1.Khái quát dự án:1.1 Tên dự án: DỰ ÁN KHAI THÁC VÀNG KHU HỐ GẦN, MỎ BỒNG MIÊU (Gọi tắt là DỰ ÁN HỐ GẦN) 1.2 Chủ dự án: Công ty Khai thác Vàng Bồng Miêu1.3 Thời gian khai thác: Cty TNHH Khai thác vàng Bồng Miêu là Cty liên doanh, được thành lập theo giấy phép đầu tư do Ủy ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư (nay là Bộ Kế hoạch Đầu tư) cấp tháng 31991, để thực hiện Dự án khai thác mỏ vàng Bồng Miêu với thời hạn 25 năm. Thực hiện Luật đầu tư 2005, UBND tỉnh Quảng Nam đã cấp Giấy chứng nhận đầu tư vào tháng 62008 cho Cty, thời hạn hoạt động 25 năm, đến hết ngày 432016.
Trang 1(khai thác lộ thiên và tuyển quặng)
Giảng viên: TRẦN MAI HƯƠNG Lớp: ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG CỦA
Trang 2PHÂN CHIA CÔNG VIỆC (đánh giá làm việc nhóm)
STT Thành Viên Nội dung Đóng
góp Đánh giá về nội dung và thái độlàm việc nhóm Điểm
1 Lê Thị Thu
Hường Bảng hỏi, Tham vấn cộng đổng,
tổng hợp Word, làm slides
Tích cực, chủ động, họp nhóm đầy đủ.
Phân chia công việc hợp lý.
Hoàn thành tốt nhiệm vụ được phân công.
10
2 Phạm Thị Huệ Tác động trong
giai đoạn khai thác
mỏ, thuyết trình
Tích cực, chủ động, họp nhóm đầy đủ.
Tự nhận thuyết trình.
Hoàn thành tốt công việc.
10
3 Võ Hải Yến Khái quát chung
về dự án, thuyết trình
Tích cực, chủ động, họp nhóm đầy đủ.
Tự nhận thuyết trình.
Hoàn thành tốt công việc.
10
4 Phạm Thị Ngọc Tác động trong
giai đoạn xây dựng mỏ
Tích cực, chủ động, họp nhóm đầy đủ, đóng góp tích cực.
Hoàn thành tốt công việc.
9
5 Luân Thị Thái Tác động trong
giai đoạn đóng cửa mỏ
Tích cực, chủ động, họp nhóm đầy đủ.
Hoàn thành tốt công việc. 8.5
6 Ngô Thị Hiền Tác động trong
giai đoạn đóng cửa mỏ
Tích cực, chủ động, họp nhóm đầy đủ.
Hoàn thành tốt công việc. 8.5
MỤC LỤC
I TỔNG QUAN DỰ ÁN: 5
1 Khái quát dự án: 5
2 Điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội khu vực mỏ khai thác 8
II ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG CỦA DỰ ÁN 33
1 GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ DỰ ÁN (GIAI ĐOẠN XÂY DỰNG MỎ) 33
1.1 Tác động đến khối lượng và chất lượng nước mặt 33
1.2 Tác động đến chất lượng không khí 33
1.3 Tác động của tiếng ồn 34
Trang 31.5 Tác động đến nơi cư trú của động thực vật và đa dạng sinh học 35
2 GIAI ĐOẠN HOẠT ĐỘNG: KHAI THÁC VÀ CHẾ BIẾN: 40
2.1 Mặt bằng xây dựng mỏ 40
2.2 Công nghệ khai thác và tuyển khoáng 40
2.3 Quản lý nước từ mỏ 42
2.4 Đá thải 43
2.5 Phương pháp tuyển khoáng 43
3 GIAI ĐOẠN SAU KHI ĐÓNG CỬA MỎ 55
3.1 Tác động đến môi trường nước 55
3.2 Tác động đến chất lượng đất 57
3.3 Tác động môi trường cảnh quan 58
3.4 Phục hồi môi trường sau khai thác 58
3.5 Khống chế tác động kinh tế - xã hội sau khi đóng cửa mỏ 60
III THAM VẤN CỘNG ĐỒNG 61
1 Một số thông tin khảo sát của Dự án 61
2. Nhận xét: 65
BẢNG VÀ SƠ ĐỒ
Trang 4I TỔNG QUAN DỰ ÁN:
1 Khái quát dự án:
I.1 Tên dự án: DỰ ÁN KHAI THÁC VÀNG KHU HỐ GẦN, MỎBỒNG MIÊU (Gọi tắt là DỰ ÁN HỐ GẦN)
I.2 Chủ dự án: Công ty Khai thác Vàng Bồng Miêu
I.3 Thời gian khai thác: Cty TNHH Khai thác vàng Bồng Miêu làCty liên doanh, được thành lập theo giấy phép đầu tư do Ủy banNhà nước về Hợp tác và Đầu tư (nay là Bộ Kế hoạch- Đầu tư)cấp tháng 3-1991, để thực hiện Dự án khai thác mỏ vàng BồngMiêu với thời hạn 25 năm Thực hiện Luật đầu tư 2005, UBNDtỉnh Quảng Nam đã cấp Giấy chứng nhận đầu tư vào tháng 6-
Trang 52008 cho Cty, thời hạn hoạt động 25 năm, đến hết ngày 2016.
4-3-I.4 Tổng số vốn đầu tư xây dựng cơ bản
Trong đó:
Vốn mua sắm thiết bị: 2.888.000 Đô la Mỹ
Tổng vốn đầu tư 4.850.000 Đô la Mỹ.
