1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÀI SẢN LƯU ĐỘNG VÀ QUẢN LÝ TÀI SẢN LƯU ĐỘNG

24 825 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những vấn đề chung về tài sản lưu động và quản lý tài sản lưu động
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản lý tài sản
Thể loại bài luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 33,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tóm lại: Tài sản lưu động là một phần tài sản của doanh nghiệp baogồm tiền mặt, đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu, dự trữ tồn kho và các tài sản có khả năng chuyển đổi thành

Trang 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÀI SẢN LƯU ĐỘNG VÀ QUẢN LÝ

TÀI SẢN LƯU ĐỘNG.

I TÀI SẢN LƯU ĐỘNG VÀ NỘI DUNG QUẢN LÝ TÀI SẢN LƯU ĐỘNG

1 Tài sản lưu động.

1.1 Khái niệm vai trò TSLĐ và quản lý TSLĐ

Để tiến tới hành động sản xuất kinh doanh, mọi doanh nghiệp đều cầnphải có tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động Trong đóTSLĐ chủ yếu đóng góp vai trò đối tượng lao động, từ đó ta có thể thấy vaitrò quan trọng của TSLĐ đối với mọi quá trình sản xuất kinh doanh

Tài sản lưu động của doanh nghiệp là những tài sản ngắn hạn vàthường xuyên luân chuyển, do đó nó giúp cho doanh nghiệp có thể quayvòng vốn nhânh hơn, giảm chi phí sử dụng vốn, hạ giá thành sản phẩm.Khác với TSCĐ, tài sản lưu động luôn thay đổi hình thái biểu hiện trongquá trình tạo ra sản phẩm Vì vậy giá trị của TSLĐ được dịch chuyển mộtlần vào giá trị sản phẩm Sau khi kết thúc quá trình tiêu thụ sản phẩm,người ta lại dùng tiền để tái đầu tư những TSLĐ phục vụ quá trình sản xuấtkinh doanh tiếp theo Do đó đặc điểm nổi bật của TSLĐ là thời gian quayvòng ngắn nên có thể giảm chi phí vốn, nâng cao hiệu quả sản xuất kinhdoanh

Tóm lại: Tài sản lưu động là một phần tài sản của doanh nghiệp baogồm tiền mặt, đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu, dự trữ tồn kho

và các tài sản có khả năng chuyển đổi thành tiền trong vòng một năm trởlại đây mà không làm gián đoạn các hoạt động bình thường của doanhnghiệp

Quản lý tài sản lưu động là việc sử dụng tổng hợp các biện pháp duytrì một khối lượng các tài sản lưu động với cơ cấu hợp lý để nâng cao hiệuquả sản xuất kinh doanh

Quản lý tài sản lưu động thực chất là việc trả lời câu hỏi: Doanhnghiệp có nên dự trữ tiền mặt không và dự trữ bao nhiêu? Có nên bán chịu

Trang 2

hay không? Nếu bán chịu thì cần có những điều khoản nào? Có nên muachịu hay là đi vay để trả tiền ngay? nói chung có rất nhiều vấn đề đặt racho công tác quản lý TSLĐ Nếu công tác quản lý TSLĐ được làm tốt,doanh nghiệp có cơ cấu TSLĐ hợp lý thì vốn của doanh nghiệp không bị ứđọng mà vẫn đáp ứng được các yêu cầu của sản xuất,s vẫn đảm bảo khảnăng thanh toán, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Ngược lại nếuquản lý tài sản lưu động không tốt có thể dẫn tới vốn của doanh nghiệp bịthất thoát, bị chiếm dụng, nếu dự trữ quá nhiều tiền mặt, hàng hoá, nguyênvật liệu, sẽ đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp, đảm bảo choquá trình sản xuất được liên tục, tuy nhiên lượng tài sản đó không sinh lời,làm giảm hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Nói cách khác chấtlượng công tác quản lý tài sản lưu động là một trong những nguyên nhân

cơ bản quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp

đủ để đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp bao gồm:

- Có đủ tiền mặt đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn,góp phần nâng cao uy tín của doanh nghiệp

- Có đủ tiền mặt có thể nắm bắt, tận dụng được các cơ hội trong kinhdoanh

- Có tiền mặt chi trả, doanh nghiệp có thể được hưởng chiết khấuthanh toán Tiền mặt còn dùng trong các chiến dịch quảng cáo, marketing,khuyến mại

Trang 3

Công việc của nhà quản lý tài chính là giải bài toán để trả lời câu hỏi:doanh nghiệp nên giữ một lượng tiền mặt bao nhiêu là hợp lý, phù hợp vớiyêu cầu sản xuất kinh doanh của từng thời kỳ?

* Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn

Chính vì tiền mặt là loại tài sản không sinh lời nên các doanh nghiệpmuốn duy trì một lượng tài sản có tính lỏng cao thường đầu tư vào các loạichứng khoán ngắn hạn Chứng khoán ngắn hạn bao gồm tíns phiếu kho bạc

và thương phiếu ngắn hạn Khác với tiền mặt việc đầu tư vào các chứngkhoán ngắn hạn vẫn đảm bảo tính lỏng của tài sản và còn đem lại thu nhậpcho doanh nghiệp với sự phát triển của công nghệ thông tin hiện nay, cácnhà tài chính có thể dễ dàng chuyển đổi từ tiền mặt sang các loại chứngkhoán ngắn hạn và ngược lại Khi số tiền mặt trong két cao hơn mức cầnthiết, các nhà tài chính có thể bán bớt chứng khoán ngắn hạn thu tiền mặt,đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh

* Các khoản phải thu:

Đây là một trong những bộ phận quan trọng của TSLĐ Khi doanhnghiệp bán hàng hoá của mình cho các doanh nghiệp khác, thông thườngngười mua chưa trả tiền ngay lúc giao hàng Các hoá đơn chưa được thanhtoán này thể hiện quan hệ tín dụng thương mại và chúng tạo nên khoản mục

"phải thu khách hàng" Hình thức tín dụng thương mại này đang được sửdụng rộng rãi trong nền kinh tế Nó thể hiện sự tin tưởng lẫn nhau giữangười mua và người bán, tạo cơ sở cho mối quan hệ làm ăn lâu dài Qui môcủa các khoản phải thu không chỉ phụ thuộc vào qui mô của doanh nghiệp

mà nó còn phụ thuộc vào chính sách tín dụng của doanh nghiệp Thườngthì các doanh nghiệp có tiềm lực tài chính sẽ dễ dàng bán chịu do đó sẽ đẩymạnh khối lượng sản phẩm tiêu thụ Tuy nhiên yếu tố chính tác động đếnchính sác tín dụng thương mại của các doanh nghiệp là tình hình cân bằngcung - cầu về loại sản phẩm của các doanh nghiệp đó trên thị trường trongtừng thời kỳ Nếu trên thị trường cung lớn hơn cầu tức là dư thừa hàng hoáthì bán hàng trả chậm cũng là một hình thức cạnh tranh rất có hiệu quả,

Trang 4

ngược lại nếu thị trường khan hiếm hàng hoá thì các nhà cung cấp các nhàphân phối sẽ thắt chặt chính sách tín dụng thương mại để tăng nhanh tốc độquay vòng vốn

Do vậy nhiệm vụ của các nhà tài chính là đưa ra quyết định có nênbán chịu hay không? nên bán chịu cho những đối tượng nào? điều khoảncủa việc bán chịu ra sao? Đây là những vấn đề hết sức khó khăn vì nếu chỉđưa ra một quyết định sai lầm sẽ có ảnh hưởng lớn tới tình hình tài chínhcủa doanh nghiệp, hình thành các khoản nợ dây dưa khó đòi Theo một sốliệu thống kê của Bộ Tài Chính thì tổng số nợ khó đòi giữa các doanhnghiệp Nhà nước kể từ 30/4/1991 trở về trước lên tới 13.500 tỷ đồng đãđược Nhà nước "khoanh lại" còn sỗ nợ khó đòi hình thành trong thời gian

từ năm 1991 trở lại đây đã lên tới gần 200.000 tỷ đồng Hiện nay Nhà nướcđang xem xét việc thành lập "Công ty mua bán nợ" để giải quyết các khoản

nợ giữa các doanh nghiệp Qua đó ta cũng thấy được tầm quan trọng củacông tác quản lý các khoản phải thu, nếu quản lý tốt, xác định được chínhsách tín dụng thương mại hợp lý sẽ giữ được khách hàng, tăng số lượng sảnphẩm tiêu thụ nhưng nếu quản lý không tốt sẽ dẫn đến tình trạng thất thoáttài sản của doanh nghiệp

