1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ tỉnh đắk lắk

193 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 193
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Phạm vi về thời gian Số liệu thứ cấp được thu thập từ năm 2004-2014 Kể từ năm 2003, Đắk Lắk tách thành 2 tỉnh là Đắk Lắk và Đắk Nông Số liệu sơ cấp được thu thập năm 2013 điều tra năm

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

DƯƠNG THỊ ÁI NHI

KINH TẾ TRANG TRẠI CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI CHỖ TỈNH ĐẮK LẮK

Chuyên ngành: Kinh tế Phát triển

Mã số: 62.31.01.05

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 PGS.TS VŨ HÙNG CƯỜNG

2 TS TUYẾT HOA NIÊ KDĂM

HÀ NỘI – 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu nêu trong luận án là trung thực Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận án

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ KINH TẾ TRANG TRẠI CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI CHỖ 11

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố ở nước ngoài……… 11 1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố ở trong nước……… 15 1.3 Những vấn đề còn tồn tại Luận án sẽ tập trung nghiên cứu giải quyết……… 23

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ TRANG TRẠI CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI CHỖ 25

2.1 Một số lý luận cơ bản về kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ……… 25 2.2 Một số lý thuyết cơ bản về phát triển nông nghiệp, nông thôn gắn với phát triển kinh tế trang trại……… 36 2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ……… 52 2.4 Nội dung của phát triển kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ……… 56 2.5 Kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số ở một số quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam……… 64

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI CHỖ TỈNH ĐẮK LẮK 77

3.1 Khái quát đặc điểm điều kiện tự nhiên, tình hình phát triển kinh tế - xã hội và đặc thù kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk ………77 3.2 Phân tích thực trạng phát triển kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2004-2014……… 82 3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tạo chỗ tỉnh Đắk Lắk……… 107

Trang 4

CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRANG TRẠI CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI CHỖ

TỈNH ĐẮK LẮK 116

4.1 Bối cảnh quốc tế, khu vực, trong nước và yêu cầu phát triển kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ tỉnh Đắk Lắk giai đoạn tới………… 116

4.2 Quan điểm và định hướng phát triển kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ tỉnh Đắk Lắk đến năm 2020……… 120

4.3 Một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ tỉnh Đắk Lắk……… 124

4.4 Kiến nghị cụ thể……… 135

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 137

1 Kết luận……… 137

2 Kiến nghị ……….139

TÀI LIỆU THAM KHẢO 141

PHỤ LỤC 156

Trang 5

CNH – HĐH Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá

Trang 6

PRA Cách tiếp cận có sự tham gia

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do nghiên cứu

Trong bối cảnh hợp tác và hội nhập kinh tế quốc tế, nền kinh tế của nước ta đã bước vào giai đoạn mới với sự chuyển đổi về chất, thay đổi mô hình tăng trưởng, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phát huy lợi thế so sánh, nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh nhằm đảm bảo phát triển bền vững Thực hiện chủ trương này, trên nền tảng kinh tế tự chủ của hộ nông dân đã hình thành các trang trại được đầu tư vốn, lao động với trình độ công nghệ và quản

lý cao hơn nhằm mở rộng quy mô sản xuất hàng hóa và nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh trong cơ chế thị trường Hiện nay, hình thức kinh

tế trang trại tăng nhanh về số lượng với nhiều thành phần kinh tế tham gia, nhưng chủ yếu là trang trại hộ gia đình nông dân Theo số liệu của Tổng cục Thống kê (2014), năm 2013 cả nước có 23.766 trang trại Trong giai đoạn

2000 đến nay, bình quân mỗi năm số trang trại tăng 10%, diện tích đất sử dụng trên 900.000 ha và đa số trang trại có quy mô nhỏ

Đắk Lắk là tỉnh nằm ở Trung tâm cao nguyên Trung bộ với diện tích tự nhiên là 13.125 km2 và dân số khoảng 1,8 triệu người (2013) Đây là địa bàn

cư trú của 44 dân tộc anh em sinh sống chiếm 32% trong tổng dân số của toàn tỉnh trong đó, dân tộc thiểu số tại chỗ (Êđê, M’nông, J’rai) chiếm trên 70% trong tổng dân số dân tộc thiểu số Trong những năm đổi mới vừa qua, tình hình kinh tế xã hội của tỉnh nói chung và đời sống của đồng bào dân tộc thiểu

số tại chỗ trên địa bàn nói riêng đã được cải thiện nhiều nhờ có chính sách phát triển kinh tế trang trại

Đối với đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, trong những năm qua kinh tế trang trại đã được hình thành, phát triển cả về số lượng và chất lượng Tuy nhiên do gặp phải trở ngại lớn cả về nhận thức, phong tục tập quán, nguồn lực đầu tư, thị trường đầu vào đầu ra, cơ chế chính

Trang 9

sách, làm cho việc phát triển kinh tế trang trang hiệu quả sản xuất thấp và thiếu tính bền vững, tính cạnh tranh chưa cao đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập như hiện nay Hội nhập kinh tế quốc tế đã mở ra cơ hội cho kinh tế trang trại phát triển; đồng thời đã tạo ra không ít những thách thức mà trang trại phải đối mặt Bên cạnh đó, do phong tục tập quán, tâm lý bảo thủ khó thay đổi, trình độ dân trí thấp, thiếu sự chủ động và sáng tạo trong phát triển kinh

tế đặc biệt là thiếu sự liên kết, hợp tác để phát triển kinh tế trang trại Mặt khác, những rủi ro về biến động giá cả, dịch bệnh, thiên tai đòi hỏi cần phải tìm ra phương thức, mô hình sản xuất nông nghiệp hiện đại và quy mô hơn nhưng vẫn phải phù hợp với đặc thù phong tục tập quán của đồng bào dân tộc

và điều kiện tự nhiên của vùng Tây Nguyên Do vậy, việc phát triển kinh tế trang trại ở tỉnh Đắk Lắk đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ

là một hướng đi cần được khuyến khích

Xuất phát từ những lý do trên, việc nghiên đề tài: “Kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ tỉnh Đắk Lắk” là một yêu cầu cấp

thiết có ý nghĩa cả trên phương diện lý luận và thực tiễn

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn về kinh tế trang trại của đồng bào DTTSTC, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại của đồng bào DTTSTC tỉnh Đắk Lắk, chỉ ra những yếu tố cản trở phát triển kinh

tế trang trại của đồng bào DTTSTC tỉnh Đắk Lắk; từ đó đề xuất quan điểm, định hướng và hệ giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế trang trại của đồng bào DTTSTC tỉnh Đắk Lắk

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa và làm rõ hơn cơ sở lý luận về phát triển kinh tế trang trại của đồng bào DTTS; kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại của đồng

Trang 10

bào DTTS ở một số nước trên thế giới và một số vùng, địa phương trong nước

và khả năng vận dụng ở Tây Nguyên nói chung và Đắk Lắk nói riêng;

- Phân tích thực trạng phát triển kinh tế trang trại của đồng bào DTTSTC trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, làm rõ những thành công, tồn tại và nguyên nhân; Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trang trại của đồng bào DTTSTC tỉnh Đắk Lắk giai đoạn vừa qua;

- Đưa ra quan điểm, đề xuất định hướng và hệ giải pháp cơ bản nhằm phát triển kinh tế trang trại của đồng bào DTTSTC tỉnh Đắk Lắk

* Câu hỏi nghiên cứu

1 Thực tiễn phát triển kinh tế trang trại của DTTS ở các quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam ra sao?

2 Đặc trưng cơ bản của KTTT nói chung và KTTT của đồng bào DTTSTC vùng Tây Nguyên và tỉnh Đắk Lắk nói riêng là gì?

3 Tình hình phát triển KTTT của đồng bào DTTSTC tỉnh Đắk Lắk như thế nào?

4 Các yếu tố nào ảnh hưởng đến sự phát triển KTTT của đồng bào DTTSTC tỉnh Đắk Lắk?

5 Những giải pháp cơ bản nào để thúc đẩy sự phát triển KTTT của đồng bào DTTSTC tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn tới?