[Nguồn: Báo cáo đánh giá tác động môi trường Dự án khai thác vàng khu
Diện tích được cấp phép khai thác: Dự án vàng Bồng Miêuđược cấp Giấy phép Đầu tư 140/GP ngày 05/3/1991 có diện tích30km2
I.7 Trữ lượng mỏ: Trữ lượng có thể khai thác của khu Hố Gần dựkiến khoảng – 858.000 tấn quặng với hàm lượng 2.42g/t vàng.Tổng trữ lượng vàng có thể khai thác ước khoảng 53.800 auxơ
Trang 6hoặc 1,67 tấn vàng (theo Báo cáo Nghiên cứu tiền khả thi mỏ
Hố Gần, 2004)
Theo công suất thiết kế, sản lượng khai thác của nhà máykhoảng từ 100.000 đến 180.000 tấn quặng/năm Sản phẩmthương mại của mỏ là vàng và bạc
I.8 Cơ sở pháp lý để làm ĐTM:
CÁC VĂN BẢN PHÁP QUY [Nguồn: Báo cáo tác động môitrường dự án khai thác Vàng khu Hố Gần, mỏ Bồng Miêu] Báo cáo được thành lập trên cơ sở các văn bản pháp quy chínhsau đây:
Việt Nam thông qua ngày 27/12/1993 và Chủ tịch nước ký sắclệnh công bố ngày 10/1/1994
- Nghị định số 175/CP của Chính phủ ngày 18/10/1994hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường
Công nghệ và Môi trường số BKHCNMT, ngày 22/10/1999 hướng dẫn việc ký quỹ để phụchồi môi trường trong khai thác khoáng sản
của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường v/v: Hướng dẫn lập
và thẩm định báo cáo ĐTM đối với các dự án đầu tư
[Nguồn: Báo cáo đánh giá tác động môi trường Dự án khai thác vàng khu
Hố Gần, mỏ Bồng Miêu]
I.9 Mục tiêu của dự án:
Trang 7Dự án đầu tư mỏ Bồng Miêu là dự án khai thác vàng quy mô công nghiệp và hiện đại đầu tiên ở Việt Nam kể từ khi Luật Đầu
tư nước ngoài ở Việt Nam ra đời năm 1987 Dự án khai thác khu Hố Gần là bước đầu của toàn bộ dự án khai thác khu mỏ Bồng Miêu Dự án có những mục tiêu sau:
- Khai thác, tận dụng tài nguyên khoáng sản, góp phần xây dựng khu/ngành công nghiệp khai thác chế bến vàng hiện đại ở khu vực Miền trung và ở Việt Nam;
- Tăng thu ngân sách cho Nhà nước từ các loại thuế thu nhập cá nhân, thu nhập doanh nghiệp và thuế tài nguyên.
- Tạo công ăn việc làm trực tiếp cho lao động phổ thông và có tay nghề tại chỗ của địa phương và gián tiếp thông qua các hợp đồng dịch vụ Đa dạng hóa các ngành kinh tế trong khu vực dự án, v.v…
- Hạn chế và giảm thiểu các hoạt động khai thác vàng trái phép trong khu vực Điều này chắc chắn sẽ giúp ngăn chặn được tình trạng phá hoại môi trường như hiện nay, và Nhà nước sẽ thu được thuế từ dự án khai thác vàng ở Hố Gần và các khu khác trong khu
mỏ Bồng Miêu theo quy định của pháp luật.
- Sự thành công của dự án sẽ có tác động rất lớn đến thái độ của các
nhà đầu tư nước ngoài đối với Việt Nam, đồng thời cũng làm cho các nhà đầu tư nước ngoài có sự tin cậy an tâm về một môi trường đầu tư an toàn, làm tăng khả năng thu hút vốn đầu tư vào địa phương nói riêng và cả nước nói chung…
[Nguồn: Báo cáo đánh giá tác động môi trường Dự án khai thác vàng khu
Hố Gần, mỏ Bồng Miêu]
Trang 82 Điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội khu vực mỏ khai thác
2.1Điều kiện tự nhiên:
2.1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên
Dự án vàng Bồng Miêu được cấp Giấy phép Đầu tư 140/GP ngày05/3/1991 có diện tích 30km2 và Giấy phép khai thác số582/CNNg-KTM ngày 22/7/1992 có diện tích 358ha Khu Hố Gần
mỏ vàng Bồng Miêu là một quả đồi thấp, kéo dài theo phương TâyBắc-Đông Nam có diện tích 42ha
đến 108o27’34” kinh đông và 15o22’49” đến 15o22’20” vĩ bắc.Khu Hố Gần nằm trọn trong địa phận xã Tam Lãnh, cách thị xãTam Kỳ, tỉnh Quảng Nam 15km Thị xã Tam Kỳ nằm trên Quốc lộ
1, cách thành phố Đà Nẵng 70km về phía Nam
Để đến được khu vực dự án Bồng Miêu, từ Đà Nẵng đi theo Quốc
lộ 1 về phía nam 70km đến Tam Kỳ, tiếp đó rẽ phải đi theo tỉnh lộ
về phía Tiên Phước Trên đoạn đường từ Tam Kỳ đến Tiên Phước
có hai con đường rẽ trái dẫn đến Bồng Miêu Đường rẽ thứ nhất tạiTam Dân cách Tam Kỳ 14km dài 20km Đường rẽ thứ hai tại xãTiên Thọ (Cây Cốc) cách Tam Kỳ 20km, dài 14km Cả hai conđường đều đang được nâng cấp rải nhựa và đá dăm
2.1.2 Đặc điểm địa hình địa mạo khu dự án
Dự án Bồng Miêu nằm ở rìa đông của dãy Trường Sơn thuộc khuvực Trung Trung Bộ, cách bờ biển Đông khoảng 20km
Trang 9Khu vực mỏ Bồng Miêu có địa hình khá phức tạp, gồm các dãynúi có rừng, kéo dài chủ yếu theo phương Đông-Tây Đỉnh NúiKẽm cao nhất có độ cao 493m, chạy theo phương gần Đông-Tây,sườn Bắc dốc, sườn Nam thoải.Các dãy núi khác có độ cao từ200m đến 400m bị phân cắt tạo thành các đỉnh riêng biệt Thunglũng sông Bông Miêu là thung lũng rộng nhất trong vùng, chạy dàitheo phương chủ yếu Đông-Tây Hệ thống thung lũng phương BắcNam thường ngắn, hẹp và dốc.