Ngoài "phải thu khách hàng" doanh nghiệp còn có các khoản phải thukhác như thu tiền trả trước cho người bán, thu nội bộ, nhưng chiếm tỷtrọng nhỏ, không làm ảnh hưởng nhiều tới tình hình tài chính doanhnghiệp

* Dự trữ (tồn kho): là toàn bộ nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệuphụ, vật tư, sản phẩm dở dang, thành phẩm, hàng hoá tồn tại trong cáckho của doanh nghiệp Ở đây ta chỉ xem xét lượng dự trữ hợp lý, đảm bảocho quá trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp chứ không xem xétkhía cạnh dự trữ bất đắc dĩ tức là sản phẩm hàng hoá bị ứ đọng, không bánđược, sản xuất bị ngưng trệ Quản lý dự trữ là việc tính toán duy trì mộtlượng nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, hàng hoá với cơ cấu hợp lý, đảmbảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được liên tục và có hiệu quả Như ta

Trang 5

đã biết, chi phí cho dự trữ không chỉ bao gồm chi phí đặt hàng, chi phí lưukho, trông nom bảo quản mà còn có cả chi phí cơ hội của vốn Tuy nhiênviệc dự trữ nhiều hàng hoá nhiều khi mang lại lợi ích lớn hơn là đem tiềnđầu tư chứng khoán ngắn hạn khi thị trường trở lên khan hiếm loại hànghoá mà doanh nghiệp đang dự trữ khi đó doanh nghiệp sẽ không bị bỏ lỡ

cơ hội trong kinh doanh mà còn củng cố uy tín của doanh nghiệp trên thịtrường

* Tài sản lưu động khác

Đây là những bộ phận tài sản lưu động của doanh nghiệp không thuộccác nhóm trên như tạm ứng chi phí trả trước, chi phí chờ kết chuyển, tàisản thiếu chờ xử lý, các khoản ký cược ký quĩ

1.3 Các chính sách tài trợ cho TSLĐ:

Các nguồn tài trợ do TSLĐ có thể là tất cả các khoản mục bên

"nguồn vốn" của bảng cân đối kế toán Ở đây ta có thể tạm chia thành cácnguồn tài trợ dài hạn và các nguồn tài trợ ngắn hạn

* Các nguồn tài trợ dài hạn gồm có:

- Vốn chủ sở hữu: là nguồn vốn của các chủ sở hữu doanh nghiệp, nóbao gồm vốn pháp định (liên doanh, cổ phần, vốn ngân sách) và vốn tự bổsung trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp

- Vay dài hạn: các khoản vay ngân hàng hoặc phát hành trái phiếu

Tỷ trọng của các nguồn vốn trong chính sách tài trợ TSLĐ bằng các nguồntài trợ dài hạn gọi là cơ cấu vốn của doanh nghiệp Để sử dụng các nguồnvốn này, chúng ta hãy xem xét chi phí sử dụng vốn của từng loại: khi sửdụng vốn chủ sở hữu, các doanh nghiệp phải trả cổ tức cho cổ đông (đốivới công ty cổ phần), chia lợi nhuận cho các bên liên doanh (đối với công

ty liên doanh), trả các khoản thu sử dụng vốn (đối với các doanh nghiệpNhà nước) Còn nếu sử dụng vay dài hạn doanh nghiệp phải chi trả lãi vayhay còn gọi là chi phí vốn vay, lãi tiền vay là một khoản chi phí trước thuế

Trang 6

- Ưu điểm: chính sách tài trợ dài hạn có đặc điểm là tính ổn định cao,trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp không phảichịu sức ép trả nợ ngay, tránh được việc phải bán rẻ sản phẩm hoặc phảivay ngắn hạn để trả nợ.

