Trả lời phỏng vấn báo chí nhân sự kiện NHNN công bố việc thực hiện cơchế lãi suất cho vay thoả thuận trong hoạt động tín dụng thương mại, Thốngđốc NHNN Lê Đức Thuý khẳng định : tình hình
Trang 1CƠ CHẾ LÃI SUẤT THOẢ THUẬN VÀ PHƯƠNG HƯỚNG
HOÀN THIỆN
I Tổng quan về lãi suất thoả thuận
1 Những điều kiện ra đời cơ chế lãi suất thoả thuận
Trả lời phỏng vấn báo chí nhân sự kiện NHNN công bố việc thực hiện cơchế lãi suất cho vay thoả thuận trong hoạt động tín dụng thương mại, Thốngđốc NHNN Lê Đức Thuý khẳng định : tình hình kinh tế vĩ mô tạo điều kiệnthuận lợi cho việc thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận dựa trên cơ sở thịtrường ; năng lực của NHNN trong việc điều tiết và kiểm soát lãi suất thịtrường thông qua các công cụ chính sách tiền tệ đã được nâng lên; năng lựctài chính, khả năng cạnh tranh của các ngân hàng thương mại ngày càng đượccủng cố Đó là những yếu tố thuận lợi giúp cho NHNN có thể đưa ra nhữngbiện pháp phù hợp để điều tiết cung cầu vốn và định hướng lãi suất thị trườngphù hợp với các mục tiêu kinh tế vĩ mô Đồng quan điểm với thống đốcNHNN nhiều ý kiến cũng cho rằng những điều kiện để có thể tiến hành thựchiện cơ chế lãi suất thoả thuận đã chín muồi :
Trước hết, xuất phát từ tình hình thức tiễn đã được thử nghiệm đối vớilãi suất cho vay bằng ngoại tệ Cách đây đúng một năm ngày 29/05/2001thống đốc NHNN đã ra quyết định bãi bỏ cơ chế lãi suất cho vay ngoại tệbằng lãi suất Sibor cộng với biên độ cho phép bằng cơ chế thả nổi lãi suấtcho vay ngoại tệ, tức là các TCTD được ấn định lãi suất cho vay bằng USDtrên cơ sở lãi suất thị trường quốc tế và cung cầu vốn tín dụng bằng ngoại tệ
ở trong nước Lúc ban hành cũng có nhiều ý kiến lo ngại thả nổi quá sẽ gây
ra những hậu quả khó kiểm soát nhưng qua một năm thực hiện cơ chế lãi suấtmới đã góp phần xoá bỏ những rào cản không cần thiết trong lĩnh vực quản
lý ngoại hối và mang lại những tác động tích cực cho thị trường tín dụng.điều đó đã khiến cho NHNN cảm thấy vững tâm khi quyết định thay đổi cơchế lãi suất
Khi cơ chế lãi suất mới chưa ra đời trên thực tế đã có những biểu hiện
cơ chế lãi suất cho vay thoả thuận đã tự phát hình thành Trong bối cảnh cạnhtranh để tồn tại, nhiều TCTD đã mời chào cho vay dưới mức lãi suất cơ bảncộng biên độ cho phép Cụ thể, với lãi suất cơ bản là 0,60%/tháng cộng với
Trang 2biên độ là 0,3%(cho vay ngắn hạn) và 0,5%(cho vay trung và dài hạn) nhưngcác TCTD chào hàng với mức lãi suất 0,62%/tháng đến 0,7%/tháng Ngay cảvào thời điểm sau tết Nhâm Ngọ, nguồn vốn VND huy động khó khăn nhiềuTCTD pải tăng lãi suất đầu vào nhưng không thể tăng lãi suất đầu ra Bởi vì
tỷ suất lợi nhuận bình quân quá thấp, các doanh nghiệp không chấp nhân vayvốn lãi suất cao vì sợ đội giá thành sản phẩm Như vậy, lãi suất cơ bản cộngbiên độ không còn giữ đuợc khả năng điều tiết của nó, không còn phù hợpvới thực tế nên các tctd rất phấn khởi với sự ra đời của cơ chế lãi suất mới Bên cạnh đó, những điều kiện đảm bảo cho việc kiểm soát lãi suất thịtrường, tránh những xáo trộn về lãi suất, gây bất lợi cho nền kinh tế cũngđược đánh giá là đã hình thành Đó là :
Nền kinh tế nước ta đã phát triển ổn định vững chắc theo cơ chế thịtrường định hướng XHCN.Trong những năm qua chúng ta đã duy trì đượcnhịp độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao và ổn định, lạm phát được kiểmsoát ở mức thấp, thâm hụt ngân sách luôn ở dưới mức 5%so với GDP, bội thucán cân thanh toán Đây là yếu tố cơ bản giúp cho cơ chế lãi suất thoả thuận
ra đời một cách thành công Sự ổn định kinh tế sẽ đảm bảo cho nền kinh tếchịu được tác động của các cú sốc bên trong và từ bên ngoài đối với nền kinh
tế có thể xảy ra khi thực hiện cơ chế mới
Hệ thống tài chính của ta hiện nay đuợc đánh giá là lành mạnh và antoàn.Đây là yếu tố quyết định tới khả năng thanh toán của các TCTD đảmbảo hoạt động an toàn và bền vững trước sự cạnh tranh trên thị trường tiền tệkhi lãi suất được thả nổi dựa trên cung cầu tín dụng và hoàn toàn do cácTCTD chủ động trong việc quyết định mức lãi suất của ngân hàng mình Khi
cơ chế mới ra đời, trong giai đoạn đầu không tránh khỏi tình trạng cạnh tranhgay gắt, phân loại các TCTD ,chi phí vốn vì vậy sẽ tăng lên , làm giảm khảnăng sinh lời của các TCTD Do vậy, có một nền tài chính lành mạnh cónghĩa là các TCTD đã chuẩn bị được những điều kiện cần thiết để đối phóvới nguy cơ phải cạnh tranh gay gắt hơn, đủ sức chịu đựng những cú sốc lớn
có thể xảy ra đối với mình Hệ thống các TCTD cũng đang được sắp xếp cơcấu lại theo đề án tái cơ cấu được chính phủ duyệt càng tăng khả năng đốichọi của các TCTD trước những xáo trộn
Trang 3Trên mặt trận nông thôn, khu vực được coi là nhạy cảm nhất đối với cơchế mới cũng đã có sự chuấn bị tốt Đó là sự phát triển và lớn mạnh củaNHNN&PTNT với 1600 chi nhánh tại tất cả các địa bàn , đang tiến tới mụctiêu mỗi xã có một chi nhánh giao dịch để có thể đáp ứng kịp thời nhu cầucủa thị trường nông thôn Ngân hàng người nghèo đã có 7 năm kinh nghiệmđang chuẩn bị chuyển thành ngân hàng chính sách, nguồn vốn dành chochính sách được tập trung dần về một mối, tránh tình trạng phân tán nhỏ, lẻcho các TCTD như trước đây dẫn đến tình trạng lẫn lộn giữa chức năng kinhdoanh và làm chính sách đòng thời ngân hàng cũng có khả năng đáp ứngđược vốn cho các hộ dân nghèo, khó khăn , mà không ảnh hưởng gì tới ra đờicủa cơ chế mới Bên cạnh đó việc ra đời nghị quyết trung ương V tạo mọiđiều kiện phát triển nông nghiệp nông thôn tạo môi trường kinh tế thuận lợicho hoạt động ngân hàng trong cơ chế mới.
