1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KINH NGHIỆM CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG Á BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

41 470 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kinh Nghiệm Chất Lượng Tăng Trưởng Của Một Số Nước Đông Á: Bài Học Cho Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Báo cáo nghiên cứu
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 92,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả sản xuất và tăng trưởng của nền kinh tế Là nước có nền kinh tế đang trong thời kỳ chuyển đổi như Việt Nam, Trung Quốc đã có những bước tiến dàitrong quá trình phát triển kinh tế

Trang 1

KINH NGHIỆM CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG Á BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

I CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG CỦA TRUNG QUỐC

1 Chất lượng tăng trưởng về kinh tế

1.1 Kết quả sản xuất và tăng trưởng của nền kinh tế

Là nước có nền kinh tế đang trong thời kỳ chuyển đổi như Việt Nam, Trung Quốc đã có những bước tiến dàitrong quá trình phát triển kinh tế - xã hội kể từ khi bắt đầu tiến hành việc cải cách mở cửa nền kinh tế vào năm 1979.Qua 25 năm đổi mới, kinh tế Trung Quốc phát triển nhanh chóng và đã đạt được nhiều kết quả to lớn trong sự pháttriển mạnh mẽ của nền kinh tế cũng như xây dựng được một nền tảng xã hội vững chắc, thể chế chính trị ổn định,đảm bảo sự tăng trưởng có chất lượng

Trung Quốc hiện đứng trong số 10 nước có GDP lớn nhất thế giới, đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất trong lịch

sử loài người Trong thập kỷ 1980, mức tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của Trung Quốc đạt 10,1%, sangthập kỷ 1990, mức tăng này còn cao hơn, đạt 10,3% Từ năm 2001 đến nay GDP của Trung Quốc vẫn liên tục đạtmức cao, cụ thể năm 2001 đạt 7,3%; năm 2002 đạt 8,3%; năm 2003 đạt 9,3%; năm 2004 đạt 9,5%; năm 2005 đạt9,2% và dự đoán năm 2006 đạt khoảng 8,8%

Năm 1995, GDP bình quân đầu người của Trung Quốc là 2653 USD, rút ngắn khoảng cách so với GDP bìnhquân đầu người của Châu Âu xuống còn 5,3 lần, so với Mỹ còn 8,8 lần, so với Nhật Bản tăng lên bằng 7,4 lần, sovới GDP bình quân đầu người trên thế giới giảm từ 4,2 lần năm 1952 còn có 2 lần

Mức tăng trưởng cao mà Trung Quốc đạt được trong suốt 25 năm qua chính là kết quả của sự đổi mới trong tưduy của các nhà lãnh đạo Trung Quốc Chính phủ Trung Quốc đã mạnh dạn và kiên quyết thực hiện các chính sáchđổi mới kinh tế, đưa nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa Các chínhsách kinh tế vĩ mô liên tục được thay đổi theo hướng ngày càng nới lỏng sự kiểm soát của Chính phủ đối với thịtrường, bắt đầu từ khu vực nông nghiệp, sau đó mở rộng sang khu vực công nghiệp và cuối cùng là khu vực dịch vụ.Thay đổi căn bản và sâu sắc nhất để hướng về một nền kinh tế tự do và thúc đẩy tăng trưởng mạnh mẽ hơn chính làviệc sửa đổi Hiến pháp năm 2004 Tất cả những sự thay đổi này đã tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân, bộ phận đóngvai trò chủ chốt trong nền kinh tế Trung Quốc phát triển mạnh mẽ

Đóng góp trước tiên về tăng trưởng nền kinh tế của Trung Quốc phải kể đến thành quả của quá trình chuyển đổitrong cơ cấu kinh tế và cơ cấu ngành Đồng thời với việc đi sâu cải cách, Chính phủ Trung Quốc đã thực hiện điềuchỉnh mang tính chiến lược đối với cơ cấu kinh tế, lấy cơ cấu ngành làm trọng tâm, coi cơ cấu ngành có tác dụngquyết định đến tốc độ tăng trưởng kinh tế Một cơ cấu ngành kinh tế hợp lý sẽ có tác dụng thúc đẩy tăng trưởng cao

và bền vững của nền kinh tế

Cơ cấu ngành bao gồm quan hệ tỷ lệ giữa 3 khu vực sản xuất (I - Nông nghiệp và khai thác; II - Xây dựng, chếtạo, chế biến; III - Dịch vụ) cũng như quan hệ nội bộ từng ngành Từ năm 1978, xu thế biến động cơ cấu ngành của

Trang 2

Trung Quốc là: Tỷ trọng khu vực I có xu thế giảm xuống, tỷ trọng khu vực II cơ bản giữ ở mức trung bình và có xuhướng tăng lên; tỷ trọng khu vực III ngược lại có xu hướng tăng nhanh Xét về mặt cơ cấu giá trị sản lượng thấyrằng, từ năm 1978 đến 2005, tỷ trọng khu vực I đã từ 28,1% giảm xuống còn 19,6%; tỷ trọng khu vực II từ 48,2%tăng lên 49,1%; tỷ trọng khu vực III đã từ 23,7% tăng lên 31,3% Xét đóng góp vào GDP, năm 2001, ngành nôngnghiệp chiếm 12,5%; ngành công nghiệp chiếm 51,2%; dịch vụ chiếm 33,6% So với năm 1978 (mức tương ứngtrong ba ngành là: 28,4%; 48,6% và 23%) Như vậy có thể thấy tỷ trọng của công nghiệp và dịch vụ có xu hướngđang tăng lên, tỷ trọng của nông nghiệp giảm đi.

Tuy nhiên trong xu thế biến động theo cơ cấu ngành, có một đặc điểm nổi bật dễ nhận thấy là tỷ trọng khu vực Igiảm xuống đã không dẫn đến sự biến động lớn của khu vực II, mà lại là sự tăng lên tỷ trọng của khu vực III, trongkhi Nhà nước tập trung đầu tư lớn cho khu vực II Điều này cho thấy những bất cập trong việc dùng mệnh lệnh hànhchính thúc đẩy công nghiệp hóa, hạn chế sự phát triển của ngành dịch vụ Sự phát triển mạnh của khu vực III trongquá trình cải cách theo hướng thị trường là một tất yếu mang tính khách quan trong thực trạng phát triển của nềnkinh tế thị trường

Về cơ bản, cơ cấu trong nội bộ ngành công nghiệp thay đổi theo hướng: tỷ trọng một số ngành mới như chế tạo,dầu mỏ, điện tử, thiết bị thông tin được nâng cao, tỷ trọng một số ngành công nghiệp truyền thống như dệt, cao su,

… bắt đầu giảm, nhưng cục diện chung về cơ cấu ngành chưa có sự thay đổi mạnh mẽ, rõ nét

Trong khu vực nông thôn cũng có sự chuyển biến cơ cấu theo chiều hướng tích cực Điển hình là sự tăng trưởngnhanh chóng của khu vực công nghiệp nông thôn, bao gồm vô số các doanh nghiệp nông thôn quy mô nhỏ do cáchương trấn, làng xã và cá nhân thành lập Các doanh nghiệp nông thôn này đã làm thay đổi toàn cảnh kinh tế củakhu vực nông thôn Trung Quốc, trở thành lực lượng chính đứng đằng sau sự tăng trưởng chung bền vững của TrungQuốc Đây chính là điểm khác biệt quan trọng đưa Trung Quốc đạt được những thành tựu đáng khích lệ trong côngcuộc công nghiệp hóa công nghiệp nông thôn nói riêng và công nghiệp hóa nói chung Năm 1978, giá trị sản lượngcủa các doanh nghiệp nông thôn trong khu vực công nghiệp chỉ chiếm 9% tổng sản lượng toàn quốc Đến năm 1997,con số này lên tới 58% Công nghiệp nông thôn ngày nay không chỉ đơn thuần là sự bổ sung cho sản xuất nôngnghiệp mà đã là một nguồn tăng trưởng không thể thiếu đối với các ngành kinh tế khác, đặc biệt là xuất nhập khẩu.Năm 1986, tỷ trọng của doanh nghiệp nông thôn trong tổng kim ngạch xuất khẩu chỉ bằng 9%; đến năm 1997 con sốnày đã là 46%

Có thể nói, điều chỉnh kết cấu ngành nghề là một trong những nội dung quan trọng nhất làm thay đổi phươngthức tăng trưởng kinh tế ở Trung Quốc Phương châm đặt ra đối với Trung Quốc từ những năm đầu thập kỷ 1990 là:chú trọng phát triển ngành nghề thứ nhất, điều chỉnh và nâng cao ngành nghề thứ hai, tích cực phát triển ngành nghềthứ ba Phát triển ngành nghề thứ nhất, đặc biệt là nông nghiệp được coi là chiến lược cơ sở của Trung Quốc vì sảnxuất lương thực liên quan đến sự tồn vong, đến tương lai của Trung Quốc Phát triển ngành nghề thứ ba giúp thúcđẩy thị trường phát triển, nâng cao hiệu quả sản xuất, giúp ngành nghề thứ nhất và thứ hai phát triển

Trang 3

Nhờ những thay đổi trong cơ cấu ngành đã tạo tiền đề thúc đẩy thương mại Trung Quốc phát triển và trở thànhđộng lực chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Trung Quốc, đặc biệt là kể từ sau khi Trung Quốc gia nhập Tổ chứcThương mại Thế giới (WTO) năm 2001 Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Trung Quốc tăng lên hàng năm Tốc

độ tăng trưởng xuất, nhập khẩu của Trung Quốc trong giai đoạn 2001 – 2005 luôn được duy trì ở mức trên 20% Cụthể, năm 2001, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 509,67 tỷ USD, năm 2002, 620,79 tỷ USD, tăng 21,8% so với năm

2001, năm 2003 đạt 851,21 tỷ USD, tăng 37,1% so với năm 2002, năm 2004 đạt 1155,28 tỷ USD, đến năm 2005 con

số này đã đạt hơn 1.421 tỷ USD Với tốc độ tăng trưởng cao liên tục như vậy cho thấy, mô hình tăng trưởng ngoạithương của Trung Quốc đã có những thay đổi sâu sắc