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận án

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Phát triển kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về nội dung

Nghiên cứu tập trung vào hệ thống hoá và làm rõ hơn các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số

Trang 11

tại chỗ; Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc

thiểu số tại chỗ tỉnh Đắk Lắk

- Phạm vi về thời gian

Số liệu thứ cấp được thu thập từ năm 2004-2014 (Kể từ năm 2003, Đắk Lắk tách thành 2 tỉnh là Đắk Lắk và Đắk Nông)

Số liệu sơ cấp được thu thập năm 2013 (điều tra năm 2014)

Thời gian của các giải pháp được đề xuất đến năm 2020

Nghiên cứu kinh nghiệm trong nước về phát triển kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tập trung vào miền núi Phía Bắc

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Tiếp cận nghiên cứu

Để phân tích một cách đầy đủ và toàn diện thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng làm căn cứ đề xuất giải pháp phát triển kinh tế trang trại của đồng bào DTTSTC trong thời gian tới, nghiên cứu đã kết hợp nhiều hướng tiếp cận khác nhau:

(1) Tiếp cận kinh tế học vi mô

Cách tiếp cận kinh tế học vi mô cho phép nghiên cứu KTTT với tư cách

là đơn vị chủ yếu trong phân tích kinh tế Từ việc phân tích cấu trúc, năng lực nội sinh, mối quan hệ bên trong và mối quan hệ với bên ngoài có thể thấy được tác động của chính sách vĩ mô đối với các mặt kinh tế, xã hội

Trang 12

(2) Tiếp cận phát triển bền vững

Từ góc độ tiếp cận bền vững, mục tiêu phát triển KTTT sẽ được nhìn nhận trong sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo, khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái Đây là những vấn đề nóng bỏng hiện nay, cần được quan tâm giải quyết

(3) Tiếp cận lịch sử

Cách tiếp cận này được sử dụng trong nghiên cứu để tìm hiểu và phân tích sự hình thành kinh tế trang trại của đồng bào DTTSTC tỉnh Đắk Lắk thông qua xem xét sự ra đời, sự tác động của các điều kiện bên trong và bên ngoài Từ đó thấy được những tác động tích cực và tiêu cực của các yếu tố đó đến sự hình thành và ra đời của kinh tế trang trại của đồng bào DTTSTC tỉnh Đắk Lắk

(4) Tiếp cận dân tộc học

Cách tiếp cận này sẽ giúp xem xét đặc điểm của các xã hội DTTS như

nguồn gốc, cơ cấu dân cư, trình độ khoa học công nghệ, tôn giáo, ngôn ngữ, cấu trúc xã hội, hành vi của các trang trại trong sản xuất, phân bổ, quản lý và

sử dụng đất đai cho sản xuất nông lâm nghiệp dưới ảnh hưởng của các tập tục truyền thống của đồng bào DTTSTC trên địa bàn

(5) Tiếp cận có sự tham gia (PRA)

Đây là cách tiếp cận khuyến khích sự tham gia của chủ trang trại thông qua các công cụ của PRA Mục đích là để khảo sát sâu hơn những thuận lợi

và khó khăn trong hoạt động KTTT của đồng bào DTTSTC cũng như mong muốn và đề xuất của chủ trang trại trong vấn đề thúc đẩy KTTT của đồng bào DTTSTC tỉnh Đắk Lắk phát triển

Trang 13

4.2 Phương pháp nghiên cứu

4.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Chọn điểm nghiên cứu theo tiêu chí đại diện cho khu vực nghiên cứu Tiêu chuẩn chọn điểm nghiên cứu có sự tập trung đông dân tộc thiểu số tại chỗ sinh sống, đa dạng về loại hình KTTT và thành phần dân tộc (dân tộc thiểu số tại chỗ, dân tộc thiểu số Phía Bắc và dân tộc Kinh) Các điểm được lựa chọn bao gồm các huyện Cư M’gar, huyện Ea H’leo, huyện Krông Năng

và Thị xã Buôn Hồ

4.2.2 Phương pháp thu thập thông tin và số liệu

* Thông tin và số liệu thứ cấp

+ Thông tin, số liệu về lý luận và thực tiễn về tình hình phát triển KTTT trên Thế giới và ở Việt Nam; các chính sách phát triển kinh tế trang trại; quan điểm và định hướng phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam, Các thông tin này được lấy từ các nguồn như sách, báo; Các trang web của Tổng cục Thống kê (GSO), Hội làm vườn Việt Nam (VAC),

+ Thông tin, số liệu về điều kiện tự nhiên, KTXH của tỉnh Đắk Lắk; tình hình phát triển kinh tế trang trại của tỉnh; các chính sách phát triển kinh tế trang trại, các quan điểm và định hướng phát triển kinh tế trang trại đối với đồng bào DTTSTC tỉnh Đắk Lắk Các thông tin này được thu thập từ các báo cáo tổng kết, báo cáo thống kê hàng năm của UBND tỉnh Đắk Lắk, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Lắk, Chi cục Phát triển Nông thôn tỉnh Đắk Lắk và Niên giám Thống kê tỉnh Đắk Lắk

* Số liệu sơ cấp

Số liệu sơ cấp bao gồm các thông tin chung về trang trại, nguồn lực sản xuất của trang trại, chi phí và kết quả sản xuất của trang trại, tình hình cung ứng các yếu tố đầu vào và tình hình tiêu thụ nông sản của trang trại; khả năng

Trang 14

tiếp cận thị trường và khả năng liên kết của trang trại, tình hình thực hiện các chính sách phát triển KTTT đối với trang trại đồng bào DTTSTC trên địa bàn

Các thông tin sơ cấp được thu thập thông qua các phương pháp: quan sát, phỏng vấn bán cấu trúc, phỏng vấn sâu và phỏng vấn các trang trại tại các điểm nghiên cứu bằng bảng hỏi Ngoài ra còn sử dụng bộ công cụ PRA (chủ yếu là phương pháp thảo luận nhóm) để thu thập số liệu về thuận lợi và khó khăn của các loại hình KTTT của đồng bào DTTSTC trên địa bàn nghiên cứu

Cụ thể, có 5 nhóm được thành lập để thảo luận bao gồm: nhóm trang trại cây lâu năm, nhóm trang trại cây hàng năm, nhóm trang trại lâm nghiệp, nhóm trang trại chăn nuôi và nhóm trang trại kinh doanh tổng hợp

Do điều kiện thời gian hạn chế và địa bàn đi lại khó khăn cũng như có

sự khác biệt về ngôn ngữ nên số trang trại được chọn để điều tra là 60 trang trại, chiếm 50% tổng số trang trại tại 4 huyện điểm nghiên cứu

Bảng 1: Thống kê trang trại đồng bào DTTSTC tại các huyện được chọn

làm điểm nghiên cứu

Huyện Trang trại ĐB DTTSTC theo loại hình Trang trại ĐB DTTSTC được chọn

Nguồn: Tổng hợp và tính toán của tác giả

Mẫu có đặc điểm là trang trại đồng bào DTTSTC (đồng bào dân tộc Êđê) có tình hình sản xuất của trang trại đi vào ổn định (Trên địa bàn nghiên cứu chỉ có trang trại của đồng bào dân tộc Êđê)

Phương pháp chọn mẫu là chọn điển hình theo tỷ lệ từng loại hình trang trại tại các huyện điểm nghiên cứu Ngoài các trang trại đồng bào DTTSTC được lựa chọn như ở bảng 1, tôi đã điều tra một số trang trại người Kinh và

Trang 15

trang trại đồng bào DTTS khác trên cùng địa bàn để so sánh kết quả và hiệu quả sản xuất của trang trại; Từ đó có thêm căn cứ để đề xuất giải pháp phát triển kinh tế trang trại, nâng cao hiệu quả sản xuất của trang trại đồng bào DTTSTC trên địa bàn nghiên cứu

Các trang trại được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên phân tầng theo từng loại hình trang trại, bao gồm 5 loại hình trang trại phổ biến trên địa bàn nghiên cứu là trang trại cây lâu năm, trang trại cây hằng năm, trang trại lâm nghiệp, trang trại chăn nuôi và trang trại kinh doanh tổng hợp

4.2.3 Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu và phân tổ thống kê

- Đối với tài liệu thứ cấp sau khi thu thập được xử lý để loại bỏ những tài liệu kém tin cậy, tính toán lại các số liệu cần thiết để phục vụ quá trình nghiên cứu

- Đối với tài liệu sơ cấp sau khi đã làm sạch, được tổng hợp và xử lý bằng phần mềm xử lý số liệu Excel và SPSS thông qua phân tổ thống kê Các tiêu chí phân tổ căn cứ vào địa bàn, quy mô sản xuất và thành phần dân tộc

- Thông tin và số liệu điều tra trong nghiên cứu được phân tổ theo từng loại hình trang trại và thành phần dân tộc nhằm để đánh giá kết quả và hiệu quả các loại hình trang trại này

4.3.4 Phương pháp phân tích

- Phương pháp thống kê mô tả: sử dụng số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân để thấy được sự biến động số lượng các loại hình trang trại qua các năm và theo từng địa bàn huyện Phương pháp này cũng được sử dụng để mô

tả tình hình phát triển KTTT của đồng bào DTTSTC tỉnh Đắk Lắk

- Phương pháp thống kê so sánh: dùng để so sánh tình hình phát triển kinh tế trang trại của đồng bào DTTSTC tỉnh Đắk Lắk qua các năm và giữa các địa bàn trong tỉnh; so sánh kết quả và hiệu quả giữa các nhóm trang trại bao gồm nhóm trang trại của đồng bào DTTSTC đạt tiêu chí xác định trang