Trước những điều kiện thuận lợi cho sự đối mới cơ chế NHNN đãmạnh dạn cho sự ra đời cơ chế lãi suất thoả thuận vào ngày 30/5/2002, đánhdấu bước ngoạt căn bản về chất, không chỉ riêng ở lĩnh vực lãi suất mà còn ởtoàn bộ nền tài chính quốc gia hoàn thiện thêm một bước nền kinh tế thực sựphát triển theo kinh tế theo cơ chế thị trường
2 Cơ chế lãi suất thoả thuận?
Ngày 30/5/2002 Thống đốc NHNN ra quyết định 546/2002/QĐ-NHNN vềviệc thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận trong hoạt động tín dụng thương mạibằng đồng Việt Nam của tổ chức tín dụng đối với khách hàng Điều 1 củaquyết định này ghi rõ : “1 Nay thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận tronghoạt động tín dụng thương mại bằng Đồng Việt Nam của TCTD đối vớikhách hàng TCTD xác định lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam trên cơ sởcung cầu vốn tín dụng trên thị trường và mức độ tín nhiệm đối với kháchhàng vay là các pháp nhân và cá nhân Việt Nam, pháp nhân và cá nhân nướcngoài hoạt động tại Việt Nam”
Qua quy định trên của NHNN có thể thấy rằng trong cơ chế lãi suấtlần này các TCTD được tự do ấn định lãi suất của mình mà không bị khốngchế bằng một mức lãi suất nào cả Việc ấn định lãi suất hoàn toàn dựa vào
“cung cầu vốn” và “ mức độ tín nhiệm đối với khách hàng” Như vậy cónghĩa là cơ chế lãi suất lần này đã được hoàn toàn toàn vận hành theo quy
Trang 4luật của cơ chế thị trường ( quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu, quy luậtgiá trị ), không phải chịu bất kỳ một ràng buộc nào mang tính hành chính,một “sợi neo” nào Vì vậy, cũng có thể coi đây là cơ chế thả nổi lãi suất hay
tự do hoá lãi suất
Đứng về mặt thuật ngữ “thoả thuận” là bản chất của tín dụng trong đóchữ tín được lấy làm đầu Ngay khi còn áp dụng khung khống chế, các TCTDchào mời lãi suất các loại nếu khách hàng chấp nhận thì ký hợp đồng thoảthuận hai bên vay trả nợ Nay nếu bỏ khung lãi suất cho vay thì mối quan hệvay mượn cũng không có gì khác Vì vậy, có ý kiến cho rằng gọi là cơ chế lãisuất thoả thuận nghe có vẻ không ổn Tuy nhiên, cũnh có thể lý giải về têngọi của cơ chế lãi suất lần này như sau: cũng có thể gọi là cơ chế thả nổi lãisuất hoặc cơ chế tự do hoá lãi suất vì những thuật ngữ này đã được nhắc đếnrất nhiều trong các cuộc tranh luận cũng như các bài báo đăng tải trên các tạpchí tài chính, ngân hàng nhưng với tầm vóc của nền kinh tế nước ta hiện naynói chung và hệ thống tài chính-tiền tệ nói riêng chưa đủ sức để thực hiệnmột cơ chế thả nổi lãi suất hay tự do hoá lãi suất theo đúng nghĩa của nó Lãisuất được thả nổi và có sự tự do (điều này đã được khắng định ) nhưng vẫnphải có sự quản lý của nhà nước Lãi suất cơ bản vẫn đựoc công bố tuykhông còn mang tính bắt buộc nhưng “lãi suất cơ bản phải đảm bảo khả năngđịnh hướng thị trường Lãi suất do ngân hàng trung ương công bố, phảitácđộng ngay vào lãi suất thị trường Đó là mục tiêu NHTƯ phải đạt”- phóthống đốc NHNN Dương Thu Hương khẳng định NHNN Việt Nam; đồngthời chủ động áp dụng các biện pháp để kiểm soát biến động của lãi suất thịtrường, đảm bảo được yêu cầu và mục tiêu của chính sách tiền tệ trong từngthời kỳ Thiết nghĩ gọi như vậy là phù hợp, tránh có sự “ hiểu lầm” về bảnchất của cơ chế mới từ đó có những nhận thức đúng đắn hơn về vai trò nặng
nề và khó khăn của NHNN trong thời gian tới
Khoản 2 điều 1 của quyết định 546 chỉ rõ “NHNN Việt Nam tiếp tụccông bố lãi suất cơ bản trên cơ sở tham khảo mức lãi suất cho vay thươngmại đối với khách hàng tốt nhất của nhóm các TCTD được lựa chọn theoQuyết định của Thống đốc NHNN Việt Nam trong từng thời kỳ để làm thamkhảo và định hướng lãi suất thị trường,phù hợp với quy định của Luật NHNNViệt Nam; đồng thời chủ động áp dụng các biện pháp để kiểm soát biến động
Trang 5của lãi suất thị trường, đảm bảo được yêu cầu và mục tiêu của chính sách tiềntểtong từng thời kỳ.”