Mức tăng trưởng cao đạt được còn là kết quả của những yếu tố trong tổng cầu Tỷ lệ tiết kiệm cao dẫn đến tỷ lệtích lũy và mức đầu tư cao Tỷ lệ dự trữ trong nước cao thể hiện qua lượng tiền gửi trong nước tăng hàng năm, trong

đó tiền gửi tiết kiệm của nhân dân thành thị và nông thôn chiếm 2/3 trong GDP Thời gian qua, Trung Quốc đã rất

thành công trong việc thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Nguồn vốn này đã tăng

nhanh chóng, từ 4,4 tỷ USD năm 1991 lên 53,3 tỷ USD năm 2003; 60,6 tỷ USD năm 2004 rồi 60,33 tỷ USD năm

2005, đưa Trung Quốc lên vị trí dẫn đầu thế giới về tiếp nhận FDI Chính hai nhân tố này đã khiến cho Trung Quốcduy trì tốc độ tăng trưởng cao và thúc đẩy quá trình điều chỉnh cơ cấu kinh tế của Trung Quốc

Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, Trung Quốc chấp nhận mức lạm phát cao 11 -15%/năm, trong giai đoạn năm

1994 – 2001, để đạt tốc độ tăng trưởng hai con số với tăng mức cung tiền thêm lên tới 59.223,82 tỷ NDT, tươngđương 701 tỷ USD Tuy nhiên, chính sách này không đảm bảo bền vững, theo đánh giá của WEF, điều này thể hiệnnhững yếu kém về thể chế; sự trì trệ trong các điều chỉnh cải cách tài chính; tỉ lệ công nghệ mới đưa vào nền kinh tếthấp và tỷ lệ lao động trình độ cao còn thấp Hiện nay, tỷ lệ lạm phát của Trung Quốc đã được kiềm chế ở mức thấp,song tăng trưởng vẫn còn thể hiện những bất cập nghiêm trọng Điển hình đó là sự tăng trưởng nền kinh tế quá caolại do sự đầu tư quá nhiều vào bất động sản; tình trạng vay tín dụng quá lớn để xây dựng cơ sở hạ tầng; gây ra tìnhtrạng tăng trưởng ảo và lạm phát là điều tất yếu sẽ xảy ra

Biểu đồ 5: Biến động lạm phát của Trung Quốc

(1990 – 2003)

Trang 4

0 5 10

1.2 Tăng trưởng kinh tế đảm bảo theo chiều sâu

Một thành công lớn trong quá trình tăng trưởng nhanh ở Trung Quốc đó là tăng trưởng dựa vào tăng hiệu quả sửdụng vốn và các yếu tố khác hơn là dựa vào sự gia tăng lượng đầu vào về vốn và lao động Trong thời gian 1978 –

1995, mức tăng bình quân năm của GDP đạt 9,4% thì mức tăng vốn là 8,8%, mức tăng vốn nhân lực (tính bằng sốnăm đi học/một công nhân) là 0,7% và mức tăng lực lượng lao động là 4% Theo tính toán của WB, việc tăng vốnđầu vào đóng góp khoảng 37% vào mức tăng trưởng chung, cải thiện chất lượng và số lượng lao động đóng góp17%, còn lại gần 1 nửa tăng trưởng GDP (khoảng 4,3 điểm %) là nhờ các yếu tố khác (tiến bộ công nghệ, hợp lý hóasản xuất, cải tiến quản lý…) Giá trị năng suất nhân tố tổng hợp (TFP – Total Factor Productivity) nhờ đó được tănglên Điểm phần trăm tăng trưởng của TFP chiếm từ 0,194% lên đến 4,09 % trong tăng trưởng GDP 9,71 % giai đoạn

1979 -1998 Tính chung 1960 – 2000, điểm phần trăm trung bình của TFP là 4,4 %, chiếm 46,8 % đóng góp vàotăng trưởng GDP của Trung Quốc Giá trị TFP của Trung Quốc là khá cao so với các nước trong khu vực và có thể

so sánh với các nước công nghiệp phát triển Sự gia tăng không ngừng giá trị đóng góp của TFP ở Trung Quốc cóđược là nhờ:

Thứ nhất: Tác động của cải cách kinh tế làm nâng cao chất lượng lao động thông qua tăng cường chất lượng giáo

dục – đào tạo Đồng thời, sự chuyển dịch lao động từ các công việc có năng suất thấp trong nông nghiệp sang nhữngcông việc có năng suất cao hơn nhiều trong khu vực thành thị hoặc trong các xí nghiệp hương trấn cũng có thể xemnhư một sự nâng cao chất lượng lao động, giải thích cho sự tăng lên của TFP

Trong giai đoạn tới đây, chính phủ Trung Quốc thực hiện chủ trương đầu tư cho phát triển nhân lực, coi đây làtiền đề, nền tảng và động lực để phát triển đất nước bền vững Phát triển giáo dục kỹ thuật và dạy nghề nhằm nângcao chất lượng và kỹ năng của công nhân và cán bộ trung cấp; mở rộng và nâng cao chất lượng giáo dục đại học vàsau đại học cũng là những ưu tiên trong chính sách giáo dục của Trung Quốc Chính phủ Trung Quốc còn có nhữngchính sách gửi sinh viên ra nước ngoài đào tạo, thu hút các sinh viên đã học xong trở về nước làm việc Đặc biệt, sau

Trang 5

khi Trung Quốc gia nhập WTO, Trung Quốc thực hiện chủ trương bồi dưỡng nhân tài theo 3 hướng: hướng về hiệnđại hóa, hướng ra thế giới và hướng tới tương lai Chiến lược này thể hiện ý chí đưa giáo dục của Trung Quốc bắtkịp với các xu thế phát triển của thế giới, chuẩn bị tốt nguồn nhân lực cho tương lai.

Thứ hai, sự cải thiện trong cơ cấu vốn Sự cải thiện này được thấy ở việc chuyển sang phụ thuộc nhiều hơn vào

máy móc thiết bị nhập khẩu – có chất lượng cao hơn với giá rẻ hơn

Thứ ba, đầu tư phát triển khoa học - công nghệ Tăng trưởng kinh tế ở Trung Quốc luôn đi liền với sự phát triển

của lĩnh vực khoa học - công nghệ Tổng mức kinh phí chi cho hoạt động khoa học toàn quốc năm 1999 là 125 tỷNDT Năm 2000, tỷ trọng đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D)/GDP của Trung Quốc đạt 1,0%(tương đương với khoảng 89,6 tỷ NDT, tăng 17,9% so với năm trước), vượt lên đứng hàng đầu trong các nước pháttriển Sự phát triển của khoa học - công nghệ đã góp phần không nhỏ trong việc tăng năng suất lao động xã hội, thúcđẩy sử dụng có hiệu quả các yếu tố đầu vào sản xuất, tăng tỷ trọng đóng góp của TFP trong mức tăng trưởng GDP.Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế nhanh ở Trung Quốc lại không dẫn đến việc năng lực cạnh tranh của nền kinh tếđược nâng cao Ngược lại, trong những năm gần đây, theo đánh giá của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF – WorldEconomic Forum), vị trí xếp hạng năng lực cạnh tranh của Trung Quốc liên tục tụt bậc Nếu như năm 2002, xếphạng năng lực cạnh tranh tăng trưởng của Trung Quốc là 33 trên tổng số 80 nước được xếp hạng, thì đến năm 2003

đã tụt 11 bậc xuống vị trí thứ 44, năm 2004 là 46 và năm 2005 là 49 Trong đó, chỉ số môi trường vĩ mô có sự suygiảm mạnh nhất từ vị trí rất cao (thứ 8) năm 2002 xuống vị trí thứ 24 năm 2004 và 33 năm 2005 Điều này xuất phát

từ thực tế là trong vòng 2 - 3 năm qua, Trung Quốc đang áp dụng các biện pháp để kiềm chế, kiểm soát sự tăngtrưởng quá nóng, cũng như do cầu tăng mạnh đã thúc đẩy lạm phát gia tăng

2 Hiệu lực quản lý nhà nước của Trung Quốc

2.1 Các chính sách vĩ mô

2.1.1 Chính sách tài khóa

Trong điều hành bằng các chính sách kinh tế vĩ mô, Trung Quốc chú trọng sử dụng chính sách tài khóa, coi đây

là động lực tiên phong thúc đẩy kinh tế tăng trưởng một cách bền vững Trong suốt gần 30 năm qua, Trung Quốc đãkiên trì thực hiện chính sách chi tiêu NSNN hết sức thận trọng, kiểm soát chặt chẽ thâm hụt NSNN, tạo môi trườngkinh tế vĩ mô ổn định, thuận lợi cho kinh tế tăng tốc lâu dài Từ 1978 đến nay, Trung Quốc kiên quyết không pháthành tiền cho chi tiêu và bù đắp thâm hụt NSNN trong trường hợp thu NSNN không đủ cho chi tiêu của Chính phủ.Thay vào đó, tích cực thi hành chính sách động viên (chính sách thu) và chính sách chi NSNN đúng đắn, nhờ vậy

mà kinh tế nước này đã được thúc đẩy tăng tốc với nhịp độ cao chưa từng thấy Độ ổn định và cân bằng NSNN củaTrung Quốc chỉ dao động trên dưới 0,9% GDP, vào loại vững chắc nhất thế giới

Cùng với đó là các chính sách điều chỉnh mạnh mẽ cơ cấu chi NSNN, bám sát các mục tiêu phát triển kinh tế –

xã hội Tỷ lệ đầu tư vào các dự án sản xuất giảm dần cho thấy Nhà nước đã chủ động rút dần khỏi hoạt động sản

Trang 6

xuất kinh doanh thuần túy vốn có trong kinh tế kế hoạch để tập trung cho chức năng hoạch định chính sách, điềuchỉnh và định hướng ở tầm vĩ mô Chi cho xây dựng kinh tế giảm từ 60% năm 1978 xuống còn 26,6% tổng chiNSNN năm 1995, còn chi cho đầu tư cơ bản giảm từ 40,3% năm 1978 xuống còn 11,6% năm 1995 Chi tiêu cho y

tế, giáo dục và phúc lợi tăng từ 11,6% lên 23,2% NSNN năm 1995 Chi cho quản lý trong công nghiệp, thương mạicũng như toàn bộ bộ máy hành chính tăng từ 6% lên 14,3% Chi trả nợ năm 1995 chiếm 13%, riêng cho quốc phònggiảm từ 14,96% năm 1978 xuống 9,33% NSNN năm 1995 Đồng thời chính sách tài khóa cũng hướng đầu tư sangphía Tây nhằm đối phó với tình trạng thiểu phát và duy trì nhịp độ tăng trưởng cao, chính sách tài chính nhà nướccủa Trung Quốc đã có một số điều chỉnh tích cực