Trang 16

trại mới, nhóm trang trại của đồng bào DTTSTC không đạt tiêu chí và nhóm trang trại người Kinh

- Phương pháp phân tích SWOT: dùng để phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của các loại hình KTTT Kết quả phân tích SWOT được sử dụng làm căn cứ để xây dựng và đề xuất giải pháp phát triển KTTT cho từng loại hình KTTT của đồng bào DTTSTC trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

- Góp phần hệ thống hóa và làm rõ hơn cơ sở lý luận về kinh tế trang trại và phát triển kinh tế trang trại của đồng bào DTTSTC trong điều kiện kinh tế thị trường gắn liền với những nét đặc thù về truyền thống và phong tục tập quán của cộng đồng DTTSTC; góp phần làm rõ hơn một số lý thuyết về phát triển nông nghiệp nông thôn đối với phát triển kinh tế trang trại;

- Phân tích, đánh giá khách quan và toàn diện thực trạng phát triển kinh

tế trang trại của đồng bào DTTSTC tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2004-2014; trong

đó xác định được vai trò, đánh giá được kết quả và hiệu quả các loại hình trang trại của cộng đồng DTTSTC gắn với những nét đặc thù trên địa bàn;

- Đề xuất được hệ quan điểm, định hướng và giải pháp có tính đồng bộ,

cụ thể, khả thi để phát triển kinh tế trang trại của đồng bào DTTSTC tỉnh Đắk Lắk giai đoạn đến năm 2020

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần cung cấp những cơ sở khoa học để các nhà quản lý làm cơ sở cho việc lập quy hoạch phát triển nông nghiệp nói chung và kinh tế trang trại nói riêng theo hướng sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên, phù hợp với đặc thù của địa phương trong đó có chú ý đến nét đặc trưng văn hóa đặc thù của cộng đồng DTTSTC trong phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn;

Trang 17

- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở để xây dựng chương trình khuyến nông, khuyến lâm và khuyến công nhằm hướng dẫn nông dân áp dụng những tiến bộ khoa học, công nghệ, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống của cộng đồng DTTSTC trên địa bàn nghiên cứu

7 Bố cục của Luận án

Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận án gồm có 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ

Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ

Chương 3: Thực trạng phát triển kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ tỉnh Đắk Lắk

Chương 4: Quan điểm, định hướng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ tỉnh Đắk Lắk

Trang 18

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ KINH TẾ TRANG TRẠI CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC

THIỂU SỐ TẠI CHỖ

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố ở nước ngoài

1.1.1 Các nghiên cứu sự khác biệt giữa kinh tế hộ với kinh tế trang trại

Nhìn chung, sự phân biệt một cách chính xác dựa trên những tiêu chí cụ thể, giữa hộ và trang trại thường không thống nhất, phụ thuộc nhiều vào đặc thù về tự nhiên và nhân khẩu của từng nước, từng vùng Ngoài ra, giữa hộ và trang trại luôn có sự chuyển hóa cho nhau dù xét theo bất kỳ tiêu chí nào Tuy nhiên, phân biệt về mặt định tính, giữa hộ và trang trại cũng có một số khác biệt cần quan tâm: (1) Kinh tế hộ có sự trải rộng từ tự cấp tự túc đến định hướng thị trường; trong khi KTTT mang tính sản xuất hàng hóa rõ nét hơn; (2) Kinh tế hộ dựa chủ yếu vào nguồn lao động gia đình sẵn có; KTTT dựa nhiều vào lao động thuê mướn, đặc biệt trong mùa vụ; (3) Kinh tế hộ dựa chủ yếu vào các tài sản sở hữu chung giữa các thành viên trong hộ; còn KTTT có thể là sở hữu của nhiều hộ hoặc đa sở hữu với nhiều nguồn góp vốn; (4) Phân công lao động trong hộ dựa trên năng lực cá nhân của từng thành viên hoặc đặc thù về văn hóa (ví dụ như vai trò giữa nam và nữ, giữa cha mẹ và con cái,…); trong khi ở KTTT điều này dựa chủ yếu vào năng lực cá nhân thông qua các quan hệ thị trường; (5) Việc ứng dụng công nghệ vào sản xuất ở kinh

tế hộ rất hạn chế so với trang trại; (6) Tiếp cận về vốn và các dịch vụ khác, bao gồm cả bảo hiểm, đối với hộ khó khăn hơn; (7) Ngành nghề sản xuất kinh doanh của kinh tế hộ trải rộng hơn, từ nông nghiệp đến thủ công nghiệp và dịch vụ; còn nói đến KTTT thì thường hàm ý chỉ là sản xuất nông nghiệp; và (8) Thị trường sản phẩm của hộ thường chỉ mang tính địa phương; trong khi

Trang 19

của trang trại có thể rộng hơn nhiều Vì vậy các liên kết trước và sau của KTTT rộng hơn, sâu hơn, do trình độ CMH sản xuất cao hơn, đặc biệt đối với nhà cung cấp các dịch vụ đầu vào và CNCB (Cervantes - Godoy and Brooks, 2008; Ironmonger, 2001)

Một số nghiên cứu khác không phân biệt giữa hộ và trang trại mà dựa trên tính thương mại hóa hay định hướng thị trường của sản xuất để phân khúc các hộ và trang trại Davis (2006) chia chúng thành 4 loại cơ bản: (1) Các hợp tác xã, công ty sản xuất nông nghiệp; (2) Trang trại gia đình/hộ nông nghiệp chủ yếu mang tính thương mại; (3) Trang trại gia đình/hộ nông nghiệp chủ yếu phi thương mại (tự túc tự cấp); và (4) Trang trại mang tính giải trí

KTTT có những điểm mạnh mà kinh tế hộ không có Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng năng suất tỷ lệ thuận với diện tích đất canh tác (Heltberg, 1998; Kimhi, 2006) xuất phát từ lợi thế nhờ quy mô thông qua phân công lao động hợp lý, huy động được nhiều nguồn vốn tại chỗ, sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu và áp dụng tiến bộ kỹ thuật Trang trại lớn cũng có lợi thế nhờ dễ tiếp cận tín dụng, bảo hiểm; đồng thời ứng phó được những nhu cầu đa dạng của thị trường và kết nối với các ngành CNCB và chuỗi giá trị quốc gia, toàn cầu khi

tự do hóa thương mại được mở rộng (Anríquez and Bonomi, 2007; Otsuka, 2007)

1.1.2 Các nghiên cứu về lực cản đối với phát triển kinh tế trang trại

Việc phát triển KTTT ở các nước đang phát triển gặp phải nhiều lực cản

và đây cũng là một phần nguyên nhân nghèo đói nếu không khắc phục được

Một số nghiên cứu chỉ ra rằng các hộ nông nghiệp thiếu nguồn lực, đặc biệt là đất đai khi chỉ sở hữu một diện tích đất nhỏ (95% dưới 2 ha) (Anríquez and Bonomi, 2007; World Bank, 2003b, 2007) Họ cũng thiếu vốn cần thiết

để mở rộng sản xuất, chuyển đổi cơ cấu sản xuất cũng như thay đổi nghề nghiệp (Reardon et al., 1998) Ngoài ra, ở các vùng nông thôn, chất lượng lao

Trang 20

động cũng kém do thiếu thốn về y tế và giáo dục (Hall and Patrinos, 2006; World Bank, 2003a) Các điều kiện về nhân khẩu như mật độ dân số và tỷ suất sinh cao, trong nhiều trường hợp làm trầm trọng thêm những khó khăn này (World Bank, 2003b) Những điều trên dẫn đến năng suất lao động thấp

và thu nhập thấp (World Bank, 2007)

Các hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng phải đối diện với nhiều rủi ro

về cả về thiên tai và thị trường (do biến động giá và độ co dãn của cầu theo thu nhập thấp đối với nông sản) làm cho hộ nông nghiệp và trang trại mất nhiều thời gian để phục hồi khi gặp các cú sốc (Carter and Barrett, 2006; Christiaensen and Subbarao, 2005; Dercon 2004; World Bank, 2003b)

Bất bình đẳng trong sở hữu nguồn lực đối với hộ gia đình, đặc biệt người DTTS và người bản địa ở các nước đang phát triển là điều phổ biến Họ thường không tiếp cận được đất đai hoặc đất đai quá nhỏ để canh tác (Vollrath, 2007; Zezza et al., 2007, World Bank, 2003b) Bất bình đẳng trong tiếp cận dịch vụ công như chăm sóc sức khỏe và đào tạo (Jayne et al., 2006; World Bank, 2003a) hay các dịch vụ bảo hiểm và tín dụng (Fafchamps and Pender, 1997, Reardon et al., 1998) cũng là các yếu tố quan trọng gây ra đói nghèo và lạc hậu Thêm vào đó, các thiết chế xã hội địa phương như các chuẩn mực ứng xử, niềm tin, bình đẳng giới, đẳng cấp xã hội hay việc thiếu các mạng lưới xã hội cũng thường kiềm chế sức sản xuất của các hộ (Fafchamps and Minten, 2002; World Bank, 2003b, 2006b, 2007)