Theo điều 9 và điều 18 Luật NHNN quy định “Lãi suất cơ bản là lãisuất do NHNN công bố làm cơ sở cho các TCTD ấn định lãi suất lãi suấtkinh doanh” và “NHNN xác định và công bố lãi suất cơ bản” Như vậy, việccông bố lãi suất cơ bản từ tháng 8/2000 cho đến nay vẫn phù hợp với quyđịnh của Luật NHNN Nhưng để đảm bảo khả năng định hướng thị trường vàkhi công bố phải tác động ngay vào thị truờng thì lãi suất cơ bản phải giảmkhoảng cách giữa nó và lãi suất trên thị trường hiện nay đồng thời cần phảichấn chỉnh tình trạng vận hành thiếu đồng bộ giữa các loại lãi suất trên thịtrừong tiền tệ hiện nay( lãi suất cơ bản với lãi suất chiết khấu , lãi suất thịtrừong mở, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng ) Trên thực tế cho thấy từtháng 10/2001 đến nay mặc dù lãi suất trên thị trường có nhiều biến độngnhưng lã suất cơ bản vẫn liên tục giữ ở mức không đổi 0,6%/tháng Các loạilãi suất trên thị trường tiền tệ thì không có cái nào tuyên bố ra là tácđộng nayđến thi trường Khắc phục được tình trạng trên, lãi suất cơ bản cùng với cácloại lãi suất khác mới khẳng định được vai trò điều tiết hữu hiệu lãi suất thịtrường và giả sử có một bộ phận nào đó kém nhạy cảm với những tín hiệu vềlãi suất do ngân hàng trung ương phát ra thì lập tức sẽ phải trả giá vì nhữngthiệt hại trong kinh doanh, đồng thời đáp ứng được mong mỏi của nhữngngười gửi tiền và vay tiền của các TCTD lấy lãi suất cơ bản làm căn cứ đểthoả thuận lãi suất với TCTD
Bên cạnh việc dùng lãi suất cơ bản như là một “chiếc gậy chỉ đường”NHNN cũng khẳng định việc phải dùng những biện pháp để kiểm soát biếnđộng của lãi suất trên thị trường Trước hết, ngân hàng trung ương phải sửdụng đến các công cụ quản lý gián tiếp Ở Việt Nam hiện nay, các công cụkiểm soát tiền tệ gián tiếp được nhà nước sử dụng là : nghiệp vụ thị trường
mở, lãi suất tái cấp vốn và một phần dựa vào sự áp đặt tỷ lệ dự trữ bắt buộc
* Nghiệp vụ thị trường mở :
Hiện nay, qua hai năm đi vào hoạt động thị trường mở của nước ta vẫn
còn non yếu Tuy nhiên trong tương lai gần , nhất là khi chúng ta đã quyết
định chuyển sang cơ chế lãi suất thoả thuận công được sử dụng thường xuyên
nhất, hiệu quả nhất, ảnh hưởng rộng rãi nhất và được xem là quan trọng nhất
Trang 6đối với NHNN là nghiệp vụ thị trường mở(NVTTM) Sở dĩ NVTTM đượccoi là quan trọng nhất, bởi vì nó là nhân tố đầu tiên có thể làm thay đổi lãisuất hoặc cơ sở của tiền tệ: nguồn gốc chính làm thay đổi việc cung ứng tiềncủa NHNN thông qua việc mua bán giấy tờ có giá ở thị trường mở, hànhđộng làm tăng cơ sở tiền tệ và vì thế làm tăng cung ứng tiền tệ, giảm lãi suấtngắn hạn ; ngược lại việc bán giấy tờ có giá trên thị trường mở làm giảm cơ
sở tiền tệ, giảm cung ứng tiền và vì thế làm tăng lãi suất ngắn hạn Việc ápdụng NVTTM sẽ cho phép ngân hàng trung ương chủ động hơn trong việcđiều hoà khối cung tiền tệ, nhờ đó điều tiết sức mua của đồng bản tệ ở từnggiai đoạn nhất định được kịp thời hơn, đáp ứng tốt hơn những đòi hỏi kháchquan của nền kinh tế thị trường
Nghiệp vụ thị trường mở có rất nhiều ưu điểm : NVTTM phát sinhtheo ý tưởng chủ đạo của ngân hàng trung ương, trong đó ngân hàng trungương hoàn toàn chủ động kiểm soát được khối lượng giao dịch Tuy nhiên,việc kiểm soát này là gián tiếp, không nhận thấy được NVTTM vừa linhhoạt nhưng vừa chính xác, có thể sử dụng ở bất kỳ quy mô nào Khi có yêucầu thay đổi về dự trữ hoặc cơ sở tiền tệ, dù ở mức nhỏ nào đi nữa,NVTTMcũng có thể đạt được bằng cách mua hoặc bán khối lượng nhỏ chứng khoán.Ngược lại, nếu có yêu cầu thay đổi dự trữ hoặc cơ sở tiền tệ quy mô lớn,ngân hàng trung ương cũng có đủ khả năng thực hiện được thông qua việcmua hoặc bán một khối lượng lớn tương ứng các chứng khoán NVTTM dễdàng đảo chiều : nếu ngân hàng trung ương mắc phải sai sót nào đó trong quátrình thực hiện NVTTM, thì có thể ngay tức khắc sửa chữa sai sót đó Ví dụnhư khi ngân hàng trung ương nhận thấy rằng, lãi suất trên htị trường tiền tệ (lãi suất tín dụng ) quá thấp do vừa qua ngân hàng trung ương đã thực hiệnviệc mua quá nhiều trên thị trường mở, thì có thể ngay tức khắc sửa chữa nóbằng cách bán ngay giấy tờ có giá cho các ngân hàng NVTTM có tính antoàn cao Giao dịch trên thị trường mở hầu như không gặp rủi ro, bởi vì cơ sởbảo đảm cho các giao dịch trên thị trường đều là những giấy tờ có giá, có tínhthanh khoản cao, không có rủi ro tài chính NVTTM có thể thực hiện mộtcách nhanh chóng không vấp phải sự chậm trễ của các thủ tục hànhchính.Khi ngân hàng trung ương quyết định thay đổi dự trữ hoặc cơ sở tiền tệngân hàng trung ương chỉ cần đưa ra yêu cầu cho các chủ thể tham gia thị
