Dưới góc độ quản lý nhà nước, một số văn bản pháp lý đã quy định hướng dẫn phương pháp xác định và xếp hạng doanh nghiệp vận tải ô tô nhằmquy định khung trả lương đối với quản trị cấp ca
Trang 1BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI
NGUYỄN VIỆT THẮNG
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ DOANH NGHIỆP VẬN TẢI HÀNH KHÁCH
BẰNG Ô TÔ Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH Tế
Chuyên ngành: Tổ chức và quản lý vận tải
Mã số : 62.84.01.03
Hà Nội - 2017
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI
NGUYỄN VIỆT THẮNG
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ DOANH NGHIỆP VẬN TẢI HÀNH KHÁCH
BẰNG Ô TÔ Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH Tế
Chuyên ngành: Tổ chức và quản lý vận tải
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi, không sao chép Các số liệu và kết quả trong luận án này là hoàn toàn trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Việt Thắng
Trang 4MỤC LỤC
Danh mục bảng iv
Danh mục hình vẽ vii
Danh mục Từ ngữ viết tắt viii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
A Tính cấp thiết của đề tài luận án 1
B Mục đích nghiên cứu 2
C Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
D Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
E Kết cấu luận án 3
CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ DOANH NGHIỆP VẬN TẢI 5
1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 5
1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước 8
1.3 Khoảng trống khoa học và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 10
1.3.1 Khoảng trống khoa học 10
1.3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 11
1.4 Phương pháp nghiên cứu 11
1.4.1 Khung nghiên cứu của luận án 11
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu và thu thập thông tin 12
CHƯƠNG 2:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ DOANH NGHIỆP VẬN TẢI HÀNH KHÁCH BẰNG Ô TÔ 14
2.1 Hoạt động vận tải 14
2.1.1 Khái niệm về hoạt động vận tải 14
2.1.2 Dịch vụ vận tải 15
2.1.3 Doanh nghiệp vận tải 22
2.2 Đánh giá doanh nghiệp vận tải ô tô 24
2.2.1 Khái niệm đánh giá doanh nghiệp 24
2.2.2 Mục đích và lợi ích đánh giá doanh nghiệp vận tải ô tô 26
Trang 52.2.3 Nội dung đánh giá doanh nghiệp vận tải hành khách bằng ô tô 29
2.2.4 Phương pháp đánh giá doanh nghiệp vận tải ô tô 32
2.2.5 Lý luận về phương pháp phân tích thứ bậc để xác định trọng số của các tiêu chí đánh giá 46
Kết luận chương 2 50
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ DOANH NGHIỆP VẬN TẢI HÀNH KHÁCH BẰNG Ô TÔ Ở VIỆT NAM 52
3.1 Chiến lược phát triển ngành giao thông vận tải và phát triển dịch vụ vận tải ở Việt Nam 52
3.1.1 Quá trình phát triển của ngành vận tải Việt Nam 52
3.1.2 Chiến lược phát triển của ngành giao thông vận tải 56
3.1.3 Chiến lược phát triển dịch vụ vận tải 59
3.2 Bối cảnh quốc tế, trong nước - Cơ hội, thách thức của doanh nghiệp vận tải Việt Nam trong thời kỳ hội nhập 61
3.2.1 Bối cảnh quốc tế 62
3.2.2 Bối cảnh trong nước 62
3.2.3 Cơ hội của doanh nghiệp vận tải 64
3.2.4 Thách thức của doanh nghiệp vận tải 64
3.3 Cơ sở vật chất và luồng tuyến vận tải hành khách bằng ô tô ở Việt Nam 65
3.3.1 Hạ tầng giao thông vận tải đường bộ 66
3.3.2 Luồng tuyến vận tải hành khách bằng ô tô 67
3.4 Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải hành khách đường bộ tại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập 69