2.1.3 Đặc điểm thủy văn
Sông Vàng là con sông chính nằm trong khu vực dự án, có hướngdòng chảy chủ yếu về phía Tây Bắc Sông Vàng dài hơn chụckilomet, có đồng bằng ven sông rộng trung bình 1500m (khu vực
hạ lưu) và hẹp dần về phía thượng lưu, chỉ còn 375m (gần khu vựcvăn phòng Bồng Miêu) Trong thời gian mực nước sông thấp thìđoạn sông nằm trong khu vực Giấy phép Đầu tư có độ rộng thayđổi từ 20-30m (từ khu Núi Kẽm đến khu Hố Gần)
Sông Vàng chảy theo hướng Tây rồi đổ về Sông Tiên ở xã TiênLập Sông Tiên nhập vào sông Thu Bồn ở Tân An và sông ThuBồn chảy theo hướng bắc sau đó tiếp tục chảy theo hướng đông đổvào cửa biển Hội An
Lưu vực sông Vàng và các sông kế tiếp ở hạ lưu (sông QuếPhương và sông Tiên) có tổng diện tích là 101km2, trong đó lưuvực thượng nguồn ở Bồng Miêu là 35km2 Các suối đầu nguồnsông Vàng ở phía đông nam so với mực nước biển là 590m hoặc658m Chiều dài sông Vàng chảy qua các khu vực mỏ Bông Miêu
là 7km
Trang 102.1.4 Đặc điểm khí hậu, khí tượng thủy văn
Công ty đã xây dựng một trạm quan trắc khí tượng tại văn phòng
mỏ, ở Bồng Miêu Công tác đo lượng mưa hàng ngày đã được thựchiện liên tục từ 1/8/1993 - 30/6/1995 và được tiếp tục đo lại từtháng 4 - tháng 5 năm 2004
Các số liệu về lượng mưa, nhiệt độ và độ bốc hơi sử dụng trongbáo cáo này được trích từ số liệu của Trạm quan trắc khí tượngNhà nước đặt tại Tam Kỳ (Trạm quan trắc khí tượng thủy văn TamKỳ), Tiên Phước và số liệu thu thập tại các trạm quan trắc tại khu
mỏ Bồng Miêu
Số liệu thu thập được ở Bồng Miêu được sử dụng đến mức tối đa Hiện tại, Công ty đang tiến hành thu thập các số liệu đầy đủ về khítượng thủy văn cho khu vực Bồng Miêu
2.1.4.1 Nhiệt độ
Số liệu về nhiệt độ của hai trạm quan trắc khí tượng thủy văn Tam
Kỳ và Trà My trong các thời kỳ 1979-2001 và 1999-2001, đượctrình bày trong bảng 3.1 và Hình 3.2
Bảng 3.1 Nhiệt độ không khí tại Tam Kỳ và Trà My
Trang 11Hình 3.2: Nhiệt độ không khí tại Tam Kỳ và Trà My
[Nguồn: Báo cáo đánh giá tác động môi trường Dự án khai thác vàng khu
Hố Gần, mỏ Bồng Miêu]
Nhiệt độ không khí cao nhất trong năm là vào các tháng 6 và 7,thấp nhất là từ tháng 12 đến hết tháng 2 Vào mùa lạnh, nhiệt độ
biên độ giao động nhiệt độ theo các mùa củng rộng hơn do đó,
sự thay đổi nhiệt độ không khí ở Bồng Miêu có thể lớn hơn sovới ở Tam Kỳ Vào mùa đông (tháng 1), nhiệt độ trung bình ở
Nhiệt độ trung bình tháng
Trà My và Tam Kỳ
Trang 12miền núi các tháng nóng nhất là từ tháng 5 đến tháng 8, nhiệt độ
trung bình từ 26,5 đến 27OC Nhiệt độ tại các thung lũng như
Bồng Miêu có thể lên đến 39-40OC
2.1.4.2 Lượng mưa, độ ẩm
Lượng mưa trung bình năm
Theo số liệu ghi nhận về lượng mưa của trạm quan trắc tại văn
phòng Bồng Miêu trong hơn hai năm (từ 08/1993-07/1995) cho
thấy lượng mưa trung bình hàng năm là 4.086mm, tối thiểu là
2935 mm và tối đa là 5265mm (bảng 3.2) Hình 3.3 trình bày
lượng mưa trung bình tháng và cho thấy mùa mưa bắt đầu vào
đầu tháng 10 và kết thúc vào cuối tháng 12
Bảng 3.2 Lượng mưa trung bình hàng tháng tại Bồng Miêu – số liệu từ năm
1993 đến 1995 (lượng mưa được tính theo mm)
Năm T.1 T.2 T.3 T.4 T.5 T.6 T.7 T.8 T.9 T.10 T.11 T.12 Tổng 93-94 69 99 297 0 135.9 251.7 28 192.3 159 1704.1 1171 1158.