- Nhược điểm: chi phí sử dụng vốn cao hơn các nguồn tài trợ ngắnhạn

Tuy nhiên trong thực tế quản lý tài chính hiếm khi các doanh nghiệp

sử dụng các nguồn tài trợ dài hạn để tài trợ cho TSLĐ Chính sách tài trợnày chỉ được các doanh nghiệp sử dụng nếu mới đi vào hoạt động và chủyếu đối với các doanh nghiệp kinh doanh thương mại (có TSLĐ chiếm tỷtrọng lớn)

* Nguồn tài trợ ngắn hạn:

- Tín dụng thương mại: đây là khoản tín dụng được hầu hết các doanhnghiệp tận dụng một cách triệt để, nó còn được gọi là tín dụng nhà cungcấp Các khoản tín dụng thương mại được hình thành một cách tự nhiêntrong quan hệ mua bán chịu, mua hàng trả chậm Nguồn vốn tín dụngthương mại có ảnh hưởng hết sức to lớn không chỉ với các doanh nghiệp

mà đối với toàn bộ nền kinh tế Ở nhiều doanh nghiệp, nguồn vốn tín dụngthương mại dưới dạng các khoản nợ phải trả có thể chiếm tới 30-40% tổngnguồn vốn của doanh nghiệp

Tín dụng thương mại là một phương thức tài trợ tiện lợi và linh hoạttrong kinh doanh mặt khác nó còn tạo khả năng mở rộng quan hệ hợp táckinh doanh lâu bền Thời hạn của tín dụng thương mại được qui định cụ thểtrong hợp đồng mua bán, do đó điều quan trọng nhất khi sử dụng tín dụngthương mại là luôn phải đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ đếnhạn của doanh nghiệp tránh nhữgn rủi ro có thể xảy ra khi sử dụng tín dụngthương mại được vượt quá khả năng thanh toán của doanh nghiệp

Sử dụng nguồn vốn tín dụng thương mại không phải là không có chiphí Khi mua hàng trả chậm, thường thì người mua phải chấp nhận mức giácao hơn so với mua thanh toán ngay Trong thực tế hiện nay, tín dụng

Trang 7

thương mại rất được ưa thích vì nó là một nguồn tài trợ ngắn hạn có chi phíthấp, thủ tục đơn giản hơn nhiều so với vay ngân hàng Đây là một nguồntài trợ phù hợp để tài trợ cho TSLĐ, tuy nhiên sử dụng tín dụng thương mạitài trợ cho TSLĐ ở mức độ nào là nhiệm vụ của các nhà tài chính, tuỳ theotình hình tài chính của doanh nghiệp ở từng thời điểm.

- Tín dụng ngân hàng: một trong những nguồn tài trợ khá quan trọngcho TSLĐ là vay ngắn hạn tại các Ngân hàng thương mại Các ngân hàng

có thể đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp với các thời hạn đa dạng từvài tháng tới một năm, khối lượng cho vay phụ thuộc vào nhu cầu và tìnhhình tài chính của doanh nghiệp Đối với TSLĐ là những tài sản thường cóthời gian quay vòng dưới một năm nên dùng vay ngắn hạn để tài trợ choTSLĐ là rất phù hợp Tuy nhiên nó không được ưa thích bằng "tín dụngthương mại" do chi phí cao hơn và thủ tục phức tạp hơn Để vay được tiền

ở Ngân hàng thương mại, các doanh nghiệp phải lập bộ "hồ sơ xin vayvốn" ít nhất gồm có đơn xin vay và phương án sản xuất kinh doanh.Phương án trả nợ, sau khi các cán bộ ngân hàng thẩm định xong hồ sơ thìdoanh nghiệp mới có thể vay được vốn Các thủ tục bắt buộc này cộng vớimột số yếu tố khác gây chậm trễ, nhiều khi làm mất đi cơ hội kinh doanhcủa doanh nghiệp

2 Nội dung quản lý tài sản lưu động:

2.1 Quản lý vốn bằng tiền và các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn:

Quản lý tiền ở đây đề cập tới tiền trong két của doanh nghiệp và tiềngửi ngắn hạn tại các ngân hàng Vì lượng tài sản này hầu như không sinhlãi nên các doanh nghiệp đều muốn duy trì lượng tiền ở mức thấp nhất cóthể Nhưng tiền mặt lại rất cần thiết cho các hoạt động hàng ngày củadoanh nghiệp như thanh toán cho nhà cung cấp, trả lượng, tạm ứng do đónhiệm vụ đặt ra cho các nhà quản lý tài chính là làm sao duy trì một lượngtiền mặt hợp lý nhất vừa tránh lãng phí vốn vừa đảm bảo nhu cầu tiền mặtcủa doanh nghiệp

