Với yêu cầu của thực tiễn xã hội, cũng như với mục đích đóng góp một phần công sức nghiên cứu cho sự phát triển chung của ngành giao thông vận tải, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu theo hư
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI
- -
NGUYỄN QUỐC KHÁNH
CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VẬN TẢI HÀNH KHÁCH BẰNG Ô TÔ
Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2017
.
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI
- -
NGUYỄN QUỐC KHÁNH
CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VẬN TẢI HÀNH KHÁCH BẰNG Ô TÔ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện Các số liệu
và kết quả trình bày trong luận án là trung thực, chƣa đƣợc công bố bởi bất kỳ tác
giả nào hay ở bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả
Nguyễn Quốc Khánh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Công trình nghiên cứu này được thực hiện tại Việt Nam dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TSKH Nguyễn Hữu Hà Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TSKH Nguyễn Hữu Hà về định hướng khoa học, liên tục quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành cuốn luận án này
Tác giả xin được chân thành cảm ơn các nhà khoa học, tác giả các công trình công bố đã trích dẫn trong luận án vì đã cung cấp nguồn tư liệu quý báu, những kiến thức liên quan trong quá trình nghiên cứu hoàn thành luận án
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại Học Giao Thông Vận tải; Khoa Vận tải Kinh tế; Phòng Đào tạo sau Đại học; Bộ môn Vận tải Đường
bộ và Thành phố, cùng với các nhà khoa học của Trường Đại học Giao Thông Vận tải cũng như các tác giả khác về sự hỗ trợ trên phương diện hành chính, hợp tác có hiệu quả trong suốt quá trình nghiên cứu khoa học của mình
Tác giả xin gửi lời cảm ơn tới các bạn đồng nghiệp, bạn bè nhất là nhóm cộng tác nghiên cứu vì đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi, hỗ trợ thực hiện việc quan trắc thu thập dữ liệu, triển khai các đề tài cứu tại hiện trường
Cuối cùng là sự biết ơn tới gia đình và những người bạn thân thiết vì đã liên tục động viên để duy trì nghị lực, sự cảm thông, chia sẻ về thời gian, sức khỏe và các khía cạnh của cuộc sống trong cả quá trình để hoàn thành công trình nghiên cứu
Tác giả
Nguyễn Quốc Khánh
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
1.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới 4
1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước 6
1.2.1 Các luận án tiến sĩ 6
1.2.2 Các Công trình, Đề án, Nghiên cứu thí điểm và Hội thảo khoa học liên quan đến nhiên liệu sạch 8
1.3 Các khoảng trống nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu của đề tài 13
1.3.1 Các khoảng trống nghiên cứu 13
1.3.2 Đề xuất hướng nghiên cứu và mục tiêu của đề tài 14
1.4 Phương pháp nghiên cứu 14
1.4.1 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 14
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu phân tích 15
Kết luận chương 1 15
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VẬN TẢI HÀNH KHÁCH BẰNG Ô TÔ 17
2.1 Tổng quan về vận tải, đặc điểm, vai trò của các phương thức vận tải 17
2.1.1 Khái niệm, phân loại vận tải 17
2.1.2 Đặc điểm của các phương thức vận tải 18
2.2 Tổng quan về phát triển bền vững 22
2.2.1 Khái niệm phát triển bền vững 22
2.2.2 Các nguyên tắc phát triển bền vững 25
Trang 62.2.3 Các tiêu chí đánh giá phát triển bền vững 29
2.3 Phát triển bền vững vận tải hành khách bằng ô tô 31
2.3.1 Đề xuất trình tự logic nghiên cứu phát triển bền vững vận tải hành khách bằng ô tô 31
2.3.2 Xây dựng mục tiêu, nguyên tắc phát triển bền vững vận tải hành khách bằng ô tô 33
2.3.3 Đề xuất các tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá sự phát triển bền vững vận tải hành khách bằng ô tô 36
2.4 Kinh nghiệm của một số quốc gia về phát triển bền vững và năng lượng sạch, bài học rút ra cho Việt Nam: 41
2.4.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia về phát triển bền vững và năng lượng sạch: 41
2.4.2 Bài học phát triển bền vững và năng lượng sạch rút ra cho Việt Nam: 47
Kết luận chương 2 48
CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VẬN TẢI HÀNH KHÁCH BẰNG Ô TÔ Ở VIỆT NAM 49
3.1 Các yếu tố của môi trường vĩ mô ảnh hưởng đến dịch vụ vận tải 49
3.1.1 Các yếu tố xã hội 49
3.1.2 Yếu tố về kinh tế 50
3.2 Hoạt động của vận tải hành khách tại Việt Nam 52
3.2.1 Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp vận tải 52
3.2.2 Quản lý nhà nước đối với vận tải hành khách bằng đường bộ 56
3.3 Phân tích sự phát triển bền vững của vận tải hành khách bằng ô tô ở Việt Nam 61
3.3.1 Đánh giá hiện trạng vận tải hành khách bằng ô tô 61
3.3.2.Đánh giá theo kết quả khảo sát mức độ hài lòng của hành khách đối với dịch vụ vận tải hành khách bằng ô tô 63
3.3.3 Đánh giá theo tiêu chí kinh tế 79
3.3.4 Đánh giá sự phát triển của vận tải hành khách bằng ô tô theo tiêu chí môi trường 80
Kết luận chương 3 85
Trang 7CHƯƠNG 4 CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VẬN TẢI HÀNH KHÁCH BẰNG Ô TÔ Ở VIỆT NAM VÀ ỨNG DỤNG CHO CÔNG TY CỔ
PHẬN VẬN TẢI DẦU KHÍ ĐÔNG DƯƠNG 86
4.1 Quan điểm và mục tiêu phát triển giao thông Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 86
4.1.1 Quan điểm phát triển giao thông vận tải Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 86
4.1.2 Mục tiêu phát triển đến năm 2020 87
4.1.3 Chính sách phát triển Giao thông vận tải bền vững, thân thiện với môi trường 89
4.1.4 Phát triển phương tiện giao thông vận tải thân thiện với môi trường 91
4.2 Cơ sở đề xuất các giải pháp phát triển bền vững cho vận tải hành khách bằng ô tô 94
4.2.1 Các chính sách pháp luật của nhà nước 94
4.2.2 Cơ sở về chính sách quản lý nhà nước 98
4.3 Các giải pháp cụ thể để phát triển bền vững doanh nghiệp vận tải ô tô 106
4.3.1 Giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực 106
4.3.2 Giải pháp khác nhau đối với từng loại phương tiện vận tải 108
4.3.3 Giải pháp nâng cao hình ảnh của dịch vụ vận tải hành khách bằng ô tô 112
4.4 Ứng dụng giải pháp phát triển bền vững vận tải hành khách bằng ô tô cho Công ty Cổ phần Vận tải Dầu khí Đông Dương 119
4.4.1 Đánh giá công tác vận tải hành khách đường bộ tại Công ty Cổ phần Vận tải Dầu Khí Đông Dương 119
4.4.2 Ứng dụng giải pháp phát triển bền vững vận tải hành khách bằng ô tô cho Công ty Cổ phần Vận tải Dầu khí Đông Dương 130
Kết luận chương 4 150
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 151 TÀI LIỆU THAM KHẢO
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
A TIẾNG VIỆT
Chữ viết tắt Nguyên nghĩa
ATGTQG An toàn giao thông Quốc gia
KH&CN Khoa học và Công nghệ
KHHGĐ Kế hoạch hóa gia đình
UBGSTCQG Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia
VAMC Công ty mua bán nợ Quốc gia
VTHKCC Vận tải hành khách công cộng
Trang 9B TIẾNG ANH
Community
Cộng đồng Kinh tế Đông Nam Á
ASEAN Association of Southeast
Asian Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
BOT Build-Operate-Transfer Xây dựng-Kinh doanh-Chuyển giao BTO Build-Transfer-Operate Xây dựng-Chuyển giao-Kinh doanh
ECA Export Credit Agencies Tổ chức tín dụng xuất khẩu
FDI Foreign Direct investment Đầu tư nước ngoài
IBRD International Bank for
Reconstruction and Development
Ngân hàng Quốc Tế về Tái Thiết và Phát triển
IUCN International Union for the
Conservation of Nature
Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc
tế LPG Liquified petroleum gas Khí dầu mỏ hóa lỏng
PPP Public Private Partnership Hợp tác công tư
TMC Toyota Motor Corporation Tập đoàn ô tô Toyota
TPP Trans-Pacific Strategic
Economic Partnership Agreement
Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương
SPSS Statistical Package for the
Social Sciences
Phần mềm thống kê
WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
WEDB World Environment and
Development Board
Ủy ban môi trường và phát triển thế giới
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Tiêu chuẩn mức phát thải của xe động cơ diesel theo các tiêu chuẩn
EURO 40
Bảng 2.2 Mức phát thải khí CO2theo loại nhiên liệu 41
Bảng 3.1 Cơ hội và thách thức của doanh nghiệp VTHK trước yếu tố dân số 50
Bảng 3.2 Mức tăng trưởng GDP của Việt Nam 51
Bảng 3.3 Lượng hành khách vận tải phân theo ngành vận tải 54
Bảng 3.4 Lượng hành khách luân chuyển phân theo ngành vận tải 54
Bảng 3.5 Tỉ trọng nhu cầu vận tải hành khách theo tuyến đường 55
Bảng 3.6 Chỉ số phát triển lượng hành khách vận tải hành khách đường bộ 55
Bảng 3.7 Thống kê mô tả mẫu theo đặc điểm nhân khẩu học 64
Bảng 3.8 Mức độ hài lòng với từng tiêu chí 65
Bảng 3.9 Bảng tổng hợp kết quả hài lòng đối với các loại hình dịch vụ phân theo 4 tiêu chí khảo sát chính 78
Bảng 3.10 Phát thải khí nhà kính của các ngành do tiêu thụ năng lượng 83
Bảng 3.11 Tỷ lệ phần trăm phát thải khí nhà kính của các ngành 83
Bảng 4.1 Thị phần vận tải tính đến năm 2020-2030 95
Bảng 4.2 Dự báo số chuyến đi trên các tuyến trục chính của Hà Nội 124
Bảng 4.3 Thống kê số lượng xe Taxi năm 1996 tại Hà Nội 125
Bảng 4.4 Thống kê một số hãng taxi tiêu biểu năm 2016 tại Hà Nội 125
Bảng 4.5 Các chỉ số hóa học của LPG 135