Khuyết tật thị trường ở các nước đang phát triển, đặc biệt vùng nông thôn, cũng thường rất trầm trọng Điều này tạo ra chi phí giao dịch cao, thông tin bất đối xứng, cạnh tranh không hoàn hảo, và nhiều ngoại ứng tiêu cực khác (Jalan and Ravallion, 2002) Tuy nhiên, việc khắc phục các khuyết tật này - vai trò của nhà nước - lại thường được tiến hành không tốt Đây có thể

Trang 21

xem như thất bại của nhà nước trong điều tiết thị trường và cung ứng dịch vụ công (World Bank, 2007)

1.1.3 Các nghiên cứu về các chính sách phát triển kinh tế trang trại

- Nhóm chính sách đầu tiên có thể kể đến là chính sách trợ cấp, trợ giá, theo từng sản phẩm, hoặc theo các diễn biến của điều kiện tự nhiên và thị trường (Brooks, 2010; Jones and Kwiecinski, 2010; OECD, 2003) Việc giảm thuế, phí cũng được áp dụng với các điều kiện tương tự (OECD, 2009; World Bank, 2007) Ngoài ra, đối với nhiều loại nông phẩm, có thể kiểm soát giá, áp dụng giá sàn đầu ra hay giá trần đối với các dịch vụ đầu vào để đảm bảo quyền lợi của người sản xuất (OECD, 2009)

- Chính sách cung cấp tín dụng với nhiều hình thức và mức lãi suất đa dạng cho phát triển KTTT cũng là biện pháp đáng lưu tâm Cung cấp tín dụng được áp dụng hợp lý, song song với việc phát triển thị trường vốn có thể tạo

ra nhiều hiệu ứng tích cực (Gloede and Rungruxsirivorn, 2012)

- Chính sách đầu tư vào vốn con người thông qua tạo giáo dục, đào tạo, trợ giúp kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất và tạo điều kiện tìm kiếm việc làm phi nông nghiệp là nhóm chính sách mang tính dài hạn, đem lại hiệu quả ở nhiều nơi (Sherraden, 2004; World Bank 2003b, 2007; Haggblade, Hazell and Reardon, 2005, 2010) Nhóm chính sách dài hạn khác là đầu tư vào cơ sở hạ tầng để tạo điều kiện tiếp cận thị trường, tạo liên kết giữa các vùng miền, cung cấp thông tin và tạo việc làm nông thôn cũng hết sức quan trọng (Brooks, 2010; Cervantes-Godoy and Brooks, 2008; Haggblade, Hazell and Reardon, 2010) Các chính sách nêu trên phải hướng tới mục tiêu cao hơn là nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, thỏa mãn ngày một tốt hơn nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng, đáp ứng được những tiêu chuẩn xuất khẩu và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu (World Bank, 2007)

Trang 22

- Chính sách cải cách các thể chế xã hội nông thôn, hạn chế bớt những mặt tiêu cực của các quan hệ đẳng cấp, các quy tắc ứng xử phi chính thức và cách tư duy khép kín cũng là hướng đi quan trọng (Brooks, Cervantes-Godoy and Jonasson, 2009; IFAD, 2003; World Bank, 2007) Ngoài ra, cũng cần khuyến khích sự hình thành các hiệp hội nhằm giảm chi phí giao dịch, tạo sự

hỗ trợ lẫn nhau và tận dụng lợi thế nhờ quy mô (Cervantes-Godoy and Brooks, 2008; World Bank, 2003b)

- Chính sách cải cách thể chế kinh tế như điều chỉnh chính sách đất đai

và quyền sở hữu tài sản nhằm tạo thuận lợi cho mua bán đất đai, mở rộng sản xuất và gây dựng thương hiệu (IFAD, 2003); cải cách thị trường lao động nhằm tạo thêm các cơ hội việc làm và tăng thu nhập (Brooks, 2010); hình thành các mạng lưới bảo hiểm và bảo trợ xã hội (Cervantes-Godoy and Brooks, 2008; IFAD, 2003)

Các chính sách nêu trên có thể hướng đến việc cải thiện các điều kiện đầu vào hoặc đầu ra của sản xuất, cũng có thể nhằm vào việc nâng cấp toàn bộ các điều kiện sản xuất của trang trại Tuy nhiên, việc vận dụng và kết hợp chúng ra sao tùy thuộc vào các điều kiện của từng quốc gia và vùng, cũng như khoảng thời gian nhất định Vì vậy, để xây dựng được các chính sách phát triển KTTT gắn cho một vùng cụ thể, ở đây là tỉnh Đắk Lắk, cần phải bổ sung thêm nhiều luận cứ khoa học mới, phản ánh được các đặc thù về chủ thể sản xuất, không gian và thời gian

1.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố ở trong nước

1.2.1 Các nghiên cứu lý luận về phát triển kinh tế trang trại

1.2.1.1 Nghiên cứu về khái niệm, tiêu chí và đặc trưng của KTTT

Thuật ngữ KTTT xuất hiện và được sử dụng ở nước ta kể từ khi thực hiện đường lối đổi mới Ở thời điểm đó, nó được xem là khái niệm mới mẻ và

đã trở thành vấn đề mà hầu hết các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Một

Trang 23

số tác giả tiên phong gồm có: Nguyễn Điền và Trần Đức (1993), Lê Trọng (1993), Nhân Đạo (1994), Phí Văn Kỷ (1994), Trần Đức (1995a, 1995b, 1996a, 1996b, 1997, 1998) và sau đó là Trần Trác (1997, 1998), Nguyễn Xuân Kiên (1998) và Nguyễn Đình Hương (2000) và Cao Đức Phát (2000) và Nguyễn Đức Thịnh (2001) Đáng chú ý là nghiên cứu của Nguyễn Đình

Hương (2000) về “Thực trạng và giải pháp phát triển nền kinh tế trang trại

trong thời kỳ CNH - HĐH ở Việt Nam” Công trình nghiên cứu đã đưa ra khái

niệm KTTT: “Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong

nông, lâm, ngư nghiệp; có mục đích chủ yếu là sản xuất hàng hoá; tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập; sản xuất được tiến hành trên cơ sở quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung đủ lớn với cách thức tổ chức quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường” Tác giả cũng chỉ ra đuợc 6

đặc trưng cơ bản của KTTT so với kinh tế hộ trong đó có 2 đặc trưng rất quan trọng để phân biệt với kinh tế hộ là: (1) sản xuất nông nghiệp hàng hoá; và (2) Chủ trang trại là người có ý chí, năng lực và kinh nghiệm kinh doanh Tiêu chí nhận dạng trang trại cũng được tác giả phân tích khá công phu để đưa ra được kết luận có 3 tiêu chí cơ bản: (1) GTSL hàng hoá tạo ra trong một năm; (2) Quy mô diện tích đất đai hoặc số lượng gia súc, gia cầm tuỳ theo phương hướng SXKD của trang trại; và (3) Quy mô vốn đầu tư cho SXKD

Trên cơ sở kế thừa các quan niệm về KTTT của nhiều tác giả, phân tích

các tiêu chí xác định KTTT, nghiên cứu “Kinh tế trang trại ở khu vực Nam

Bộ, thực trạng và giải pháp” của Trương Thị Minh Sâm (2002) đã đưa ra

khái niệm về KTTT: “Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức SXKD trong

nông nghiệp; được hình thành và phát triển trên cơ sở kinh tế hộ gia đình nông dân; có mức độ tích tụ và tập trung cao hơn về đất đai, vốn, lao động,

kỹ thuật, … nhằm tạo ra khối lượng hàng hoá nông sản lớn hơn, với lợi nhuận

Trang 24

cao hơn theo yêu cầu kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng XHCN”

Nghiên cứu của Đào Hữu Hoà (2008) về “Phát triển kinh tế trang trại

trên địa bàn Duyên hải Nam Trung Bộ trong quá trình CNH - HĐH” Tác giả

đã dựa trên các khái niệm về và quan niệm về KTTT của Bộ Nông nghiệp

Hoa Kỳ và của một số tác giả khác đã đưa ra khái niệm trang trại: “Trang trại

là một hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, có thuê mướn lao động, được hình thành và quản lý bởi gia đình chủ trang trại”

Như vậy, về quan niệm KTTT, hầu hết các tác giả đều cho rằng trang trại là hình thức tổ chức kinh tế được hình thành trên cơ sở hộ nông dân, có khả năng sản xuất hàng hóa quy mô lớn và năng lực ứng dụng KHCN hiện đại Phát triển KTTT đang là hướng phát triển tốt đối với nông nghiệp và cần phải có nhiều chủ trương, đường lối để đẩy mạnh phát triển Điều này cũng phù hợp với quan điểm và chính sách phát triển KTTT được trình bày trong Nghị quyết 06/1998 của Bộ Chính trị và Nghị quyết 03/2000/NQ-CP của Chính phủ về KTTT Các nội dung nghiên cứu này có giá trị về mặt lý luận để các nghiên cứu sau này kế thừa, phát triển và bổ sung thêm