Từ 1998, với định hướng mở rộng quy mô vốn đầu tư của Nhà nước, Chính phủ tăng cường phát hành trái phiếuChính phủ Theo đánh giá của các nhà kinh tế, hiệu ứng của chính sách này đã làm tăng GDP lên 1,5% trong năm

1999, 2% trong năm 2000 Kết hợp chính sách tăng chi ngân sách, đặc biệt tăng cường đầu tư với qui mô rất lớn vào

cơ sở hạ tầng và chính sách thuế được điều chỉnh theo hướng giảm thuế đã chặn được nguy cơ tụt dốc của nền kinh

tế Đến năm 2005, Trung Quốc đã thực hiện tối ưu hóa kết cấu các khoản chi ngân sách; phát huy vai trò xúc tiếncủa Chính phủ trong việc điều chỉnh kết cấu ngành nghề, thực hiện sự phát triển nhịp nhàng; tăng cường củng cố cáckhâu yếu trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Giai đoạn tiếp theo, Chính phủ sẽ thực hiện ưu tiên công cuộcxây dựng nông thôn, khoa học, giáo dục, văn hóa, bảo đảm xã hội, tiết kiệm tài nguyên, xây dựng sinh thái, pháttriển khu vực miền Tây, bảo đảm cho việc các dự án trọng điểm; tiếp tục rót kinh phí Nhà nước vào các dự án đầu tư

cơ sở hạ tầng quy mô lớn và sử dụng nguồn đầu tư của Chính phủ để giải quyết sự phát triển chênh lệch giữa nôngthôn và thành thị

Quan hệ và tỷ trọng giữa ngân sách Trung ương (NSTW) và ngân sách địa phương (NSĐP) cũng có những thay đổi

cơ bản Trong điều chỉnh, tỷ trọng của NSTW liên tục giảm và duy trì ở mức thấp, tỷ trọng NSĐP tăng lên Nếu năm

1979 tỷ trọng giữa trung ương và địa phương là 50,8% và 49,2% thì đến năm 1993 tỷ lệ này là 22% và 78% Năm 1994Trung Quốc thông qua Luật NSNN, mà một trong các mục tiêu là nâng tỷ trọng của NSTW lên 50%, trên thực tế mụctiêu này đã cơ bản đạt được, tỷ trọng NSTW đã nằm ở mức 49 - 52% trong các năm 1995 - 1998, nhưng phần sử dụngcủa NSTW sau khi đã chuyển giao chỉ chiếm 20 - 22,7% tổng chi NSNN Đây là tỷ trọng rất thấp so với Anh là 71%,

Mỹ là 42%, Achentina là 57%, Inđônêxia là 82% Xét về tác động của chính sách này, tỷ trọng NSĐP trong tổngNSNN lớn tạo điều kiện cho NSĐP được tăng cường và chủ động trong chi tiêu và đầu tư Tuy nhiên, ở khía cạnh khácđiều này gây ra tình trạng NSTW thiếu nguồn lực, khó khăn cho việc thực hiện các chương trình tầm cỡ nhằm hỗ trợcác vùng khó khăn, nghèo nàn, kém phát triển Trung Quốc hiện nay trở thành một trong ba nước bị mất cân đối và có

sự phân hóa lớn nhất trên thế giới Sự phân hóa ngày càng nghiêm trọng giữa miền Đông – Tây, giữa giàu – nghèo,thành thị – nông thôn

Những vấn đề còn tồn tại

Theo đánh giá của các chuyên gia Ngân hàng Thế giới, bên cạnh những thành tựu trong cải cách NSNN củaTrung Quốc, vẫn còn nhiều vấn đề tiếp tục phải cải cách, điều chỉnh, mà tựu trung lại là:

Trang 7

- Do NSTW eo hẹp nên Chính phủ không thể lập ra được các chương trình tầm cỡ nhằm hỗ trợ các vùng khókhăn, nghèo và kém phát triển, dẫn đến tình trạng Trung Quốc trở thành một trong ba nước bị mất cân đối lớn nhấttrên thế giới

- Việc xây dựng quỹ ngân sách bổ sung và quỹ ngoài ngân sách (ước tính chiếm 12% GDP) đang có những điềubất cập Phát sinh tình trạng nhiều địa phương tìm cách chuyển các khoản thu trong ngân sách sang quỹ ngoài ngânsách để tránh phải phân chia với TW

Cuối những năm 1990 và bước sang những năm đầu của thế kỷ XXI, chính sách tài khóa của Trung Quốc tuy đã

có những thay đổi đáng kể và thu được kết quả tích cực, song không phải không có vấn đề còn tồn tại Mức độ nợcủa tài chính nhà nước tăng nhanh, từ 20% năm 1995, lên 29,7% năm 1998 và 30,6% năm 1999; đối với NSTW thì

tỷ trọng nợ gia tăng còn cao hơn, năm 1994 là trên 50%; năm 1998 đạt 71,1% Tỷ lệ trả nợ từ NSNN cũng tăngmạnh, tỷ lệ trả nợ của NSNN và NSTW năm 1995 tương ứng là 14,1% và 27,1% thì tới năm 1998 hai chỉ số này đã

là 23,8% và 48,1%

- Sự tăng trưởng kinh tế phụ thuộc quá mức vào đầu tư của Nhà nước, đầu tư của xã hội tuy được khôi phụcnhưng với tốc độ chậm và yếu, đe dọa cơ sở tăng trưởng bền vững trong tương lai Nếu thời kỳ 1993 - 1997 đầu tưmới tăng của xã hội chỉ phụ thuộc khoảng 40 - 45% đầu tư nhà nước thì năm 1999 chỉ số này đã là 90%

2002 lại giảm xuống chưa đến 17%; năm 2003 cung ứng tiền tệ lại tăng mạnh, với tốc độ tăng là 20%

Biểu đồ 6: Biến động lượng tiền mở rộng M2

(1990 – 2003)

Trang 8

0 5 10 15 20 25 30 35 40

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tăng cung tiền lớn trong giai đoạn này của Trung Quốc Trước tiên, do nền kinh

tế tăng trưởng quá nóng, đặc biệt là tăng đầu tư vào bất động sản, đầu tư tài sản cố định dẫn đến vay tín dụng tăng

quá nhanh Thứ hai, nguyên nhân do chính sách tăng dự trữ ngoại hối nhằm đảm bảo an toàn cán cân thanh toán của

Chính phủ, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc tính trung bình mỗi ngày mua vào 600 triệu USD, tương đương 5 tỷNDT đưa ra ngoài thị trường

là biện pháp kích thích sản xuất, tiêu dùng và tăng lượng tiền mặt trong lưu thông, góp phần ổn định tiền tệ Cùng với việcđiều chỉnh lãi suất đồng nội tệ, Trung Quốc cũng đã liên tục hạ lãi suất đối với đồng ngoại tệ, từ mức 5%/năm vào tháng 5năm 1998 xuống còn 3,75%/năm vào tháng 12/ 1998 Chính sách hạ lãi suất ngoại tệ đã giúp cho hệ thống ngân hàngTrung Quốc vượt qua được khó khăn do ứ đọng vốn ngoại tệ gây ra Mặt khác, Chính phủ Trung Quốc còn thực hiện cácbiện pháp cải cách tài chính khác, như chính sách thuế, chính sách chi tiêu vay nợ, chính sách chỉnh đốn trật tự tài chính

Tín dụng ngân hàng

Trong những năm vừa qua, tại Trung Quốc, tình trạng các khoản vay ngân hàng tăng nhanh, kéo theo nợ xấu củangân hàng gia tăng là một trong những nguyên nhân chính gây ra sự tăng trưởng quá nóng của nền kinh tế nước này

Cụ thể, trong giai đoạn 1998 - 2002, số dư các khoản vay tăng trung bình hàng năm là 1,1 – 1,9 nghìn tỷ NDT; năm

2003 tăng đột ngột 3 nghìn tỷ NDT, tương đương 24% GDP; chỉ tính riêng trong nửa đầu năm 2006, lượng cho vaytăng mới đã là 1.783,4 tỷ NDT, đạt hơn 70% kế hoạch cả năm Sự bùng nổ tín dụng gần đây khiến cho hệ thống

Trang 9

ngân hàng Trung Quốc đang phải đối diện với nhiều yếu tố rủi ro mà nghiêm trọng là tỷ lệ nợ xấu đã lên đến 30%

nợ vay Nguyên nhân là do cơ cấu cho vay bất hợp lý, các khoản cho vay trung dài hạn chủ yếu đầu tư vào xây dựng

cơ bản, đầu tư bất động sản, khoản vay tiêu dùng cá nhân tăng chậm Thêm vào đó, việc ngân hàng thả nổi cho vaytín dụng, khiến đầu tư tài sản cố định tăng trở lại, đầu tư chậm và khó thu hồi gia tăng Tính đến cuối quý I/2006, số

dư nợ xấu của toàn hệ thống ngân hàng trong nước là 1.312,47 tỷ NDT, trong đó tỷ lệ nợ xấu là 8,25%, số dư nợ xấutổn thất (khó đòi) là 480,82 tỷ NDT, chiếm 36,6% tổng số dư nợ xấu

Để giải quyết tình trạng nợ xấu tại các ngân hàng, đặc biệt ở các ngân hàng quốc doanh, Nhà nước lại luôn tìmcách “cứu trợ” tài chính cho các ngân hàng này và coi đây là một biện pháp hữu hiệu để điều tiết thị trường (năm

2003, đã bổ sung vốn cho hai ngân hàng thương mại quốc doanh 45 tỷ USD từ dự trữ ngoại hối), dẫn đến sự thiếulành mạnh trong thị trường tài chính, cản trở hoạt động hiệu quả của toàn hệ thống ngân hàng, gây thiệt hại cho nềnkinh tế Để đáp ứng yêu cầu mở cửa, Trung Quốc cần khắc phục “điểm yếu” này vì một hệ thống tài chính tiền tệ ổnđịnh là điều kiện tiên quyết giúp nền kinh tế tránh được những cú sốc từ bên ngoài khi hội nhập sâu hơn vào nềnkinh tế quốc tế Cải cách hệ thống ngân hàng là một công việc quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồnlực tại Trung Quốc, trong đó vấn đề then chốt là nâng cao hiệu quả của quá trình phân phối tín dụng