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Các lĩnh vực đảm bảo phát triển bền vững 23
Hình 2.2 Phát triển bền vững theo lãnh thổ 24
Hình 2.3 Phát triển bền vững theo ngành, lĩnh vực 24
Hình 2.4 Phát triển bền vững theo quan điểm của Benger [21] 31
Hình 2.5.Trình tự logic nghiên cứu xây dựng các mục tiêu, nguyên tắc, tiêu chí, chỉ tiêu phát triển bền vững dịch vụ vận tải hành khách bằng ô tô 32
Hình 2.6 Mô hình Marketing 7P 36
Hình 3.1 Cơ cấu dân số theo độ tuổi giới tính [27] 49
Hình 3.2 Tăng trưởng GDP Việt Nam giai đoạn 2010 - 2015 51
Hình 3.3 Khối lượng hành khách vận tải và luân chuyển tuyến đường bộ [28] 54
Hình 3.4 Biểu đồ so sánh số liệu tai nạn năm 2104-2015 63
Hình 3.5 Đánh giá mức độ hài lòng với từng tiêu chí của dịch vụ vận tải hành khách Việt Nam 66
Hình 3.6 Mức độ sẵn sàng phản hồi ý kiến của khách hàng khi sử dụng dịch vụ vận tải hành khách 76
Hình 3.7 Khảo sát khách hàng về giá cước dịch vụ vận tải hành khách 79
Hình 3.8 Các lĩnh vực sử dụng năng lượng ở Việt Nam giai đoạn 2010 - 2030 82
Hình 3.9 Tỷ lệ phát thải chất gây ô nhiễm do các phương tiện cơ giới đường bộ của Việt Nam [8] 84
Hình 3.10 Mô tả sự chênh lệch nhiệt độ do hiệu ứng đảo nhiệt gây ra [41] 85
Hình 4.1 Sơ đồ hoạt động của hệ thống AVL 114
Hình 4.2 Các thành phần kết hợp của hệ thống AVL lắp trong xe buýt Thành phần trong hệ thống điều hành 116
Hình 4.3 Mô hình các giải pháp marketing để phát triển bền vững doanh nghiệp vận tải hành khách bằng ô tô 131
Trang 12Trong khu vực đô thị mức độ sử dụng phương tiện cá nhân cao, dẫn tới các hiện tượng như thường xuyên xảy ra ùn tắc giao thông vào giờ cao điểm, ô nhiễm không khí, ô nhiễm tiếng ồn Ngoài khu vực đô thị, xuất hiện các hiện tượng như xe
dù, bến cóc, tranh giành, cướp hành khách, hiện tượng nhu cầu đi lại tăng đột biến vào các dịp nghỉ lễ tết, dẫn tới nhiều bất cập cho hành khách cũng như cho việc kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải Hiện nay trên thế giới, nghiên cứu phát triển bền vững vừa là yêu cầu vừa là mục tiêu của các quốc gia Xu hướng nghiên cứu này đã được tiến hành ở nhiều lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế các nước
Tại Việt Nam, nghiên cứu phát triển bền vững cũng không nằm ngoài quy luật chung của thế giới Phát triển bền vững cho các ngành, các lĩnh vực trong nền kinh tế đã được chính phủ đề cập trong nhiều cuộc họp, nhiều văn bản chỉ đạo điều hành Trong lĩnh vực giao thông vận tải đã có một số văn bản quy phạm pháp luật
đề cập đến vấn đề phát triển bền vững Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu cụ thể về phát triển bền vững cho hoạt động vận tải đặc biệt là vận tải hành khách bằng ô tô tại Việt Nam
Với yêu cầu của thực tiễn xã hội, cũng như với mục đích đóng góp một phần công sức nghiên cứu cho sự phát triển chung của ngành giao thông vận tải, tác giả
đã lựa chọn nghiên cứu theo hướng phát triển bền vững vận tải hành khách bằng ô
tô Kết quả nghiên cứu của luận án là một cơ sở khoa học, là tài liệu tham khảo để các nhà quản lý, các doanh nghiệp trong ngành vận tải có định hướng phát triển theo hướng bền vững
2 Mục đích nghiên cứu
- Tổng hợp các nghiên cứu về phát triển bền vững, đặc biệt là xây dựng cơ sở
lý luận về phát triển bền vững doanh nghiệp vận tải vận tải hành khách bằng ô tô
Trang 13- Đề xuất các nguyên tắc, các giải pháp mới để làm cơ sở phát triển bền vững cho doanh nghiệp vận tải hành khách bằng ô tô ở Việt Nam
- Đề xuất các tiêu chí, chỉ tiêu phát triển bền vững cho doanh nghiệp vận tải hành khách bằng ô tô ở Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là cơ sở lý luận và các vấn đề có liên quan đến phát triển bền vững vận tải hành khách bằng ô tô ở Việt Nam (không bao gồm dịch vụ xe buýt đưa đón học sinh, vận tải liên vận quốc tế) Trong đó có ứng dụng cụ thể cho một doanh nghiệp là Công ty cổ phần Vận tải Dầu khí Đông Dương
- Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian là hoạt động vận tải hành khách bằng
ô tô trong giai đoạn 2012 – 2016, đề xuất các tiêu chí, chỉ tiêu, giải pháp phát triển bền vững cho các doanh nghiệp dịch vụ vận tải hành khách bằng ô tô từ 2017 –
2020 và tầm nhìn đến năm 2030
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Ý nghĩa khoa học: Luận án đã hệ thống hóa và làm phong phú hơn một số
vấn đề lý luận về phát triển bền vững nói chung và bền vững trong lĩnh vực vận tải hành khách nói riêng; các nguyên tắc về phát triển bền vững; hệ thống các tiêu chí đánh giá sự phát triển bền vững của hoạt động vận tải hành khách bằng xe ôtô; phân tích rõ về nội dung và bản chất các tiêu chí đánh giá sự phát triển bền vững trên các phương diện xã hội, kinh tế, môi trường và chính trị- xã hội Từ đó đề xuất các tiêu chí đánh giá sự phát triển bền vững đối với lĩnh lực vận tải hành khách bằng xe ôtô
Ý nghĩa thực tiễn: Luận án đã đánh giá hiện trạng của vận tải hành khách tại
Việt Nam nói chung và loại hình vận tải hành khách bằng ôtô nói riêng; trong đó tập trung nghiên cứu đối với vận tải tuyến cố định, vận tải taxi, vận tải xe buýt và vận tải hợp đồng Luận án đã đi sâu phân tích sự phát triển bền vững của vận tải ô tô trên cả 3 góc độ lợi ích của nhà nước, doanh nghiệp và khách hàng; xác định nhân
tố quan trọng để doanh nghiệp tồn tại và phát triển là “Lấy khách hàng làm trung tâm” Đây là phương thức tiếp cận phù hợp với xu thế marketing hiện đại - Coi sự
hài lòng của khách hàng là nền tảng cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp
5 Kết cấu luận án
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển bền vững vận tải hành khách bằng ô tô
Trang 14Chương 3: Phân tích hiện trạng phát triển bền vững vận tải hành khách bằng
ô tô ở Việt Nam
Chương 4: Các giải pháp phát triển bền vững vận tải hành khách bằng ô tô ở Việt Nam và Ứng dụng cho Công ty Cổ phần Vận tải Dầu khí Đông Dương
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới
Công trình nghiên cứu đầu tiên trên thế giới về phát triển bền vững giao thông vận tải là của Greene và Wegnener vào năm 1997 đã chỉ ra rằng: Sự tăng trưởng không giới hạn phương tiện vận tải cá nhân gây ra các hậu quả nghiêm trọng cho hệ thống giao thông vận tải Trong khu vực đô thị, chính sách thỏa mãn nhu cầu
đi lại ngày càng cao bằng cách xây dựng nhiều đường cao tốc là không khả thi, nhà nước cố gắng xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng phục vụ phương tiện cá nhân hơn, số lượng ùn tắc giao thông xẩy ra ngày càng nhiều hơn Phương tiện phát triển không chỉ mang tới sự tự do đi lại mà còn gây ra các hậu quả như ô nhiễm không khí, ô nhiễm tiếng ồn, tắc đường và tai nạn giao thông Nghiên cứu này chỉ ra rằng xu hướng của phát triển giao thông vận tải là hướng đến phát triển bền vững bao gồm
về phương tiện, cơ sở hạ tầng, công nghệ, thiết kế, vận hành khai thác, tài chính của
hệ thống giao thông vận tải đều cần hướng tới phát triển bền vững [35]
Nghiên cứu của John Hartman, phó chủ tịch hội đồng của Trung tâm Phát triển bền vững giao thông vận tải tại Canada cùng với các nhóm nghiên cứu đã đề xuất ý tưởng mới phát triển các tiêu chí phát triển bền vững cho giao thông vận tải Kết quả đã công bố các tiêu chí và chỉ tiêu phát triển bền vững (STPI: Sustainable transport performance indicators) được chia làm 3 nhóm,
- Nhóm 1 Tiêu chí về môi trường bao gồm các chỉ tiêu: Mức giới hạn ô nhiễm; Mức giới hạn phát thải, tối thiểu hóa tiêu thụ năng lượng không thể tái tạo, tái sử dụng và tái chế, thiểu hóa sử dụng đất, hạn chế tiếng ồn
- Nhóm 2 Tiêu chí về xã hội bao gồm các chỉ tiêu: Đáp ứng được các nhu cầu cá nhân, đáp ứng được nhu cầu xã hội, đánh giá mức độ an toàn, đảm bảo các yêu cầu an toàn cho môi trường tự nhiên, đảm bảo sự công bằng giữa các thế hệ
- Nhóm 3 Tiêu chí về kinh tế bao gồm các chỉ tiêu: Hiệu quả của sự khai thác vận hành, cung cấp các sự lựa chọn về các phương thức vận tải, đảm bảo sự phát triển kinh tế [38]
Trên cơ sở nghiên cứu của Canada, các quốc gia và vùng lãnh thổ khác đề xuất các tiêu chí, chỉ tiêu phát triển bền vững bao gồm [32][40]:
- Các nước vùng Baltic ban hành tài liệu hướng dẫn gồm 6 nhóm tiêu chí và
21 chỉ tiêu phát triển bền vững
- Newzealand ban hành bộ tiêu chí tiêu chuẩn ưu tiên cho phát triển bền vững gồm 9 nhóm tiêu chí, 33 chỉ tiêu phát triển bền vững
Trang 16- Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD- Organization for Economic Co-operation and Development) công bố bộ 3 nhóm tiêu chí và 8 chỉ tiêu phát triền bền vững cho giao thông vận tải
- Chính phủ Anh công bố bộ 4 tiêu chí bao gồm 11 chỉ tiêu phát triển bền vững cho giao thông vận tải
- Ngân hàng thế giới công bộ 4 nhóm tiêu chí gồm 18 tiêu chuẩn cho phát triển bền vững giao thông vận tải
Peter P Rogers, Kazi F Jalal và John A Boyd trong cuốn “Giới thiệu về
phát triển bền vững” (An Introduction to Sustainable Development) xuất bản năm
2007 đã giới thiệu những kiến thức cơ sở về phát triển bền vững, trong đó đã tập trung phân tích những vấn đề đo lường và chỉ số đánh giá tính bền vững; vấn đề đánh giá, quản lý và chính sách đối với môi trường; cách tiếp cận và mối liên kết với giảm nghèo; những ảnh hưởng đến phát triển cơ sở hạ tầng; các vấn đề về kinh