1.2.1.2 Nghiên cứu về tính tất yếu khách quan của kinh tế trang trại

Công trình nghiên cứu của Ban Vật Giá Chính phủ (2000) về “Tư liệu

về kinh tế trang trại” đã khẳng định: “Kinh tế trang trại với sự tồn tại và phát triển bền vững của nó là chứng minh tính tất yếu, tính hiệu quả và không có một hình thức nào khác có thể thay thế hoặc phủ nhận nó” Nghiên cứu này

đã đi đến kết luận phát triển KTTT ở nước ta không mang tính tự phát mà là kết quả của công cuộc đổi mới đất nước, là kết quả của việc vận dụng sáng tạo những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, của các cấp lãnh đạo địa phương và là sự hưởng ứng của các bộ phận kinh tế hộ nông dân kinh

doanh giỏi, có ý chí và có khát vọng vươn lên làm giàu vì “Đây là một quá

Trang 25

trình tất yếu, phù hợp với quy luật khách quan, do yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở nước ta và do yêu cầu của công cuộc CNH - HĐH đất nước nhất là CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn”

Đồng thời nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Sâm (2002) cũng đã chỉ ra:

“Kinh tế trang trại dần trở thành xu thế tất yếu trong hầu hết các nền kinh tế trên thế giới”

1.2.1.3 Nghiên cứu về xu hướng hình thành, phát triển của KTTT

Có nhiều nhận định trái ngược về vai trò và xu hướng phát triển của kinh tế hộ Mặc dù công nhận tính tích cực của kinh tế hộ, nghiên cứu của

Nguyễn Thế Trường (2002) về “Kinh tế hộ và kinh tế trang trại vùng Trung

du, miền núi phía Bắc - thực trạng và xu hướng phát triển” đã đưa ra những

số liệu và bằng chứng để khẳng định kinh tế hộ không còn đủ khả năng tiến

xa hơn do có sự ràng buộc bởi nhiều điều kiện như quy mô, tiềm lực kinh tế, khả năng thâm nhập thị trường Không những vậy, diện tích đất nông nghiệp

bị thu hẹp do phát triển đô thị và công nghiệp, nền sản xuất hàng hóa đã phát triển đến một mức độ nhất định và hội nhập kinh tế sâu rộng hơn, kinh tế hộ

đã tận dụng hết tiềm năng của mình và không còn là động lực để đưa nông nghiệp phát triển lên sản xuất lớn hay CNH và HĐH nông nghiệp, nông thôn (Chu Tiến Quang, 2007) Thái độ có phần phủ nhận vai trò của kinh tế hộ đã nổi lên mối liên hệ giữa kinh tế hộ và kinh tế trang trại mà nhiều tác giả đã xem xét và phân tích (Nguyễn Xuân, 1998; Trần Trác, 1998; Nguyễn Ngọc Tuân, 1999; Nguyễn Thế Trường, 2002) để đi đến kết luận có sự chuyển hóa

từ kinh tế hộ sang KTTT là quy luật chung của nền nông nghiệp thế giới và KTTT là xu hướng phát triển tất yếu của nông thôn

Nghiên cứu của tác giả Phạm Hùng (1999) đã phân tích những thành công lớn về phát triển trang trại ở một số nước phát triển và đang phát triển để

đi đến kết luận: (1) Phát triển trang trại chủ yếu ở Việt Nam chỉ là mô hình

Trang 26

trang trại gia đình; và (2) Sự hình thành và phát triển trang trại nước ta phân

bố rất không đều, về hình thức các trang trại cũng rất khác nhau Đồng hành với sự phát triển của kinh tế trang trại, kinh tế hộ cũng đã phát triển làm thay đổi diện mạo nông nghiệp, nông thôn Từ các vai trò của kinh tế hộ cho thấy

cơ sở hình thành của sự phát triển kinh tế trang trại là từ kinh tế hộ nông dân

1.2.2 Các nghiên cứu thực tiễn về kinh tế trang trại và kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số

1.2.2.1 Các nghiên cứu về thực trạng và vai trò của kinh tế trang trại

Nghiên cứu thực trạng phát triển KTTT, hầu hết các nghiên cứu đặc biệt

là nghiên cứu của Chu Thị Hảo (2004) “Phát triển kinh tế trang trại - Thực trạng

và giải pháp” đều chỉ ra các vai trò chung của KTTT trang trại: (1) thúc đẩy phát

triển KTXH tại địa phương; (2) sử dụng các yếu tố nguồn lực hợp lý và có hiệu quả; (3) khai thác được lợi thế so sánh của địa phương và (4) thu hút được lực lượng lao động Ngoài ra KTTT còn có vai trò đẩy nhanh tiến độ CNH - HĐH; thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững và nâng cao tiềm lực quốc phòng

- Vai trò đẩy nhanh tiến độ CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn của kinh tế trang trại còn được thể hiện rõ nét trong nghiên cứu của Đào Hữu Hoá

(2008) “Phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn Duyên hải Nam Trung Bộ

trong quá trình CNH – HĐH”; nghiên cứu của Nguyễn Văn Sử (2006) “Phát triển kinh tế trang trại trong thời kỳ CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn tỉnh Sơn La” và nghiên cứu của Phạm Văn Vang (2006), “Phát triển bền vững kinh

tế trang trại ở Việt Nam trong giai đoạn đẩy mạnh CNH - HĐH”

- Nghiên cứu của Đinh Phi Hổ (2010) về “Kinh tế trang trại - lực lượng

đột phá thúc đẩy phát triển nông nghiệp Việt Nam theo hướng bền vững” đã

chỉ ra vai trò của KTTT đối với phát triển nông nghiệp bền vững thể hiện trên 3 khía cạnh: (1) Đóng góp vào tăng trưởng nông nghiệp và nâng cao sức cạnh tranh; (2) Giải quyết việc làm và tạo thu nhập bền vững cho nông dân vùng nông thôn; và (3) Tác động đến môi trường tự nhiên và cân bằng sinh thái

Trang 27

- Nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập sâu đến vai trò của KTTT đối với từng lĩnh vực và từng địa phương cụ thể Trong đó nổi bật là nghiên cứu

của Phạm Bằng Luân (2007)“Phát triển kinh tế trang trại và vai trò của nó

đối với xây dựng tiềm lực quốc phòng ở các tỉnh Trung du và miền núi Phía Bắc nước ta hiện nay” Trong nghiên cứu này, tác giả đã phân tích sâu các vai

trò của KTTT đối với xây dựng tiềm lực quốc phòng ở nước ta Tác giả cho rằng thông qua xây dựng tiềm lực về kinh tế, phát triển KTTT góp phần quan trọng trong vấn đề xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần, KHCN và tiềm lực quốc phòng

1.2.2.2 Các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế trang trại

Một số công trình nghiên cứu “Kết quả và hiệu quả kinh tế các loại hình

kinh tế trang trại ở huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Lắk” của tác giả Từ Thị Thanh

Hiệp (2006); nghiên cứu “Hiệu quả kinh tế của các loại hình kinh tế trang trại

trên địa bàn Thành phố Buôn Ma Thuột” của tác giả Trần Xuân Ninh (2007);

và nghiên cứu “Phát triển kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh

Sơn La” của tác giả Nguyễn Cao Thịnh (2009) đều cho rằng yếu tố chính sách

vĩ mô của Nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến việc phát triển KTTT; tuy nhiên yếu tố nguồn lực của trang trại (lao động, đất đai, vốn, trang bị cho sản xuất và khả năng tiếp cận thông tin) có có tính chất quyết định đến phát triển KTTT

Nghiên cứu “Phát triển kinh tế trang trại tỉnh Gia Lai theo hướng bền vững” của Lê Xuân Lãm (2011) bổ sung thêm tác động của yếu tố trình độ phát triển

thị trường, tác động của tiến trình CNH - HĐH, hội nhập kinh tế quốc tế và sự quản lý của Nhà nước

Ngoài những yếu tố chung trên tác động đến phát triển KTTT, đối với các hộ đồng bào DTTS do mang một số truyền thống, văn hoá và xã hội đặc

thù nên Nguyễn Cao Thịnh (2009) trong công trình nghiên cứu “Phát triển

kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Sơn La” đã bổ sung

Trang 28

thêm KTTT của đồng bào DTTS còn chịu tác động rất lớn của yếu tố tập quán sản xuất, đặc điểm văn hóa xã hội của DTTS; và thiếu sự liên kết, hợp tác trong sản xuất