Trang 8

Quản lý tiền mặt có liên quan chặt chẽ đến quản lý các khoản đầu tưtài chính ngắn hạn, đặc biệt là các loại chứng khoán có tính thanh khoảncao Các loại chứng khoán này có thể là tín phiếu kho bạc, thương phiếu chúng có khả năng chuyển đổi ra tiền mặt một cách dễ dàng và ngược lại,chi phí chuyển đổi nhỏ nên trong quản trị tài chính người ta sử dụng chứngkhoán có tính thanh toán cao để duy trì tiền mặt ở mức mong muốn Trongthực tế sản xuất kinh doanh dòng tiền vào ra tại doanh nghiệp hầu nhưchẳng theo qui luật nào cả Tuy nhiên, các nhà tài chính học đã đưa ra côngthức tính lượng tiền mặt tối ưu của doanh nghiệp trong năm như sau:

Q =

Mô hình dự trữ tiền mặt này chỉ hoạt động tốt trong điều kiện doanhnghiệp dự trữ tiền mặt một cách đều đặn Nhưng điều này không thườngxảy ra trên thực tế Có thể trong một vài tuần nào đó doanh nghiệp thuđược một số tiền từ các hoá đơn bán hàng và vì vậy nó có thêm một khoảnthu thuần tuý bằng tiền mặt, cũng có thể trong một vài tuần khác doanhnghiệp phải trả cho người bán và lượng tiền mặt đột nhiên giảm đi

Các nhà kinh tế và khoa học quản lý đã xây dựng các mô hình phùhợp hơn với thực tế, tức là các mô hình này có tính đến cả những khả năngtiền ra vào ngân quỹ

= 3 x

Mô hình này chỉ ra rằng nếu doanh nghiệp luôn luôn duy trì đượcmức cân đối tiền mặt theo như thiết kế ban đầu thì doanh nghiệp sẽ tốithiểu hoá được chi phí giao dịch và chi phí do lãi suất gây ra

Để sử dụng mô hình này cần tiến hành các bước

Bước thứ nhất: doanh nghiệp cần phải xác định giới hạn dưới của cân

đối tiền mặt, giới hạn dưới có thể bằng 0 và có thể lớn hơn 0 để đảm bảomức an toàn tối thiểu

Trang 9

Bước thứ hai: doanh nghiệp cần phải ước tính phương sai của thu chi

ngân quĩ Chẳng hạn có thể dựa vào thu chi ngân quĩ của 100 ngày trước đo

để tính toán phương sai cho mẫu gồm 100 ngày này Việc chọn mẫu tuỳtheo loai hình doanh nghiệp mà xác định, nếu doanh nghiệp sản xuất theomùa thì cần phải chọn mẫu theo từng mùa đặc thù

Bước thứ ba: quan sát lãi suất và chi phí giao dịch của mỗi lần mua

và bán chứng khoán

Bước thứ tư: tính toán giới hạn trên và mức tiền mặt theo thiết kế

đồng thời đưa ra những thông tin để các nhân viên tài chính thực hiệnchiến lược kiểm soát tiền mặt theo mô hình Miller - Orr Nếu lượng tiềnmặt ở mức thấp nhất (giới hạn dưới) thì doanh nghiệp phải bán chứngkhoán ngắn hạn để bổ sung vào tiền mặt cho đủ mức dự kiến ngược lại khitiền mặt bằng hoặc vượt giới hạn trên thì doanh nghiệp mua chứng khoánngắn hạn

Khoảng dao động của mức cân đối tiền mặt phụ thuộc vào 3 yếu tố

- Mức do động của thu chi ngân quĩ hàng ngày lớn hay nhỏ Sự daođộng này thể hiện ở phương sai của thu chi ngân quĩ Phương sai của thuchi ngân quĩ là tổng các bình phương (độ chênh lệch) của thu chi ngân quĩthực tế và thu chi bình quân Phương sai càng lớn thì thu chi ngân quĩ thực

tế càng có xu hướng khác biệt so với thu chi bình quân Khi đó doanhnghiệp cũng sẽ qui định khoảng dao động tiền mặt cao