tế, sản xuất, tiêu dùng, những trục trặc của thị trường và về vai trò của xã hội dân
sự Trên cơ sở những kiến thức về phát triển bền vững, NCS có thể vận dụng cách tiếp cận, phân tích những ảnh hưởng của kết cấu hạ tầng, kinh tế xã hội để xây dựng các chỉ tiêu tiêu chí đánh giá PTBV vận tải hành khách bằng ô tô [39]
John Blewitt trong cuốn “Tìm hiểu về phát triển bền vững” (Understanding
Sustainable Development) xuất bản năm 2008 cũng đóng góp một phần quan trọng vào lý thuyết về phát triển bền vững, trong đó phải kể đến những phân tích về mối quan hệ giữa xã hội và môi trường, phát triển bền vững và điều hành của Chính phủ; các công cụ, hệ thống để phát triển bền vững, phác thảo về một xã hội bền vững Luận án tham khảo những lý thuyết về phát triển bền vững, NCS vận dụng phân tích các mối quan hệ giữa xã hội môi trường và cách thức điều hành của Chính phủ, Nhà nước trong đánh giá PTBV vận tải hành khách bằng ô tô [37]
Simon Dresner trong cuốn “Các nguyên tắc của phát triển bền vững” (The
Principles of Sustainability) xuất bản năm 2008 đã tổng hợp và phân tích các vấn đề
có liên quan như: Lịch sử phát triển, khái niệm phát triển bền vững, các cuộc tranh luận hiện nay về con đường để đạt được sự phát triển bền vững; Các trở ngại và triển vọng về phát triển bền vững Luận án tham khảo những nguyên tắc của phát triển bền vững, vận dụng cách thức xây dựng các nguyên tắc phát triển bền vững trong việc PTBV vận tải hành khách bằng ô tô [43]
Simon Bell và Stephen Morse trong cuốn “Các chỉ số phát triển bền vững:
đo lường những thứ không thể đo?” (Sustainability Indicators: Measuring the
Immeasurable) xuất bản năm 2008 đã có đóng góp lớn về lý luận và thực tiễn trong việc sử dụng các chỉ số phát triển bền vững Các tác giả đã giới thiệu hệ thống các
Trang 17quan điểm và một loạt các công cụ, kỹ thuật có khả năng giúp làm sáng tỏ hơn những vấn đề phức tạp trên cơ sở tiếp cận định tính hơn là tiến hành các biện pháp
đo lường định lượng Luận án tham khảo các công cụ, cách đánh giá về phát triển bền vững, vận dụng để xây dựng các chỉ tiêu đánh giá PTBV vận tải hành khách bằng ô tô [44]
Sử dụng nhiên liệu sinh học
Năm 2010, trong một số chương trình của liên minh Châu Âu đã tiến hành đánh giá về hệ thống phân phối nhiên liệu và sử dụng nhiên liệu sinh học Sau đó, Tiêu chuẩn nhiên liệu được điều chỉnh để cho phép tăng thành phần nhiên liệu sinh học trong sử dụng nhiên liệu hiện có và sử dụng xe Các chuỗi giá trị được tối ưu hóa, phân phối và sử dụng phải được điều chỉnh liên tục và nâng cao sự nhận thức của cộng đồng về sử dụng nhiên liệu sinh học [49]
Sử dụng nhiên liệu sinh học và các loại khí đã làm tăng năng lực phục vụ vận tải hiện đang được phát triển khắp châu Âu (nhiên liệu sinh học bao gồm: Methane, CNG, LPG…)
Quá trình sử dụng nhiên liệu sinh học và phân phối nhiên liệu sinh học tại EU: Nhiên liệu sinh học được sử dụng trong vận tải bằng ô tô trong vận tải đường
bộ đang tăng lên, từ đó làm cơ sở để khuyến kích sử dụng nhiên liệu sinh học cho các các phương thức vận tải khác (đường sắt, hàng không, hàng hải) Sử dụng nhiên liệu sinh học có thể làm tăng tiêu nhiên liệu, tạo ra những thách thức mới đối với các thông số kỹ thuật và tiêu chuẩn của máy móc
Phát triển cơ sở hạ tầng đối với việc cung cấp nhiên liệu khí hóa lỏng và nhiên liệu sinh học như methane, CNG, LPG được khuyến kích sử dụng tại các quốc gia trong EU, kịch bản mới cho các nhu cầu vận tải bằng ô tô gần đây đã được phát triển (ERTRAC21) Nhiên liệu sinh học, đại diện cho một trong nhiều giải pháp, cùng với sự gia tăng hiệu quả sử dụng năng lượng và các biện pháp kỹ thuật
đã khuyến khích thay đổi trong việc lựa chọn hành vi của người tiêu dùng
1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước
1.2.1 Các luận án tiến sĩ
Luận án tiến sĩ: "Nghiên cứu thống kê đánh giá phát triển bền vững ở Việt
Nam" của tác giả Nguyễn Minh Thu năm 2014 Luận án đã hệ thống hóa và làm rõ
các nội dung liên quan tới phát triển bền vững, hệ thống chỉ tiêu thống kê phát triển bền vững Đồng thời, luận án cũng đề xuất phương pháp tính các chỉ số riêng biệt, chỉ số thành phần, chỉ số tổng hợp đánh giá phát triển bền vững trên cơ sở hệ thống chỉ tiêu đã có ở Việt Nam Ngoài việc tham khảo những lý luận về phát triển bền vững, NCS có thể học tập, vận dụng cách thức xây dựng các chỉ tiêu đánh giá phát
Trang 18triển bền vững của đề tài để xây dựng hệ thống các chỉ tiêu đánh giá PTBV vận tải hành khách bằng ô tô.[20]
Luận án tiến sĩ: "Phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn
Hữu Sở năm 2009 Luận án đã hệ thống hóa lý luận về phát triển kinh tế bền vững, nghiên cứu thực trạng phát triển kinh tế của Việt Nam và những vấn đề đặt ra về phát triển kinh tế bền vững Trên cơ sở đó, luận án đã xây dựng những giải pháp cơ bản bảo đảm sự phát triển kinh tế bền vững ở Việt Nam Những lý luận về phát triển bền vững nêu trong luận án là tài liệu cần thiết cho tác giả triển khai nghiên cứu nội dung phát triển bền vững cho đề tài của mình [14]
Luận án tiến sĩ: "Nghiên cứu vấn đề phát triển bền vững công nghiệp trên địa
bàn tỉnh Thái Nguyên" của tác giả Nguyễn Hải Bắc năm 2010 Công trình đã nghiên
cứu các lý luận về phát triển bền vững và phát triển bền vững công nghiệp Bên cạnh đó tác giả đã phân tích thực trạng phát triển bền vững công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên và nêu lên các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển bền vững công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên [1]
Luận án tiến sĩ:"Phát triển bền vững ngành chế bến thủy sản Bến Tre" của
tác giả Nguyễn Văn Hiếu năm 2014 Luận án tập trung trình bày cơ sở lý thuyết về phát triển bền vững, xây dựng khung phân tích và mô hình phát triển bền vững cho ngành thủy sản Việt Nam và vận dụng cho tỉnh Bến Tre Luận án cũng phân tích mối quan hệ giữa các trụ cột và vai trò của thể chế đối với sự phát triển bền vững của ngành chế biến thủy sản tỉnh Bến Tre Đây là một tài liệu đáng tham khảo về cách thức xây dựng chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững cho một ngành cụ thể, NCS có thể nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá phát triển bền vững cho dịch vụ vận chuyển hành khách bằng ô tô.[6]
Luận án tiến sĩ: "Nghiên cứu phát triển bền vững cơ sở hạ tầng giao thông
vùng đồng bằng sông Cửu Long" của tác giả Đặng Trung Thành năm 2011 Luận án
đã hệ thống hóa và hoàn thiện cơ sở lý luận về phát triển bền vững nói chung và phát triển bền vững cơ sở hạ tầng giao thông vùng nói riêng Bên cạnh đó, luận án
đã xây dựng tiêu chí phát triển bền vững cơ sở hạ tầng giao thông Thông qua việc phân tích thực trạng về đầu tư và quản lý cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ, đường thủy nội địa, hàng hải và hàng không ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, tác giả đã đưa ra một số giải pháp phát triển bền vững cơ sở hạ tầng giao thông vùng đồng bằng sông Cửu Long Tuy nhiên, trong giới hạn nghiên cứu của đề tài, luận án không đề cập đến các giải pháp phát triển bền vững dịch vụ vận tải hành khách [17]
Tác giả Phạm Đức Thanh, trong công trình nghiên cứu “Phát triển hệ thống giao
thông vận tải bền vững với biến đổi khí hậu”, đã nêu ra những quan điểm mang tính
Trang 19nguyên tắc chung về phát triển hệ thống giao thông vận tải bền vững, tổng hợp các số liệu, nêu các mối quan hệ tương tác giữa hệ thống giao thông vận tải với hiện tượng biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng Xuất phát từ đặc điểm của hệ thống giao thông vận tải (kết cấu, phương tiện, quản lý) cũng như nguyên nhân và ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng đến ngành giao thông, bài báo đã đề xuất các nhóm giải pháp cũng như gợi mở một số hướng nghiên cứu phát triển hế thống giao thông vận tải bền vững với hiện tượng biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng Kết quả phân tích của tác giả cho thấy việc nghiên cứu các giải pháp thích hợp trong ngành giao thông để thích ứng và giảm thiểu biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng đang rất cần được quan tâm Trên cở sở đó, công trình nghiên cứu đề xuất một số nhóm giải pháp tổng hợp cũng như gợi mở những hướng nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này.[18][19]
1.2.2 Các Công trình, Đề án, Nghiên cứu thí điểm và Hội thảo khoa học liên quan đến nhiên liệu sạch
- Năm 1983 tại Việt Nam đã có thí nghiệm chuyển đổi xe Zin 130 chạy bằng gaz nén (CNG)
- Năm 2006, Trung tâm Khoa học bảo vệ Môi trường thuộc Đại học Đà Nẵng
đã tiến hành thí điểm và áp dụng bộ phụ kiện chuyển đổi nhiên liệu từ xăng sang khí hóa lỏng (LPG) cho tàu và thuyền Giám đốc trung tâm, GS-TSKH Bùi Văn Ga cho biết việc áp dụng công nghệ chuyển đổi này sẽ góp phần rất lớn trong việc hạn chế ô nhiễm môi trường sông, biển do tàu thuyền chạy bằng xăng dầu gây ra, đồng thời tính kinh tế khi chạy bằng LPG sẽ tốt hơn và tuổi thọ động cơ cao hơn so với chạy bằng xăng Đến cuối năm 2006, một số tàu du lịch ở Nha Trang đã áp dụng công nghệ này