1.2.2.3 Các nghiên cứu về các giải pháp phát triển kinh tế trang trại

Nhiều khuyến nghị để nâng cao hiệu quả KTTT đã được đề xuất Nỗi

bật là nghiên cứu “Kinh tế trang trại - một lựa chọn theo hướng phát triển

bền vững trong nông nghiệp, nông thôn” của Bảo Trung (2010) Tác giả đặc

biệt quan tâm đến chính sách ruộng đất Nghiên cứu của tác giả đã chỉ ra rằng muốn tiến lên sản xuất hàng hóa lớn theo hướng phát triển bền vững cần phải thực hiện được: (1) Thâm canh cao bằng cách đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ KHCN; (2) Công nghiệp và dịch vụ cần được phát triển mạnh hơn nữa; và (3) Đẩy mạnh quá trình tích tụ ruộng đất Đồng thời, với thực tế quá trình phát triển KTTT nước ta đến nay tác giả đã rút ra một số vấn đề cơ bản cần quan tâm: (1) Khẳng định trang trại gia đình là hình thức phù hợp và cần được tiếp tục khuyến khích phát triển; (2) có hệ thống các tiêu chí để xác định trang trại cần được định kỳ cập nhật và điều chỉnh; (3) tiêu chí xác định trang trại là chỗ dựa quan trọng để thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển; (4) các địa phương nên định kỳ điều tra đánh giá để xác định hộ trang trại; (5) Chính phủ tiếp tục hoàn chỉnh cơ chế, chính sách về tích tụ ruộng đất cho đồng bộ; và (6) gắn việc phát triển KTTT với xây dựng quan hệ sản xuất trong nông thôn

Từ việc nghiên cứu cụ thể về thực trạng, các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển KTTT tại từng địa phương của các công trình nghiên cứu trên, mỗi công trình nghiên cứu đều đã đưa ra được các hệ giải pháp tương ứng Tuy nhiên các nhóm giải pháp này còn mang tính chất chung chung, chưa cụ thể Đã có nhiều công trình nghiên cứu cụ thể đi sâu nghiên cứu về các giải pháp phát triển

KTTT như nghiên cứu “Các giải pháp phát triển kinh tế trang trại vùng trung

du và miền núi Phía Bắc” của tác giả Đinh Văn Hải (2004); Nghiên cứu

“Những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế trang trại ở Thừa Thiên

Trang 29

Huế” của tác giả Nguyễn Khắc Hoàn (2006); Nghiên cứu “Phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn Duyên hải Nam Trung Bộ trong quá trình CNH - HĐH

của tác giả Đào Hữu Hoá (2008); và nghiên cứu “Phát triển nông lâm kết hợp

theo hướng kinh tế trang trại tại một số tỉnh Trung du miền núi Phía Bắc” của

tác giả Trần Thị Thu Thuỷ (2010) Các nghiên cứu này đã đưa ra được các chính sách phát triển KTTT tập trung vào các nhóm giải pháp về đất đai, vốn, công nghệ, đầu tư CSHT, thị trường tiêu thụ sản phẩm và đào tạo kỹ năng, trình độ cho chủ trang trại Trong đó giải pháp về vốn đầu tư cho phát triển KTTT được coi là trọng nhất và được thể hiện rõ trong nhiều nghiên cứu bao

gồm nghiên cứu của Phạm Hoài Bắc (2003) về “Giải pháp tín dụng ngân hàng

nhằm phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn các tỉnh miền núi Phía Bắc Việt Nam”; Nghiên cứu “Giải pháp tín dụng ngân hàng đối với phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam” của Lê Thị Yên (2003); Nghiên cứu “Chính sách ưu đãi đầu tư đối với Kinh tế trang trại ở tỉnh Trà Vinh” của Nguyễn Thái Bình

(2005); Nghiên cứu “Phát triển kinh tế trang trại - Các biện pháp huy động và

hỗ trợ vốn” của Võ Văn Đức (2005); Nghiên cứu “Giải pháp tín dụng ngân hàng nhằm phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn Tây Nguyên” của Nguyễn

Thị Tằm (2006); và Nghiên cứu “Tín dụng ngân hàng đối với phát triển kinh tế

trang trại trên địa bàn tỉnh Bắc Giang” của Tô Thị Hậu (2007) Các nhóm giải

pháp này đều tập trung vào: (1) Đa dạng hoá các hình thức huy động vốn đầu

tư cho nông nghiệp nông thôn nói chung và KTTT nói riêng; (2) Mở rộng đối tượng cho vay thúc đẩy KTTT phát triển góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn; (3) Tập trung đầu tư tín dụng ngân hàng để hình thành và phát triển các mô hình KTTT bền vững; và (4) Nâng cao trình độ, kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ tín dụng

Đối với trang trại đồng bào DTTS, Nguyễn Cao Thịnh (2009) cho rằng ngoài các chính sách chung, đối với phát triển KTTT của đồng bào DTTS cần được bổ sung thêm nhóm giải pháp sửa đổi quy định về tiêu chí xác định

Trang 30

trang trại theo hướng thấp hơn vì đặc thù các yếu tố xuất phát điểm của DTTS thấp nên khó đáp ứng được các tiêu chí như mặt bằng chung Ngoài ra cũng cần quan tâm đến chính sách đất đai phù hợp với đặc thù của người đồng bào DTTS Những giải pháp này được coi là những bài học kinh nghiệm quý báu nên kế thừa để thúc đẩy phát triển kinh tế trang trại đối với đồng bào DTTSTC ở Tây Nguyên nói chung và tỉnh Đắk Lắk nói riêng

Nghiên cứu về KTTT rất phong phú, được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu, đặc biệt là nhiều nghiên cứu sinh lựa chọn cho luận án tiến sĩ Tuy nhiên, nghiên cứu về KTTT ở Tây Nguyên không nhiều, đặc biệt là nghiên cứu về KTTT của đồng bào DTTSTC Cho đến nay chưa có nghiên cứu về KTTT của đồng bào DTTSTC ở Tây Nguyên, mới chỉ có nghiên cứu của Nguyễn Cao Thịnh (2009); các nghiên cứu của Đinh Văn Hải (2004), Phan Ngọc Châu (2005) và Lê Anh Vũ (2007) về kinh tế trang trại ở Tây Bắc, một trong những vùng có trình độ phát triển thấp nhất cả nước Đây là khu vực tập trung đông nhất cộng đồng các DTTS sinh sống với 50/54 DTTS, điều kiện tự nhiên và KTXH thích hợp cho việc chuyên canh các loại cây công nghiệp dài ngày Do đó, các công trình nghiên cứu này rất có ý nghĩa để tác giả kế thừa, vận dụng cho nghiên cứu về KTTT của đồng bào DTTSTC ở Đắk Lắk trong thời gian tới Tuy nhiên, việc nghiên cứu những nội dung nghiên cứu của đề tài cũng cần phải quan tâm đến vai trò của yếu tố đặc điểm đặc thù về văn hoá, xã hội truyền thống của đồng bào DTTSTC Tây Nguyên trong phát triển KTTT để có cách thức áp dụng và kế thừa các giải pháp trên phù hợp và có hiệu quả hơn

1.3 Những vấn đề còn tồn tại Luận án sẽ tập trung nghiên cứu giải quyết

Về mặt lý thuyết, hầu hết các công trình nghiên cứu đều chỉ mới đề cập đến khái niệm, vai trò, tính tất yếu của việc phát triển, chưa có công trình nghiên cứu khái quát và làm rõ một số lý thuyết nông nghiệp nông thôn đối với phát triển KTTT, những vấn đề lý luận liên quan đến phát triển KTTT gắn

Trang 31

với nét đặc thù về truyền thống và phong tục tập quán của đồng bào DTTSTC, chưa có hệ tiêu chí đánh giá sự phát triển kinh tế trang trại của đồng bào DTTSTC;

Về mặt thực tiễn, phần lớn các công trình nghiên cứu đều nghiên cứu phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn các vùng miền, các tỉnh, huyện một cách độc lập, tập trung phân tích, đánh giá thực trạng, xác định các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất hệ giải pháp phát triển kinh tế trang trại trên các địa bàn nghiên cứu; tuy nhiên có rất ít công trình đề cập đến đối tượng trang trại của đồng bào DTTS

Từ những hạn chế về các lý luận và thực tiễn của các công trình nghiên cứu trên, Luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu hướng đến:

Về mặt lý luận: tiếp tục hoàn thiện và làm rõ hơn những vấn đề lý luận

và thực tiễn liên quan đến phát triển KTTT của đồng bào DTTSTC với những nét đặc thù về truyền thống và phong tục tập quán của người đồng bào DTTSTC; hệ thống hóa và làm rõ hơn một số lý thuyết phát triển nông nghiệp nông thôn đối với phát triển KTTT; làm rõ hơn các tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá sự phát triển kinh tế trang trại của đồng bào DTTSTC