- Chi phí cố định của việc mua bán chứng khoán, khi chi phí này lớnngười ta muốn giữ tiền mặt nhiều hơn và khi đó khoảng dao động của tiềnmặt cũng lớn hơn

- Lãi suất càng cao các doanh nghiệp sẽ giữ ít tiền mặt và do đókhoảng dao động tiền mặt sẽ giảm xuống

Tóm lại tiền mặt là tài sản sinh lời thấp, chứng khoán ngắn hạn cótính thanh khoản cao nên lợi tức đem lại cũng nhỏ hơn so với các loại

Trang 10

chứng khoán dài hạn Do đó tổng số tiền mặt và chứng khoán ngắn hạn chỉnên giữ một lượng vừa đủ đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp.

2.2 Quản lý dự trữ:

Đối với các doanh nghiệp sản xuất, tài sản dự trữ chiếm tỷ trọng khálớn khoảng 50 - 70% giá trị TSLĐ, do đó quản lý dự trữ có vai trò đặc biệtquan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lưu động Khidoanh nghiệp dự trữ hàng hoá sẽ liên quan tới hàng loạt chi phí như chi phíbốc xếp, chi phí đặt hàng, chi phí bảo hiểm, chi phí bảo quản, những chiphí này được chia ra:

* Chi phí lưu kho (chi phí tồn trữ) đây là những chi phí liên quan tớiviệc tồn trữ hàng hoá, chúng bao gồm:

- Chi phí hoạt động: chi phí bốc xếp hàng hoá, chi phí bảo hiểm hànghoá, chi phí do hao hụt mất mát, chi phí bảo quản,

- Chi phí tài chính: chi phí sử dụng vốn như trả lãi tiền vay, thuế,khấu hao,

* Chi phí đặt hàng bao gồm chi phí quản lý giao dịch và vận chuyểnhàng hoá Chi phí đặt hàng thường là chi phí cố định, không phụ thuộc vàokhối lượng mỗi lần đặt hàng Do đó vấn đề đặt ra là khi nào thì bắt đầu tiếnhành đặt hàng và khối lượngcủa mỗi lần đặt hàng là bao nhiêu để cho tổngchi phí dự trữ hàng hoá là thấp nhất

Điểm đặt hàng: trong thực tiễn hoạt động, doanh nghiệp không khinào đợi hết nguyên vật liệu trong kho thì mới tiên hành đặt hàng, vì nhưvậy sẽ làm cho sản xuất bị gián đoạn Vậy thì khi nào bắt đầu đặt hàng làthích hợp, tránh tình trạng ứ hàng trong kho gây lãng phí, tăng chi phí lưukho Điểm đặt hàng ở đây chính là khối lượng nguyên vật liệu còn tồn khophải đủ để sử dụng cho tới khi lô hàng mới về

Điểm đặt hàng =

Lượng dự trữ an toàn: khối lượng nguyên vật liệu sử dụng, hàng hoátiêu thụ mỗi ngày không phải là con số cố định mà thay đổi hàng ngày,

Trang 11

thay đổi theo mùa vụ Do đó để đảm bảo sự ổn định của quá trình sản xuấtkinh doanh, các doanh nghiệp phải duy trì một lượng hàng hoá tồn kho.Khối lượng hàng hoá dự trữ an toàn phụ thuộc vào tình hình sản xuất cụthể của doanh nghiệp Lượng dự trữ an toàn này được cộng thêm vào

"Điểm đặt hàng" để xác định thời điểm đặt hàng thực sự

2.3 Quản lý các khoản phải thu.

Để sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao, các doanh nghiệp đều muốntiêu thụ càng nhiều hàng hoá càng tốt Để tăng lượng sản phẩm tiêu thụ,ngoài các yếu tố như chất lượng sản phẩm, giá cả, quảng cáo, thì điềukiện thanh toán cũng là một yếu tố có tính cạnh tranh cao trên thị trường.Tất nhiên, trong kinh doanh thì bán hàng thu tiền ngay là điều mà bất cứchủ doanh nghiệp nào cũng mong muốn nhưng trong điều kiện thị trườngcạnh tranh quyết liệt như hiện nay thì việc phải cấp "Tín dụng thương mại"cho khách hàng là điều không thể tránh khỏi nếu muốn bán được hàng Do