3.4.1 Thực trạng các doanh nghiệp vận tải hành khách đường bộ Việt Nam 69
3.4.3 Cơ cấu tổ chức cơ bản hiện nay của dịch vụ vận tải 71
3.4.4 Sản lượng vận tải hành khách 73
3.5 Phân tích hoạt động đánh giá doanh nghiệp vận tải tại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập 75
3.5.1 Đánh giá doanh nghiệp vận tải của các cơ quan quản lý nhà nước 75
3.5.2 Tự đánh giá của doanh nghiệp vận tải 82
Trang 63.5.3 Đánh giá doanh nghiệp vận tải của các tổ chức nghiên cứu 83
Kết luận chương 3 88
CHƯƠNG 4:XÂY DựNG VÀ HOÀN THIệN ĐÁNH GİÁ DOANH NGHIệP VậN TảI HÀNH KHÁCH BằNG Ô TÔ Ở VIệT NAM 90
4.1 Xây dựng quy trình đánh giá doanh nghiệp 90
4.2 Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá doanh nghiệp 91
4.2.1 Đề xuất bổ sung các chỉ tiêu đánh giá doanh nghiệp vận tải ô tô 91
4.2.2 Đề xuất hệ thống tiêu chí, chỉ tiêu đánh giá doanh nghiệp vận tải ô tô 95
4.3 Xây dựng chuẩn mực đánh giá và lựa chọn phương pháp đánh giá doanh nghiệp vận tải ô tô 98
4.3.1 Đánh giá nguồn lực của doanh nghiệp vận tải 98
4.3.2 Đánh giá tổ chức và quản trị doanh nghiệp vận tải 108
4.3.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế và xã hội 113
4.3.4 Đánh giá các tiêu chí khác 115
4.4 Xác định điểm trọng số trong đánh giá tổng hợp doanh nghiệp vận tải ô tô 125
4.5 Tổng hợp kết quả đánh giá doanh nghiệp vận tải hành khách bằng ô tô 130 4.6 Đánh giá Công ty Cổ phần Ô tô khách Hà Tây 132
4.6.1 Khái quát về Công ty Cổ phần Ô tô khách Hà Tây 132
4.6.2 Đánh giá Công ty Cổ phần ô tô khách Hà Tây 133
KếT LUậN CHƯƠNG 4 144
KếT LUậN 145
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ 147
TÀI LIỆU THAM KHẢO 148
Tiếng Việt 148
Tiếng Anh 151
PHụ LụC 153
Trang 7DANH MụC BảNG
Bảng 2.1 Phân loại doanh nghiệp vận tải 24
Bảng 2.2 Điểm so sánh cặp tiêu chí X/Y 48
Bảng 2.3 Giá trị chỉ số tương ứng nhất quán 49
Bảng 3.1 Phân loại đường bộ Việt Nam 66
Bảng 3.2 So sánh mật độ đường bộ của một số quốc gia 66
Bảng 3.3 Cấp kỹ thuật quốc lộ phân theo địa hình 66
Bảng 3.4 Thống kê bến xe khách tuyến cố định 67
Bảng 3.5 Hiện trạng phân loại tuyến VTHK tuyến cố định theo cự ly 68
Bảng 3.6 Phân loại tuyến theo cự ly 69
Bảng 3.7 Thống kê doanh nghiệp và phương tiện vận chuyển khách 70
Bảng 3.8 Thống kê doanh nghiệp và PTVT theo tuyến cố định 70
Bảng 3.9 Thống kê các đơn vị kinh doanh VTHK tuyến cố định 70
Bảng 3.10 Thống kê PTVT hành khách tuyến cố định 71
Bảng 3.11 Tỷ trọng và tốc độ tăng trưởng vận tải hành khách đường bộ 74
Bảng 3.12 Cự ly vận chuyển hành khách bình quân 74
Bảng 3.13 Các tiêu chí và chỉ tiêu xếp hạng doanh nghiệp 77
Bảng 3.14 Tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước 79
Bảng 3.15 Các tiêu chí cụ thể đánh giá phát triển bền vững của DN đối với lĩnh vực kinh tế 85
Bảng 4.1 Hệ thống tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá doanh nghiệp vận tải ô tô 95
Bảng 4.2 Các tiêu chí đánh giá lực lượng lao động của DNVT ô tô 99
Bảng 4.3 Tiêu chuẩn đánh giá lao động của DNVT ô tô 100
Bảng 4.4 Các tiêu chí đánh giá cơ sở vật chất của DNVT hành khách bằng ô tô 102 Bảng 4.5 Tiêu chuẩn đánh giá cơ sở vật chất của DNVT hành khách bằng ô tô 102
Bảng 4.6 Các tiêu chí đánh giá tình hình tài chính của DNVT 105
Bảng 4.7 Tiêu chuẩn đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp VTHK bằng ô tô 106
Bảng 4.8 Các tiêu chí đánh giá nguồn lực khác của DNVT 107
Bảng 4.9 Tiêu chuẩn đánh giá nguồn lực khác của DNVT hành khách bằng ô tô 107 Bảng 4.10 Các tiêu chí đánh giá quy mô và loại hình của DNVT 108