Trang 7truờng và việc mua bán sẽ được thực thi ngay sau đó Tại các nước phát triển,
do đòi hỏi của nền kinh tế và hoặt động sôi động của thị trường tiền tệ,NVTTM được giao dịch hàng ngày Thông qua việc mua bán ở thị trường
mở, ngân hàng trung ương điều hành việc cung ứng tiền và lãi suất ngắn hạn.Một điều không thể phủ nhận là giữa chính sách lãi suất và công cụ NVTTM
có mối quan hệ mật thiết, gắn bó chặt chẽ với nhau Thông qua thị trường mở
có thể tác động gián tiếp đến lãi suất, không phải sử dụng đến việc điều chỉnhtrực tiếp lãi suất mà vẫn giữ được những mục tiêu do chính sách tiền tệ đề ra
Có thể khái quát một chút về nội dung quy định của pháp luật về thịtrừờng mở của nước ta hiện nay như sau: Về thành viên tham gia theo quyếtđịnh số 85/2000/ QĐ-NHNN1 của Thống đốc NHNN ban hành quy chếnghiệp vụ thị trường mở, thành viên tham gia trước hết phải là các TCTD có
đủ điều kiện mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng trung ương, có hệ thốngmạng vi tính kết nối với ngân hàng trung ương và phải được ngân hàng trungương cấp giấy công nhận thành viên.Phạm vi hàng hoá được sử dụng giaodịch về nguyên tắc là mọi tài sản có thể mua bán trên nghiệp vụ này, vìchúng đều là những tài sản thế chấp Tuy nhiên, tài sản thế chấp phải là tàisản có khả năng thanh khoản cao, đảm bảo quản lý dễ dàng, đồng thời, đápứng yêu cầu điều hành ngiệp vụ này nhanh nhạy chính xác và đạt được mongmuốn Nội dung nữa là vấn đề giá và lãi suất bao gồm giá mua và giá bántrên NVTTM, các căn cứ để xác định giá, quan hệ giữa giá và lãi suất,phương thức đấu thầu Giá và lãi suất là hai đại lượng ngược chiều nhau.Tuỳ theo lợi ích của việc mua hay bán mà xếp trật tự ưu tiên theo giá từ thấpđến cao, hóặc theo lãi suất từ cao xuống thấp đối với truờng hợp mua.Trường hợp bán, xếp ưu tiên giá được thực hiện từ cao xuống thấp và theo lãisuất từ thấp lên cao Giá của giấy tờ có giá hay lãi suất giao dịch trênNVTTTM là yếu tố quan trọng trong việc ảnh hưởng đến mặt bằng lãi suấttrên thị trường nói chung và vậy lãi suất cũng là mục tiêu mà ngân hàng trungương cần quan tâm khi quyết định phương thương thức đấu thầu trênNVTTM Đấu thầu lãi suất hay đấu thầu khối lượng trên nghiệp vụ này tuỳthuộc vào mục tiêu của ngân hàng trung ương Muốn can thiệp trực tiếp vàolãi suất thì thực hiện đấu thầu khối lượng, ở đó lãi suất cố định do ngân hàngtrung ương chỉ đạo Khi mục tiêu của chính sách tiền tệ nghiêng về giác độ
Trang 8bơm hoặc rút tiền ra theo một khối lượng mong muốn thì thực hiện theophương thức đấu thầu lãi suất, ở đó lãi suất được thả nổi theo cung cầu củathị trường, còn lãi suất trúng thầu sẽ được xác định tại thời điểm đạt đượckhối lượng tiền cần bơm vào hoặc rút tiền ra khỏi lưu thông Lãi suất chỉ đạođối với đấu thầu khối lượng và lãi suất trúng thầu đối với đấu thầu lãi suất là
cơ sở để tính giá của giấy tờ có giá Một lần nữa có thể khẳng định rằngNVTTM chính là công cụ gián tiếp của chính sách tiền tệ hoạt động thôngqua việc mua hoặc bán các giấy tờ có giá trên thị trường thứ cấp giữa ngânhàng trung ương và TCTD nhằm bơm vào hoặc rút tiền khỏi lưu thông theomục tiêu mở rộng hay thu hẹp tín dụng, từ đó tác động gián tiếp lên mặt bằnglãi suất trên thị trường vốn ngắn hạn
* Lãi suất tái cấp vốn :
Nghiệp vụ tái cấp vốn là một khái niệm kinh tế, dùng để chỉ hoạt động tíndụng của NHNN, với nội dung là sử dụng ngồn vốn dự trữ phát hành để chovay ngắn hạn có bảo đảm đối với NHTM nhằm mục đích cung ứng phươngtiện thanh toán cho nền kinh tế Theo điều 17 luật NHNN Việt Nam, NHNNđược thực hiện nghiệp vụ tái cấp vốn cho các NHTM theo những hình thứcpháp lý sau : cho vay lại theo hồ sơ tín dụng Chiết khấu, tái chiết khấuthương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác của NHTM Cho vay cóbảo đảm bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác.Lãi suất tái cấp vốn là loại lãi suất do NHNN áp dụng khi thực hiện tái cấpvốn cho các TCTD trên htị trường tiền tệ Lãi suất tái cấp vốn là “giá cả” củaviệc sử dụng vốn được các bên thoả thuận trong hợp đồng tái cấp vốn và lãisuất này cũng có tác dụng định hướng cho các tổ chức tín dụng ấn định lãisuất kinh doanh, có tác dụng như một biện pháp đòn bẩy kinh tế trong taynhà quản lý là NHNN để điều tiết quy mô và hoạt động tín dụng trên thịtrường
