoạt động của Công ty vật tư kỹ thuật xi măng ra các tỉnh Hà Tây, Hoà Bình, Sơn La và chuyển đổi hình thức kinh doanh từ "Tổng đại lý tiêu thụ" sang hình thức mua đứt bán đoạn giữa Công ty vật tư kỹ thuật xi
Trang 2măng và các Công ty sản xuất xi măng theo giá cả được qui định bởi giá sàn và giá trần của Tổng Công ty xi măng Việt Nam.
2 Chức năng và nhiệm vụ của công ty vật tư kỹ thuật xi măng:
- Kinh doanh vật liệu xây dựng, chủ yếu là xi măng của các Công ty sản xuất xi măng thuộc Tổng Công ty xi măng Việt Nam Địa bàn hoạt động của công ty hiện nay là toàn bộ thành phố Hà Nội và 14 tỉnh phía Bắc như Hà Tây, Hoà Bình, Sơn La, Vĩnh phúc,
- Bình ổn giá cả và số lượng xi măng trên địa bàn Công ty phụ trách trên cơ sở kế hoạch, chỉ tiêu của Tổng Công ty
3 Cơ cấu tổ chức quản lý công ty:
Sau nhiều lần sáp nhập, mở rộng địa bàn, tới nay biên chế Công ty vật tư kỹ thuật xi măng có 950 cán bộ công nhân viên công tác ở văn phòng Công ty, xí nghiệp vận tải trực thuộc Công ty, các cửa hàng bán lẻ, 6 chi nhánh của Công ty tại Hà Tây, Hoà Bình, Thái Nguyên, Việt Trì, Bắc Ninh, Lạng Sơn Tuy địa bàn hoạt động rất rộng lớn nhưng bộ máy quản lý của Công ty khá gọn nhẹ và hoạt động có hiệu quả Ở đây ta chỉ xem xét cơ cấu quản lý tổ chức tại văn phòng Công ty
Để thực hiện tốt nghiệm vụ của Tổng Công ty giao cho Công ty vật
tư kỹ thuật xi măng có cơ cấu quản lý được tổ chức theo mô hình trực tuyến chức năng Mối quan hệ giữa các bộ phận được mô tả trên sơ đồ sau: (Trang bên)
Công ty vật tư kỹ thuật xi măng được Bộ Xây Dựng, Tổng Công ty xi măng giao nhiệm vụ lưu thông kinh doanh tiêu thụ xi măng trên địa bàn thành phố Hà Nội
Ngay từ mục tiêu đó đã rõ ràng mặt hàng kinh doanh chủ yếu của Công ty vật tư kỹ thuật xi măng là xi măng các loại Mặt hàng xi măng của Công ty là xi măng sản xuất lò quay hiện đại của 4 Công ty xi măng lớn nhất nước ta:
+ Xi măng Hoàng Thạch của Công ty xi măng Hoàng Thạch
Trang 3+ Xi măng Bỉm Sơn của Công ty xi măng Bỉm Sơn.
+ Xi măng Hải Phòng của Công ty xi măng Hải Phòng
+ Xi măng Bút Sơn của Công ty xi măng Bút Sơn
Bên cạnh đó, Công ty còn kinh doanh một số loại xi măng khác như:
xi măng Chifon, xi măng X77, xi măng X78 nhưng khối lượng không đáng kể
Do yêu cầu nhiệm vụ Công ty tiến hành theo phương thức tổng đại lý hưởng hoa hồng vừa tổ chức bán lẻ vừa giao cho đại lý Cho đến 12/1997 tổng số cửa hàng bán lẻ của công ty là 80 cửa hàng, tổng số đại lý bán hàng cho Công ty là 80 đại lý Việc giao nhận hàng của Công ty được thực hiện thông qua đường thuỷ, đường sắt và đường bộ, Công ty chịu trách nhiệm vận tải xi măng từ nơi sản xuất tới nơi tiêu thụ
Với số lượng mặt hàng, khối lượng cửa hàng, đại lý và với một địa bàn hoạt động rộng khắp như vậy thì việc giao nhiệm vụ cho các bộ phận trong Công ty cũng dựa trên chức năng của phòng ban đó
a Ban giám đốc.