2 5265.294-95 45 0 65 3 131.5 116 175 168 388 947 480.5 563 2935.0
TB 57.0 49.5 181.0 1.5 5 183.9 101.5 180.2 273.5 1325.6 825.8 860.6 4173.6
[Nguồn: Báo cáo đánh giá tác động môi trường Dự án khai thác vàng khu
Hố Gần, mỏ Bồng Miêu]
Trang 13Hình 3.3: Lượng mưa trung bình tại Bồng Miêu, Tam Kỳ và Trà My
[Nguồn: Báo cáo đánh giá tác động môi trường Dự án khai thác vàng khu
Hố Gần, mỏ Bồng Miêu]
Công ty đã phải dùng số liệu lượng mưa 23 năm (1977-2000)của trạm Khí tượng thủy văn Tiên Phước để tính toán cân bằngnước cho thiết kế đập chứa thải
Sự phân bố lượng mưa
Lượng mưa lớn nhất trong năm xuất hiện vào tháng 10 Lượngmưa trung bình của tháng 10 là 1325,6mm (số liệu trong 2năm) Từ tháng 1 đến tháng 8 là những tháng khô với lượngmưa trong tháng ít hơn 180mm Từ tháng 1 đến tháng 4 lànhững tháng rất khô, trong một vài năm lại đây không có mưavào những tháng này Lượng mưa vào mùa mưa chiếm khoảng80% tổng lượng mưa của cả năm (từ tháng 9 đến tháng 12).Lượng mưa cao nhất đo được vào các tháng 10, 11 và 12 năm
1993 lần lượt là 1704.1, 1171.0 và 1158.2mm với lượng mưacao nhất trong 24 giờ là 390mm (và 72 giờ là 617mm) Vàotháng 10 năm 1994, lượng mưa cao nhất đo được trong 24 giờ là518mm (và 72 giờ là 635mm)
Độ ẩm tương đối
Toàn khu vực này có độ ẩm tương đối cao, khá ổn định quanhnăm, trung bình từ 83% vào tháng 4 đến 93% vào tháng 11 vàtháng 12 Độ ẩm tương đối lớn nhất vào những tháng mùa đông
do ảnh hưởng của gió mùa đông bắc và mưa lớn Độ ẩm đạt tối
Trang 14thiểu vào những tháng mùa hè do lúc này có gió tây nam nóng
và khô Theo báo cáo, độ ẩm tại Bồng Miêu có thể giảm xuốngmức 55% vào những tháng khô nhất Độ ẩm tại Bồng Miêu cóthể giống với Tam Kỳ mặc dù mức cực đại có thể cao hơn (Hình3.4)
Hình 3.4 Độ ẩm tương đối trung bình tháng tại Tam Kỳ và Trà My
[Nguồn: Báo cáo đánh giá tác động môi trường Dự án khai thác
vàng khu Hố Gần, mỏ Bồng Miêu]
Độ bốc hơi
Tỉ lệ bốc hơi nước có vai trò quan trọng trong việc thiết kế xử lýnước thải cho mỏ vàng Bồng Miêu Độ bốc hơi thường lớn hơnvào những lúc có gió mùa tây nam khô và nóng Theo số liệuquan trắc của trạm khí tượng Trà My và Tam Kỳ từ 1999-2003,
độ bay hơi nước mặt trung bình năm lần lượt là 664 mm và1080mm Giá trị tổng bay hơi hàng tháng là khoảng 26 mm vàotháng 12 đến 145 mm vào tháng 4 (xem hình 3.5) Số liệu quantrắc độ bốc hơi của trạm khí tượng Tam Kỳ được sử dụng để lập
mô hình nước xả cho lưu vực Hố Gần và đập chứa thải
Trang 15Hình 3.5: Biến trình bốc hơi trung bình tháng tại Tam Kỳ và Trà My.
[Nguồn: Báo cáo đánh giá tác động môi trường Dự án khai thác vàng khu
Gió lào (mùa Hạ)
Vào giữa mùa hè (tháng 5 và tháng 6) gió Lào thổi qua dãyTrường Sơn mang theo những đợt gió mùa đông bắc nóng, khô
ở vùng đồng bằng duyên hải Những cơn gió khô này có thể sẽgây thiệt hại cho mùa màng
Gió mùa mùa hạ:
Trang 16Gió mùa đông nam hoạt động từ tháng 4 đến tháng 8 hàng năm,mang theo độ ẩm lớn và mưa rào tại khu vực Bồng Miêu Đợtgió mùa này cung cấp một lượng nước đáng kể cho các khu vựcCao nguyên Trung bộ và dãy Trường Sơn.