Khi ngân hàng trung ương quyết định tăng lãi suất tái cấp vốn sẽ làmcho các TCTD không thể vay của ngân hàng trung ương nhiều và dễ dàng.điều đó sẽ giảm bớt cho vay và dự trữ trở lại Các TCTD ý thức đuợc rằngtrong trường hợp khẩn cấp cần vay nóng ngân hàng trung ương, các TCTDphải trả lãi suất cao Điều này buộc các TCTD phải từ từ nâng lãi suất lêntheo để khỏi phải thiệt hại nặng khi phải vay của ngân hàng trung ương
Trang 9Khi ngân hàng trung ương tuyên bố giảm lãi suất chiết khấu, nó khuyếnkhích các TCTD đến vay nhiều hơn điều này trước hết làm tăng cung ứngtiền, tăng dự trữ Dự trữ tăng, kích thích các TCTD cho vay nhiều hơn, dễdàng hơn và làm tăng nhanh hơn cung ứng tiền, tổng cầu và sản lượng Bêncạnh đó, khi các TCTD có thể cho vay tiền của ngân hàng trung ương với lãisuất hạ, nó sẽ sẵn sàng hạ lãi suất khi cho sản xuất và tiêu dùng vay Toàn bộlãi suất, do vậy, sẽ giảm theo, kích thích đầu tư và mở rộng sản lượng.
Ơ Việt Nam những giai đoạn đầu của quá trình đổi mới ( 1990-1997) lãisuất tái cấp vốn được quy định là một tỷ lệ % của lãi suất cho vay trên khếước xin tái cấp vốn Điều đó có nghĩa là lãi suất cho vay của các NHTM xácđịnh mức lãi suất tái cấp vốn Điều này hoàn toàn ngược với bản chất của lãisuất tái cấp vốn là mức lãi suất chỉ đạo trên thị trường Thực tế lãi suất tíndụng và lãi suất tái cấp vốn biến động nguợc chiều nhau Kể từ tháng 3-1997,lãi suất tái cấp vốn được ấn định một cách độc lập Việc điều chỉnh lãi suấttái cấp vốn thường đi kèm với việc điều chỉnh cùng chiều các giới hạn lãisuất
Có thể thấy có sự liên hệ mật thiết giữa lãi suất tái cấp vốn và lãi suấttín dụng Khi không còn tác động trực tiếp đến lãi suất tín dụng nữa có thể sửdụng nó như một biện pháp hữu hiệu để tác động đến lãi suất trên thị trường
* Dự trữ bắt buộc :
Dự trữ bắt buộc là số tiền mà TCTD phải gửi tại NHNN để thực hiệnchính sách tiền tệ quốc gia Việc quy định chế độ dự trữ bắt buộc là một giảipháp nhằm bảo đảm sự an toàn trong kinh doanh của các tổ chức tín dụngnhưng cũng chính là một trong những công cụ để NHNN thực hiện chínhsách tiền tệ quốc gia Là một công cụ mang tính hành chính dự trữ bắt buộc
sẽ được hạn chế dần trong tương lai nhưng trước mắt nó vẫn là một công cụhữu hiệu để NHNN tác động gián tiếp đến lãi suất tín dụng.Việc tăng haygiảm số tiền dự trữ bắt buộc tại NHNN sẽ có tác dụng sẽ có tác dụng làmgiảm hay tăng khả năng cấp tín dụng, tác động đến lãi suất của tổ chức tíndụng đối với khách hàng trên thị trường, thông qua đó mà NHNN thực hiệnchủ trương thu hẹp hay bành trướng khối cung tiền tệ trong lưu thông nhằmđiều hoà lưu thông tiền tệ
Trang 10Theo quy định tại khoản 5 điều 9 luật NHNN và theo quy chế dự trữ bắtbuộc đối với các TCTD ( ban hành kèm theo quyết định 51//1999/QĐ-NHNN1 ngày 10/2/1999 của thống đốc NHNN ) cơ sở xác định tiền dự trữbắt buộc trong từng thời kỳ nhất định là số dư tiền gửi huy động bình quântrong kì của mỗi TCTD và tỷ lệ phần trăm (%) dự trữ bắt buộc do Thống đốcNHNN quy định đối với mỗi tổ chức tín dụng trong thời kỳ đó Dựa vào haicăn cứ trên đây, số tiền dự trữ bắt buộc đối với mỗi TCTD trong từng thời kỳcủa TCTD nhân với tỷ lệ phần trăm dự trữ do NHNN quy định đối với TCTD
đó Kết hợp với các công cụ khác của NHNN dự trữ bắt buộc có thể trở thànhmột công cụ tích cực trong việc điều chỉnh gián tiếp lãi suất thị trường mộtcách hữu hiệu
Trên đây là những công cụ gián tiếp mà NHNN tác động đến lãi suất tíndụng, nhưng, nếu chỉ sử dụng rời rạc từng công cụ, không có sự kết nối vớinhau, không có sự kết hợp chặt chẽ với các loại lãi suất khác trên thị trườngtiền tệ NHNN có thể thực hiện được bất kỳ sự tác động nào tới lãi suất thịtrường Muốn tác động đến lãi suất cần có sự phối hợp cua rất nhiều yếu tố
để hình thành một hệ thống lãi suất chỉ đạo Trong cơ chế này phải đồnghành tồn tại rất nhiều loại lãi suất khác nhau có mối liên quan chặt chẽ vớinhau bao gồm lãi suất tái cấp vốn , lãi suất thị trường mở, lãi suất tiền gửi tạiNHNN và lãi suất trên thị trường liên ngân hàng Các loại lãi suất này có mốiquan hệ rất gắn bó và mật thiết với nhau, khi các chúng kết hợp với nhau sẽ