Bảng 4.11 Tiêu chuẩn đánh giá quy mô và loại hình của DNVT 109
Trang 8Bảng 4.12 Các tiêu chí đánh giá cơ cấu tổ chức của DNVT 109
Bảng 4.13 Tiêu chuẩn đánh giá cơ cấu tổ chức của DNVT 109
Bảng 4.14 Các tiêu chí đánh giá công tác hoạch định 110
Bảng 4.15 Tiêu chuẩn đánh giá công tác hoạch định 110
Bảng 4.16 Các tiêu chí đánh giá tổ chức thực hiện và điều chỉnh các chiến lược và kế hoạch trong doanh nghiệp vận tải 111
Bảng 4.17 Tiêu chuẩn đánh giá tổ chức thực hiện và điều chỉnh các chiến lược và kế hoạch trong doanh nghiệp vận tải 112
Bảng 4.18 Các tiêu chí đánh giá lãnh đạo DNVT 112
Bảng 4.19 Tiêu chuẩn đánh giá lãnh đạo của DN 113
Bảng 4.20 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh doanh của DNVT 113
Bảng 4.21 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh doanh của DNVT 113
Bảng 4.22 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của DNVT 114
Bảng 4.23 Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội của DNVT 114
Bảng 4.24 Các tiêu chí đánh giá công tác bảo vệ môi trường của DNVT 114
Bảng 4.25 Tiêu chuẩn đánh giá công tác bảo vệ môi trường của DNVT 115
Bảng 4.26 Các tiêu chí đánh giá chất lượng DVVT hành khách bằng ô tô 116
Bảng 4.27 Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng DVVT hành khách bằng ô tô 116
Bảng 4.28 Các tiêu chí đánh giá năng lực liên kết và kết nối của DNVT 117
Bảng 4.29 Tiêu chuẩn đánh giá năng lực liên kết và kết nối của DNVT 117
Bảng 4.30 Các tiêu chí đánh giá thị trường của DNVT 123
Bảng 4.31 Tiêu chuẩn đánh giá thị trường của DNVT 123
Bảng 4.32 Các tiêu chí đánh giá công tác an toàn - vệ sinh lao động của DNVT 125 Bảng 4.33 Tiêu chuẩn đánh giá công tác an toàn - vệ sinh lao động của DNVT 125
Bảng 4.34 Ma trận so sánh cặp và trọng số các nhóm tiêu chí 127
Bảng 4.35 Ma trận so sánh cặp và trọng số tiêu chí đánh giá các nguồn lực 128
Bảng 4.36 Ma trận so sánh cặp và trọng số tiêu chí đánh giá tổ chức và quản trị DNVT 128
Bảng 4.37 Ma trận so sánh cặp và trọng số tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh tế và xã hội của DNVT 129
Bảng 4.38 Ma trận so sánh cặp và trọng số tiêu chí đánh giá khác 129
Bảng 4.39 Trọng số các tiêu chí đánh giá DNVT hành khách bằng ô tô 130
Trang 9Bảng 4.40 Mức xếp hạng doanh nghiệp vận tải hành khách bằng ô tô 131
Bảng 4.41 Kết quả đánh giá nguồn lực của Công ty 136
Bảng 4.42 Kết quả đánh giá tổ chức và quản trị của Công ty 139
Bảng 4.43 Kết quả đánh giá hiệu quả kinh tế và xã hội của Công ty 140
Bảng 4.44 Kết quả đánh giá các tiêu chí khác của Công ty 141
Bảng 4.45 Tổng hợp điểm đánh giá Công ty 142
Trang 10DANH MụC HÌNH Vẽ
Hình 1.1 Khung nghiên cứu của luận án 12
Hình 2.1 Hệ thống cung cấp DVVT 21
Hình 2.2 Quan hệ giữa các yếu tố trong hệ thống cung ứng dịch vụ vận tải 29
Hình 2.3 Hệ thống chỉ tiêu song song biểu thị hiệu quả SXKD 39
Hình 2.4 Hệ thống chỉ tiêu hình tháp biểu thị HQKD của DNVT ô tô 41
Hình 3.1 Cơ cấu tổ chức trực tuyến 72
Hình 3.2 Cơ cấu tổ chức trực tuyến – chức năng 72
Hình 3.3 Cơ cấu tổ chức theo khu vực địa lý 73
Hình 4.1 Quy trình tổng quát đánh giá doanh nghiệp 90
Hình 4.3 Qui trình xác định trọng số các tiêu chí đánh giá DNVT 126
Hình 4.4 Cơ cấu bộ máy tổ chức của Công ty 133
Trang 11DANH MụC Từ NGữ VIếT TắT
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
DNVT Doanh nghiệp vận tải
DVVT Dịch vụ vận tải
ĐGDN Đánh giá doanh nghiệp