- Giám đốc: Chịu trách nhiệm trước cấp trên về công ty Có quyền hành chỉ đạo mọi hoạt động của công ty
- Phó giám đốc kinh doanh: chịu trách nhiệm điều hành kinh doanh
- Phó giám đốc vận tải: chịu trách nhiệm đơn vị vận tải hàng hoá bằng các phương tiện, vận chuyển hàng nội bộ doanh nghiệp và từ đầu nguồn
b Các phòng ban chịu trách nhiệm các bộ phận công việc.
- Phòng kinh tế kế hoạch: Lập các kế hoạch dài hạn, ngắn hạn, ký kết hợp đồng kinh tế
- Phòng tài chính kế toán: Tổ chức thực hiện công tác kế toán, tài chính thông kê của đơn vị, quản lý vật tư, tài sản
- Phòng tổ chức lao động: quản lý về nhân sự, quản lý ngày công, quản lý con người, tính lương cho toàn thể CBCNV trong công ty
Trang 4- Phòng thanh tra và quản lý thị trường: chịu trách nhiệm về mặt luật pháp và quản lý thị trường.
- Phòng quản lý bán lẻ: tổ chức mạng lưới bán lẻ, quản lý các cửa hàng bán lẻ của công ty trên khắp địa bàn thành phố Hà Nội
- Phòng quản lý đại lý: Tổ chức cho đại lý và quản lý tất cả các đại lý của công ty bao gồm 80 đại lý trên địa bàn Thành phố Hà Nội và đại lý ở các tỉnh
- Phòng quản lý kho: Quản lý toàn bộ các kho của doanh nghiệp, phụ trách hàng nhập từ đầu nguồn về kho, bảo quản, dự trữ, xuất kho cho các đại lý, các cửa hàng
- Phòng điều độ giao nhận: Tổ chức nhập hàng, quản lý về kiểm nhận hàng, đảm bảo về mặt chất lượng, chủng loại xi măng
- Văn phòng công ty: là trụ sở của công ty gồm các phòng ban có nhiệm vụ tổ chức phục vụ
- Xi măng vận tải: Tổ chức vận chuyển xi măng về địa bàn và nội bộ Dưới Xí nghiệp vận tải có các đội xe và xưởng sửa chữa
Đứng đầu mỗi phòng ban là trưởng phòng và phó phòng sẽ nhận chỉ thị từ các thành viên trong ban giám đốc tuỳ theo sự quản lý trực tiếp của các thành viên đó
4 Đặc điểm về hoạt động kinh doanh ở công ty vật tư kỹ thuật xi măng:
a Một số hoạt động kinh doanh chủ yếu của công ty vật tư kỹ thuật
xi măng.
* Công tác kế hoạch:
Công ty vật tư kỹ thuật xi măng chủ động xây dựng các kế hoạch dài hạn và ngắn hạn Kế hoạch sản xuất kinh doanh toàn diện được cấp trên là Tổng Công ty xi măng Việt Nam duyệt và cân đối các nhu cầu cần thiết Công ty có trách nhiệm đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ và thực hiện đầy đủ các hợp đồng kinh tế với khách hàng Ngoài việc thực hiện đầy đủ kế hoạch pháp lệnh căn cứ vào thị trường Công ty được quyền chủ động sản
Trang 5xuất liên doanh liên kết tiêu thụ sản phẩm bằng nguồn vật tư lao động được cân đối theo pháp lệnh hiện hành.
Căn cứ vào kế hoạch đã được duyệt Công ty vật tư kỹ thuật xi măng
tự lựa chọn các phương thức bán, giao nhiệm vụ thích hợp cho các đơn vị nội bộ và ký kết các hợp đồng kinh tế với các cơ quan thuộc các thành phần kinh tế
* Công tác kỹ thuật và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật.
Công ty vật tư kỹ thuật xi măng được quyền ký kết các hợp đồng kinh tế với các tổ chức cá nhân, tập thể nghiên cứu khoa học và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào kinh doanh sản xuất Được phép sử dụng các quỹ để thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học để phục vụ kinh doanh sản xuất
và quản lý Công ty Công ty được quyền kiểm tra xử lý các trường hợp vi phạm quy trình quy phạm và các định mức kinh tế kỹ thuật ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, hiệu quả kinh tế của Công ty, thực hiện đầy đủ các quy định của Nhà nước về chất lượng sản phẩm
* Công tác cung ứng vật tư.