có tác dụng định hướng và chỉ đạo thị trường Trong các loại lãi suất trên lãisuất tiên gửi NHNN của các TCTD là thấp nhất trong các loại lãi suất.NHNN thường chỉ quy định một luợng lãi suất rất thấp mang tính chấtkhuyến khích thậm chí là không có lãi suất để cho các TCTD dùng lượng tiền
dư thừa của mình mua giấy tờ có giá để dự trữ thông qua nghiệp vụ thịtrường mở của NHNN hoặc cho vay trên thị trường liên ngân hàng Việc quyđịnh mức lãi suất tiền gửi của TCTD chỉ là kênh hút tiền cuối cùng khi lượngtiền trên thị trường qua dư thừa và khi NVTTM và những hoạt động trên thịtrường liên ngân hàng không phát huy hết tác dụng của nó Vì vậy giữa lãisuất tiền gửi của các TCTD luôn có một giới hạn nhất định mang tính chấtkhung cho lãi suất thị trường tiền tệ với lãi suất tái cấp vốn, chủ yếu là lãisuất tái cấp vốn và cho vay qua đêm Ngược lại, với lãi suất lãi suất tái cấp
Trang 11vốn củ yếu thực hiện việc cung ứng tiền cho lưu thông Các hình thức tái cấpvốn của NHNN thường có thời hạn vay rất ngắn, có thể cho vay trong vài bangày, thậm chí qua đêm dể bù đắp thiếu hụt khả năng thanh toán sau khi cácTCTD đã thực hện vay mựon lẫn nhau trên thị trường liên ngân hàng Chỉ khinào các TCTD không thể bù đắp đủ sự thiếu hụt trong thanh toán cho nhauthì lúc này NHNN mới bắt buộc phải đưa tiền vào lưu thông Vì vậy, điềuhiển nhiên mức lãi suất này phải là cao nhất dể đảm bảo NHNN bao giờ cũng
là người cho vay cuối cùng Mức lãi suất cụ thể sẽ được tính toán theo cungcầu tín dụng của thị trường,đặc biệt chú ý đến lãi suất của thị trường vốn và
tỷ giá ngoại tệ nhằm điều tiết và chỉ đạo mặt bằng lãi suất thị trường NHNN
sẽ dùng lãi suất tái cấp vốn tác động vào hai loại lãi suất trung gian là lãi suấtthị trường mở và lãi suất thị trường liên ngân hàng, từ đó tác động và điềuhành lãi suất thị trường thay thế cho các biện pháp mang tính can thiệp hànhchính Lãi suất thị trường mở là lãi suất đấu thầu các loại tín phiếu và giấy tờ
có giá ngắn hạn NHNN tham gia thị trường mở và chi phối mức lãi suất đấuthầu và mức lãi suất này thường thấp hơn lãi suất tái cấp vốn Thông qua lãisuất trên thị trường mở NHNN điều tiết lãi suất trên thị trường Gắn kết chặtchẽ nhất với lãi suất thị trường mở là lãi suất thị trường liên ngân hàng Cóthể nói thị trường liên ngân hàng là một thị trường vô cùng quan trọng vì nóchính là nền tảng cho hoạt động của nghiệp vụ thị truờng mở, một công cụ vôcùng quan trọng mà nhà nước sẽ phải sử dụng thường xuyên khi thực hiện cơchế lãi suất thoả thuận, như chúng ta đã từng tìm hiểu ở phần trên Đặc trưngbổi bật của NVTTM là NHNN có khả năng chủ động tác động vào lượng vốnkhả dụng của các NHTM dựa vào cơ chế giá linh hoạt trên thị trường màkhông bị hạn chế bởi mức độ phụ thuộc về vốn của các NHTM vào NHNN.Tuy nhiên, hiệu quả tác động của hành vi mua, bán chứng từ có giá trên thịtrường mở của NHNN phụ thuộc rất nhiều vào mối liên hệ về vốn giữa cácTCTD với tư cách là người tham gia trên thị trường mở Hay nói cách khác,khả năng phát huy hiệu quả của NVTTM phụ thuộc vào mức độ tích cực củathị trường tiền tệ liên ngân hàng là nơi các TCTD mua bán vốn khả dụng lẫnnhau thông qua các hoạt động vay, gửi lẫn nhau Trên góc độ lãi suất, lãi suấtthị trường liên ngân hàng luôn xoay quanh lãi suất NVTTM và phụ thuộc vàolãi suất tái cấp vốn của NHNN Các TCTD vay mượn ngắn hạn lẫn nhau
Trang 12trong trừong hợp thiếu vốn mà chưa đến phiên giao dịch thị trường mở, nơi
mà các TCTD có thể mua bán các giấy tờ có giá của mình để dự trữ hoặc dổithành tiền mặt phục vụ cho nhu cầu về vốn của mình Căn cứ vào các mức lãisuất mang tính chỉ đạo trên các TCTD quyết định mức lãi suất của mình,trong đó mức lãi suất huy động thường thấp hơn lãi suất thị trường liên ngânhàng và cao hơn lãi suất tiền gửi NHNN Lãi suất cho vay thì thấp hơn lãisuất tái chiết khấu của NHNN và cao hơn lãi suất thị trường liên ngân hàng.Thực hiện được hệ thống lãi suất chỉ đạo trên NHNN có thể hoàn toàn yêntâm khi đưa cơ chế lãi suất thoả thuận thực hiện trên thực tế, lần đàu tiên thực
sự sử dụng các biện pháp kinh tế tác động và điều hành lãi suất thị trườngthay thế cho các biện pháp can thiệp mang tính hành chính
II Thực trạng cơ chế lãi suất thoả thuận