- Từ năm 2008 đến 2010, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) đã tổ chức khởi công xây dựng 3 nhà máy nhiên liệu sinh học (NLSH) tại Phú Thọ, Quảng Ngãi và Bình Dương trong đề án phát triển NLSH đã được Chính phủ phê duyệt Thực hiện chủ trương có tính chiến lược của Chính phủ nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường
- Ngày 26/10/2007 tại Hà Nội, Hội đồng chính sách Khoa học - Công nghệ
quốc gia đã tổ chức Hội thảo: "Nhiên liệu sinh học cho vận tải: Tiềm năng - điều
kiện phát triển" Mục đích của hội thảo là nhằm kết nối các nhà khoa học cùng với
với các doanh nghiệp quan tâm đầu tư sản xuất nhiên liệu sinh học, đồng thời, tập trung ý kiến từ nhiều ngành để thúc đẩy chính sách quốc gia về phát triển nhiên liệu sinh học, bao gồm đầu tư, sản xuất, phân phối nhiên liệu sinh học ở Việt Nam Có
140 đại biểu đại diện cho giới khoa học, giới doanh nghiệp trong cả nước cùng đại diện các cơ quan Nhà nước có liên quan như Bộ Khoa học - Công nghệ, Bộ Công
Trang 20thương, Văn phòng Chính phủ đã tham dự hội thảo Tại hội thảo trên, giới khoa học
và doanh nghiệp đã hướng sự chú ý đến việc phát triển nhiên liệu sinh học ở Việt Nam từ dầu mè, mía, dừa và cá basa.[8]
- Ngày 29/10/2010 tại hội thảo “Ứng dụng LPG (khí hóa lỏng) trong vận tải
hành khách bằng ôtô tại TP.HCM”, Công ty cổ phần vận tải dầu khí Cửu Long -
cho biết đã có gần 400 xe mang thương hiệu taxi Dầu khí chạy bằng LPG ở TP.HCM, Vũng Tàu và 05 trạm cung cấp LPG
- Tháng 7/2011 tại Bình Phước đã tổ chức Hội thảo Kinh nghiệm triển khai các dự án Nhà máy Nhiên liệu sinh học do Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam chủ trì
- Bộ Công Thương đang nghiên cứu dự thảo để việc sử dụng nhiên liệu sinh học đạt hiệu quả, dự thảo về lộ trình bắt buộc sử dụng nhiên liệu sinh học của Liên
bộ đã được trình cấp có thẩm quyền Tuy nhiên, trong dự thảo quy định, đến ngày 1-7-2013, lộ trình bắt buộc sử dụng xăng sinh học E5 mới được áp dụng ở 7 tỉnh, thành phố lớn trên cả nước gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu và Cần Thơ Đến ngày 1-1-2015 áp dụng toàn quốc Tương tự, xăng sinh học E10 sẽ được áp dụng tại 7 thành phố lớn từ ngày 1-1-2015 và áp dụng trên địa bàn cả nước từ ngày 1-1-2017 Như vậy, nhằm đưa xăng sinh học vào phục vụ cho toàn xã hội, ngoài nỗ lực của các nhà máy, rất cần sự quan tâm của các cấp có thẩm quyền trong việc hình thành lộ trình sử dụng nhiên liệu sinh học Đây là cơ sở để triển khai và là yếu tố để tồn tại hoạt động sản xuất kinh doanh nhiên liệu sinh học Việc sớm ban hành chính sách ưu đãi bổ sung cho đơn vị pha chế, kinh doanh nhiên liệu sinh học và hỗ trợ người dân phát triển vùng nguyên liệu là cần thiết Đây cũng là điều kiện cần và đủ để phát triển nhiên liệu sinh học ở Việt Nam.[2]
- Tháng 3/2012, Bộ Giao thông Vận tải quyết định phê duyệt Đề án tái cơ cấu Tổng công ty Công nghiệp ô tô Việt Nam (Vinamotor) Theo đề án này, Vinamotor sẽ tập trung vào 3 lĩnh vực chính: Sản xuất ô tô, sản xuất sản phẩm cơ khí giao thông và vận tải công cộng thân thiện với môi trường Hướng tới xây dựng Tổng công ty thành một doanh nghiệp nòng cốt của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam Trong đó về hoạt động vận tải, Tổng công ty sẽ triển khai dự án vận chuyển hành khách công cộng bằng xe buýt sử dụng nhiên liệu sạch tại khu vực Hà Nội [9]
- Cuối năm 2012, công ty TNHH MTV Xe khách Sài Gòn đã phối hợp với
Trung tâm khoa học và công nghệ giao thông khảo sát và đánh giá tác động của khí
thải trên thực tế sau hơn 01 năm đưa 21 xe buýt sử dụng CNG vào hoạt động
Những kết quả nghiên cứu, đánh giá thực tế này giúp cho lãnh đạo thành phố có
Trang 21một cái nhìn chính xác hơn về những ưu điểm mà xe CNG mang lại, từ đó có những quyết sách mới cho tương lai phát triển của hệ thống VTHKCC của thành phố
- Đo nồng độ khí thải của xe buýt chạy CNG: Trung tâm khoa học và công
nghệ giao thông đã phối hợp với Cục Đăng kiểm Việt Nam để đo khí thải theo
TCVN 6438 “Phương tiện giao thông đường bộ – giới hạn lớn nhất cho phép của
khí khải” - Các xe buýt sử dụng CNG tại thành phố HCM.Kết quả khảo sát cho
thấy: Nồng độ CO nhỏ hơn QCVN cho phép từ 150- 300 lần, Nồng độ HC nhỏ hơn QCVN cho phép từ 5,7- 2,5 lần Sở dĩ như vậy vì thành phần chính của CNG là methan (CH4) chứa ít cacbon hơn xăng và Diesel nên mức độ phát sinh ô nhiễm ít hơn nhiều lần
- Đánh giá hiệu quả môi trường
Xác định lượng khí thải độc hại phát tán vào môi trường: Tải lượng chất ô
nhiễm trong khí thải của các xe buýt chạy CNG so với xe Diesel chạy trên đường đô thị được tính theo phương pháp “Hệ số ô nhiễm” do Cơ quan Bảo vệ môi trường
Mỹ (USEPA) và Tổ chức y tế thế giới (WHO) thiết lập [42]
Kết quả cho thấy: Trên tuyến thí điểm chạy xe buýt CNG đã giảm tổng lượng phát thải các chất độc hại đã giảm 39,30 tấn/năm so với xe buýt chạy diezel Trong đó, đặc biệt quan trọng là lượng bụi lơ lửng TSP (Hạt rắn PM10và bồ hóng) giảm 1,81 tấn; NOx giảm 20,92 tấn; CO giảm 7,78 tấn; HC giảm 2,04 tấn; SO2 giảm 0,4 tấn; VOC giảm 6,36 tấn trong 1 năm
- Đo tiếng ồn và đánh giá tiếng ồn do xe buýt CNG phát ra
Trung tâm Khoa học công nghệ và Môi trường giao thông đã tiến hành khảo sát đo tiếng ồn do xe buýt CNG gây ra và đi đến kết luận: Mức ồn do xe buýt phát
ra khi đỗ của 02 loại xe đều nhỏ hơn QCVN cho phép Xe buýt CNG có mức ồn phát ra khi đỗ nhỏ hơn xe buýt Diesel tương ứng là 4dBA
- Một số kết luận qua quá trình thí điểm xe buýt CNG
Qua thời gian triển khai thí điểm, Sở GTVT TP Hồ Chí Minh nhận thấy việc
xe buýt sử dụng nhiên liệu sạch CNG đã giảm thiểu ô nhiễm môi trường một cách
rõ rệt so với xe buýt sử dụng nhiên liệu Diesel Cụ thể là: Giảm lượng khí thải độc
hại gây ô nhiễm môi trường; Giảm lượng khí nhà kính CO2 phát thải; Giảm tiếng ồn
và rung động Bước đầu thành công trong việc xây dựng các tuyến buýt kiểu mẫu về chất lượng dịch vụ thông qua việc trang bị các hệ thống GPS, bán vé tự động…;
Trang 22được hành khách và nhân dân thành phố ủng hộ vì xe có tính tiện nghi cao và giảm
ô nhiễm môi trường
Đặc biệt, với sự hỗ trợ của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Công ty kinh doanh Khí hóa lỏng Miền Nam nên khi đưa xe buýt CNG vào hoạt động đã tiết kiệm được khoảng 30% chi phí nhiên liệu so với xe sử dụng Diesel
Thành phố Hồ Chí Minh có 2.470 xe buýt sử dụng nhiên liệu Diesel, bình quân một xe hoạt động 60.838 km/năm Như vậy, tổng số km lăn bánh của loại xe
sử dụng nhiên liệu diesel là: 150.269.470 km/năm Nếu tiến hành chuyển đổi hết sang xe buýt sử dụng nhiên liệu CNG thì toàn thành phố sẽ giảm thiểu được một số lượng rất lớn lượng phát thải và khí thải độc hại Môi trường không khí của TP Hồ Chí Minh sẽ trong lành hơn, chi phí chữa bệnh của nhân dân giảm, tuổi thọ trung bình tăng, đồng thời Nhà nước có thể giảm chi phí để phòng chống biến đổi khí hậu
- Ngày 27/8/2015, Tổng Công ty Cơ khí Giao thông Vận tải Sài Gòn – TNHH MTV (SAMCO) tổ chức Hội thảo sử dụng nhiên liệu CNG trong vận tải hành khách công cộng (VTHKCC) tại Hà Nội SAMCO đã giới thiệu về hiệu quả, kinh nghiệm và chiến lược sử dụng nhiêu liệu CNG trong dịch vụ vận tải hành khách của mình, chỉ rõ sự cần thiết, tính khả thi của việc sử dụng loại nguyên liệu này vì mục đích bảo vệ môi trường và nâng cao chất lượng giao thông trong đô thị Tại đây tập đoàn Hyundai giới thiệu về công nghệ CNG và ứng dụng công nghệ này trên các phương tiện vận tải hành khách công cộng SAMCO cũng sẽ kết hợp với Tổng Công ty khí Việt Nam (PV Gas) giới thiệu về kế hoạch xây dựng mạng lưới cung cấp khí CNG tại khu vực phía Bắc và một số khu vực trọng điểm
TP.HCM là một trong những đô thị đi đầu trong việc phát triển và sử dụng phương tiện sử dụng nhiên liệu sạch CNG để tham gia VTHKCC bằng xe buýt Ngày 26/8/2011, Công ty Xe khách Sài Gòn đã đưa 21 xe buýt chạy bằng khí nén thiên nhiên CNG vào hoạt động trên tuyến xe buýt số 01 Bến Thành - Bến xe Chợ Lớn Tuyến xe buýt này được gọi là tuyến xe buýt xanh vì tất cả các xe phục vụ trên tuyến đều là xe sử dụng khí nén thiên nhiên CNG
Xe buýt chạy CNG có nhiều ưu điểm hơn so với xe chạy bằng Diesel như động cơ vận hành êm, không có bụi và khói đen, giảm các khí thải độc hại (lượng khí thải gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người do xe chạy bằng CNG thải ra giảm đến 53% so với xe chạy bằng Diesel)… Ngoài ra, chi phí nhiên liệu cũng giảm từ
30 - 45% SAMCO đã nghiên cứu và hợp tác chuyển giao công nghệ từ Hyundai Hàn Quốc để sản xuất thành công sản phẩm xe buýt SAMCO City H.70 CNG, tạo
ra bước ngoặt cho việc phát triển vận tải hành khách công cộng gắn liền bảo vệ môi trường sống cho người dân đô thị Với những xe buýt xanh này, SAMCO đang dần
Trang 23hiện thực hóa chiến lược sử dụng nhiên liệu sạch, thân thiện môi trường trong Vận tải Hành khách công cộng, góp phần giảm thiểu ô nhiễm, bảo vệ môi trường của thành phố