Tín phong nhiệt đới hoạt động trong suốt mùa hạ, đặc biệt từtháng 7 đến tháng 9, thường đem lại mưa rào, mưa dông;
Bão: Bão thường đổ bộ vào khu vực Quảng Nam vào các tháng
9, 10 và 11, gây ra mưa lớn và gió mạnh, tốc độ trung bình là18m/s, lớn nhất tới 40m/s
Các khu vực đồi núi thấp nằm gần dãy Trường Sơn phân cắtmạnh là những nơi thường xảy ra bão lụt Khi xảy ra bão, lưulượng nước của các con sông trong khu vực Cao nguyên Trung
bộ kể cả sông Vàng có thể tăng từ 10 đến 20 lần trong một ngày.Theo số liệu ghi nhận được trong 100 năm qua có 493 cơn bão
và lốc ảnh hưởng đến Việt Nam, trung bình mỗi năm xuất hiện4,7 cơn bão
Bão thường xảy ra từ tháng 6 đến tháng 11, tuy nhiên đôi khicũng có thể xảy ra vào các tháng 5 và tháng 12 Các số liệu vềbão ghi nhận được từ năm 1960 đến 1990 là:
Trang 17[Nguồn: Báo cáo đánh giá tác động môi trường Dự án khai thác vàng khu
Hố Gần, mỏ Bồng Miêu]
Đà Nẵng và Huế đều nằm ở vành đai của bão nên thường xuyênchịu ảnh hưởng của bão Con số thiệt hại đã được Bộ Tàinguyên và Môi trường thống kê và trình bày tại Hội nghịESCAP/UNDRO lần thứ nhất về chuyên đề Thập niên phòngchống thiên tai Quốc tế tổ chức tại Bangkok năm 1991
Cơn bão Cecil (cơn bão số 2) xuất hiện tại Đà Nẵng ngày 25tháng 5 năm 1989 gây mưa to ở các tỉnh từ Quảng Nam – ĐàNẵng đến Nghệ Tĩnh, làm 151 người chết, 106 người bị thương,gần 400 người mất tích và 336.344 người mất nhà ở Cơn bãonày còn làm sập 111.000 ngôi nhà, 150 trường học, 21.164 halúa bị mất trắng, 81.067 ha lúa bị ngập úng và gây hư hại cho85.991 ha hoa màu, 12.200 tấn lương thực bị hư hỏng và 7.500tấn lương thực bị lũ cuốn trôi Trên 4.000 tấn phân bón bị trôi rasông, 200 tàu thuyền bị chìm, 161 chiếc mất tích và 200 chiếc bị
hư hỏng nặng Trên 1 triệu mét khối đất đã được sử dụng để đắpđất gia cố cho hệ thống thủy lợi và đường giao thông bị hư hại.Khu vực Bồng Miêu có khả năng xảy ra mưa lớn bất thườngtrong một khoảng thời gian ngắn Đây là nguyên nhân gây nênxói lở đường sá và gây khó khăn trong việc xử lý nước đối với
mỏ khai thác lộ thiên
2.2 Đặc điểm kinh tế xã hội
2.2.1 Dân số
Trang 18Khu Hố Gần, mỏ Bông Miêu thuộc xã Tam Lãnh, huyện Phú
Ninh, Tỉnh Quảng Nam Theo số liệu điều tra dân số mới nhất
vào ngày 12 tháng 12 năm 2003, xã Tam Lãnh có 11 thôn và
6.440 nhân khẩu Các thôn này đều được đánh theo số để thuận
tiện cho mục đích quản lý hành chính Số và tên của mỗi thôn
cùng với số hộ gia đình sinh sống trong mỗi thôn được trình bày
trong bảng 3.3 và vị trí các thôn được trình bày trong hình 2.1
Bảng 3.3 Dân số của xã Tam Lãnh (tháng 12 năm 2003)
Dân số mỗi thôn(người)
Trang 19[Nguồn: Báo cáo đánh giá tác động môi trường Dự án khai thác vàng khu
Hố Gần, mỏ Bồng Miêu]
Qua khảo sát 100 hộ gia đình cho thấy khoảng 20% số hộ (20hộ) có ít nhất một thành viên trong gia đình đã từng hoặc đanglàm việc cho các công ty khai thác vàng Độ tuổi dân số của xã
Tam Lãnh được tóm tắt trong bảng 3.4 Toàn xã có 3084 người
Trang 20hết người dân Bồng Miêu đều sống bằng nghề khai thác vànghoặc cung cấp dịch vụ cho dân khai thác Dân làm vàng từ cácnơi khác cũng đã đổ về Bồng Miêu để khai thác vàng Vào thờigian này, Xí nghiệp KTV Bồng Miêu của tỉnh Quảng Nam – ĐàNẵng đã tiến hành khai thác vàng sa khoáng tại thung lũng sôngVàng và đã tuyển dụng hàng trăm lao động địa phương Từ năm
1989 Xí nghiệp chuyển sang khai thác vàng gốc trong các lòkhai thác của Pháp trước đây
Từ 1991, Công ty KTV Bồng Miêu chỉ giữ lại 10 công nhân của
Xí nghiệp cũ làm việc cho Công ty Lao động địa phương đượctuyển dụng làm việc theo thời vụ như đào giếng, hào, chènchống lò và lấy mẫu tại các hầm lò Núi Kẽm Tình trạng thấtnghiệp trong vùng gia tăng trong những năm gần đây
Trong chương trình phát triển kinh tế, tỉnh Quảng Nam đặc biệtquan tâm tới việc khai thác các nguồn tài nguyên khoáng sản,trong đó có vàng Ngành khai khoáng có thể thúc đẩy sự pháttriển của nền kinh tế khu vực và các địa phương gần mỏ nhờvào các khoản thuế, tạo công ăn việc làm và phát triển cácngành công nghiệp liên quan như xây dựng, chế tạo và dịch vụcho các công ty khai thác mỏ
2.2.3 Lao động
Cơ cấu nghề nghiệp của người dân Bồng Miêu rất phức tạp.Mặc dù 85% dân số là nông dân, nhưng thực tế chỉ có 32% sốngbằng nghề nông Hầu hết các gia đình sống bằng nhiều nghềkhác nhau, một số làm nông theo thời vụ và có liên quan đến
Trang 21nông nghiệp và một số khác làm kinh doanh hoặc khai thác lâmsản và vàng tại địa phương
76% tổng thu nhập địa phương có được từ việc khai thác lâmsản và vàng trong khu vực Lao động phổ thông chiếm 11% dân
số Giáo viên, người buôn bán nhỏ và người nấu rượu chiếm 4%
và thợ may, thợ kim hoàn, thợ mộc và cưa xẻ gỗ chiếm 1%.Hiện tại, mỗi năm địa phương canh tác hai vụ lúa nước, tuynhiên năng suất thấp Ngoài ra địa phương còn trồng thêm cácloại cây hoa màu như sắn, chuối, khoai, ngô trong vườn hoặc ởsườn đồi (đốt nương làm rẫy)
Phần lớn các gia đình được phỏng vấn sống bằng nghề lâmnghiệp từ việc đốn củi, phát quang để khai thác cho đến chặtcây, bóc vỏ cây đem bán
Theo kết quả khảo sát năm 1996, có 87% hộ gia đình đượcphỏng vấn tham gia khai thác khoáng sản Họ đào đãi vàng sakhoáng dưới lòng sông hoặc lấy quặng từ khu Hố Gần, Sa Rô,Núi Kẽm để nghiền đãi lấy vàng Người lớn thì đi khai thácquặng, trẻ em và phụ nữ thì đãi vàng Tuy nhiên, hiện nay số hộtham gia vào hoạt động này giảm xuống 10%
Thu nhập bình quân đầu người là 360.000 đồng/tháng, tuy nhiêncòn có nhiều hộ gia đình có thu nhập thấp hơn rất nhiều Số hộkhá giả trong xã chiếm 35% và số hộ đủ ăn là 65% Dân khaithác vàng sa khoáng kiếm được từ 10.000 đến 20.000 đồng mỗingày và dân khai thác quặng là từ 20.000 đến 30.000 đồng mỗingày Một số người khai thác cho chính họ, và số khác làm thuê
Trang 22những người có máy xay quặng và tiền công mỗi tháng là từ500.000 - 700.000 đồng/tháng Những người bẫy chim có thểbẫy được từ 3 đến 4 con mỗi ngày và bán với giá từ 15.000 đến20.000 đồng/con Một số loại chim quý hiếm có thể bán với giálên đến 150.000 đồng/con.