Đảm bảo về tiêu thụ sản phẩm trên cơ sở các chỉ tiêu đã được Nhà nước cân đối Công ty có trách nhiệm cung cấp đầy đủ vật tư kỹ thuật và các điều kiện vật chất khác để các đơn vị trực thuộc phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ được giao
* Công tác tạo nguồn bán lẻ xi măng.
Xi măng là loại vật tư hàng hoá mà Nhà nước độc quyền từ khâu sản xuất đến khâu lưu thông phân phối Hoạt động kinh doanh xi măng của Công ty vật tư kỹ thuật xi măng cũng như các đơn vị kinh doanh xi măng khác: địa bàn hoạt động, lượng mua vào bán ra theo kế hoạch của cấp trên
đó là Tổng công ty xi măng Trên cơ sở đó đồng thời căn cứ vào lượng tồn kho xi măng tại Hà Nội, nhu cầu tiêu thụ xi măng trên địa bàn thành phố hàng năm, hàng quý, hàng tháng Công ty vật tư kỹ thuật xi măng quy định lượng xi măng nhập về Hà Nội trong thời gian đó
Trang 6Bên cạnh công việc bán hàng với mạng lưới bán lẻ rộng khắp Công ty còn đầu tư mở rộng các kho để đảm bảo dự trữ xi măng theo qui định và tổ chức vận tải xi măng từ đầu nguồn bằng đường sắt, đường thuỷ và đường bộ.
b Phương thức kinh doanh và các hình thức tiêu thụ của công ty vật tư kỹ thuật xi măng.
Việc triển khai thực hiện lưu thông, kinh doanh tiêu thụ xi măng trên địa bàn Hà Nội theo mô hình tổng đại lý của Công ty vật tư kỹ thuật xi măng cho các doanh nghiệp sản xuất xi măng được tiến hành theo hợp đồng
ký kết giữa các đơn vị và theo phương thức:
- Công ty xi măng Hoàng Thạch, Bỉm Sơn chịu trách nhiệm vận chuyển đưa xi măng đến ga, cảng tại địa bàn Hà Nội đủ số lượng kế hoạch của Tổng công ty xi măng
- Công ty vật tư kỹ thuật xi măng tổ chức tiếp nhận, bán buôn, bán lẻ theo số lượng kế hoạch Công ty xi măng Bỉm Sơn, Hoàng Thạch đã được Tổng Công ty giao và được hưởng phí hoa hồng đại lý
Với phương thức trên cùng một mạng lưới các cửa hàng bán buôn bán
lẻ và các đại lý xi măng thi việc phân phối xi măng của Công ty vật tư kỹ thuật
xi măng được thựuc hiện dưới hình thức sau:
- Bán trực tiếp cho những khách hàng có nhu cầu tiêu thụ với khối lượng thông qua việc ký kết hợp đồng (kênh phân phối trực tiếp)
- Bán lẻ cho khách hàng thông qua mạng lưới các cửa hàng, các đại
lý bán lẻ xi măng cho Công ty (kênh phân phối gián tiếp)
Trang 7Sơ đồ2 : Khái quát kênh phân phối xi măng của Công ty vật tư kỹ
thuật xi măng.
Các công ty xi măng đầu nguồn Công ty vật tư kỹ thuật xi măng
Người tiêu dùng Cửa h ng à bán lẻ xi măng Cửa h ng à đại lý lại xi măng cho công ty
c Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh năm 1997.
Trích báo cáo kế toán của Công ty vật tư kỹ thuật xi măng năm 1997
- Chi phí quản lý doanh nghiệp 6.433.967.009
- Chi phí hoạt động tài chính
- Chi phí hoạt động khác 24.010.129.020
3 Tổng lợi nhuận thực hiện trong năm 6.021.093.302
4 Tổng số đã nộp ngân sách 3.750.000.000
Trang 8a Mô hình bộ máy kế toán của công ty:
* Hình thức kế toán, chức năng sổ sách sử dụng trong công tác hạch
toán kế toán tại công ty vật tư kỹ thuật xi măng.