Ngày 06/4/2016 Sở Giao thông vận tải phối hợp với Tổng công ty cơ khí Giao thông vận tải Sài Gòn (Samco) và Công ty cổ phần kinh doanh Khí hóa lỏng Miền Nam đồng tổ chức hội thảo: Sử dụng nhiên liệu CNG trong Giao thông vận tải khu vực Miền Nam Phù hợp với định hướng phát triển chung của thành phố đã đuợc Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 568/QĐ-TTg ngày 08/3/2013 về quy hoạch phát triển giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, với mục tiêu vận tải hành khách công cộng đến năm 2020 đáp ứng 20-25% nhu cầu đi lại Trong đó, việc phát triển phương tiện vận tải phải có tiêu chuẩn kỹ thuật và chất lượng đảm bảo với yêu cầu về bảo vệ môi trường; Xây dựng hệ thống giao thông công cộng hiện đại kết hợp với sử dụng nhiên liệu hiệu quả trong hoạt động giao thông để giảm thiểu ô nhiễm môi trường
Áp dụng sử dụng nhiên liệu sạch tại Việt Nam
- Năm 1997 Công ty Sài Gòn Petro đã cho chạy 20 xe taxi ở tp Hồ Chí Minh sử dụng gaz hóa lỏng LPG và xây dựng trạm cấp LPG cho xe taxi Năm 2001 việc chuyển đổi bắt đầu cho nhiều loại xe từ Lada đến Nissan Trong các năm tiếp theo Nhà máy ô
tô Ngô Gia Tự đã cung cấp các dịch vụ lắp bộ chuyển đổi cho ô tô và xe máy
- Tháng 10/2003, Mai Linh Taxi, Gili Taxi (Vũng Tàu) cho hoạt động 50 xe taxi sử dụng nhiên liệu khí hóa lòng LPG tại Vũng Tàu
- Từ năm 2007 đến nay, Công ty CP Vận tải Dầu Khí Đông Dương và Công
ty CP Vận Tải Dầu Khí Cửu Long thuộc Tổng Công ty CP Vận tải Dầu Khí đã triển khai thương hiệu Taxi Dầu Khí với hơn 600 đầu xe taxi hiệu Huyndai sử dụng nhiên liệu sạch LPG giảm thiểu ô nhiễm môi trường trên khắp các tỉnh Hà Nội, Nam Định, Đà Nẵng, Sài Gòn, Vũng Tàu và các tỉnh lân cận các thành phố trên
- Năm 2010, Tổng Công ty Dầu Việt Nam (PVOil) đã cho vào sản xuất hàng loạt xăng Ethanol (E5) với mục tiêu giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại Việt Nam theo định hướng của Đảng, Nhà nước và Tập đoàn Dầu Khí Việt Nam
- Năm 2011, UBND TP.HCM yêu cầu công ty Đầu tư tài chính nhà nước thành phố vay vốn để đầu tư thí điểm 21 xe buýt mới chạy bằng khí nén thiên nhiên (compressed natural gas – CNG), được đưa vào hoạt động thí điểm sáu tháng trên tuyến xe buýt số 1 (Chợ Bến Thành - Chợ Bình Tây), Tháng 3/2012, Liên hợp hợp tác xã vận tải TP Hồ Chính Minh đã có 28 xe buýt sử dụng nhiên liệu sạch CNG hoạt động trên 4 tuyến
Trang 24- Hiện nay, Thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 2.700 xe buýt hoạt động trên
136 tuyến xe buýt vận chuyển khoảng 1 triệu luợt hành khách/ngày, đa số đều là các
xe buýt sử dụng nhiên liệu dầu Diesel được đầu tư trong giai đoạn 2002-2005 đến nay đã xuống cấp và có tiêu chuẩn khí thải rất thấp Trong đó, chỉ có 137 xe buýt sử dụng nhiên liệu sạch CNG thân thiện với môi trường (chiếm 5% toàn hệ thống) hoạt động trên các tuyến xe buýt có trợ giá số 1, 33, 104 và 151 Thành phố tạo đang tạo
cơ chế để thực hiện đề án đầu tư 1.680 xe buýt mới sử dụng nhiên liệu sạch CNG trong những năm tới
Các công trình, đề tài, hội thảo khoa học và áp dụng thực tế trong ngành giao thông vận tải trong các năm qua, phát triển giao thông vận tải nói chung và dịch vụ vận chuyển hành khách bằng phương tiện vận tải sử dụng nhiên liệu sạch đang là một vấn đề cấp bách và cần thiết
"Nghiên cứu toàn diện về phát triển bền vững Hệ thống giao thông vận tải ở
Việt Nam, Báo cáo chuyên ngành số 4" do cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản
(JICA) và Bộ giao thông vận tải thực hiện năm 2010 Báo cáo đề cập về hiện trạng giao thông đường thủy nội địa Việt Nam như hiện trạng mạng lưới đường thủy, phân cấp kỹ thuật, cảng và bến cảng, hiệu quả hoạt động khai thác ngành vận tải thủy nội địa
và đặc điểm về thể chế từ năm 1995 đến năm 2008 Đồng thời báo cáo cũng nêu lên các chính sách, quy hoạch và dự án hiện có của ngành Tuy nhiên cách tiếp cận vấn đề phát triển bền vững là những nội dung quan trọng mà tác giả có thể vận dụng, nghiên cứu cho đề tài của mình [3]
1.3 Các khoảng trống nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu của đề tài
1.3.1 Các khoảng trống nghiên cứu
Có thể thấy, các công trình nghiên cứu đã có chủ yếu tập trung vào phát triển bền vững một ngành nghề, phát triển một mảng nào đó trong hệ thống giao thông vận tải hoặc là những quy hoạch, giải pháp phát triển vận tải mang tính định hướng
Các công trình nghiên cứu về phát triển bền vững mới đề cập đến những lý luận chung về phát triển bền vững hoặc lý luận về phát triển bền vững một số lĩnh vực khác như đường sắt, thủy sản, cơ sở hạ tầng vùng, công nghiệp mà chưa có công trình nào tập trung nghiên cứu một cách toàn diện lý luận về phát triển bền vững vận tải hành khách đặc biệt là hoạt động vận tải hành khách bằng ô tô
Một số công trình đã nghiên cứu xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá bền vững trong ngành thủy sản, ngành công nghiệp, ngành dầu khí chưa có công trình nào nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới phát triển bền vững ngành vận tải hành khách xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá PTBV vận tải hành khách bằng ô tô
Trang 25Muốn đánh giá dịch vụ vận tải hành khách có phát triển bền vững hay không cần dựa vào những chỉ tiêu nào? Những nhân tố nào ảnh hưởng tới phát triển bền vững vận tải hành khách bằng ô tô? Sự phát triển của giao thông đô thị tại các thành phố lớn tại Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến 2016 có bền vững không? Có đảm bảo đạt được lợi ích trên cả ba mặt kinh tế, xã hội và môi trường không? Để dịch vụ vận tải hành khách bằng ô tô phát triển bền vững, góp phần giảm áp lực cho vận tải hàng không, đường thủy, đường sắt và trở thành ngành vận tải quan trọng trong hệ thống vận tải thống nhất thì cần áp dụng hệ thống những giải pháp cụ thể nào?
1.3.2 Đề xuất hướng nghiên cứu và mục tiêu của đề tài
Luận án tập trung nghiên cứu về hoạt động vận tải hành khách bằng ô tô trong mối tương quan với PTBV ở ba góc độ Kinh tế - Xã hội - Môi trường Đi sâu làm rõ vị trí, vai trò của dịch vụ vận tải hành khách bằng ô tô tại Việt Nam và đưa ra một số giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng và PTBV loại hình dịch vụ này
trong điều kiện hội nhập kinh tế
Với các khoảng trống đã phân tích ở trên, trên cơ sở các định hướng phát triển của chính phủ, của các địa phương, kết hợp với các công trình khoa học có liên quan Luận án sẽ đi sâu vào nghiên cứu các nhóm vấn đề sau:
- Nghiên cứu tổng hợp cơ sở lý luận về phát triển bền vững Từ đó làm cơ sở để nghiên cứu lý luận về phát triển bền vững cho vận tải hành khách nói chung và doanh nghiệp vận tải hành khách bằng ô tô nói riêng
- Nghiên cứu đề xuất quy trình, trình tự nghiên cứu về phát triển bền vững cho lĩnh vực vận tải hành khách bằng ô tô
- Đề xuất các tiêu chí, chỉ tiêu phát triển bền vững cho vận tải hành khách bằng
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
Tác giả tiến hành thu thập các tài liệu về cơ sở lý luận phát triển bền vững của Việt Nam cũng như trên thế giới
Trang 26Với các công trình nghiên cứu trên, tác giả đã tổng hợp để hệ thống hóa cơ
sở lý luận về phát triển bền vững nói chung và phát triển bền vững giao thông vận tải nói riêng Đồng thời từ kết quả của các nghiên cứu đã có, tác giả phân tích, tổng hợp để lựa chọn các khoảng trống nghiên cứu cho luận án
Luận án cũng đã thu thập tổng hợp các văn bản về quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước, các Bộ ngành về phát triển bền vững, làm cơ sở để định hướng nghiên cứu của luận án
Sau khi thu thập số liệu, tác giả đã sử dụng các phần mềm như excel, SPSS
để tổng hợp và đưa ra kết quả nghiên cứu
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu phân tích
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu luận án, nghiên cứu sinh sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng
Phương pháp nghiên cứu phân tích định lượng được thực hiện thông qua việc thu thập số liệu thống kê, nhằm đưa ra các kết quả dưới dạng bảng, biểu đồ, đồ thị đánh giá các yếu tố liên quan đến sự phát triển bền vững của ngành giao thông vận tải, cũng như cho sự phát triển bền vững của vận tải hành khách bằng ô tô
Phương pháp nghiên cứu phân tích định tính được thực hiện để điều tra khảo sát, phỏng vấn về các thông tin như chất lượng dịch vụ vận tải làm cơ sở để phân tích đưa các tiêu chí, chỉ tiêu phát triển bền vững cho doanh nghiệp
Kết luận chương 1
Nội dung chương 1 đã phân tích đánh giá các công trình nghiên cứu có liên quan đến phát triển bền vững nói chung và phát triển bền vững cho giao thông vận tải nói riêng
Với việc tổng hợp, đánh giá đã có được, tác giả đề xuất các hướng nghiên cứu của luận án với các nội dung được thực hiện trong các chương tiếp theo bao gồm:
- Nghiên cứu đề xuất cơ sở lý luận về phát triển bền vững cho vận tải hành khách bằng ô tô Trong đó có xây dựng các tiêu chí, chỉ tiêu cụ thể để đánh giá sự phát triển bền vững của vận tải hành khách bằng ô tô
- Đánh giá hiện trạng phát triển bền vững vận tải hành khách bằng ô tô ở Việt Nam từ đó làm cơ sở để đề xuất các giải pháp phát triển bền vững ứng dụng cho các doanh nghiệp vận tải hành khách bằng ô tô