Về mặt thực tiễn: trên cơ sở đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại của đồng bào DTTSTC tỉnh Đắk Lắk; xác định được vai trò, đánh giá kết quả và hiệu quả các loại hình KTTT của đồng bào DTTSTC tỉnh Đắk Lắk; xác định các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển KTTT của đồng bào DTTSTC tỉnh Đắk Lắk; đề xuất quan điểm, phương hướng và hệ giải pháp cơ bản nhằm phát triển KTTT đối với đồng bào DTTSTC tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới phù hợp với đặc thù của địa bàn, văn hóa và phong tục tập quán của đồng bào DTTSTC

Trang 32

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KINH TẾ TRANG TRẠI CỦA

ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI CHỖ

2.1 Một số lý luận cơ bản về kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu

số tại chỗ

2.1.1 Kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ

2.1.1.1 Trang trại

Trên thế giới có nhiều quan niệm khác nhau về trang trại:

Theo Michael Lipton (2005): “Trang trại là những đơn vị kinh doanh

trong nông nghiệp mà phần lớn lao động và được điều hành bởi các thành viên trong gia đình”

FAO (1997) đã đưa ra khái niệm trang trại dựa trên khái niệm nông trại (farm) Nông trại là một mảnh đất mà trên đó nông hộ thực hiện các hoạt động sản xuất nông nghiệp phục vụ cho sinh kế của họ Cũng theo FAO, nông trại ở Châu Á được chia thành 6 loại hình cơ bản theo mục đích sản xuất, diện tích đất đai và mức độ phụ thuộc khác nhau bao gồm: (1) Nông trại gia đình quy mô nhỏ theo hướng tự cấp tự túc; (2) Nông trại gia đình quy mô nhỏ một phần sản xuất hàng hóa; (3) Nông trại gia đình quy mô nhỏ sản xuất chuyên môn hóa và độc lập; (4) Nông trại gia đình quy mô nhỏ sản xuất chuyên môn hóa nhưng phụ thuộc; (5) Nông trại gia đình sản xuất hàng hóa quy mô lớn;

và (6) Trang trại sản xuất hàng hóa Loại hình thứ 5 và thứ 6 được xem như là trang trại do có quy mô lớn và tập trung vào sản xuất hàng hóa để bán ra thị trường nhằm mục tiêu tạo ra lợi nhuận

Ở Việt Nam, có nhiều quan niệm khác nhau về trang trại:

Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương (1993) cho rằng "Trang trại là

hình thức tổ chức kinh tế trong nông-lâm-ngư nghiệp phổ biến được hình

Trang 33

thành trên cơ sở phát triển kinh tế hộ nhưng mang tính chất sản xuất hàng hóa rõ rệt"

Tác giả Nguyễn Thế Nhã (2001) cho rằng "Trang trại là một loại hình

tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm, thủy sản có mục đích chính là sản xuất hàng hóa, có tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộng đất với yếu

tố sản xuất tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường"

Như vậy trang trại là một thuật ngữ dùng để chỉ một tổ chức cụ thể của một hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, trong đó điều hành và quản lý hoạt động cũng như tư liệu sản xuất trong trang trại thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của các thành viên trong gia đình trang trại

2.1.1.2 Kinh tế trang trại

Theo Trần Trác (2000): “Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức

sản xuất hàng hoá nông, lâm, thủy, hải sản của một hộ gia đình theo cơ chế thị trường”

Nghị quyết 03/2000/NQ-CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ đã xác

định: “Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong

nông nghiệp, nông thôn chủ yếu dựa vào hộ gia đình nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng, gắn trồng trọt với chế biến nông, lâm, thủy, hải sản”

Từ những quan điểm trên, có thể rút ra một số đặc trưng của kinh tế trang trại như sau:

- Chuyên môn hoá, tập trung sản xuất hàng hoá dịch vụ theo nhu cầu của thị trường, có lợi nhuận cao

- Sản xuất hàng hoá luôn luôn gắn liền với thị trường

Trang 34

- Kinh tế trang trại có khả năng áp dụng tiến bộ KHKT và quy trình sản xuất mới vào sản xuất theo hướng CNH - HĐH tốt hơn kinh tế nông hộ

- Các trang trại sử dụng nguồn lao động vốn có của gia đình là chủ yếu, ngoài ra còn có lao động thuê thường xuyên và thuê thời vụ

- Các chủ trang trại trực tiếp điều hành tham gia sản xuất

2.1.1.3 Một số tiêu chí định lượng để xác định là trang trại

Các tiêu chí định lượng để xác định là trang trại được quy định tại Thông tư số 74/2003/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (sửa đổi, bổ sung Mục III của Thông tư Liên bộ số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK ngày 23/6/2000 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Tổng cục Thống kê), cụ thể như sau:

* Giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ bình quân 1 năm

- Đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung từ 40 triệu đồng trở lên

- Đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên từ 50 triệu đồng trở lên

* Quy mô sản xuất

- Đối với trang trại trồng cây hàng năm

+ Từ 2 ha trở lên đối các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung

+ Từ 3 ha trở lên đối các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên

- Đối với trang trại trồng cây lâu năm

+ Từ 3 ha trở lên đối các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung

+ Từ 5 ha trở lên đối các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên

+ Trang trại trồng cây hồ tiêu, diện tích đất không lớn nhưng chi phí cao nên quy định từ 0,5 ha trở lên, thống nhất trên phạm vi cả nước

Tiêu chí mới xác định là trang trại theo Thông tư số BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và PTNT

27/2011/TT-* Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất tổng hợp phải đạt: a) Có diện tích trên mức hạn điền, tối thiểu:

Trang 35

- 3,1 ha đối với vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long;

- 2,1 ha đối với các tỉnh còn lại

b) Giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm

* Đối với cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000 triệu đồng/năm trở lên;

* Đối với cơ sở sản xuất lâm nghiệp phải có diện tích tối thiểu 31 ha và giá trị sản lượng hàng hóa bình quân đạt 500 triệu đồng/năm trở lên

2.1.1.4 Phát triển kinh tế trang trại

“Phát triển KTTT là sự tăng lên về số lượng và chất lượng trang trại theo thời gian Phát triển KTTT nhằm khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực như đất đai, vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý góp phần phát triển nông nghiệp bền vững, tạo việc làm tăng thu nhập, khuyến khích làm giàu đi đôi với xoá đói giảm nghèo, phân bổ lại lao động, dân cư, xây dựng nông thôn mới” (Lê Trọng, 2000)

Như vậy, phát triển kinh tế trang trại là quá trình tăng trưởng kinh tế, tăng cường các nguồn lực, các yếu tố sản xuất của trang trại cả về số lượng và chất lượng, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đồng thời là quá trình giải quyết hài hòa các mối quan hệ kinh tế trong quá trình sản xuất kinh doanh

Phát triển kinh tế trang trại được thể hiện thông qua 2 khía cạnh:

- Phát triển theo chiều rộng: thể hiện ở quy mô sản xuất bao gồm đất đai, lao động, vốn, … được tăng lên không ngừng theo thời gian, số lượng các trang trại phát triển và địa bàn các trang trại ngày càng được mở rộng

- Phát triển theo chiều sâu: thể hiện thông qua các chỉ tiêu hiệu quả sản xuất trên các mặt về kinh tế, xã hội và môi trường, cơ cấu kinh tế của trang trại ngày càng được hoàn thiện Cụ thể phát triển kinh tế trang trại nghĩa là tăng giá trị gia tăng, sản phẩm của trang trại đáp ứng được nhu cầu thị trường

và mang lại lợi nhuận cho trang trại

Trang 36

2.1.1.5 Trang trại đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ

Từ các quan niệm về trang trại và kinh tế trang trại đã nêu ở trên, có thể rút ra khái niệm về trang trại của ĐB DTTSTC như sau:

“Trang trại đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ là hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp hàng hoá có giá trị gia tăng cao trong đó chủ trang trại là người đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ”

Việc xác định trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ có thể được thể hiện qua các tiêu thức cơ bản sau:

- Hoạt động chính của trang trại đồng bào DTTSTC là trong lĩnh vực nông lâm nghiệp

- Chủ trang trại là một trong các nhóm dân tộc thiểu số tại chỗ

- Mục đích hoạt động của trang trại đồng bào DTTSTC là tạo ra nông sản hàng hoá và dịch vụ đáp ứng nhu cầu của gia đình và yêu cầu của xã hội

- Phương thức tổ chức sản xuất của trang trại đồng bào DTTSTC là gắn trực tiếp sức lao động và tư liệu sản xuất với đất đai; gắn thu nhập của người lao động với kết quả sản xuất Tuỳ thuộc vào quy mô sản xuất của trang trại, ngoài việc sử dụng các yếu tố nguồn lực tự có, trang trại có thể thuê mướn thêm lao động, đất đai và các tư liệu sản xuất khác