2.2.4 Tác động của địa phương đối với môi trường
Theo số liệu của Uỷ Ban nhân dân xã Tam lãnh (năm 2004),diện tích đất sử dụng cho các mục đích khác nhau của xã TamLãnh được trình bày trong bảng 3.5 như sau:
Bảng 3.5: Hiện trạng sử dụng đất ở xã Tam Lãnh
Đất nông nghiệp (đất trồng cây hàng
Trang 23hộ tham gia vào các hoạt động này được trình bày trong bảng3.6.
Bảng 3.6: Các tác động do người dân địa phương đối với môi trường
[Nguồn: Báo cáo đánh giá tác động môi trường Dự án khai thác vàng khu
Hố Gần, mỏ Bồng Miêu]
Số hộ gia đình hiện nay tham gia khai thác vàng chưa xác định
rõ, tuy nhiên con số này có lẽ chỉ chiếm dưới 10% số hộ giađình trong xã
Dự án Bồng Miêu nằm trong diện tích rừng của địa phươngđược bảo vệ nghiêm ngặt và nghiêm cấm người dân săn bắt haykhai thác tài nguyên rừng tại khu vực này Tuy nhiên, trên thực
tế các hoạt động khai thác trái phép của người dân vẫn diễn ra.2.2.5 Xã hội
2.2.5.1 Giáo dục
Xã Tam Lãnh có một trường mẫu giáo cho 145 cháu, một trường cấp I(lớp 1-5), các lớp học được bố trí tại từng thôn, và một trường cấp II(lớp 6 - 9) tại thôn 5
Trang 24Toàn xã có 35 phòng học và 100% trẻ em trong xã đều đến trường.Sau khi học hết cấp II, học sinh đi về Tam Kỳ để tiếp tục học cấp III.Tất cả các trường học trên địa bàn xã còn thiếu trang thiết bị dạy học,dụng cụ thể dục thể thao cho học sinh.
Nhiều học sinh trong xã nghỉ học sau khi hoàn thành chương trình họcphổ thông cơ sở Năm học 1994-1995, toàn xã có 54 em tốt nghiệpphổ thông cơ sở tuy nhiên chỉ có 25 em dự thi phổ thông trung học vàchỉ có 10 em đỗ trường công lập, còn các em khác phải học bán công.Toàn xã có 3 em thi đỗ vào các trường Cao đẳng Đà Nẵng Rất hiếm
có học sinh khu vực này tiếp tục theo học Cao đẳng hoặc Đại học.Hiệu trưởng trường cấp I-II xã Tam Lãnh cho biết nhận thức của cácbậc phụ huynh về việc học của con em họ đã được nâng cao, họ nhậnthức được rằng chỉ có đi học mới có thể làm thay đổi cuộc đời con em
họ hoặc có thể giúp con em họ kiếm được việc làm
Qua điều tra của Công ty Khai thác Vàng Bồng Miêu trên 100 hộ giađình, trình độ dân trí được trình bày trong bảng 3.7
Bảng 3.7: Trình độ dân trí của xã Tam Lãnh
Trang 25[Nguồn: Báo cáo đánh giá tác động môi trường Dự án khai thác vàng khu
Hố Gần, mỏ Bồng Miêu]
2.2.5.2 Sức khỏe
Tình hình sức khỏe của cộng đồng dân cư trong xã Tam Lãnh ở mứctrung bình Không thấy có dấu hiệu của các loại bệnh như: bụi phổi,ngộ độc kim loại nặng Phổ biến nhất tại các vùng núi là bệnh sốt rét,song đây không phải là căn bệnh nguy hiểm
Toàn xã Tam Lãnh có một trạm y tế tại Thôn 5 với 5 y tá, 10 giườngbệnh và 1 dược sĩ Tuy nhiên, khả năng khám chữa bệnh của trạm rấthạn chế Do đường đến Trung tâm y tế hay bệnh viện ở Tam Kỳ xa,nên nhiều người dân địa phương vẫn chọn phương pháp chữa bệnhđông y cổ truyền và tự chữa
2.2.5.3 Việc làm
Không có số liệu cụ thể về việc làm Như được đề cập ở phần trên,hiện nhiều người dân địa phương vẫn còn canh tác ở mức tự cung tựcấp, và họ tham gia thêm các hoạt động săn bắn, đánh bắt cá và khaithác khoáng sản để kiếm thêm thu nhập Trước đây, Xí nghiệp khaithác vàng Bồng Miêu tuyển dụng nhiều lao động địa phương, và nhiềungười khác thì khai thác cho chính họ
Những năm gần đây, hoạt động khai thác khoáng sản trái phép tạiBồng Miêu phần lớn đã được ngăn chặn Dân làm vàng chuyên nghiệp
đã chuyển đi nơi khác hoặc đi làm ăn xa và thỉnh thoảng mới về quê.Một số người khai thác vàng trái phép vẫn còn hoạt động trong khuvực giấy phép đầu tư của Công ty Trong vùng hầu như không cóngành nghề nào có thể giúp cho người dân làm ra tiền 93% số hộ
Trang 26được điều tra cho biết thu nhập của họ đã bị giảm xuống do bị cấmkhai thác khoáng sản và tài nguyên rừng 68% số hộ cho rằng họ vẫnphải tiếp tục, ở chừng mực nào đó, khai thác trái phép khoáng sản vàtài nguyên rừng.