GTVT Giao thông vận tải
MTKD Môi trường kinh doanh
PTVT Phương tiện vận tải
VCCI Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam
(tiếng Anh: Vietnam Chamber of Commerce and Industry) VNR Tổng Công ty cổ phần Tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam
VTHK Vận tải hành khách
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới (tiếng Anh: World Trade
Organization)
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
A Tính cấp thiết của đề tài luận án
Việt Nam đang chuyển sang nền kinh tế thị trường, tham gia quá trình toàn cầu hoá và gia nhập các tổ chức kinh tế quốc tế đa phương ngày càng sâu rộng đã tạo ra môi trường kinh doanh phức tạp và luôn biến động với nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia Mỗidoanh nghiệp có cơ hội nhất định nhưng luôn phải đối mặt với những thách thức khác nhau Khi đó, doanh nghiệp cần biết rõ vị thế hiện tại, triển vọng phát triển trong tương lai và các nguy cơ tiềm ẩn để đề ra chiến lược, kế hoạch kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả, giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường, hướng tới sự phát triển bền vững Trong bối cảnh đó, cần đánh giá mọi mặt hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và doanh nghiệp vận tải nói riêng nhằm cung cấp cơ sở khoa học để giúp cho doanh nghiệp và các bên liên quan đưa ra quyết định phù hợp, hoạt động có hiệu quả hơn
Vận tải là một lĩnh vực kinh doanh dịch vụ có tính đặc thù cao, vừa nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc bán dịch vụ vận tải, vừa thực hiện vai trò quan trọng đáp ứng nhu cầu tất yếu của xã hội là lưu thông hàng hóa và nhu cầu đi lại của con người Tính đặc thù còn thể hiện ở chỗ sự phức tạp của hệ thống dịch vụ vận tải và chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố không chắc chắn do tính chất của dịch vụ vận tải Do đó, đánh giá doanh nghiệp vận tải là một vấn đề nghiên cứu rất phức tạp
và đa dạng, đa mục tiêu, vừa đảm bảo nguyên tắc chung đối với doanh nghiệp và phải phù hợp với đặc thù riêng,điều kiện của từng doanh nghiệp vận tải
Trên thế giới, vấn đề đánh giá doanh nghiệp đã được nghiên cứu dưới nhiều góc độ, từ khái quát mang tính nguyên tắc đến đánh giá trên một số khía cạnh hoặc một lĩnh vực chuyên sâu Một số hướng nghiên cứu như đánh giá xếp hạng tín dụng (Standard and Poor’s, Moody’s), xác định giá trị thương hiệu của doanh nghiệp (Natalie Mizik & Robert Jacobson, 2009), định giá điều chỉnh tài sản ròng
(Krzysztof Janas, 2013), đánh giá hoạt động thông qua hệ thống Giải thưởng chất
lượng, Tiêu chuẩn chất lượng, Về đánh giá doanh nghiệp vận tải, một số ít nghiên cứu đã đề cập đến một số khía cạnh như xác định chi phí bên ngoài doanh nghiệp, đánh giá năng lực cạnh tranh, hiệu quả kinh doanh, xác định giá trị vô hình của doanh nghiệp vận tải hàng không
Tại Việt Nam, hình thành một số hướng nghiên cứu nhằm xác định giá trị
Trang 13doanh nghiệp phục vụ cho quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, đánh giá xếp hạng tín dụng, xây dựng mô hình đánh giá trình độ công nghệ, định giá tài sản (ví dụ, phục vụ công tác đấu thầu) Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu toàn diện, độc lập
về đánh giá doanh nghiệp vận tải ở Việt Nam Dưới góc độ quản lý nhà nước, một số văn bản pháp lý đã quy định hướng dẫn phương pháp xác định và xếp hạng doanh nghiệp vận tải ô tô nhằmquy định khung trả lương đối với quản trị cấp cao của doanh