- Vận tải hành khách bằng ô tô ở Việt Nam đã có nhiều tiến bộ nhưng vẫn phát triển đi sau các nước trong cùng khu vực như Thái Lan, Singapore, Indonexia và đặc biệt các nước lớn tại châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ…
Trang 27- Nhiên liệu sạch sử dụng trong phương tiện vận tải đa dạng nhưng thiếu chiến lược khai thác và sử dụng đồng bộ; Hiệu quả khai thác và sử dụng nhiên liệu xanh - sạch còn thấp Hệ thống giá nhiên liệu sạch chưa thích ứng với cơ chế thị trường của ngành vận tải và của khách hàng
- Tổ chức quản lý, ứng dụng khoa học kỹ thuật tiến tiến, công nghệ thông tin chưa đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh trong ngành vận tải Dự đoán nhu cầu chưa chính xác và quyết định đầu tư còn chậm
- Phát triển hệ thống ngành vận tải hành khách bằng ô tô chưa quan tâm đầy
đủ đến bảo vệ môi trường và Phát triển bền vững
Trang 28CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VẬN TẢI HÀNH KHÁCH BẰNG Ô TÔ 2.1 Tổng quan về vận tải, đặc điểm, vai trò của các phương thức vận tải
2.1.1 Khái niệm, phân loại vận tải
2.1.1.1 Khái niệm
Vận tải là một hoạt động kinh tế có mục đích của con người nhằm đáp ứng nhu cầu di chuyển vị trí của đối tượng vận chuyển, đối tượng vận chuyển gồm con người (hành khách) và vật phẩm (hàng hoá) Vận tải chỉ bao gồm những di chuyển
do con người tạo ra nhằm mục đích kinh tế (lợi nhuận) để đáp ứng yêu cầu về sự di chuyển đó mà thôi
Tất cả của cải vật chất chủ yếu cần thiết cho sự tồn tại và phát triển xã hội loài người, của cải vật chất của xã hội được tạo ra ở các ngành sản xuất vật chất cơ bản: Công nghiệp khai khoáng; công nghiệp chế biến; nông nghiệp và vận tải Đối với một ngành sản xuất vật chất như công nghiệp, nông nghiệp trong quá trình sản xuất đều có sự kết hợp của 3 yếu tố, đó là công cụ lao động, đối tượng lao động và sức lao động
Trong quá trình sản xuất của ngành vận tải cũng đã tiêu thụ một lượng vật chất nhất định như: Vật liệu, nhiên liệu, hao mòn phương tiện vận tải Hơn nữa, đối tượng lao động (hàng hoá, hành khách vận chuyển) trong quá trình sản xuất vận tải cũng trải qua sự thay đổi nhất định
Có thể khái niệm về vận tải như sau: Vận tải là quá trình thay đổi (di chuyển) vị trí của hàng hoá, hành khách trong không gian và thời gian để nhằm thoả mãn nhu cầu nào đó của con người [10]
2.1.1.2 Phân loại: Có rất nhiều tiêu thức để phân loại vận tải
* Căn cứ vào phương thức thực hiện quá trình vận tải
Vận tải đường thuỷ Vận tải hàng không
Vận tải đường bộ Vận tải đường sắt
Vận tải trong thành phố bao gồm: Metro, Trolaybus, Buýt
Vận tải đặc biệt Vận tải đường ống
* Căn cứ vào đối tượng vận chuyển:
- Vận tải hành khách;
- Vận tải hàng hoá
Trang 29* Căn cứ vào cách tổ chức quá trình vận tải:
- Vận tải đơn phương thức: Hàng hoá hay hành khách được vận chuyển từ nơi đi đến nơi đến bằng một phương thức vận tải duy nhất;
- Vận tải đa phương thức: Là việc vận chuyển được thực hiện bằng ít nhất là
2 phương thức vận tải, nhưng chỉ sử dụng một chứng từ duy nhất và chỉ một người chịu trách nhiệm trong quá trình vận chuyển đó;
- Vận tải đứt đoạn: Là việc vận chuyển được thực hiện bằng 2 hay nhiều phương thức vận tải, nhưng phải sử dụng 2 hay nhiều chứng từ vận tải và 2 hay
nhiều người chịu trách nhiệm trong quá trình vận chuyển đó
* Căn cứ vào tính chất vận tải
- Vận tải công cộng: Vận chuyển con người từ địa điểm này đến địa điểm khác, các doanh nghiệp vận tải chuyên chở vật phẩm hàng hóa từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ
- Vận tải nội bộ: Vận chuyển trong nội bộ doanh nghiệp nhằm di chuyển vật liệu, thành phẩm, bán thành phẩm, cán bộ công nhân viên…
* Phân loại theo loại hình kinh doanh vận tải: Các loại hình kinh doanh vận tải bằng ô
tô bao gồm các loại hình sau:
- Kinh doanh vận tải khách theo tuyến cố định là kinh doanh vận tải khách bằng ô
tô theo tuyến có xác định bến đi, bến đến và xe chạy theo lịch trình, hành trình quy định
- Kinh doanh vận tải khách bằng xe buýt là kinh doanh vận tải khách bằng ô tô theo tuyến cố định có các điểm dừng đón, trả khách và xe chạy theo biểu đồ vận hành
- Kinh doanh vận tải khách bằng taxi là kinh doanh vận tải khách bằng ô tô có lịch trình và hành trình theo yêu cầu của khách; Cước tính theo đồng hồ tính tiền
- Kinh doanh vận tải khách theo hợp đồng là kinh doanh vận tải khách bằng ô tô không theo tuyến cố định được thực hiện theo hợp đồng vận tải
* Phân loại vận tải theo các tiêu thức khác: Theo cự ly vận chuyển; Theo khối lượng vận chuyển; Theo phạm vi hoạt động…[10]
2.1.2 Đặc điểm của các phương thức vận tải
* Vận tải ô tô là phương thức có đặc điểm sau:
- Cơ động và linh hoạt nhất (nó có thể vận chuyển trong điều kiện không có đường, dừng đỗ bất cứ đâu mà có thể không cần bến bãi, nhưng mặt trái của nó là
dễ gây tai nạn giao thông vì tham gia cùng với các hoạt động khác của xã hội, )
- Rất thích hợp vận chuyển hàng hóa nhỏ lẻ, trên cự ly ngắn, vào bất kể thời điểm nào
Trang 30- Có khả năng độc lập vận chuyển (không cần có điều hành)
- Giá thành tương đối cao
- Tốc độ vận chuyển cũng xấp xỉ bằng vận tải sắt
* Vận tải đường sắt Vận tải đường sắt là phương thức có đặc điểm sau:
- Tính cơ động thấp (nó không vận chuyển trong điều kiện không có đường, nhưng mặt tích cực của nó tương đối an toàn ít tai nạn giao thông do có đường dành riêng, )
- Rất thích hợp vận chuyển hàng hóa khối lượng lớn, trên cự ly dài, ít phụ thuộc vào điều kiện thời tiết
- Không thích hợp với vận tải hàng nhỏ, cự ly ngắn (thời gian tác nghiệp đầu cuối chiếm tỷ trọng lớn)
- Giá thành vận tải thấp hơn vận tải ô tô khi vận chuyển khối lượng lớn ở cự
ly tương đối lớn (thường trên 500 Km)
- Tốc độ vận chuyển khá cao
* Vận tải đường thủy
Vận tải thủy ở đây bao gồm vận tải thủy nội địa (lưu thông trên sông, hồ, kênh, ) và vận tải biển (lưu thông trên biển hay ven biển) Vận tải đường thủy là phương thức có đặc điểm sau:
- Tính cơ động thấp (nó không thể vận chuyển trong điều kiện không có đường thủy, nhưng mặt tích cực của nó là hạn chế gây ra tai nạn giao thông, )
- Rất thích hợp vận chuyển hàng hóa khối lượng lớn, trên cự ly dài, ít phụ thuộc vào điều kiện thời tiết
- Không thích hợp với vận tải hàng nhỏ, cự ly ngắn trong vận tải đường biển (thời gian tác nghiệp đầu cuối chiếm tỷ trọng lớn), nhưng thích hợp với mọi khối lượng hàng hóa, ở mọi cự ly khi vận tải thủy nội địa, nhất là vùng lãnh thổ có mật
độ mạng lưới sông kênh lớn như ở Nam Bộ
- Giá thành vận tải rất rẻ đặc biệt vận chuyển ở cự ly lớn với khối lượng lớn
- Tốc độ vận chuyển thấp nhất
* Vận tải đường không Vận tải đường không là phương thức có đặc điểm sau:
- Đặc trưng của vận tải hàng không là tốc độ vận chuyển và giá thành cao
- Vận tải hàng không khi vận chuyển hàng hóa rất thích hợp trong quân sự, vận chuyển hành khách và hàng hóa chóng hỏng, hàng hóa có giá trị cao trên cự ly dài, nhưng yêu cầu về thời gian
- Đòi hỏi kỹ thuật rất cao, chịu ảnh hưởng nhiều bởi điều kiện thời tiết khi
Trang 31cất hạ cánh
- Đảm bảo an toàn bay rất nghiêm ngặt về cả kỹ thuật và an ninh, do vậy thủ
tục vận chuyển cũng thường phức tạp và tốn nhiều thời gian
* Vận tải đường đường ống.Vận tải đường ống là phương thức có đặc điểm sau:
- Tính cơ động thấp (nó không thể vận chuyển trong điều kiện không có đường ống, nhưng mặt tích cực của nó là hạn chế gây ra tai nạn giao thông mà chỉ
có sự cố về kỹ thuật đường ống)
- Rất thích hợp vận chuyển hàng hóa là chất lỏng và khí với khối lượng lớn, vận chuyển giữa 2 vị trí tương đối cố định và trên cự ly dài, không phụ thuộc vào điều kiện thời tiết Đặc biệt, trong điều kiện bình thường, việc cung cấp hàng rất đúng thời hạn, đảm bảo đủ về số lượng và đúng về chất lượng
- Thủ tục giao nhận đơn giản nhất
- Không thích hợp với vận tải hàng nhỏ, cự ly ngắn
- Giá thành vận tải thấp hơn vận tải ô tô, khi vận chuyển khối lượng lớn ở
cự ly tương đối lớn (thường trên 500 Km)
- Tốc độ vận chuyển khá cao (muốn có hàng là có ngay) [16]
2.1.3 Vai trò của vận tải trong nền kinh tế quốc dân
Vận tải giữ vai trò quan trọng và có tác dụng lớn đối với nền kinh tế quốc dân của mỗi nước Hệ thống vận tải được ví như mạch máu trong cơ thể con người,
nó phản ánh trình độ phát triển của một nước Vận tải phục vụ tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: Sản xuất, lưu thông, tiêu dùng, quốc phòng Trong sản xuất vận chuyển nguyên, nhiên, vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, lao động để phục vụ cho quá trình sản xuất, vận tải là yếu tố quan trọng của quá trình lưu thông
Vận tải có một chức năng đặc biệt trong xã hội là vận chuyển hàng hoá và hành khách từ địa điểm này đến địa điểm khác Không có vận tải thì bất cứ một quá trình sản xuất nào của xã hội cũng không thể thực hiện được Vận tải rất cần thiết đối với tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất, từ vận chuyển nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu cho quá trình sản xuất đến vận chuyển sản phẩm do quá trình sản xuất tạo ra… Vận tải cũng đáp ứng được nhu cầu đi lại của nhân dân
Vận tải là mạch máu của nền kinh tế quốc dân, nối liền các ngành, các đơn vị sản xuất với nhau nối liền khu vực sản xuất với khu vực tiêu dùng, nối liền thành thị với nông thôn, miền ngược với miền xuôi làm cho nền kinh tế thành một khối thống nhất Lực lượng sản xuất và trình độ chuyên môn hoá ngày càng phát triển đời sống