2.1.3 Chính sách tỷ giá

Thực hiện chính sách tỷ giá đã nới lỏng dần dần và cải cách từng bước qua từng giai đoạn, từ năm 1986 đến nay,

tỷ giá đồng nhân dân tệ so với đôla Mỹ liên tục được nới lỏng đã tạo điều kiện thúc đẩy xuất khẩu, cụ thể từ 2,8NDT/USD lên 4,72 NDT/USD năm 1989; 5,7 NDT/USD năm 1993 và giữ ở mức ổn định khoảng trên 8 NDT/USD.Tiếp theo đó, Trung Quốc chủ trương thực hiện chính sách tiền tệ ổn định, lành mạnh, tiếp tục các biện pháp giữ ổnđịnh đồng NDT Trong suốt cả năm 1998, đồng NDT luôn ổn định ở mức 8,27 NDT/USD Chính sách ổn định đồngnhân dân tệ của Trung Quốc không chỉ giảm bớt tổn thất cho nền kinh tế Trung Quốc mà còn giúp ổn định thịtrường các nước Đông Nam Á trong giai đoạn khủng hoảng tài chính – tiền tệ Song thực chất Trung Quốc áp dụngchính sách hạ giá thấp đồng NDT so với các đồng khác, tỷ giá đồng nhân dân tệ được ấn định thấp hơn tỷ giá thựctrung bình (REER) Với chính sách này, Trung Quốc đã kích thích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu, tăng thặng dư cáncân thương mại và cán cân vốn

Tuy nhiên, chính sách tỷ giá ổn định của Trung Quốc ngày càng bộc lộ những tác độ tiêu cực trong 3 năm trở lạiđây Trên thực tế, đồng NDT được định giá quá thấp so với các đồng tiền khác đang làm tăng trưởng quá mức tíndụng cho vay của các ngân hàng, gây khó khăn trong việc hạn chế tình trạng phát triển quá nóng của nền kinh tế,làm tăng giá hàng nhập khẩu gây ảnh hưởng trực tiếp đến người tiêu dùng trong nước, đồng thời làm gia tăng sựphản đối từ các nước khác đặc biệt là Mỹ, châu Âu và Nhật Bản Trước bức xúc đó, ngày 21/7/2005, Ngân hàngNhân dân Trung Hoa đã tuyên bố nâng giá đồng NDT từ mức 8,277 NDT/USD lên 8,11NDT/USD, tỷ lệ nâng giá làkhoảng 2% và về lâu dài sẽ tăng giá đồng NDT lên 15 – 20% Việc định giá lại đồng NDT có tác động tích cựctrong việc kiềm chế lạm phát, hạn chế tăng tín dụng, thúc đẩy quá trình cải cách ngân hàng, tạo một thị trường tàichính ổn định và lành mạnh, làm tiền đề cho tăng trưởng kinh tế bền vững, mặt khác, giúp Trung Quốc giảm sức ép

Trang 10

từ phía các đối tác như Nhật Bản, Mỹ và châu Âu

Dự trữ ngoại hối của Trung Quốc trong hơn một thập kỷ qua tăng mạnh Từ mức thấp hơn 50 tỷ USD trong

suốt giai đoạn 1990 – 1993 lên tới mức 609,9 tỷ USD năm 2004, tương đương với 40% GDP của Trung Quốctrong năm này; năm 2005 đã tăng thêm 208,9 tỉ USD; sáu tháng đầu năm 2006, dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc

đã đạt 941,1 tỉ USD và Trung Quốc đã vượt Nhật Bản để trở thành nước có dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới

Trong đó, thặng dư cán cân vãng lai và luồng vốn FDI khổng lồ chính là những nhân tố đóng góp quan trọng cho

dự trữ ngoại hối của Trung Quốc Lượng dự trữ ngoại hối lớn giúp trang trải cho lượng nhập khẩu lớn của nướcnày Lượng dự trữ năm 2004 tương đương với tổng giá trị nhập khẩu trong 53 tuần và khoảng 43 tuần nhập khẩutrong năm 2005 Đồng thời dự trữ cao sẽ đảm bảo một cơ cấu nợ nước ngoài hợp lý, hiện nay, dự trữ Trung Quốcnhiều hơn 10 lần so với tổng các khoản nợ nước ngoài ngắn hạn của nước này Lượng dự trữ ngoại hối lớn có thểgiúp Trung Quốc cứu trợ tài chính cho hệ thống ngân hàng khi cần thiết nhằm ổn định thị trường tài chính

2.2 Công tác phòng chống tham nhũng tại Trung Quốc

Tuy chỉ số nhận biết tham nhũng (CPI) của Trung Quốc không cao, đạt 3,4 điểm (2004), song Trung Quốc đượcđánh giá là một trong những nước đã có những cố gắng và thành công bước đầu trong công tác phòng, chống thamnhũng

- Chú trọng công tác giáo dục con người Trung Quốc xác định giáo dục đạo đức cho công chức và xây dựng đội

ngũ công chức trong sạch liêm khiết là biện pháp quan trọng đầu tiên để hạn chế tham nhũng Đảng Cộng sản vàNhà nước Trung Quốc đã ban hành các văn bản quy định về giáo dục đạo đức và xây dựng tác phong liêm chínhtrong Đảng và Nhà nước Đồng thời tiến hành tuyên truyền, giáo dục cho người dân nhận diện được các hành vitham nhũng, có thái độ căm ghét và tinh thần kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, tạo ra môi trường xã hộichống tham nhũng Giáo dục chống tham nhũng được thực hiện trên qui mô “toàn Đảng” và “toàn xã hội”, kể cả ởtrẻ em Chương trình giáo dục chống tham nhũng ở cấp tiểu học và trung học được đưa vào giảng dạy đầu tiên tạiHàng Châu từ năm 2005, sau đó lan rộng ra các tỉnh thành khác như Bắc Kinh, Quảng Châu, Thiên Tân, Hồ Bắc

- Thực hiện nguyên tắc công khai, minh bạch trong hoạt động mua sắm tài sản công của Nhà nước Trung Quốc

thành lập 4 trung tâm giao dịch quốc gia để thực hiện các hoạt động đấu thầu xây dựng, mua bán đất đai, mua sắmtài sản công

- Ban hành các quy định làm cho công chức không có cơ hội lợi dụng vị trí công tác của mình nhằm thu lợi cá nhân gây thiệt hại đến lợi ích chung Trung Quốc quy định: cán bộ khi làm chức vụ lãnh đạo hoặc nghỉ hưu, thì

trong vòng 3 năm sau đó, không được kinh doanh ở những lĩnh vực có liên quan đến công việc trước đây mình phụtrách; vợ (hoặc chồng), con cán bộ lãnh đạo không được kinh doanh ở các lĩnh vực do chồng (hoặc vợ), cha mẹmình quản lý Từ năm 1997, Trung Quốc đã giải tán các cơ sở kinh doanh trong công an, quân đội, hải quan và cơquan chấp pháp, nhằm tránh lợi dụng quyền chức để tham nhũng

- Quy định những điều công chức không được làm Trung Quốc có Luật Giám sát hành chính để giám sát công

Trang 11

chức và đề ra “90 điều cấm” đối với cán bộ đảng viên Ngày 31/12/2003, Đảng Cộng sản Trung Quốc ban hành Điều

lệ Giám sát nội bộ và Điều lệ Xử lý kỷ luật của Đảng, trong đó xác định đối tượng giám sát trọng điểm là cơ quanlãnh đạo và cán bộ lãnh đạo các cấp, đặc biệt là người phụ trách của ban lãnh đạo

- Quy định về việc kê khai tài sản của công chức Tại Trung Quốc, mỗi năm 2 lần công chức phải kê khai tài sản.

Cán bộ lãnh đạo phải kê khai rõ các khoản như: tiền tiết kiệm, cổ phiếu, trái phiếu, đồ dùng có giá trị trên 10.000NDT (khoảng 19 - 20 triệu đồng Việt Nam), ô tô, nhà riêng, đất đai, tranh cổ quý hiếm Uỷ ban Kiểm tra kỷ luậtcủa Đảng và Bộ Giám sát hành chính của Chính phủ theo dõi, giám sát việc kê khai và xem xét xử lý những trườnghợp có tài sản bất minh Công chức không giải thích được nguồn gốc tài sản của mình thì bị coi là tham ô

- Khuyến khích sự tham gia và phát huy vai trò to lớn của quần chúng nhân dân, các tổ chức xã hội và các

phương tiện thông tin đại chúng trong việc phát hiện, tố giác các hành vi tham nhũng đang là biện pháp nhằm pháthiện tham nhũng hữu hiệu nhất Theo một tài liệu của Ủy ban Kiểm tra kỷ luật Trung Quốc thì những năm gần đây,80% các vụ án lớn ở nước này được xử lý là do nhân dân tố cáo Trung Quốc cho phép người tố cáo được giấu tên

và chấp nhận thư nặc danh, tiến hành xem xét đơn thư tố cáo nặc danh để phát hiện tham nhũng Trong thực tế,Trung Quốc có khoảng 60% đơn thư tố cáo là thư nặc danh và trong số đó có rất nhiều thông tin chính xác về thamnhũng Chính phủ cũng đã thiết lập trang Web riêng Người dân có thể gửi báo cáo về những hành vi tham ô, nhũngnhiễu… của các quan chức và đảng viên Đảng Cộng sản Trang Web này sẽ tiếp nhận các báo cáo về các nhân viênChính phủ và các đảng viên vi phạm luật pháp; chỉ điểm cho Chính phủ và Đảng về những người có hành vi ăn hối

lộ, tham ô…

- Về mặt thể chế, Trung Quốc đã ban hành Luật Chống hối lộ năm 1988 và Luật Chống tham nhũng năm 1997,

trong đó quy định những chế tài nghiêm khắc để xử lý loại tội phạm tham nhũng nhằm răn đe công chức “khôngdám tham nhũng”