2.1.1.6 Kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ

Từ khái niệm về KTTT và trang trại của đồng bào DTTSTC ở trên, có thể rút ra khái niệm KTTT của đồng bào DTTSTC như sau:

Kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ là tổng thể các yếu tố vật chất và các quan hệ kinh tế, xã hội và môi trường nảy sinh trong quá trình tổ chức sản xuất kinh doanh của trang trại đồng bào dân tộc thiểu

số tại chỗ nhằm đạt được giá trị sản lượng hàng hóa cao đáp ứng nhu cầu của gia đình và xã hội

Trang 37

Các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tồn tại và phát triển kinh tế trang trại của đồng bào DTTSTC bao gồm hai nhóm, đó là quan hệ giữa trang trại với môi trường bên ngoài và quan hệ giữa trang trại với môi trường bên trong

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Sơ đồ 2.1: Các quan hệ KTXH trong quá trình SXKD của trang trại

- Quan hệ giữa trang trại với môi trường bên ngoài bao gồm 2 cấp độ: môi trường vĩ mô (cơ chế, chính sách chung của nhà nước liên quan đến phát triển kinh tế trang trại) và môi trường vi mô (các đối tác, khách hàng, bạn hàng, đối thủ cạnh tranh, )

- Quan hệ giữa trang trại với môi trường bên trong trang trại rất đa dạng

và phức tạp bao gồm các quan hệ về đầu tư, phân bổ nguồn lực cho các bộ

Quan hệ bên ngoài:

- Thị trường vốn

- Thị trường lao động

- Thị trường tư liệu sản xuất

- Thị trường thông tin liên lạc

- Các cơ quan quản lý Nhà nước

- Chính quyền địa phương

- Dòng họ và cộng đồng

Quan hệ bên trong:

- Chủ trang trại và vai trò ra quyết định của chủ trang trại

- Quan hệ giữa vợ và chồng trong việc phân công ra quyết định

- Quan hệ giữa cha mẹ với con cái và ngược lại

- Quan hệ giữa chủ trang trại với người lao động

- Quan hệ giữa những người lao động

Các trang trại cần giải quyết các mối quan hệ trên nhằm tìm kiếm hiệu quả và hạn chế rủi ro bằng cách:

- Nâng cao năng lực quản lý, tổ chức sản xuất và tiếp cận thị trường của chủ trang

trại

- Liên kết giữa các trang trại với nhau, giữa trang trại và hộ;

- Liên kết giữa trang trại với các doanh nghiệp cung ứng các yếu tố đầu vào và tiêu thụ đầu ra

Các quan hệ kinh tế - xã hội phát sinh trong quá trình

hoạt động SXKD của trang trại

Trang 38

phận trong trang trại, quan hệ lợi ích trong việc phân bổ kết quả làm ra, Để tạo động lực cho việc phát triển thì các quan hệ lợi ích nảy sinh phải được giải quyết một cách thỏa đáng, đặc biệt là lợi ích của chủ trang trại (với tư cách là người sở hữu tư liệu sản xuất) và lợi ích của người lao động làm thuê Quan hệ lợi ích này được xem là quan trọng nhất

Về mặt xã hội, trang trại là một tổ chức cơ sở của xã hội, trong đó các mối quan hệ xã hội đan xen nhau bao gồm quan hệ giữa các thành viên của trang trại, quan hệ giữa chủ trang trại với lao động thuê ngoài, quan hệ giữa những lao động thuê ngoài với nhau trong trang trại,

Về mặt môi trường, trang trại là một khoảng không gian sinh thái với các quan hệ sinh thái đa dạng, có quan hệ chặt chẽ ảnh hưởng qua lại với hệ sinh thái của vùng

Ba mặt trên của trang trại có quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại lẫn nhau, trong đó mặt kinh tế là mặt cơ bản chứa đựng nội dung cốt lõi của trang trại Sự kết hợp hài hòa ba mặt này sẽ đảm bảo cho trang trại phát triển bền vững trên cả ba góc độ về kinh tế, xã hội và môi trường, khai thác và sử dụng

có hiệu quả các nguồn lực

2.1.2 Xu thế hình thành và phát triển KTTT của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ

* Xu thế hình thành

Theo Lê Hữu Ảnh, Nguyễn Công Tiệp (2000), cũng giống như trang trại nói chung, do tác động của cơ chế, chính sách, trang trại của đồng bào DTTSTC được hình thành chủ yếu là tự phát Các nghiên cứu cho thấy có một

số xu thế sau:

+ Hình thành thông qua thực hiện chính sách giao đất, giao rừng ổn định lâu dài cho các hộ gia đình DTTSTC Đây là xu thế hình thành khá phổ biến đối với trang trại đồng bào DTTSTC

Trang 39

+ Hình thành từ kinh tế hộ gia đình DTTSTC sản xuất hàng hoá Khởi điểm ban đầu là các hộ đồng bào DTTSTC đạt được kết quả và hiệu quả kinh doanh cao, từ đó họ có điều kiện để tích luỹ vốn đầu tư mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao tay nghề và tiếp cận thị trường, trở thành hộ sản xuất hàng hoá quy mô lớn và sau phát triển thành trang trại

+ Hình thành thông qua việc các hộ đồng bào DTTSTC đấu thầu, thuê đất với quy mô đất đai lớn để hình thành trang trại

* Xu thế phát triển

+ Tích tụ và tập trung sản xuất: các trang trại của đồng bào DTTS sau khi hình thành sẽ tập trung vào sản xuất trên cơ sở quy mô và các yếu tố sản xuất ban đầu để mở rộng thêm quy mô sản xuất đáp ứng các nhu cầu của thị trường hoặc sẽ đầu tư mở rộng theo cả chiều rộng và chiều sâu

+ Chuyên môn hóa sản xuất kinh doanh: Đây là yêu cầu tất yếu của sản xuất hàng hoá nhưng đối với các trang trại đồng bào dân tộc thiểu số, tính chuyên môn hóa chưa cao

+ Không ngừng đầu tư nâng cao trình độ KHKT và đầu tư thâm canh sản xuất nhằm giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm và tăng tính cạnh tranh

+ Xu thế hợp tác và cạnh tranh trong sản xuất của trang trại đồng bào DTTSTC được thể hiện thông qua huy động và sử dụng các yếu tố đầu vào vào quá trình SXKD, hợp tác trong đầu tư, liên kết nhằm hạn chế độc quyền của các công ty cung cấp dịch vụ đầu vào và đầu ra, hợp tác với doanh nghiệp chế biến trong việc cung ứng nguồn nguyên liệu

2.1.3 Vai trò của kinh tế trang trại của đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ

Vai trò của kinh tế trang trại của đồng bào DTTSTC thể hiện trên cả 3 phương diện là kinh tế, xã hội và môi trường

Trang 40

2.1.3.1 Về phương diện kinh tế

- Kinh tế trang trại đồng bào DTTSTC chủ yếu lấy việc khai thác tiềm năng và lợi thế so sánh phục vụ nhu cầu xã hội làm mục tiêu sản xuất Vì vậy,

nó huy động, khai thác đất đai, lao động và các nguồn lực khác một cách đầy

đủ, hợp lý và hiệu quả

- Góp phần quan trọng đối với chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi

và cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, chú trọng phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị hàng hoá kinh tế cao ở vùng dân tộc và miền núi

- Khắc phục dần tình trạng sản xuất quy mô nhỏ, manh mún, phân tán trong sản xuất nông nghiệp của đồng bào DTTSTC, tạo nên những vùng sản xuất nông nghiệp chuyên môn hoá cao, với trình độ canh tác tập trung thâm canh cao

- Thúc đẩy công nghiệp phát triển, đặc biệt là công nghiệp chế biến và dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp ở khu vực miền núi Thực tiễn cho thấy

ở những nơi có điều kiện phát triển kinh tế, phát triển trang trại nói chung và trang trại của đồng bào DTTSTC nói riêng, ở đó khai thác, sử dụng một cách

có hiệu quả, hợp lý các yếu tố nguồn lực trong phát triển nông nghiệp nông thôn

Như vậy, phát triển kinh tế trang trại của đồng bào DTTSTC sẽ góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu, tăng trưởng và phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn, tác động đến sự phân công và sử dụng lao động trong vùng đồng bào DTTSTC ngày càng hiệu quả hơn, khai thác và sử dụng các nguồn lực hiệu quả và hợp lý hơn, huy động được các thành phần kinh tế, thu hút đầu tư và phát triển ngành công nghiệp, dịch vụ tham gia vào việc phát triển sản xuất nông nghiệp vùng đồng bào DTTS

2.1.3.2 Về phương diện xã hội

- Phát triển kinh tế trang trại của đồng bào DTTSTC làm cho một bộ phận hộ gia đình DTTSTC giàu lên, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động nói chung và người lao động là đồng bào DTTS nói riêng, góp phần

Ngày đăng: 24/02/2021, 21:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w