Có rất nhiều sự lo ngại cho sự ra đời của cơ chế lãi suất thoả thuận.Nhưng , khi ra đời cơ chế mới trên thị trường vẫn không xảy ra nhiều biếnđộng Lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi của các TCTD vẫn không có gìthay đổi Lãi suất huy động cao nhất phổ biến xoay quanh mức 0,60%/tháng.Lãi suất cho vay bình quân xoay quanh mức 0,65%-0,80%/tháng Duy chỉ cóNHNN&PTNT tăng nhẹ lãi suất Trả lời phỏng vấn thời báo ngân hàng ông
Lê Văn Sở- Tổng giám đốc NHNN&PTNT(VBARD) giải thích việc này nhưsau : “không có chuyện cơ chế lãi suất thoả thuận làm mặt bằng lãi suất tăng
lê chúng tôi buộc phải điều chỉnh lãi suất cho vay tối đa (trung dài hạn là1,15%/tháng; ngắn hạn là 1%/tháng) vì chúng tôi phải tăng lãi suất huy động
để cạnh tranh huy động vốn với ngân hàng khác Nếu như tiếp tục để lãi suấtcho vay như cũ thì có lẽ ngân hàng phải đóng cửa bởi chúng tôi không thể bùđắp được các chi phí bỏ ra và dự phòng rủi ro cho hoạt động ngân hàng Tuynhiên, tôi cũng xin lưu ý rằng mức điều chỉnh tăng lãi suất cho vay thấp hơn
so với mức điều chỉnh tăng lãi suất huy động và mức tăng lên lần này là cũngrất nhỏ”
Đối với việc VBARD không cho phép tất cả các chi nhánh tự do quyếtđịnh mức lãi suất nhận gửi cũng như cho vay mà chỉ cho phép các chi nhánhtại thành phố tự quyết định, các chi nhánh khác phải tuân theo lãi suất cứng
do VBARD chỉ đạo ông Lê Văn Sở cũng giải thích “ Trước hết lãi suất thoảthuận được quy định là cho TCTD thoả thuận với khách hàng, các chi nhánh
Trang 13là đơn vị thành viên nên phải theo chỉ đạo tập trung của TCTD Trong thờigian đầu áp dụng, nếu để tất cả các chi nhánh tự do quyết định lãi suất chovay lãi suất huy động thì sẽ dẫn đến nhiều thay đổi lớn mà nếu không quản lýtốt sẽ dẫn đến việcbị lợi dụng Tuy nhiên, ức lãi suất quản lý tập trung sẽđược điều chỉnh tuỳ theo sự biến động của cung cầu về vốn trên thị trường.
Về lâu dài, khi thị trường đã quen với cơ chế lãi suất thoả thuận thì cơ chế lãisuất cho các chi nhánh VBARD cũng được thay đổi Một cơ chế mới khi đivào cuộc sống cũng cần có thời gian để cuộc sống điều chỉnh và chấp nhận
cơ chế đó”
Trên đây là thực trạng của thị trường tín dụng sau khi cơ chế lãi suất mới
ra đời Nhìn chung cơ chế lãi suất mới có những ưu điểm sau:
- Cơ chế mới ra đời chưa được bao lâu nhưng xét về lâu dài rất có lợi chonền kinh tế, cũng như xu hướng hội nhập, toàn cầu hoá và quốc tế hoá nềnkinh tế nói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng Thoả thuận lãi suất tức
là vốn sẽ được tự do luân chuyển trong nền kinh tế, giữa các khu vực, vùngmiền và đối tượng Vốn sẽ được luân chuyển từ nơi thừa đến nơi thiếu, từ nơi
có lãi suất cao đến nơi có lãi suất thấp, các ngân hàng phải tìm biện pháp huyđộng vốn nhiều hơn để đáp ứng các nhu cầu và chính các lợi ích khác nhau từnhiều chiều khác nhau tham gia thị trường sẽ hình thành một mức lãi suấtbình quân hợp lý trong nền kinh tế theo tín hiệu thị truờng Một khi lãi suấtđược áp dụng ở mức cân bằng thì người vay không bao giờ bị thiếu vốn, họphải cân nhắc giữa hiệu quả do việc sử dụng vốn mang lại với lãi cho vayvốn ( chi phí vốn ) trả cho TCTD.Các nguồn lực sẵn có trong đầu tư sẽ được
sử dụng một cách hợp lý từ đó nâng cao được hiệu suất của nền kinh tế Lãi suất được luân chuyển hợp lý sẽ san lấp những lỗ hổng về vốn Đưavốn xuống vùng nông thôn là nơi thường xuyên phải chịu cảnh vay nặng lãi
và muốn vay với lãi suất cao nhưng không được vì kịch trần
- Về phía doanh nghiệp cơ chế lãi suất thoả thuận sẽ tạo điều kiện hạn chế sựđộc quyền của các TCTD trên thoả thuận tín dụng Ngân hàng và doanhnghiệp được đặt ở vị trí ngang nhau, cho phép các khách hàng có quyền lựachọn TCTD để tìm lãi suất cho vay phù hợp cho hoạt động sản xuất, kinhdoanh của doanh nghiệp Bên cạnh đó, lãi suất thoả thuận tạo điều kiện chongân hàng có thể chấp nhận các dự án có độ rủi ro cao hơn Điều đó đồng
Trang 14nghĩa với việc đáp ứng nhu cầu của người vay vốn mà không đáp ứng đủnhững quy định về đảm bảo tiền vay thông thường, tạo điều kiện cho nhữngngười kinh doanh hiện chưa khẳng định được uy tín với ngân hàng, trong quátrình vay vốn, không bị lỡ cơ hội kinh doanh