3 Tăng trưởng và bảo vệ môi trường của Trung Quốc

Quá trình tăng trưởng ở Trung Quốc đã nhanh chóng nâng cao mức sống nhưng đồng thời cũng huỷ hoại môitrường một cách nghiêm trọng, đặc biệt ô nhiễm không khí và nguồn nước ở các đô thị thuộc loại nghiêm trọng nhấtthế giới

3.1 Tình trạng ô nhiễm môi trường của Trung Quốc

Ô nhiễm không khí Mặc dù hàm lượng khí thải ra hầu như không thay đổi kể từ những năm 80, song lượng khí

sunphua điôxit lại tăng mạnh Hàm lượng các loại khí và khí sunphua điôxit thải ra ở Trung Quốc hiện lớn nhất thếgiới Ô nhiễm không khí đang ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân Trung Quốc Tỷ lệ tử vong do bệnh phổimãn tính, căn bệnh nguy hiểm gây tử vong nhiều nhất ở Trung Quốc, lớn gấp 5 lần so với ở Mỹ Hàng năm, khoảng

15 triệu người dân đại lục mắc bệnh về hô hấp, khoảng 2 triệu người khác chết do ung thư Theo tính toán, chỉ cầngiảm mức ô nhiễm không khí xuống bằng tiêu chuẩn mà Trung Quốc đặt ra thì mỗi năm có thể cứu sống được tới

Trang 12

298.000 người

Tình trạng thiếu và ô nhiễm nguồn nước Hiện nay, bình quân đầu người về tài nguyên nước của Trung Quốc

khoảng 2400m3 Đến giữa thế kỷ XXI, dân số tăng lên khoảng 1,7 - 1,8 tỷ người, lượng nước bình quân đầu người

sẽ chỉ còn trên dưới 1600m3

Song có một điều đáng mừng là, dù ô nhiễm nước nhưng ảnh hưởng của nó tới sức khoẻ của người dân TrungQuốc nhìn chung được hạn chế bởi việc sử dụng rộng rãi nước uống sạch và các biện pháp vệ sinh Các bệnh có liênquan tới nước nói chung chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số bệnh tật và dịch bệnh Tuy nhiên, tình trạng ô nhiễmngày càng trầm trọng đã làm tăng chi phí của việc cấp nước sạch nói riêng và chi phí bảo vệ môi trường nói chung.Tính tổng thể chi phí kinh tế do ô nhiễm nước và không khí ở Trung Quốc ước tính trung bình chiếm tới 38% GDP/năm Theo tính toán của các chuyên gia Trung Quốc, với mức độ ô nhiễm hiện nay, quốc gia này sẽ phải chi khoảng

450 tỷ USD cho việc làm sạch môi trường Đó là chưa kể Chính phủ có thể sẽ phải chi ra hàng tỷ USD về y tế để đốiphó với các loại bệnh tật do ô nhiễm gây ra

Mối lo ngại lớn hơn trước tình trạng ô nhiễm nước ở Trung Quốc là làm căng thẳng thêm tình trạng thiếu nước.Nước bị ô nhiễm theo dòng chảy lan sang các nguồn nước sạch, làm tình trạng khan hiếm nước sạch ngày càng tănglên Tình trạng ô nhiễm nguồn nước, thiếu nước sạch sử dụng cho sản xuất nông nghiệp cũng phổ biến Năm 1993,khoảng 8% đất nông nghiệp phải dùng nguồn nước ô nhiễm, gây thất thu khoảng 1 triệu tấn ngũ cốc

Đất canh tác đang bị khủng hoảng Đất canh tác bình quân đầu người của Trung Quốc chỉ bằng 32% bình quân

đầu người của thế giới Trung Quốc chỉ chiếm 7% diện tích canh tác của thế giới nhưng lại phải nuôi sống 22% dân

số thế giới Tuy nhiên, điều này chưa phản ánh thực chất nguy cơ đất canh tác của Trung Quốc mà khủng hoảng đấtcanh tác của Trung Quốc trước hết thể hiện ở chỗ hầu như không có tài nguyên đất bổ sung Sự giảm diện tích đấtcanh tác trong thế kỷ XXI của Trung Quốc được dự báo là sẽ gia tăng Miền bắc Trung Quốc là nơi có khá nhiều đấtcanh tác nhưng do thiếu nước nên khó phát huy tiềm năng sản xuất, trong khi điều kiện khí hậu miền Nam khá tốt

nhưng diện tích đất trồng trọt lại rất ít Trong 28 năm, từ 1957 đến 1985, dù thường xuyên được bổ sung đất khai

hoang, đất canh tác vẫn giảm bình quân hàng năm 530.000 ha; đến năm 2000 dù đã khống chế chặt chẽ nhưng dựtính vẫn mất mỗi năm 230.000 ha đất để dành cho xây dựng, do thiên tai và sự điều chỉnh cơ cấu nông nghiệp cũnglàm giảm 130.000 ha đất canh tác Dự tính đến năm 2100, Trung Quốc có khả năng sẽ chỉ còn lại 80 triệu ha đấtcanh tác Khi đó dân số đã lên 2 tỷ và bình quân đầu người sẽ chỉ còn 0,04 ha Tình trạng thiếu đất canh tác nghiêmtrọng khiến cho người dân phải đổ về các thành phố hoặc khai phá đất đồi rừng hoặc thảo nguyên, từ đó làm chomôi trường sinh thái đô thị, nông thôn tiếp tục xấu đi và khó bền vững

Mưa axít ngày càng nghiêm trọng Cơ cấu năng lượng chủ yếu lấy từ than của Trung Quốc chính là một nguyên

nhân lớn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Khí sunfua điôxit và ôxit nitrơrat thải ra sẽ tạo phản ứng với nước

và ôxy trong không khí thành axit sunfuric và axit nitơric có thể rơi xuống những vùng lân cận hoặc những vùngcách xa nơi gây ô nhiễm hàng ngàn dặm Mưa axít phá huỷ mùa màng, tàn phá những cánh rừng, phá hỏng nhữngcấu trúc các toà nhà và gây thiệt hại cho sức khoẻ con người Những hậu quả này đặc biệt nghiêm trọng ở miền Nam

Trang 13

Trung Quốc, nơi hàng ngày có một lượng lớn than và hàm lượng lớn sunfat cao đang bị đốt.

Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường So với các nước đang phát triển, ô nhiễm môi trường của Trung Quốc chủ

yếu không phải do quy mô quá lớn gây ra mà do kỹ thuật sản xuất lạc hậu, hiệu suất sử dụng năng lượng thấp, thêmvào đó quy mô sản xuất tăng nên lượng chất thải ngày càng gia tăng Do quá trình đô thị hoá, công nghiệp hóa và cơkhí hóa diễn ra nhanh, các tập quán thâm canh trong nông nghiệp cũng làm phát sinh những đe dọa tới môi trường.Hơn nữa, mức sống của người dân được nâng cao, lượng phế thải sinh hoạt cũng tăng lên đáng kể, do đó mối đe dọa

ô nhiễm môi trường của Trung Quốc vẫn sẽ tồn tại và khó loại trừ

3.2 Các giải pháp của Trung Quốc

Bảo vệ môi trường lồng ghép với chính sách phát triển kinh tế - xã hội Thay vì chỉ tập trung vào tăng trưởng

kinh tế, hiện nay, Trung Quốc cũng đã chú trọng hơn tới vấn đề bảo tồn năng lượng và bảo vệ môi trường TrungQuốc là một trong những nước đi đầu trong việc xây dựng Chương trình Nghị sự 21 về phát triển bền vững củaTrung Quốc (được Quốc vụ viện nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thông qua và phê duyệt chương trình vàotháng 7/2004), trong đó công tác bảo vệ môi trường được quan tâm lồng ghép và thực hiện đồng thời với phát triểnkinh tế - xã hội Trong các kỳ kế hoạch hàng năm hay dài hạn của Nhà nước Trung Quốc cũng như của các địaphương đều dành một phần hoặc một chương mục riêng viết về phương hướng, nhiệm vụ và biện pháp phát triểnbền vững, bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm và hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên

Dân chúng được tham gia đánh giá tác động môi trường Trước đây, hệ thống đánh giá tác động môi trường

của Trung Quốc hầu như chỉ dựa vào các biện pháp hành chính nhưng thiếu sự giám sát của dân chúng Ngày22/02/2006, Cơ quan bảo vệ môi trường quốc gia Trung Quốc (State Environmental Protection Administration-SEPA) đã công bố hai biện pháp tạm thời về sự tham gia của dân chúng trong việc đánh giá tác động môi trường.Hai biện pháp này có hiệu lực kể từ ngày 18/03/2006 Theo đó, dân chúng có thể tham gia đánh giá tác động môitrường, hỏi ý kiến chuyên gia, hoặc tham dự hội nghị chuyên đề hoặc diễn đàn công khai Các nhà thầu dự án sẽphải cung cấp cho nhân dân chi tiết ảnh hưởng của công trình xây dựng đến môi trường và các biện pháp phòngtránh mà họ sẽ áp dụng

Hạn chế xây dựng để bảo vệ môi trường Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra kế hoạch hạn chế việc xây dựng các

biệt thự, sân gôn và các dự án có thể gây hậu quả lãng phí năng lượng và các nguồn tài nguyên khác, khuyến khíchcác ngành công nghiệp có triển vọng như viễn thông nhằm hạn chế các hoạt động kinh doanh gây lãng phí nănglượng và nguồn tài nguyên khác Chính phủ đã quyết định chuyển dịch đầu tư kinh tế từ khu vực Nhà nước sang chokhu vực tư nhân gánh chịu song song với việc kiểm soát môi trường chặt chẽ hơn Chính phủ thắt chặt việc thi hànhluật song song với vấn đề bảo vệ môi trường: Những doanh nghiệp tiêu thụ nhiều năng lượng và gây ô nhiễm sẽ bịđóng cửa, doanh nghiệp và cá nhân gây ô nhiễm nặng nề sẽ bị phạt (Trong năm 2005, gần 30.000 vụ vi phạm môitrường bị điều tra và trừng phạt trong đó 2.609 doanh nghiệp buộc phải ngưng hoạt động hoặc đóng cửa); thực hiệncác dự án lớn nhằm giải quyết ô nhiễm môi trường, đặc biệt là xử lý từng bước ô nhiễm nước, không khí và đất