đó mục tiêu của các doanh nghiệp là làm sao bán được nhiều hàng nhất chứkhông phải là bán hàng thu tiền ngay Vấn đề đặt ra là nên bán chịu chonhững đối tượng nào và quản lý các khoản phải thu này như thế nào

Quản lý các khoản phải thu tốt tức là doanh nghiệp phải đưa ra chínhsách tín dụng thương mại hợp lý, các điều kiện ràng buộc giúp doanhnghiệp có thể nhanh chóng thu hồi được tiền hàng, giảm số ngày thu tiềnbình quân, hạn chế lượng vốn bị khách hàng chiếm dụng, tạo điều kiện muasắm đầu tư cho chu kỳ sản xuất tiếp theo

2.3.1 Nội dung chính sách tín dụng thương mại.

* Các điều khoản bán hàng: Để bán hàng hoá, doanh nghiệp cần phải

có những điều khoản bán hàng cụ thể trong đó thể hiện các yếu tố:

- Thời kỳ cấp tín dụng thương mại (còn gọi là thời kỳ tín dụng)

- Chiết khấu tiền mặt và thời kỳ chiết khấu

- Loại công cụ tín dụng thương mại

Trang 12

Thời kỳ tín dụng thương mại là khoảng thời gian mà doanh nghiệpcho khách hàng chịu tiền Thời hạn này dao động trong khoảng thời gian từ

30 ngày đến 150 ngày Nếu trong điều khoản bán hàng có đề nghị chiếtkhấu tiền mặt thì thời kỳ tín dụng thương mại sẽ gồm hai phần: thời kỳ tíndụng thương mại thuần tuý và thời kỳ chiết khấu tiền mặt

Thời kỳ tín dụng thương mại thuần tuý là thời hạn tối đa cho kháchhàng nợ, hết thời gian này, khách hàng bắt buộc phải trả tiền Thời kỳ nàybắt đầu kể từ khi doanh nghiệp viết hoá đơn bán hàng cho khách hàng

Thời kỳ chiết khấu tiền mặt: là khoảng thời gian do người bán quiđịnh, nếu người mua thanh toán tiền hàng trong khoảng thời gian này thì sẽđược hưởng một tỷ lệ % nhất định trên tổng giá trị thanh toán

VD: 2/10 toàn bộ 30 có nghĩa là khách hàng được quyền nợ tối đa 30ngày trong đó 10 ngày đầu là khoảng thời gian chiết khấu nếu khách hàngthanh toán trong vòng 10 ngày sẽ được hưởng một khoản chiết khấu 2%trên tổng giá trị lô hàng

Chiết khấu tiền mặt là một biện pháp quản lý "các khoản phải thu".Mục đích của chiết khấu tiền mặt là để hỗ trợ cho chính sách tín dụngthương mại của doanh nghiệp, trong khi vẫn cho khách hàng chịu tiền đểtiêu thụ được sản phẩm thì chiết khấu tiền mặt lại thúc ép khách hàng trảtiền nhanh để được hưởng giá trị chiết khấu Mức lãi suất chiếu khấu đượchưởng thoạt trông có vẻ là nhỏ nhưng lãi suất tương đương năm của nó lạirất lớn, đủ cho mọi khách hàng phải quan tâm (trong ví dụ trên lãi suấtchiết khấu qui đổi ra lãi suất tương đương là 37%/năm)

Mặt khác thiết khấu tiền mặt còn giúp cho doanh nghiệp có thể địnhgiá cao hơn đối với những khách hàng muốn kéo dài thời gian trả tiền

Các công cụ thường dùng trong chính sách tín dụng thương mại làhoá đơn, thương phiếu trả ngay, thương phiếu có thời hạn, hợp đồng

* Tác động của chính sách tín dụng thương mại

Ngày đăng: 05/11/2013, 18:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w