nghiệp vận tải thuộc sở hữu nhà nước.Như vậy, ở trên thế giới và Việt Nam, việc xây
dựng mô hình đánh giá như thế nào đối với doanh nghiệp vận tải vẫn là một khoảng trống cần nghiên cứu một cách hệ thống cả về lý luận và thực tiễn nhằm đáp ứng yêu cầu của quản lý doanh nghiệp, quản lý nhà nước và lợi ích của các bên liên quan Với
ý nghĩa đó, đề tài luận án “Nghiên cứu đánh giá doanh nghiệp vận tải hành khách bằng ô tô ở Việt Nam” được lựa chọn nhằm cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn
để đánh giá doanh nghiệp vận tải ở Việt Nam hiện nay và tương lai
B Mục đích nghiên cứu
Đánh giá doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp vận tải ô tô nói riêng trong nghiên cứu cũng như trong thực tiễn được xem xét dưới những góc độ khác nhau Khi các chủ thể đánh giá doanh nghiệp với mục đích để chỉ ra những điểm yếu cần khắc phục để doanh nghiệp phát triển bền vững, cần phân tích và đánh giátổng quát (toàn diện) các mặt hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp để từ đó tìm ra những vấn
đề cần khắc phục
Trên cơ sở kế thừa những thành tựu khoa học thế giới và trong nước, mục đích nghiên cứu của luận án là nghiên cứu hoàn thiện hệ thống tiêu chí, chỉ tiêu và lựa chọn phương pháp, chuẩn mực đánh giá tổng hợp trạng thái phát triển củadoanh nghiệp vận tải hành khách phù hợp với môi trường kinh doanh và điều kiện khai thác hiện nay của các doanh nghiệp vận tải ở Việt Nam; trong đó, lựa chọn doanh nghiệp vận tải hành khách bằng ô tô trên tuyến cố định để vận dụng thử nghiệm thực tế kết quả nghiên cứu đã đạt được
C Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hoạt động đánh giá tổng hợp doanh nghiệp vận tải hành khách bằng ô tô ở Việt Nam
Trang 14Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Nghiên cứu đánh giá các doanh nghiệp vận tải ô tô nói chung và
các doanh nghiệp vận tải hành khách bằng ô tô theo tuyến cố định nói riêng tại Việt Nam
Về thời gian: Nghiên cứu tình hình, số liệu về hoạt động đánh giá các doanh
nghiệp vận tải trong giai đoạn hội nhập từ năm 2007- khi Việt Nam chính thức gia
nhập WTO đến nay và cho tương lai đến năm 2020, định hướng đến năm 2030
D Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về ý nghĩa khoa học: Luận án hệ thống hóa và làm phong phú thêm cơ sở lý
luận về hoạt động vận tải và đánh giá doanh nghiệp vận tải
Trên cơ sở phân tích hệ thống cung cấp dịch vụ vận tải, luận án xây dựng và hoàn thiện hệ thống tiêu chí, chỉ tiêu và chuẩn mực đánh giá doanh nghiệp vận tải hành khách bằng ô tô theo tuyến cố định làm cơ sở đề ra các quyết định của các chủ thể có liên quan đến doanh nghiệp vận tải hành khách bằng ô tô theo tuyến cố định Đồng thời, đề xuất sử dụng phương pháp phân tích thứ bậc để xây dựng mô hình xác định trọng số phản ánh mức độ quan trọng của các tiêu chíđến kết quả đánh giá tổng hợp doanh nghiệp vận tải bằng ô tô
Về ý nghĩa thực tiễn: Ý nghĩa thực tiễn của đề tài thể hiện ở chỗ cung cấp căn
cứ khoa học và thực tiễn để tổ chức triển khai đánh giá các mặt hoạt động cũng như đánh giá tổng hợp doanh nghiệp vận tải hành khách bằng ô tô, từ đó xác định trọng tâm quản lý và ra các quyết định hợp lý cho các chủ thể liên quan
E Kết cấu luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành 4 chương:
Chương 1 Tổng quan về đánh giá doanh nghiệp vận tải
Chương 2 Cơ sở lý luận về đánh giá doanh nghiệp vận tải hành khách bằng ô