Trang 32nhân dân không ngừng nâng cao đòi hỏi vận tải phải phát triển nhanh chóng mới đáp ứngđược nhu cầu vận tải tăng lên không ngừng của nền kinh tế quốc dân
Vận tải là yếu tố quan trọng nhất của hệ thống logistics của từng nhà máy, doanh nghiệp Trong từng doanh nghiệp hay nhà máy đều có hệ thống cung ứng
và phân phối vật chất, hệ thống này bao gồm nhiều khâu, nhiều giai đoạn khác nhau
kể từ khi mua sắm nguyên, vật liệu cho sản xuất (cung ứng) cho đến khi phân phối sản phẩm đến tay người tiêu dùng Nghệ thuật quản lý sự vận động của nguyên liệu
và thành phẩm từ khi bắt đầu sản xuất đến nơi tiêu thụ cuối cùng như trên gọi là logistics Logistics bao gồm 4 yếu tố: Vận tải, marketing, phân phối và quản lý, trong đó vận tải là yếu tố quan trọng nhất và chiếm nhiều chi phí nhất
Tác dụng của vận tải đối với nền kinh tế quốc dân thể hiện ở những mặt sau đây:
a Vai trò của giao thông vận tải đối với sản xuất: Vận tải là ngành kinh tế ảnh
hưởng đến hàng loạt các ngành kinh tế Sự phát triển của vận tải được thể hiện ở việc tăng lên của mật độ mạng lưới đường, nâng cao tính đều đặn của những thao tác vận tải và giảm chi phí Có thể thấy được vai trò của vận tải trong các ngành kinh tế sau đây:
* Đối với sản xuất công nghiệp: Mối liên hệ giữa công nghiệp và các ngành kinh tế quốc dân do vận tải đảm nhận Việc cung cấp nguyên, nhiên liệu cho sản xuất và thành phẩm cho khu vực tiêu dùng là một khâu quan trọng trong quá trình sản xuất công nghiệp Việc hoạt động bình thường của các doanh nghiệp công nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào vận tải
Vận tải là điều kiện quan trọng để phát triển công nghiệp, vận tải có ảnh hưởng rất lớn đến số lượng và chất lượng công tác xây dựng cơ bản, đến việc sử dụng vốn của các doanh nghiệp và giá thành sản phẩm công nghiệp
* Đối với sản xuất nông nghiệp: Vận tải phát triển đã đáp ứng hoạt động kịp thời nhu cầu vận chuyển của nông nghiệp và có tác dụng to lớn đến sản xuất nông nghiệp Vận tải cung cấp tư liệu sản xuất đúng thời vụ cho sản xuất nông nghiệp, đảm bảo hàng hoá tiêu dùng cho nông dân Đồng thời vận chuyển sản phẩm của nông nghiệp đến nơi tiêu dùng một cách nhanh chóng và đảm bảo chất lượng Giá thành vận chuyển hạ đã tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển và cải thiện đời sống của nông dân
*Đối với lưu thông phân phối: Vận tải là tiếp tục quá trình sản xuất trong phạm vi lưu thông, đây là khâu chủ yếu trong quá trình lưu thông Muốn cho sản
Trang 33xuất ngày càng phát triển, mở rộng phạm vi tiêu dùng thì phải mở rộng lưu thông hàng hoá giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng với miền núi, giữa địa phương này với địa phương khác, giữa các quốc gia với nhau
b.Vai trò của vận tải trong phục vụ con người
Vận tải làm cho con người gần lại với nhau hơn đặc biệt là những người sống
ở các vùng có nền văn hoá khác nhau Nhờ tiếp xúc về văn hoá khoa học kỹ thuật,
du lịch, tôn giáo và gia đình mà xuất hiện những đồng cảm khác nhau làm giầu thêm đời sống văn hoá xã hội của mỗi quốc gia, của mỗi vùng
Sự phát triển của vận tải trong mục đích gần lại nhau của con người không chỉ đảm bảo tính chất nhân đạo mà còn nhìn thấy mặt lợi của kinh tế Sự có lợi này được biểu hiện ở sự gia tăng về thông tin, kiến thức, sự khéo léo, việc giải quyết các vấn đề nhanh hơn, dễ hơn, năng suất lao động cao hơn trong đời sống xã hội
c Đối với việc xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc: Trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ
Quốc vận tải có ý nghĩa quan trọng Trong chiến tranh vận tải thực hiện nhiệm vụ vận chuyển vũ khí đạn dược, lương thực thực phẩm quân trang quân dụng Trong thời bình vận tải cùng quân đội bảo vệ an ninh quốc phòng xây dựng lực lượng đồng thời thực hiện cả nhiện vụ làm kinh tế
d Chức năng Quốc tế của vận tải: Vận tải là một ngành kinh tế hoạt động trong hệ
thống kinh tế của đất nước Nó có vai trò quan trọng đối với việc giao lưu của nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới đặc biệt trong thời đại hiện nay việc quan
hệ kinh tế với nước ngoài đã đem lại một hiệu quả vô cùng to lớn cho đất nước Mối quan hệ quốc tế của vận tải thông qua các chức năng sau đây: Phát triển xuất khẩu hàng hoá, đặc biệt đối với các quốc gia có khoảng cách địa lý lớn; Nhập khẩu nguyên liệu, vật liệu và sản phẩm cần thiết; Phát triển hợp tác quốc tế về công nghiệp; Phát triển du lịch quốc tế; Phát triển lưu thông quốc tế về văn hoá khoa học
kỹ thuật [10]
2.2 Tổng quan về phát triển bền vững
2.2.1 Khái niệm phát triển bền vững
Thuật ngữ "Phát triển bền vững" xuất hiện vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài
nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của
Trang 34nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học"
Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường và
Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland) PTBV là "sự phát triển có
thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai " Như vậy PTBV phải bảo
đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắt tay nhau để thực hiện nhằm mục đích dung hòa
3 lĩnh vực chính: Bình đẳng kinh tế, hài hòa xã hội và môi trường cân bằng.[7][42]
Hình 2.1 Các lĩnh vực đảm bảo phát triển bền vững
PTBV là một bài toán khó, bền vững là một vấn đề khó khăn thách thức đối với phát triển Thế giới không của riêng ai do vây PTBV cũng không phải của riêng một quốc gia nào, lĩnh vực nào Thế giới chỉ PTBV khi và chỉ khi các quốc gia PTBV, quốc gia PTBV khi các lĩnh vực, các ngành, các vùng lãnh thổ của quốc gia PTBV
PTBV
Mục tiêu xãhội
Mục tiêu kinh tế
Mục tiêu sinh thái
Trang 35về kinh tế có thể được thể hiện qua các chỉ
tiêu về phát triển kinh tế:
- Tổng sản phẩm trong nước, GDP
- Tổng sản phẩm quốc gia
- Tổng sản phẩm bình quân đầu người
- Tăng trưởng của GDP
Cơ cấu của GDP (% đóng góp từ
nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ)
Bền vững về xã hội: Tính bền vững về phát triển xã hội của các quốc gia
cũng thường được đánh giá qua chỉ số:
- Chỉ số phát triển con người (HDI)
- Độ đo về kinh tế thể hiện qua ngang giá sức mua/người;
- Độ đo về sức khỏe của con người thể hiện qua tuổi thọ trung bình (L)
Thế giới phát triển bền vững
Quốc gia phát triển bền vững
Địa phương phát triển bền vững
PTBV giáo dục
PTBVy tế
PTBV các lĩnh vực PTBVGTVT
PTBV nông nghiệp
PTBV Công nghiệp
Trang 36- Độ đo về trình độ học vấn trung bình của người dân, Hệ số bình đẳng thu nhập; các chỉ tiêu về giáo dục, dịch vụ y tế, hoạt động văn hóa…
Bền vững về môi trường: Môi trường bền vững là môi trường luôn làm tròn
và giữa các nước gia tăng, tài nguyên thiên nhiên sút giảm và thiếu hụt Vấn đề đặt
ra là làm sao thỏa mãn yêu cầu căn bản của con người, bảo đảm tương lai và an sinh cho các thế hệ về sau và đồng thời bảo toàn môi trường-môi sinh
“PTBV”bao gồm: Phát triển tổng hợp, toàn bộ, về tất cả các phương diện môi trường, môi sinh, kinh tế, xã hội và chính trị bởi vì không thể có bền vững môi trường môi sinh nếu không có bền vững chính trị để bảo vệ hệ sinh thái Cũng không thể có công bằng xã hội nếu không bảo đảm được sự bền vững và cân bằng sinh thái cần thiết để bảo đảm loài người sẽ tồn tại Và cũng không thể chăm lo tăng trưởng kinh tế nếu sự tăng trưởng này làm hư hại môi trường, môi sinh, gây tai biến thiên nhiên mà hậu quả là có thể đưa loài người tới thảm họa
PTBV bác bỏ các quan niệm thị trường tự điều tiết và quan niệm con người
có nhu cầu mênh mông, không bao giờ hết, không cần định mức PTBV chống khuynh hướng tiêu dùng không giới hạn và chủ trương loài người phải xét lại quan niệm và các mẫu mực về an sinh, phúc lợi và chất lựợng của cuộc sống
PTBV cho rằng vì sự chênh lệch giầu nghèo trên thế giới cho nên bắt buộc phải theo một hướng đi mới Một mặt cần phải kìm giữ sử dụng tài nguyên, ngăn
Trang 37ngừa ô nhiễm môi trường và phá hủy môi sinh, giảm thiểu rác thải Mặt khác, số dân đói nghèo trên thế giới có yêu cầu gia tăng tiêu dùng và sản xuất để thỏa mãn các yêu cầu căn bản, bảo vệ và nâng cao nhân phẩm PTBV nhận định rằng quan hệ không cân bằng, không bình đẳng trên thế giới và mô hình toàn cầu hóa kiểu tân tự
do là một mối đe dọa cần phải phòng chống, PTBV chỉ là thực tại nếu nó có tính cách toàn cầu
PTBV nhằm thỏa mãn yêu cầu căn bản của con người là lương thực, nước sạch, nhà ở, sức khỏe, giáo dục, an sinh, phúc lợi, quyền phát biểu, quyền tham gia, và nhiều yêu cầu tinh thần và vật chất khác Lý luận về PTBV thừa nhận tăng trưởng kinh tế có tính cần thiết nhưng cũng xác định tăng trưởng chỉ là điều kiện cần (không phải là điều kiện đủ) cho phát triển Như vậy có nghĩa tăng trưởng chỉ là phương tiện cho cứu cánh là PTBV