Trang 14

4 Phúc lợi xã hội, công bằng xã hội và xóa đói giảm nghèo

4.1 Phúc lợi xã hội

Liên tục trong hai thập kỷ qua, Trung Quốc đã vươn lên vị trí hàng đầu thế giới về tỷ lệ tăng trưởng cao, kéo

theo đó là sự phát triển về mọi mặt đời sống xã hội của nước này Thông qua các chương trình hỗ trợ của Chính phủ,cuộc sống của người dân Trung Quốc đã được nâng cao cả về lượng và chất Giá trị HDI của Trung Quốc liên tụcđược cải thiện Năm 2003 chỉ số HDI là 0,755 tương ứng với vị trí 85/177 trong bảng xếp hạng HDI Chỉ số HDItăng lên do giá trị các chỉ số thành phần (chỉ số giáo dục, chỉ số tuổi thọ và chỉ số kinh tế) đều có sự cải thiện đáng

kể

Năm 1995, GDP bình quân đầu người của Trung Quốc là 2.653 USD, rút ngắn khoảng cách so với GDP bìnhquân đầu người của châu Âu xuống còn 5,3 lần, so với Mỹ còn 8,8 lần, so với Nhật Bản bằng 7,4 lần, so với GDPbình quân đầu người trên thế giới giảm từ 4,2 lần năm 1952 xuống còn có 2 lần Thu nhập bình quân đầu người tănglên đã giúp làm tăng giá trị chỉ số kinh tế trong điểm số HDI của Trung Quốc

Chỉ số giáo dục của Trung Quốc được cải thiện nhờ tăng cường đầu tư cho phát triển nguồn vốn con người - mộtnhiệm vụ được chính phủ Trung Quốc đang hết sức coi trọng Trung Quốc đã tiến hành điều chỉnh cơ cấu giáo dụctheo hướng tăng cường giáo dục cơ sở, trước mắt về cơ bản xóa bỏ nạn mù chữ Nhờ vậy mà tỷ lệ phổ cập giáo dục

tiểu học của Trung Quốc đạt 94,6% vào năm 2004 và tỷ lệ biết chữ của người lớn là 91% (Theo Báo cáo giám sát giáo dục toàn cầu 2005 của UNESCO).

Hệ thống an sinh xã hội, đặc biệt ở các thành phố của Trung Quốc đã được cải thiện đáng kể Năm 1999, TrungQuốc đã chi khoảng 554 triệu USD về việc đảm bảo cuộc sống cơ bản cho người nghèo đô thị, đây là mức chi lớnnhất từ trước đến nay về vấn đề này Cho đến đầu năm 2002 đã có khoảng 13 triệu trong gần 20 triệu người nghèo

ở các đô thị Trung Quốc được hưởng trợ cấp từ chương trình này, đa số những người thất nghiệp, cán bộ hưu trí vàcác gia đình có thu nhập thấp, tăng 76% so với năm trước Hệ thống này cho đến nay đã được thực hiện ở các khu

đô thị nghèo ở Bắc Kinh, Giang Tô, Triết Giang và Quảng Đông

Từ giữa những năm 1990, chế độ lương hưu và bảo hiểm xã hội ở Trung Quốc đã có sự thay đổi cơ bản, bảohiểm hưu trí sẽ do cả người lao động và chủ doanh nghiệp đóng góp và áp dụng cho cả các xí nghiệp nhà nước.Trong năm 1996, công nhân các xí nghiệp tập thể ở khoảng 2000 thành phố và thị trấn được hưởng lương hưu theo

sự phân cấp mới này, mạng lưới này đã chi trả tổng số lương hưu lên tới 103,2 tỷ NDT, tương đương 12 tỷ USD.Hiện nay, ngày càng có nhiều xí nghiệp không thuộc sở hữu nhà nước tham gia vào mạng lưới bảo hiểm xã hội Chođến cuối năm 1997, mạng lưới bảo hiểm xã hội này đã được thực hiện đối với 87,58 triệu công nhân và 23,58 triệu

người nghỉ hưu Tuy nhiên, Chính phủ Trung Quốc hiện nay đang còn nợ chi trả lương hưu rất lớn Với khoảng 7%

dân số trên 65 tuổi, trong đó người về hưu chỉ có khoảng 38 - 40 triệu người được nhận lương hưu thường xuyên, thì

số còn lại bị nợ và phần lớn bị biến thành trái phiếu với số tiền tương đương khoảng 500 tỷ USD

4.2 Công bằng xã hội

Trang 15

4.2.1 Bất bình đẳng trong thu nhập

Chính bất bình đẳng trong thu nhập gia tăng dẫn đến khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa thành thị vànông thôn, người giàu và người nghèo ngày càng dãn rộng Từ 1997 đến 2003, thu nhập đầu người của nông dânTrung Quốc đã tăng, đạt 695,9 NDT (84 USD) nhưng chỉ gần bằng 1/5 mức gia tăng thu nhập người dân thànhphố Nhìn chung hàng năm, thu nhập của người dân thành phố gia tăng nhanh hơn 2 lần so với nông dân kéo theokhoảng cách giữa thu nhập của người dân thành thị và nông dân ngày một gia tăng Vào những năm 1980, tươngquan đó là 1,8:1; trong thập kỷ 1990 là 2,5:1; trong năm 2003 là 3,2:1 Nếu tính đến việc người nông dân cònphải nộp thuế và tự chịu phí tổn mua sắm và khấu hao tư liệu sản xuất, thì thực sự mức chênh lệch kia sẽ còn đạtcon số là 5:1 hoặc 6:1 Không những thế, người dân thành thị được bảo đảm xã hội, dịch vụ y tế công cộng, đượcNhà nước trợ cấp nhà ở và được hưởng nhiều ưu đãi và phúc lợi công cộng khác2 Khoảng cách chênh lệch về thunhập giữa người có thu nhập cao và người có thu nhập thấp ngay chính trong khu vực thành thị cũng ngày cànggia tăng Báo cáo mới nhất của ủy ban Cải cách và Phát triển Trung Quốc cho thấy, 20% dân cư nghèo nhất ở đôthị có thu nhập thấp chỉ bằng 2,75% tổng thu nhập tại các thành phố đó và chỉ bằng 4,6% tổng thu nhập của 20%người giàu nhất ở Trung Quốc Thành công trong cải cách mở cửa của Trung Quốc là to lớn, song họ cũng phảitrả giá không nhỏ, mà một trong số đó là sự phân hóa ngày càng nghiêm trọng (hai cực Đông – Tây, giữa giàu –nghèo, thành thị – nông thôn) Sự phân hóa này chẳng những không mất đi cùng với phát triển kinh tế, mà dườngnhư ngày càng sâu sắc, gay gắt hơn

4.2.2 Mất cân đối nam nữ và dân số già đi nhanh chóng

Hiện nay, dân số Trung Quốc là hơn 1,3 tỷ người và có thể lên đến 1,5 tỷ người vào năm 2050 Để giảm tỷ lệtăng dân số, Trung Quốc đã ban hành chính sách “Mỗi gia đình chỉ có 1 con” nhằm hạn chế sinh đẻ Chính sách này

có nhiều đóng góp tích cực, góp phần tạo nên những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế xã hội trong những thập

kỷ qua, nhưng đến nay, Trung Quốc đang phải đối mặt với tình trạng mất cân đối giữa nam và nữ trầm trọng Bởi lẽ

vì chỉ được phép sinh 1 con nên người Trung Quốc luôn tìm cách để sinh con trai và theo dự báo, đến năm 2020,Trung Quốc sẽ có khoảng 40 triệu đàn ông cô đơn Một vấn đề nan giải nữa mà Trung Quốc đang phải đối mặt đó làhiện nước này có số dân cao tuổi đông nhất thế giới Theo tờ China Daily, hiện nay Trung Quốc có 94 triệu ngườitrên 65 tuổi, chiếm 7% dân số Trong vòng 50 năm nữa, con số này sẽ vượt quá ngưỡng 400 triệu người và sẽ chiếmtới 24% dân số Mất cân đối nam – nữ và sự già đi nhanh chóng của tháp dân số Trung Quốc đang đặt ra nhữngthách thức đó, đòi hỏi Trung Quốc phải tìm được lối thoát cho chính sách dân số gắn với sự phát triển kinh tế - xãhội bền vững của đất nước

4.3 Xóa đói giảm nghèo

nay”, Thông tin chọn lọc phục vụ lãnh đạo, số 5 – tháng 3/2006, Viện Khoa học tài chính

Quốc vụ Viện Trung Quốc

Trang 16

Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của Trung Quốc, xóa đói giảm nghèo là một mục tiêu ưu tiên Từ đầunhững năm 1990, Trung Quốc đã đưa ra nhiều giải pháp tích cực để giải quyết vấn đề đói nghèo của dân cư Năm

1994, Trung Quốc đề ra “Kế họach 8-7” nghĩa là trong vòng 8 năm thực hiện xóa nghèo cho 70 triệu người Tháng 9năm 1996, Hội nghị công tác đẩy mạnh chống đói nghèo của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã nêu rõ “Dùnhiệm vụ gian khổ như thế nào, thì mục tiêu cuối thể kỷ này phải giải quyết vấn đề ăn no mặc ấm cho những ngườinghèo khổ ở nông thôn nước ta cũng không được thay đổi” Kết quả công tác chống đói nghèo của Trung Quốc đã

có những thành công nhất định

Theo kết quả điều tra hàng năm của Tổng cục Thống kê Trung Quốc đều tiến hành các nghiên cứu ngân sách củacác gia đình nông dân, với chuẩn nghèo của quốc gia là thu nhập bình quân đầu người ít hơn 4,1 NDT/ngày (0,5USD), cho thấy tình trạng nghèo đói của Trung Quốc đã được cải thiện qua các năm Năm 1995 có 56,6%, năm

2000 là 32,1%, năm 2001 là 30,2%, năm 2002 là 28,3%, năm 2003 là 26,5% số hộ nghèo Đối chiếu với chuẩnnghèo quốc tế, mức thu nhập đầu người thấp hơn 8,2 NDT/ngày (ít hơn 1 USD/ngày) thì tỷ lệ hộ nghèo năm 1990 làhơn 90%, năm 2000 là gần 74,9%, năm 2001 là 72,4%, năm 2002 là 69,8%, năm 2003 là 66,9% các hộ dân nôngthôn