Về mặt lý luận, tổ chức hạch toán kế toán được đề cập đến như một trong những vấn đề cốt lõi của khoa học kế toán Hạch toán kế toán là một
hệ thống có mục tiêu, hướng đích thể hiện ở sản phẩm là những chỉ tiêu, những dự kiện phản ánh và kiểm soát quá trình kinh doanh của một doanh nghiệp
Để thích hợp với loại hình kinh doanh của mình và phù hợp với việc thực hiện công tác kế toán trên máy vi tính đang tiến hành tại Công ty, Công ty vật tư kỹ thuật xi măng đã tận dụng hình thức kế toán sổ Nhật ký chung và hạch toán theo phương pháp Kê khai thường xuyên
Như vậy Công ty vật tư kỹ thuật xi măng đã thực hiện hình thức sổ Nhật ký chung theo quy định và chế độ kế toán ban hành ngày 1/11/1995 trong quyết định số 1141 TC/CĐKT của Bộ trưởng Bộ Tài Chính Các sổ
kế toán bao gồm: sổ cái tài khoản, sổ nhật ký chung, bảng cân đối kế toán, bảng cân đối số phát sinh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và bảng thuyết minh báo cáo tài chính theo quy định hiện hành
Trang 9Trình tự luân chuyển chứng từ là ghi sổ kế toán của Công ty được thể hiện ở sơ đồ 3.
Trong đó:
Sơ đồ 3 : Trình tự luân chuyển chứng từ theo hình thức Nhật ký
chung tại Công ty vật tư kỹ thuật xi măng
CHỨNG TỪ KẾ TOÁN NHẬT KÝ CHUNG
SỔ CÁI BẢN CÂN ĐỐI SỐ PHÁT SINH BÁO CÁO KẾ TOÁN NHẬT KÝ CHUNG
SỔ HẠCH TOÁN CHI TIẾT
Ghi h ng ng yà à
Ghi cuối tháng
Đối chiếu so sánh
Trang 10
b Bộ máy kế toán của Công ty vật tư kỹ thuật xi măng
- Kế toán trưởng chịu trách nhiệm trước ban giám đốc về tình hình kế toán đồng thời chỉ đạo chung công tác kế toán của phòng tài chính kế toán Công ty
- Hai phó phòng kế toán: Một người chỉ đạo chung về kế toán bán hàng hoá và một người chỉ đạo phòng máy
- Bộ phận kế toán hàng hoá: Phụ trách kế toán mua hàng, bán hàng quản lý tình hình nhập, xuất, tồn hàng hoá, vật tư và thanh toán công nợ mua hàng
- Bộ phận kế toán thanh toán: Bao gồm kế toán tiền mặt chịu trách nhiệm về tình hình thu chi tiền mặt tại quỹ Kế toán TGNH, vay ngân hàng chịu trách nhiệm thực hiện phần hành kế toán thanh toán qua ngân hàng
- Bộ phận kế toán vật tư tài sản: theo dõi tình hình sử dụng tài sản cố định của Công ty như mua, bán, thanh lý , bảng trích khấu hao và phân bổ khấu hao tài sản cố định vào chi phí kinh doanh, tập hợp chi phí kinh doanh
- Bộ phận kế toán tổng hợp máy tính: Kế toán tổng hợp kiểm tra, đối chiếu, lập báo cáo, kế táon bộ phận máy tính lưu trữ số liệu trên cơ sở chứng từ nhập vào máy tính và máy sẽ tiến hành kết chuyển lên các sổ kế toán, cho ra các báo cáo kế toán phục vụ cho nhu cầu quản lý và báo cáo lên cấp trên
Hàng ngày khi phát sinh nghiệp vụ ở các kho, các cửa hàng, đại lýnhân viên cửa hàng lập hoá đơn kiêm phiếu xuất kho xi măng và thu tiền Cuối ngày lập báo cáo bán hàng nộp lên phòng kế toán và đến ngân hàng
để nộp tiền bán hàng Các chứng từ, các báo cáo bán hàng của các cửa hàng bán lẻ, các đại lý đều được gửi lên phòng kế toán để các bộ phận tương ứng ghi sổ
Trang 11II PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG TÀI SẢN LƯU ĐỘNG Ở CÔNG TY VẬT TƯ KỸ THUẬT XI MĂNG.