Người Kinh
Người Hoa (chủ yếu ở thôn 9)
Người Chăm (chủ yếu ở thôn 9)
Người K’ho (chủ yếu ở thôn 9)
Người Tày (chủ yếu ở thôn 8)
Người Chăm có quan hệ liên hôn với người Kinh và có lẽ họ là concháu của những người làm vàng dưới thời Vương quốc Chăm Pa từ thế
Trang 27Người Kinh là dân tộc chiếm đa số tại đây và giữ vai trò trong đờisống kinh tế và chính trị Họ từ các vùng khác đến đây sinh sống từđầu thế kỷ XVIII.
Theo lời kể của những người Hoa lớn tuổi thì người Hoa từ TrungQuốc đã sang định cư tại đây từ giữa thế kỷ thứ XVIII
Người Tày (nói tiếng Thái) di cư đến Bồng Miêu vào thời cao điểmcủa nạn khai thác vàng trái phép năm 1984 Họ đến từ các tỉnh phíabắc như Cao Bằng, Lạng Sơn, Hoàng Liên Sơn, Hà Tuyên Hầu hết họ
đã quay trở về quê năm 1991 sau khi
Công ty khai thác vàng Bồng Miêu ngăn chặn hoạt động khai thác tráiphép Hiện chỉ còn 05 hộ gia đình người Tày sinh sống tại thôn 9 cùngvới người Kinh
Tất cả các nhóm sắc tộc di cư vào Bồng Miêu vì mục đích khai thácvàng Lý do khiến họ định cư tại đây hơn 1600 năm qua là để khaithác vàng và cung cấp dịch vụ khai thác
2.2.7 Văn hóa
Theo báo cáo, xã Tam Lãnh có nhiều người theo đạo phật, tuy nhiênkhông có con số thống kê chính thức Các Nhà thờ Cơ đốc giáo bị tànphá trong chiến tranh cho đến nay vẫn chưa được xây dựng lại, do đónhững người theo đạo cơ đốc giáo chỉ tiến hành lễ tại một số nhà trong
xã Các khu vực sinh hoạt văn hóa cộng đồng như đình, đền thờ và nhàthờ họ trong xã bị tàn phá bởi chiến tranh và nay cũng chưa được xâydựng lại
Xã có một sân “văn hóa” rộng 1500m2 được sử dụng cho việc chiếubóng, diễn kịch, vv, tuy nhiên hiện không được sử dụng do mức thu
Trang 28nhập của người dân còn thấp và hoạt động văn hóa của người dân địaphương còn rất hạn chế Ở Bồng Miêu có nhiều quán chiếu phim vàKaraoke Từ 5 năm qua, vô tuyến truyền hình đang ngày càng phổbiến ở Bồng Miêu giúp cho người dân nắm bắt được thông tin trongnước và quốc tế.
Trong diện tích khu Hố Gần và khu vực dự kiến xây dựng đập chứathải không có dân cư sinh sống cũng như các điểm di tích văn hóa
2.2.8 Lịch sử
Từ thế kỷ II đến thế kỷ XV, khu vực dự án Bồng Miêu thuộc lãnh thổcủa Vương Quốc Chăm Pa cổ Người Chăm đã đặt tên cho khu vựcnày là Bồng Miêu (có nghĩa là cánh đồng vàng) và đã khai thác nó cả
1100 năm qua Cho đến nay, người ta vẫn chưa biết được người Chăm
có khai thác vàng sa khoáng không, song ở một số khu vực gặp cácgiếng khai thác các mạch thạch anh và được mô tả là “các giếng khaithác của người Chăm” Người Chăm không khai thác hầm lò có lẽ là
do các mạch thạch anh chứa vàng lộ trên mặt cũng đã đủ cho họ khaithác Họ sử dụng các tảng đá có hình đĩa làm cối và cuội sông làmchày để nghiền quặng thạch anh sau đó đem đãi chúng để thể thu hồivàng Người ta cho rằng đã có hàng nghìn người Chăm tham gia vàokhai thác vàng tại nhiều thời điểm khác nhau
Vào thời nhà Nguyễn (từ thế kỷ XVI-XVIII), người Chăm bị đuổi rakhỏi khu vực này Trong thời gian này đã lập nên các làng ở BồngMiêu Trong suốt thế kỷ XIX, hoạt đông khai thác vàng vẫn tiếp tụcdiễn ra dưới triều Nguyễn Thợ mỏ được tuyển mộ như binh lính vàđược miễn trừ các nghĩa vụ khác Từ gian đoạn này người ta đã bắt
Trang 29Năm 1895 sau khi Việt nam trở thành nước thuộc địa, người Pháp bắtđầu tiến hành khai thác vàng tại Bồng Miêu Họ khai thác chủ yếu hầm
lò khu Núi Kẽm và đến năm 1941 khi quân Nhật đổ bộ xâm chiếmthuộc địa thì hoạt động khai thác chấm dứt Theo các tài liệu ghi chépcủa Pháp, mỏ vàng Bồng Miêu vào thời điểm đó có trữ lượng lớn nhấttại Việt Nam Do đó hàng nghìn thợ mỏ đã được người Pháp tuyểndụng để khai thác