Tuy nhiên, tình trạng đói nghèo ở khu vực nông thôn vẫn chưa được cải thiện nhiều và có những dấu hiệu đángbáo động Theo số liệu nghiên cứu lựa chọn của Tổng cục Thống kê Trung Quốc, các năm 200-2002, chỉ có 56,4%

số hộ nông dân có thu nhập tăng lên, còn 1,6% số hộ không thay đổi thu nhập, nhưng có 42% số hộ bị suy giảm thunhập Hiện Trung Quốc có gần 30 triệu nông dân đã không giải quyết được “vấn đề cơm no , ấm áo”, còn 60 triệungười khác đang sống trong cảnh “điều kiện không ổn định về no cơm ấm áo” So với 250 triệu người bị đói ăn năm

1978 thì đến nay như vậy là đã có tiến bộ nhất định, song từ đó đến nay đã hơn 1/4 thế kỷ, Trung Quốc vẫn còn 90triệu người dân nông thôn đang chịu cảnh nghèo đói và bán nghèo đói Riêng năm 2003, lần đầu tiên sau nhiều nămcải cách, số người nghèo đói nhất ở nông thôn không những đã không giảm bớt, mà lại còn tăng thêm 800 ngànngười nghèo, tổng cộng có 30 triệu người có thu nhập bình quân ít hơn 637 NDT/năm (1,74 NDT/ngày) - mức thunhập tối thiểu do Nhà nước quy định “Dân nghèo có thu nhập thấp” trong năm 2003 giảm bớt được đáng kể nhưngthu nhập bình quân năm của họ không vượt quá 882 NDT/năm (2,42NDT/ngày) Tương quan giữa thu nhập tối thiểu

và trung bình đầu người do Nhà nước quy định trong nông nhiệp năm 1992 là 1/2, 45 nhưng năm 2003 đã nângthành 1/4,12 Đồng thời, mức bảo đảm đời sống tối thiểu giai đoạn tháng Giêng đến tháng Chín năm 2004 chỉ có21,3 triệu hộ, tức gồm 44,5 triệu nhân khẩu nông dân nông nghiệp, đạt 11% cao hơn so với cùng kỳ năm 2003.Trung Quốc buộc phải giải quyết những vấn đề nghiêm trọng hơn và quy mô hơn về nghèo đói

II CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG CỦA THÁI LAN

1 Những thành công trong chất lượng tăng trưởng của Thái Lan

1.1 Tăng trưởng kinh tế cao và tương đối ổn định

Trong thời kỳ từ 1980 - 1986, tỷ lệ tăng trưởng GDP của Thái Lan luôn giữ ở mức từ 4,8 - 5,5%/năm; đến giai

Trang 17

đoạn từ 1987 1995, tốc độ gia tăng GDP đã tăng lên nhanh chóng, trung bình đạt 9%/năm Giai đoạn từ 1996

-1999, tác động cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á đã làm cho kinh tế Thái Lan chững lại và giảm mạnh,giảm từ 9,2% năm 1995 xuống còn 5,9% vào năm 1996, giảm xuống mức âm - 1,4% và - 10,5% trong các năm

1997, 1998 Từ năm 2000, nền kinh tế đã có dấu hiệu hồi phục, năm 2000 tăng trưởng GDP đạt 4,6%, 2001 đạt1,8%, năm 2002 đạt 5,2% và năm 2003 đạt 6,7%, năm 2004 đạt 6,1% và năm 2005 đạt 4% Mức tăng trưởng đã đạtmức dương và trung bình đạt 5%/năm trong giai đoạn này

Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và tương đối ổn định của Thái Lan có được chính là nhờ thành quả của quá trìnhchuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế phù hợp của nước này Sự thay đổi cơ bản trong cơ cấu kinh tế ngành thể hiện ởchỗ ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng lớn vào tăng trưởng kinh tế, tỷ trọng ngành nôngnghiệp đã giảm dần Chỉ sau hơn 20 năm, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP của Thái Lan đã giảm từ 30,2% năm

1970 xuống còn 9,9% năm 2004, trong khi tỷ trọng của ngành công nghiệp đã tăng từ 25,7% lên 44,1% và dịch vụtăng từ 44,1% lên 46,1%

Trong những năm 60 của thế kỷ XX, nhằm hạn chế tình trạng nhập khẩu, khu vực chế tác được bảo hộ đã pháttriển rất mạnh nhằm sản xuất hàng tiêu dùng và hàng thay thế nhập khẩu phục vụ thị trường nội địa Sang giai đoạnnhững năm 70, khi thị trường nội địa đã bão hòa, việc điều chỉnh chính sách sản xuất thay thế nhập khẩu bằng chínhsách hướng vào xuất khẩu đã mang lại cho Thái Lan những chuyển biến cơ bản trong cơ cấu xuất khẩu, hàng chế tác

đã dần thay thế vị trí của xuất khẩu hàng sơ chế, tỷ trọng nông nghiệp trong xuất khẩu đều giảm nhanh chóng Ngaytrong bản thân ngành công nghiệp chế tác cũng có sự chuyển biến từ chế tác giản đơn, sử dụng nhiều lao động vàcác ngành công nghiệp dựa vào nông nghiệp sang các công nghiệp có trình độ chế tác cao hơn Đến giai đoạn hiệnnay, cơ cấu công nghiệp có xu hướng chuyển từ ngành sử dụng nhiều lao động sang các ngành sử dụng nhiều vốnhơn, từng bước thay thế những sản phẩm xuất khẩu có chi phí lao động cao, nhằm giảm thiểu những tác động tiêucực của sự giảm sút khả năng cạnh tranh của các sản phẩm xuất khẩu, tăng hàm lượng công nghệ cao trong các sảnphẩm xuất khẩu

Hiện nay, ngành dịch vụ đang là một trong những ưu tiên phát triển kinh tế của Thái Lan Ngành dịch vụ mỗinăm đóng góp 197 tỷ USD (chiếm 47% trong tổng số 420 tỷ USD trong GDP của Thái Lan), trong đó du lịch làngành mũi nhọn trong lĩnh vực dịch vụ Du lịch Thái Lan tăng trưởng mạnh và liên tục từ sau năm 1991 Sự thànhcông trên đã khiến du lịch trở thành ngành có doanh thu cao nhất, chiếm 6% GDP mỗi năm của Thái Lan

Bên cạnh mức tăng trưởng cao, tỷ lệ lạm phát của Thái Lan luôn được duy trì ở mức độ thấp và ổn định Từ năm

2000 đến 2004, tỷ lệ lạm phát của Thái Lan ổn định ở mức 2% - 3% Năm 2005, tỷ lệ này là 4,5% và dự báo đếnnăm 2006 sẽ ở mức 3,5 - 4,5% Mức lạm phát thấp so với mức tăng trưởng tương đối cao chứng tỏ, nền kinh tế TháiLan trong những năm vừa qua đã phát triển với chất lượng tương đối ổn định Các chính sách kinh tế vĩ mô tỏ ra kháhiệu quả trong việc thúc đẩy tăng trưởng và kiềm chế lạm phát

1.2 Tăng trưởng kinh tế dần đi theo chiều sâu

Tăng trưởng nhanh của Thái Lan thời kỳ trước năm 1996 tiềm ẩn yếu tố kém bền vững, biểu hiện ở tăng trưởng

Trang 18

nhanh gắn liền với sự gia tăng không ngừng và quá ào ạt của vốn vật chất đầu vào Ngay từ những năm 1960, cùngvới việc thực thi chiến lược công nghiệp hóa, khu vực chế tác của nước này đã được bảo hộ và phát triển mạnh Đếnsau 1985, khi nền kinh tế mở cửa hơn, cơ cấu công nghiệp chuyển mạnh từ hướng sử dụng nhiều lao động sang cácngành sử dụng nhiều vốn, do giai đoạn này dòng chảy của vốn đầu tư nước ngoài đổ vào Thái Lan ồ ạt Cuộc khủnghoảng tài chính năm 1997 làm cho nền kinh tế tăng trưởng âm, yếu tố năng suất nhân tố tổng hợp TFP suy giảmmạnh xuống mức -183,05%

Tăng trưởng dựa chủ yếu vào tăng vốn đầu vào, nhưng hiệu quả sử dụng vốn của Thái Lan lại thấp, với chỉ sốICOR trong suốt 2 thập kỷ, cho đến hết năm 2001 luôn ở mức cao trên 5, vượt quá ngưỡng an toàn Cơ cấu đầu tưcủa Thái Lan trong thời kỳ này có sự thiên lệch lớn Thái Lan quá tập trung đầu tư cho ngành công nghiệp chế tácdẫn đến sự mất cân xứng trong đầu tư đối với nông nghiệp, trong khi nông nghiệp vẫn là ngành chiếm phần lớn lựclượng lao động

Bảng 17: Vai trò của TFP trong tăng trưởng của Thái Lan

Đơn vị tính: %

tăng trưởng

Tốc độ tăng TFP

Đóng góp của TFP trong tăng GDP

Nguồn: ASEAN Development Outlook 2005.

Tuy nhiên, sau khủng hoảng, nền kinh tế Thái Lan đã có sự phục hồi khá nhanh, thể hiện ở tốc độ tăng trưởngGDP tăng, cũng như hệ số ICOR sau năm 2001 giảm nhanh xuống còn 3,1 năm 2003; chất lượng tăng trưởng với tỷtrọng của năng suất nhân tố tổng hợp đã lên tới trên 35% Khả năng cải tiến công nghệ của Thái Lan là tương đốicao, tỷ trọng hàng hóa xuất khẩu có sử dụng công nghệ cao của Thái Lan đạt 39% Tuy nhiên, chủ yếu do hiệu quả

sử dụng công nghệ nhập khẩu, khả năng bắt kịp và sáng tạo công nghệ mới còn chưa nhiều

Đứng từ phương diện năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, trong những năm gần đây với sự phục hồi và pháttriển của nền kinh tế, vị trí xếp hạng của Thái Lan mặc dù có sự tụt giảm nhẹ, song vẫn tương đối khả quan so vớimột số nước trong khu vực như Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônêxia, Việt Nam Xếp hạng năng lực cạnh tranh tăngtrưởng của Thái Lan dao động ở vị trí từ 32 – 36, trong đó, chỉ số môi trường vĩ mô của Thái Lan được đánh giá khácao, xếp hạng 23 (4,79 điểm) năm 2004 và 26 (4,94 điểm ) năm 2005 Chỉ số năng lực cạnh tranh kinh doanh của

Trang 19

Thái Lan cũng được xếp ở vị trí tương đối khả quan (năm 2004 và năm 2005 đều ở vị trí thứ 37).