1 Khái quát về cơ cấu tài sản và nguồn vốn kinh doanh của công ty.
Tình hình về tài sản và nguồn hình thành ở Công ty vật tư kỹ thuật xi măng trong 3 năm 1997, 1998, 1999 như sau:
Trang 12Bảng 1 : Tình hình tài sản và nguồn vốn (ngày 31/12/N)
Đơn vị tính: Triệu đồng
Năm Chỉ tiêu
Về qui mô tài sản của doanh nghiệp tăng với tốc độ khá cao
- Năm 1998 so với năm 1997 giá trị tài sản tăng
72.547,2tr - 53.361,87tr = 19.185,33 triệu
Về số tương đối tăng x 100 = 35,95%
- Năm 1999 so với 1998 giá trị tài sản tăng:
108.337.887 tr - 72.547,2 tr = 35.790,687 Triệu
Về số tương đối tăng x 100 = 49,33%
Để hiểu rõ nguyên nhân của tốc độ tăng trưởng qui mô tài sản với tốc
độ "Chóng mặt" như trên ta sẽ phải đi sâu phân tích các khoản mục của
"bảng cân đối kế toán" Nếu chỉ xét riêng về việc mở mang hoạt động sản xuất kinh doanh thì sự tăng trưởng về qui mô của Công ty vật tư kỹ thuật xi măng như vậy là rất tốt Tuy nhiên ở đây chưa thể kết luận bất kỳ điều gì
mà ta hãy tiếp tục xem xét cơ cấu tài sản của công ty
Trang 13Về cơ cấu tài sản, năm 1997 giá trị của TSLĐ và đầu tư ngắn hạn mới chỉ chiếm 60% tổng giá trị tài sản thì năm 1998 chiếm 65,1% và tới năm
1999 con số này là 77% Trong khi đó tỷ trọng của TSCĐ và đầu tư dài hạn giảm theo các năm từ 40% năm 1997 xuống còn 34,9% năm 1998 và chỉ còn lại 23% trong năm 1999
Đối với một Công ty kinh doanh như Công ty vật tư kỹ thuật xi măng thì việc tăng tỷ trọng của TSLĐ là xu hướng tốt Tuy nhiên nếu xem xét kỹ một chút ta thấy rằng từ năm 1998 sang năm 1999, trong khi qui mô hoạt động kinh doanh (qui mô tài sản) tăng tới 49,33% thì qui mô của tài sản cố định lại giảm đi về giá trị là:
25.296,23 - 24.896,28 = 399,95 (Triệu đồng) tương đương 1,58%
Đây là vấn đề đáng lưu tâm bởi vì tài sản sản cố định của Công ty vật
tư kỹ thuật xi măng chủ yếu là hệ thống kho tàng và phương tiện vận tải lẽ
ra nó cũng phải tăng lên để đáp ứng yêu cầu của hoạt động kinh doanh nhưng thực tế lại giảm đi Điều này có thể dẫn tới việc Công ty phải đi thuê phương tiện vận tải hoặc kho tàng, không chủ động được trong hoạt động kinh doanh
Cũng như tài sản về qui mô nguồn vốn ta sẽ không nghiên cứu thêm
Ở đây ta sẽ xem xét sự biến động về cơ cấu nguồn vốn của Công ty qua các thời kỳ nghiên cứu (1997, 1998, 1999)
Một điều tương đối lạ là Công ty vật tư kỹ thuật xi măng hiếm khi sử dụng các khoản vay ngân hàng Đặc biệt trong ba năm 1997 1998, 1999 Công ty không hề sử dụng hình thức "tín dụng ngân hàng" mà chỉ sử dụng vốn chủ sở hữu và tín dụng thương mại
Căn cứ vào những số liệu thực tế được thể hiện trên Bảng 1 ta có thể thấy rằng năm 1997 và 1998, Công ty vật tư kỹ thuật xi măng hoạt động chủ yếu dựa trên nguồn vốn chủ sở hữu, năm 1997 vốn chủ sở hữu chiếm 70,58% tỷ trọng nguồn vốn, năm 1998 có giảm đi nhưng vốn chủ sở hữu chiếm tới 64,65% tỷ trọng nguồn vốn Điều này cũng dễ hiểu bởi vì Công
ty vật tư kỹ thuật xi măng mới được chuyển đổi cơ chế hoạt động từ cơ chế
Trang 14làm đại lý tiêu thụ xi măng cho các đơn vị sản xuất xi măng thuộc Tổng công ty xi măng Việt Nam sang cơ chế hạch toán kinh doanh, mua đứt bán đoạn từ năm 1998 Do đó sau một thời gian làm quen với cơ chế hoạt động mới, Công ty đã khẳng định được vị trí, uy tín của mình nên đã được các nhà cung cấp tin tưởng cấp cho lượng tín dụng thương mại lên tới 63.742,367 triệu đồng (ngày 31/12/1999) chiếm tới 62,17% tỷ trọng nguồn vốn Đây là một yếu tố rất thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty vì nguồn tín dụng thương mại không phải trả lãi vay Tuy nhiên sử dụng hình thức tín dụng thương mại cũng như một con dao hai lưỡi, nó có thể làm doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nếu công tác tác quản lý tài chính không tốt Điều này đã không xảy ra ở Công ty vật tư kỹ thuật xi măng vì như ta thấy trên Bảng một khoản mục "TSLĐ & Đàu tư tài chính ngắn hạn" luôn có số dư lớn hơn rất nhiều so với hạng mục "Nợ phải trả" bên nguồn vốn, nghĩa là trong thời kỳ nghiên cứu, Công ty vật tư kỹ thuật xi măng luôn duy trì được tình hình tài chính lành mạnh, đảm bảo khả năng thanh toán cho khách hàng.