Lý luận về PTBV cũng cho rằng kinh tế và xã hội phải hòa hợp, bổ sung thành một thể thống nhất Nhu cầu của con người phải được đáp ứng, hàng hóa và dịch vụ phải được cung cấp và phân phối trong sự công bằng PTBV chủ trương can thiệp vào kinh tế - xã hội để thống nhất các chính sách để thực hiện những đổi thay mong muốn, tạo điều kiện cho con người tiến bộ và phát triển PTBV thừa nhận rằng mỗi xã hội, mỗi dân tộc có yêu cầu và lý do để định ra những phương hướng phát triển và chọn những phương thức hành động riêng
Tại Hội nghị thượng đỉnh của thế giới về Môi trường và Phát triển tổ chức tại Rio de Janero (Braxin), các nhà hoạt động về kinh tế, xã hội, môi trường cùng với các nhà chính trị đã thống nhất về quan điểm PTBV, coi đó là trách nhiệm chung của các quốc gia, của toàn nhân loại và đồng thuận tuyên bố chung về quan điểm PTBV gồm 27 nguyên tắc cơ bản sau:
(1) Con người là trung tâm của những mối quan tâm về sự phát triển lâu dài Con người có quyền được hưởng một cuộc sống hữu ích và lành mạnh, hài hoà với thiên nhiên
(2) Phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và những nguyên tắc của Luật pháp Quốc tế Các quốc gia có chủ quyền khai thác những tài nguyên của mình theo những chính sách về môi trường và phát triển của mình, và có trách nhiệm đảm bảo rằng những hoạt động trong phạm vi quyền hạn và kiểm soát của mình không gây tác hại gì đến môi trường của các quốc gia khác hoặc những khu vực ngoài phạm vi quyền hạn quốc gia
(3) Cần phải thực hiện phát triển để đáp ứng một cách bình đẳng những nhu cầu về phát triển và môi trường của các thế hệ hiện nay và tương lai
Trang 38(4) Để thực hiện được sự PTBV, bảo vệ môi trường nhất thiết phải là bộ phận cấu thành của quá trình phát triển và không thể xem xét tách rời quá trình đó
(5) Tất cả các quốc gia và tất cả các dân tộc cần hợp tác trong nhiệm vụ chủ yếu là xoá bỏ nghèo nàn như một yêu cầu không thể thiếu được cho sự PTBV để giảm những chênh lệch về mức sống và để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của đại đa số nhân dân trên thế giới
(6) Cần dành sự ưu tiên đặc biệt cho các nhu cầu của các nước đang phát triển, nhất là các nước kém phát triển nhất và những nước dễ bị tổn hại về môi trường; những hoạt động quốc tế trong lĩnh vực môi trường và phát triển cũng nên chú ý đến quyền lợi và yêu cầu của tất cả các nước
(7) Các quốc gia cần hợp tác trong tinh thần "chung lưng đấu cật toàn cầu để gìn giữ, bảo vệ và phục hồi sự lành mạnh và tính toàn bộ của hệ sinh thái của Trái đất” Vì sự đóng góp khác nhau vào việc làm thoái hoá môi trường toàn cầu, các quốc gia có những trách nhiệm chung nhưng khác biệt nhau Các nước phát triển công nhận trách nhiệm của họ trong các nỗ lực quốc tế về PTBV do những áp lực
mà xã hội của họ gây ra cho môi trường toàn cầu và do những công nghệ và những nguồn tài chính của họ chi phối, điều khiển
(8) Để đạt được sự PTBV và chất lượng cao hơn cho mọi người, các quốc gia nên giảm dần và loại trừ những phương thức sản xuất và tiêu dùng không bền vững và đẩy mạnh những chính sách dân số thích hợp
(9) Các quốc gia nên hợp tác để củng cố, xây dựng năng lực hội sinh cho PTBV bằng cách nâng cao sự hiểu biết khoa học thông qua trao đổi kiến thức khoa học và công nghệ và bằng cách đẩy mạnh sự phát triển và thích nghi, truyền bá và chuyển giao công nghệ, kể cả những công nghệ mới và cải tiến
(10) Các vấn đề môi trường được giải quyết tốt nhất với sự tham gia của dân chúng có liên quan và ở cấp độ thích hợp Ở cấp độ quốc gia, mỗi cá nhân có quyền được các nhà chức trách cung cấp các thông tin thích hợp liên quan đến môi trường, bao gồm những thông tin về những nguyên liệu và hoạt động nguy hiểm trong cộng đồng và cơ hội tham gia vào quá trình quyết định Các quốc gia cần khuyến khích, tuyên truyền và tạo đều kiện cho sự tham gia của nhân dân bằng cách phổ biến những thông tin rộng rãi Nhân dân cần được tạo điều kiện tiếp cận có hiệu quả những văn bản luật pháp và hành chính kể cả uốn nắn và sửa chữa
(11) Các quốc gia cần ban hành luật pháp hữu hiệu về môi trường, các tiêu chuẩn môi trường, những mục tiêu quản lý và những ưu tiên phải phản ánh nội dung môi trường và phát triển mà chúng gắn với Những tiêu chuẩn mà một vài nước áp
Trang 39dụng có thể không phù hợp và gây tổn phí về kinh tế - xã hội không biện minh được cho các nước khác, nhất là các nước đang phát triển
(12) Các nước nên hợp tác để phát huy một hệ thống kinh tế thế giới thoáng
và giúp đỡ nhau dẫn đến sự phát triển kinh tế và PTBV ở tất cả các nước, để nhằm đúng hơn vào những vấn đề thoái hoá môi trường
(13) Những biện pháp chính sách về thương mại với những mục đích môi trường không nên trở thành một phương tiện phân biệt đối xử độc đoán hay vô lý hoặc một sự ngăn cản trá hình đối với thương mại quốc tế Cần tránh những hoạt động đơn phương để giải quyết những vấn đề thách thức của môi trường ngoài phạm vi quyền hạn của những nước nhập cảng Những biện pháp môi trường nhằm giải quyết những vấn đề môi trường ngoài biên giới hay toàn cầu dựa trên sự nhất trí quốc tế cao nhất có thể đạt được
(14) Các nước cần soạn thảo luật quốc gia về trách nhiệm pháp lý và bồi thường cho những nạn nhân của sự ô nhiễm và tác hại môi trường khác Các quốc gia cũng cần hợp tác một cách khẩn trương và kiên quyết hơn để phát triển hơn nữa luật quốc gia về trách nhiệm pháp lý và bồi thường về những tác hại môi trường do những hoạt động trong phạm vi quyền hạn hay kiểm soát của họ gây ra cho những vùng ngoài phạm vi quyền hạn của họ
(15) Các quốc gia nên hợp tác một cách có hiệu quả để ngăn cản sự thay thế và chuyển giao các quốc gia khác bất cứ một hoạt động nào và một chất nào gây nên sự thoái hoá môi trường nghiêm trọng hoặc xét thấy có hại cho sức khoẻ con người
(16) Để bảo vệ môi trường, các quốc gia cần áp dụng rộng rãi phương pháp tiếp cận ngăn ngừa tuỳ theo khả năng từng quốc gia Ở chỗ nào có nguy cơ gây tác hại nghiêm trọng hay không sửa chữa được thì không thể nêu lý do là thiếu sự chắc chắn khoa học hoàn toàn để trì hoãn áp dụng các biện pháp hữu hiệu nhằm ngăn chặn sự thoái hoá môi trường
(17) Các nhà chức trách của mỗi quốc gia nên cố gắng đẩy mạnh sự quốc tế hoá những chi phí môi trường và sử dụng các biện pháp kinh tế căn cứ vào quan điểm cho rằng về nguyên tắc người gây ô nhiễm phải chịu phí tổn ô nhiễm, với sự quan tâm đúng mức tới quyền lợi chung và không ảnh hưởng xấu đến nền thương mại và đầu tư quốc tế
(18) Đối với những hoạt động có thể gây những tác động xấu tới môi trường cần có sự đánh giá như một công cụ quốc gia về tác động môi trường và tuân theo quyết định của một cơ quan quốc gia có thẩmquyền
Trang 40(19) Các quốc gia cần thông báo ngay cho các quốc gia khác về bất cứ một thiên tai nào hay tình hình khẩn cấp nào có thể gây những tác hại đột ngột đối với môi trường của nước đó Cộng đồng quốc tế phải ra sức giúp các quốc gia bị tai hoạ này
(20) Các quốc gia cần phải thông báo trước, kịp thời và cung cấp thông tin có liên quan cho các quốc gia có khả năng bị ảnh hưởng về những hoạt động có thể gây ảnh hưởng xấu đáng kể đến môi trường vượt ra ngoài biên giới và cần tham khảo ý kiến của các quốc gia này sớm và có thiện ý
(21) Phụ nữ có một vai trò quan trọng trong quản lý và phát triển môi trường Do đó, việc họ tham gia đầy đủ là cần thiết để đạt được sự PTBV
(22) Cần huy động tinh thần sáng tạo, những lý tưởng và sự can đảm của thanh niên thế giới nhằm tạo nên một sự chung lưng đấu cật để đạt được sự PTBV
và đảm bảo một tương lai tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người
(23) Nhân dân bản xứ, những cộng đồng của họ và các cộng đồng khác của địa phương có vai trò quan trọng trong quản lý và phát triển môi trường về sự hiểu biết và tập tục truyền thống của họ Các quốc gia nên công nhận và ủng hộ thích đáng bản sắc văn hoá và những mối quan tâm của họ, khiến họ tham gia có hiệu quả vào việc thực hiện một sự PTBV
(24) Môi trường và tài nguyên thiên nhiên của các dân tộc bị áp bức, bị thống trị và bị chiếm đóng cần phải được bảo vệ
(25) Chiến tranh vốn dĩ là yếu tố phá hoại sự PTBV Do đó, các quốc gia cần phải tôn trọng luật pháp quốc tế, bảo vệ môi trường trong thời gian có xung đột vũ trang và hợp tác để phát triển môi trường hơn nữa
(26) Hoà bình, Phát triển và Bảo vệ môi trường phụ thuộc nhau và không thể chia cắt được Các quốc gia cần phải giải quyết mọi bất hoà về môi trường một cách hoà bình và bằng các biện pháp thích hợp theo Hiến chương Liên hợp quốc
(27) Mọi quốc gia và dân tộc cần hợp tác có thiện ý với tinh thần chung lưng đấu cật trong việc thực hiện các nguyên tắc được thể hiện trong bản tuyên bố này và trong sự phát triển hơn nữa luật pháp quốc tế trong lĩnh vực PTBV [12]
2.2.3 Các tiêu chí đánh giá phát triển bền vững
Mục tiêu cuối cùng của PTBV là thỏa mãn yêu cầu căn bản của con người, cải thiện cuộc sống của tất cả và song song bảo toàn và quản lý hữu hiệu hệ sinh thái, bảo đảm tương lai phát triển ổn định PTBV cho rằng cần phải hoạt động sản xuất có giới hạn, tiêu dùng và thụ hưởng tiết kiệm, phân phối công bằng thu nhập, điều hòa dân số và nhân lực, bảo đảm sự cân bằng giữa nhu cầu có khuynh hướng gia tăng nhanh với tài nguyên thiên nhiên bị hạn chế PTBV đề cao các giá trị nhân bản, tính công bằng trong sản xuất, tiêu dùng và thụ hưởng, nhằm thực hiện và đảm