1.3 Thành công trong điều chỉnh chính sách tài chính – tiền tệ và tỷ giá

Nhằm thu hút đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng, Thái Lan thực hiện chính sách mở cửa, đặc biệt là thị trường tàichính từ những năm 1993 đã giúp Thái Lan thu hút được nguồn vốn FDI rất lớn đầu tư vào thị trường vốn nội địa.Tuy nhiên, nguồn vốn đầu tư ồ ạt đã gây sức ép lớn lên hệ thống ngân hàng – tài chính của Thái Lan, bộc lộ nhữngyếu kém, bất cập của thị trường tài chính và khả năng điều tiết nền kinh tế của nhà nước trong việc ban hành chínhsách tài chính- tiền tệ Bên cạnh đó, việc ấn định tỷ giá trong một thời gian dài đã là nguyên nhân chính gây ra cuộckhủng hoảng tài chính nghiêm trọng năm 1997 bắt nguồn từ Thái Lan và lan truyền sang các nền kinh tế khác trongkhu vực

Sau cuộc khủng hoảng, Chính phủ Thái Lan đã có nhiều cải cách trong các chính sách được ban hành Nhữngđiều chỉnh chủ yếu mà Chính phủ Thái Lan thực hiện là nhằm xây dựng môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, tạo tiền

đề cho tăng trưởng bền vững Cụ thể là đã thay đổi chính sách tỷ giá hối đoái chuyển từ neo chặt vào đồng USDsang thả nổi có điều tiết và do thị trường quyết định phần lớn; duy trì mức lạm phát trong nước không cao hơn mứclạm phát quốc tế; tránh để nền kinh tế phát triển quá nóng hoặc quá lạnh; chú trọng phát triển cân bằng; hạn chếthâm hụt và tiến tới cân bằng các cán cân lớn như tài chính, tài khoản vãng lai, xuất nhập khẩu; tái định hướng đầu

tư nhằm khắc phục những bất hợp lý về đầu tư quá mức các ngành “sốt”; giám sát các thể chế tài chính, ngân hàng

để tăng cường sự minh bạch trong quản trị công ty; thực hiện những chính sách, biện pháp tài chính – tiền tệ, chínhsách phân phối thu nhập nhằm tăng nhanh quá trình xóa đói giảm nghèo và tạo lập sự bình đẳng hơn trong phân phốithu nhập.Trong vòng năm năm (2000 – 2004), Thái Lan từ một nước phải vay nợ đã có dự trữ ngoại tệ gần 50 tỷUSD, thu nhập bình quân đầu người đạt hơn 2.740 USD/năm, trong đó thu nhập của nông dân tăng gần gấp đôi Vốnđầu tư nước ngoài cũng như khách du lịch tiếp tục đổ vào Thái Lan Năm 2004 đồng Baht tương đối ổn định (daođộng trong khoảng 42-43 baht/1 USD) Dự trữ ngoại tệ ở mức cao 37 - 38 tỉ USD (so với tháng 8/1997 chỉ ở mức

800 triệu USD)

1.4 Trình độ dân trí đã được cải thiện đáng kể

Nhận thức được vai trò của giáo dục, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong tương lai là động lực thúc đẩytăng trưởng kinh tế trong dài hạn, do đó Thái Lan rất chú trọng đầu tư cho giáo dục, đặc biệt giáo dục tiểu học vàtrung học Tỷ trọng ngân sách dành cho giáo dục trong tổng ngân sách đã tăng từ 17,9% năm 1990 lên đến 25,1%năm 1999 Đồng thời, Chính phủ đã áp dụng các biện pháp vừa bắt buộc vừa khuyến khích để phát triển giáo dụctrung học; mở ra các cơ hội giáo dục bình đẳng cho mọi người; tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và tăngnguồn cung cấp học bổng cho giáo dục trung học cơ sở Từ 1996, Chính phủ đã đẩy mạnh khuyến khích giáo dụchơn nữa thông qua việc cung cấp các khoản tín dụng với lãi suất thấp cho tất cả các bậc học Kết quả của các biệnpháp điều chỉnh này của Chính phủ Thái Lan là tỷ lệ học sinh đến trường tham gia giáo dục trung học cơ sở đã tănggấp đôi trong khoảng thời gian từ 1990 đến 1997, đạt hơn 60% tổng số trẻ em trong độ tuổi; tỷ lệ giáo dục cấp tiểu

Trang 20

học đạt 98 % dân số trong độ tuổi đến trường (ước tính mới nhất trong giai đoạn 1997-2004); tỷ lệ dân số từ 15 tuổitrở lên biết đọc và biết viết là 92,6 % tổng dân số (ước tính mới nhất trong giai đoạn 1997 - 2002).

2 Những mặt còn tồn tại trong chất lượng tăng trưởng

2.1 Tăng trưởng kéo theo suy thoái tài nguyên và môi trường trầm trọng

Cùng với tốc độ tăng trưởng cao, Thái Lan cũng là nước dẫn đầu về tốc độ khai thác tài nguyên và gây ô nhiễm

môi trường Rừng ở Thái Lan bị tàn phá rất nhanh và nghiêm trọng, tỷ lệ rừng được quy hoạch bảo vệ chỉ còn 13,8% năm 1996 Ô nhiễm không khí (được đo bằng chỉ số lượng khí thải đi-ô-xít các-bon trên 1 tấn mét khối) là khá cao

và có xu hướng tăng, từ 0,9 năm 1980 lên 3,4 năm 1996 Ô nhiễm nguồn nước cũng rất trầm trọng, chất thải hữu cơ trong nước sông, hồ nổi lên đến 213.271 kg/ngày vào năm 1980, sau đó tăng gấp đôi vào năm 1995 Tình trạng thiếu nước, nhất là vào mùa khô đã xảy ra ở Thái Lan trong những năm gần đây Mùa khô năm 2005, có tới 60 trong

tổng số 76 tỉnh của Thái Lan đã bị khô hạn và thiếu nước Nguyên nhân của tình trạng này là do Thái Lan đã khaithác quá mức tài nguyên nhằm phục vụ cho tăng trưởng, chỉ chú trọng tới sự tăng trưởng về mặt lượng, mà thiếuquan tâm đến mặt chất Những bất ổn về thiên nhiên, môi trường như mưa lũ, nắng nóng kéo dài, động đất, núi lửahoạt động trở lại… đang đe doạ cuộc sống của nhân dân Thái Lan nói riêng và nhiều nước trên thế giới nói chung

Chính vì vậy, tăng trưởng nhanh đồng thời phải gắn với bảo vệ môi trường là một nhiệm vụ cấp bách mà Thái Lan

đang cố gắng thực hiện

2.2 Tình trạng bất bình đẳng ngày càng gia tăng

Có thể nói, Thái Lan là một trong những nước rất thành công trong công tác xóa đói giảm nghèo đi cùng vớităng trưởng kinh tế, tỷ lệ đói nghèo giảm từ 20,15% năm 1990 xuống 6,1% năm 1998, đặc biệt tỷ lệ nghèo đóigiảm nhanh ở khu vực nông thôn, chủ yếu do lực lượng lao động di cư khỏi nông thôn ra thành phố làm việc Tuynhiên, trong khi nghèo đói giảm khá nhanh thì bất bình đẳng lại có xu hướng gia tăng, nhất là sau khi cuộc khủnghoảng tài chính xảy ra Bất bình đẳng của Thái Lan phần nhiều là do xuất phát từ sự chênh lệch giữa thành thị vànông thôn Sự phân bố về mặt lãnh thổ các ngành công nghiệp rất mất cân đối, các ngành công nghiệp chỉ tậptrung vào các khu vực thành thị, đặc biệt là khu vực Bangkok và vùng phụ cận của nó, trong khi ở các vùngnghèo và xa xôi như vùng Đông Bắc còn phân bố rải rác Bên cạnh đó, còn do cơ cấu đầu tư tập trung chủ yếuvào những ngành công nghiệp chế tạo kỹ thuật cao và các ngành tài chính, bảo hiểm và bất động sản- nhữngngành đòi hỏi lực lượng lao động có kỹ năng nên không thể thu hút hết lao động từ ngành nông nghiệp sang Bấtbình đẳng trong thu nhập còn trở nên trầm trọng hơn do chưa có các chính sách phân phối lại thu nhập một cáchcông bằng và hiệu quả; chi tiêu ngân sách Chính phủ dành cho giáo dục, y tế và các dịch vụ công có tăng songkhông tương ứng so với chi tiêu vào các khoản khác; chi tiêu công chỉ tập trung chủ yếu vào khu vực thành thị.Chính phủ cũng đã ban hành những chính sách ưu đãi đối với người nghèo, tuy nhiên chưa phát huy được hiệuquả Việc cho vay vốn dễ dàng và thúc đẩy tiêu dùng trong khi chưa hình thành được chính sách phát triển kinh tếbền vững, hướng nghiệp cho người dân, khiến người dân nghèo, đặc biệt là nông dân đứng trước nguy cơ phá sảnhàng loạt

Ngày đăng: 05/11/2013, 17:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 17: Vai trò của TFP trong tăng trưởng của Thái Lan - KINH NGHIỆM CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG Á  BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Bảng 17 Vai trò của TFP trong tăng trưởng của Thái Lan (Trang 18)
Bảng 18: Tốc độ tăng GDP của Hàn Quốc qua các thời kỳ - KINH NGHIỆM CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG Á  BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Bảng 18 Tốc độ tăng GDP của Hàn Quốc qua các thời kỳ (Trang 21)
Bảng 19: Vai trò của TFP trong tăng trưởng kinh tế - KINH NGHIỆM CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG CỦA MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG Á  BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Bảng 19 Vai trò của TFP trong tăng trưởng kinh tế (Trang 28)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w