- Về phía ngân hàng: việc cho phép thoả thuận lãi suất sẽ tạo điều kiện chongân hàng cung ứng nhiều vốn hơn cho các thành phần kinh tế, đồng thời, tạođiều kiện thuận lợi cho công cuộc cải cách ngân hàng theo đinh hướng thịtrường, nâng cao năng lực tài chính và năng lực cạnh tranh đáp ứng các tiêuchuẩn an toàn và khả năng hội nhập với nền tài chính, tiền tệ quốc tế của cácTCTD Đặc biệt trong điều kiện các ngân hàng nước ngoài vẫn bị hạn chế vềkhả năng huy động tiền đồng sẽ tạo điều kiện cho các TCTD có thời gian tậpdượt trước khi phải cạnh tranh bình đẳng với các TCTD nước ngoài
III Phương hướng hoàn thiện cơ chế lãi suất thoả thuận
Trải qua một thời gian dài ( hơn 12 năm) trong cơ chế kiểm soát lãi suấttrực tiếp khi chuyển sang cơ chế mới không thể không gặp phải nhũng khókhăn nhất định Đó là những “tàn tích” của cơ chế cũ không chỉ thể hiệntrong riêng lĩnh vực lãi suất mà còn cả trên thị trường tài chính -tiền tệ, bởilãi suất tín dụng chính là một phần của thị trường tiền tệ Bên cạnh đó lànhững khó khăn do hệ quả của cơ chế mới mà bất kỳ một thay đổi nào cũnggặp phải : đó là tình trạng cạnh tranh gay gắt do sự thả nổi về lãi suất sẽ dẫnđến tình trạng cạnh tranh không lành mạnh và sự lo sợ bỏ trống khu vực nôngthôn khi thực hiện cơ chế mới đòi hỏi tìm được những giải pháp thích hợp đểhoàn thiện hơn cơ chế mới trước khi đưa cơ chế đi vào cuộc sống Nhưngmuốn có được những biện pháp tối ưu, trước hết cần phải nhìn nhận dúngtình trạng những khó khăn hiện nay
1 Cơ chế lãi suất thoả thuận ra đời nhiều ý kiến lo sợ với khu vực nôngthôn , vùng sâu, vùng xa nơi không có môi trường cạnh tranh( các TCTDkhông thể tập trung nhiều về đây vì nhiều lý do: cơ sở hạ tầng, nguồn kháchhàng để huy động vốn không nhiều, các món vay thường nhỏ, lẻ, chi phí lạicao và tốn kém, khó kiểm soát nguồn vốn ) Thường chỉ có rất ít TCTD hoạtđộng ở khu vực này nên khi thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận, các TCTDđược tự do quyết định mức lãi suất mà không phải chịu bất kỳ một sự ràngbuộc nào thì lãi suất có thể bị đẩy lên rất cao làm cho khách hàng bị thiệt
Trang 15thòi Nhiều ý kiến giải thích về vấn đề này như sau: lãi suất giữa thành thị vànông thôn không thể tương đồng mà phải có sự chênh lệch Sự chênh lệchnày là không tránh khỏi vì ngoài yếu tố giá trị của bản thân hàng hoá còn rấtnhiều yếu tố khác chi phối mức giá như chi phí, các yếu tố rủi ro trong quátrình thực hiện việc sử dụng vốn Điều quan trọng hơn là đối với nông dânđiều quyết định không phải là yếu tố giá mà là thủ tục cho vay có nhanhchóng và gọn nhẹ hay không Theo thống kê khoảng 80% hộ nông dân ởnông thôn hiện nay phải chịu cảnh vay nặng lãi với mức lãi suất rất cao Cókhi lãi suất lên tới 3-5%/tháng Nếu lãi suất có tăng lên thì với những mónvay nhỏ lẻ từ 5 triệu đến 10 triệu như hiện nay thì sự tăng lên đó là khôngđáng kể Vì vậy thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận là một hình thức “gỡ bí”đem lại nhiều lợi ích hơn là thiệt hại Giải thích như vậy không phải là không
có lý nhưng vẫn mang nặng tính chủ quan Hiện nay, khoảng cách giữa nôngthôn và thành thị ngày càng xa, chủ truơng của Đảng và nhà nước là phải tiếnhành công nghiệp hoá hiện đại hoá nông thôn một cách nhanh chóng Muốnnhư vậy phải có vốn, thật nhiều vốn để nông dân có vốn để sản xuất đặc biệt
là nông dân nghèo, thêm nữa vốn phải thật rẻ để nông dân có thể mạnh dạnđầu tư sản xuất Vì vậy, cần có những biện pháp thiết thực hơn để khi cơ chếmới đi vào cuộc sống phát huy một cách tối đa nhất những ưu điểm củamình Cần tạo một môi trường cạnh tranh thông thoáng hơn, khuyến khíchcác TCTD mở rộng mạng lưới hoạt động ở nông thôn, đẩy mạnh huy độngvốn và tích cực cho vay, phân định rõ TCTD cho vay theo chính sách vàTCTD cho vay theo tài chính kinh doanh:
Trước hết cần chú trọng phát huy vai trò chủ đạo của NHNN&PTN, mởrộng chi nhánh cấp 4 tổ chức cho vay thuận tiện xuống tất cả các địa bànnông thôn, với trang bị công nghhệ ngân hàng hiện đại Bản thân NHNN
&PTNT cần có kế hoạch cơ cấu lại để trở thành một ngân hàng thuơng mạilớn mạnh : cơ cấu lại nợ, đổi mới quy trình hoạt động, phát triển và mở rộngcác dịch vụ sản phẩm mới, chuyển đổi hệ thống kế toán phù hợp với chuẩnmực quốc tế, áp dụng mạnh mẽ công nghệ tin học vào kinh doanh, đào tạophá triển nguồn nhân lực, cải tổ bộ máy theo mô hình NHTM hiện đại Đẩymạnh tiến độ ứng dụng công nghệ tin học vào hoạt động ngân hàng, xác địnhđây là điểm đột phá để sắp xếp lại cơ cấu lao động tăng hiệu quả trong kinh