Từ 1968-1975, do chiến tranh người dân tại Bồng Miêu đã đi sơ tán vềcác thị trấn ven biển Từ 1975-1980, họ quay trở về và xây dựng lạilàng xóm
Từ 1981-1991 Xí nghiệp khai thác vàng Bồng Miêu của tỉnh QuảngNam-Đà Nẵng (cũ) hoạt động khai thác vàng ở Bồng Miêu Xã TamLãnh trở thành một xã giàu có và sầm uất là “thị trấn vàng” Số ngườilàm vàng tại đây có lúc lên đến 10.000 người, họ khai thác cả vàng sakhoáng và vàng gốc Môi trường bị tàn phá nghiêm trọng Cây rừng(quế, cây lấy gỗ) bị chặt phá làm củi và bị khai thác quá mức, các loàiđộng vật hoang dã bị săn bắn làm thức ăn và giải trí Cá bị đánh bắtbằng mìn và điện
Năm 1991, Công ty Khai thác vàng Bồng Miêu được thành lập theoGiấy phép đầu tư của Nhà nước Từ đó đến nay, Công ty đã tiến hànhkiểm soát và giảm thiểu hoạt động khai thác trái phép trong diện tíchgiấy phép Tuy nhiên, hoạt động khai thác trái phép khoáng sản và tàinguyên rừng vẫn tiếp diễn một cách lén lút, không liên tục
Trang 30 BẢNG HỎI (Tự tổng hợp):
g
Ghichú
A Tác động do vị trí dự án
DA nằm trong hoặc nằm gần các vùng nhạy cảm
môi trường không?
Trang 31Vùng đất ngập nước X
B Các tác động MT tiềm tàng: DA sẽ gây các tác
động sau đây hay không?
Mâu thuẫn giữa người dân địa phương và công
nhân mỏ
X
Khai thác vàng hiệu quả hơn, giảm tình trạng khai
thác vàng trái phép
X
Trang 32II ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG CỦA DỰ ÁN
1 GIAI ĐOẠN CHUẨN BỊ DỰ ÁN (GIAI ĐOẠN XÂY DỰNG MỎ)
1.1 Tác động đến khối lượng và chất lượng nước mặt
Nguồn gây ô nhiễm nước chính trong giai đoạn này là nước và rác thảisinh hoạt của công nhân và nước mưa chảy tràn trên mặt tại công trườngxây dựng và khai thác mỏ Vào lúc cao điểm của giai đoạn này sẽ có khoảng
153 nhân công làm việc tại mỏ Căn cứ vào lượng nước thải từ nhà vệ sinh,nhà bếp và nhà tắm, v.v (khoảng 200l/người/ngày), tổng lượng nước thảisinh hoạt của mỏ sẽ khoảng 30,6m3/ngày (0.35l/s) Nếu sử dụng thêm nguồnnước mưa và tùy thuộc vào biện pháp tích trữ nước được áp dụng mà khốilượng nước thải có thể thấp hơn mức dự kiến
Nước thải sinh hoạt sẽ được đưa về các bể tự hoại để xử lý sau đó xả quakhu lắng lọc vào trong lưu vực của đập chứa thải Một số chất dinh dưỡngtrong nước thải sẽ được thực vật hấp thụ, nước thải được lọc qua lớp đấttrước khi xả ra đập chứa thải Nguồn nước này sẽ được bơm về nhà máy đểtái sử dụng Chất lượng nước thải của bể tự hoại sẽ được kiểm tra ở bể cuốicủa hệ thống để xác định xem nước thải có cần phải xử lý bổ sung hay không
Trang 33Nước mưa chảy tràn qua các khu vực được phát quang sẽ mang theo đấtbùn (chất rắn lơ lửng) Nguồn nước này sẽ được cho chảy qua các bể lắngbùn đất, rồi cho chảy ra sông suối, nếu chúng bị ô nhiễm sẽ được xả ra khuđập chứa thải.
1.2 Tác động đến chất lượng không khí
Mức độ ô nhiễm bụi trong giai đoạn xây dựng mỏ là khá lớn
Trong quá trình khai thác, mỗi năm sẽ sử dụng khoảng 55.200 kg thuốc nổ
Nổ mìn sẽ tạo ra các loại khí thải (NOx, SOx, CO, CO2) và bụi Bụi nổ mìn
sẽ được khống chế bằng phun nước
Khói xe và khí thải do nổ mìn tạo ra gồm: CO2, CO, SOx, NOx và hyđrocarbon
1.3 Tác động của tiếng ồn
Chủ yếu là xe tải chạy trên đường
1.4 Tác động đến môi trường đất
Các tác động đến việc sử dụng đất đã được đánh giá gồm:
a Làm suy giảm tầng đất màu hay chất lượng đất do công tác san gạt,xói mòn và ô nhiễm
b Xung đột với địa phương về chuyển đổi mục đích sử dụng đất trongvùng dự án
c Diện tích đất màu mỡ bị thu hẹp do phát triển dự án
Diện tích đất dự kiến sẽ sử dụng xây dựng mỏ được trình bày trong bảng 4.4Bảng 4.4 Dự kiến đất có thể bị tác động