Tỷ trọng của "Nợ phải trả" trong nguồn vốn không ngừng tăng lên từ 29,42% năm 1997 lên 33,35% năm 1998 và vọt lên đến 62,17% vào năm
1999, đến nay là tất yếu vì đối với các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả thì
uy tín của doanh nghiệp giúp nó được hưởng nhiều khoản tín dụng thương mại, và đối với những nhà quản lý tài chính giỏi thì việc sử dụng nợ sẽ có hiệu quả và được ưa thích hơn việc sử dụng vốn chủ sở hữu
Sự biến động nguồn vốn chủ sở hữu lại hơi khác biệt so với "Nợ phải trả" Từ năm 1997 sang năm 1998, nguồn vốn chủ sở hữu vẫn tăng lên về
số tuyệt đối một lượng là 46.903,1 triệu - 37.66306 triệu = 9.240,04 triệu nhưng tính về cơ cấu trong tổng nguồn vốn lại giảm đi gần 6% Sang năm
1999, nguồn vốn chủ sở hữu lại giảm đi một lượng là 46.903,1 triệu - 40.980,431 triệu = 5.922,699 triệu, cộng với sự tăng lên của "Nợ phải trả" khiến tỷ trọng vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn giảm từ 64,65% năm
1998 xuống còn 37,83% năm 1999 Với tình hình kinh doanh của Công ty
Trang 15như hiện nay thì có lẽ tỷ trọng vốn chủ sở hữu sẽ tiếp tục giảm trong những năm tới Tuy vậy, Công ty nên giữ tỷ lệ này ở mức 25 ÷ 30% để giảm bớt nguy cơ xảy ra những rủi ro về tài chính, đồng thời luôn chú ý đảm bảo khả năng thanh toán để củng cố lòng tin của các nhà cung cấp và khách hàng.
2 Tình hình tài sản lưu động ở Công ty:
Như ở trên ta thấy, do đặc điểm của Công ty vật tư kỹ thuật xi măng
là một công ty kinh doanh nên phần lớn nguồn vốn của công ty được đầu tư cho tài sản lưu động Năm 1997 tài sản lưu động chiếm 60% tổng giá trị tài sản và tới năm 1999 con số này đã là 77%
Trước khi đi vào xem xét hiệu quả của việc sử dụng tài sản lưu động
ta hãy xem xét một cách chi tiết sự biến động về qui mô và cơ cấu TSLĐ của Công ty trong thời kỳ nghiên cứu
Bảng 2: Bảng cân đối kết toán (trích phần tài sản)
Ngày 31/12/N (đơn vị: triệu đồng)
Năm Chỉ tiêu
- Tiền đang chuyển 230,265 0,43 40,523 0,05 5.150,698 4,76
II Đầu tư CKNH
III Các khoản phải thu 17.409,550 32,63 9.884,323 13,62 6.320,227 5,83
- Phải thu KH 14.707,608 27,56 7.224,499 9,96 4.624,567 4,27
- Trả trước người bán 30,982 0,06 1.304,225 1,8 1.573,328 1,45
- Phải thu nội bộ
- Phải thu khác 2.670,960 5 1355,598 1,87 122,332 0,11
Trang 16* Tiền và các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn
Ở trên ta đã thấy sự tăng trưởng rất nhanh chóng của tài sản lưu động qua hai năm 1998 và 1999 Từ ngày 31/12/1997 đến 31/12/1998 về giá trị tài sản lưu động của Công ty đã tăng hơn 15 tỷ đồng trong đố "vốn bằng