tô
Chương 3 Phân tích hoạt động đánh giá doanh nghiệp vận tải hành khách bằng
ô tô ở Việt Nam
Chương 4 Xây dựng và hoàn thiện đánh giá doanh nghiệp vận tải hành khách bằng ô tôở Việt Nam
Trang 16CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ DOANH NGHIỆP VẬN TẢI
Đánh giá DNVT là một phạm trù nghiên cứu rất rộng và phức tạp, liên quan đến mọi mặt hoạt động của doanh nghiệp Vấn đề nghiên cứu phương pháp đánh giá doanh nghiệp nói chung và DNVT nói riêng cũng đã được các tổ chức, nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam nghiên cứu dưới nhiều góc độ với các cách tiếp cận khác nhau
Phần tổng quan phân tích tình hình nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam về vấn đề ĐGDN nói chung và DNVT nói riêng dưới các góc độ, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm,các khoảng trống khoa học và xác định nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài luận án
1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Với nhiều cách tiếp cận khác nhau, hầu hết các nghiên cứu về ĐGDN nói chung chủ yếu tập trung vào nội dung đánh giá xếp hạng tín nhiệm, đánh giá giá trị hoặc đánh giá một khía cạnh nhất định nào đó của DN (khả năng cạnh tranh, hiệu quả kinh doanh,chất lượng sản phẩm, dịch vụ, )
Các tổ chức đánh giá như Standard and Poor’s (S&P), Moody’s, Flitchđã nghiên cứu xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá và công bố kết quả đánh giá xếp hạng tín nhiệm trên thế giới đối với các nền kinh tế cũng như đối với các DN Trong
đó, phương pháp chuyên gia được sử dụng để đánh giá khả năng và sự sẵn sàng đáp ứng các điều kiện về tài chính, từ đó đưa ra kết quả xếp hạng tín dụng của một quốc gia hay DN [62] Dựa vào kết quả xếp hạng này mà các nhà đầu tư có quyết định về giá cả và khối lượng mua, bán chứng khoán của quốc gia hoặc DN được xếp hạng Tuy nhiên, xếp hạng DN của S&P chỉ phản ánh ý kiến của các chuyên gia trong hội đồng xếp hạng về rủi ro tín dụng dựa trên phân tích hoạt động tài chính và kết quả đạt được về mặt tài chính, chưa đánh giá mọi khía cạnh hoạt động và kết quả đạt được của DN nên chưa cung cấp đầy đủ căn cứ để các chủ thể khác ngoài các nhà đầu tư đưa ra các quyết định phù hợp
Nghiên cứu của tác giả Pablo Fernandez (2007) hệ thống hóa các phương pháp định giá và chỉ ra những lỗi thường gặp trong quá trình áp dụng các phương pháp định giá DN [60] Tác giả cũng nhấn mạnh lỗi được chỉ ra nhiều nhất trong hoạt động đánh giá là sự thiếu chính xác của dữ liệu về tình hình tài chính DN Tuy nhiên,
Trang 17tác giả chưa xây dựng được quy trình đánh giá tổng thể giá trị DN và lựa chọn phương pháp đánh giá như thế nào đối với từng đối tượng cụ thể
Nhằm mục đích xác định giá trị thương hiệu của DN, nhóm tác giả Natalie Mizik & Robert Jacobson (2009) nghiên cứu xây dựng mô hình toán học ước lượng theo tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu và các biến số thuộc thương hiệu sản phẩm (sự phù hợp, uy tín, tích hợp công nghệ và sử dụng năng lượng) [58].Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, đối với lĩnh vực dịch vụ (trong đó có vận tải), sự khác biệt của dịch vụ đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng lớn nhất đến giá trị thương hiệu Tuy nhiên, nghiên cứu chưa chỉ rõ áp dụng mô hình như thế nào để đánh giá giá trị thương hiệu của một DNVT
Tác giả Krzysztof Janas (2013) đề xuất phương pháp định giá điều chỉnh tài sản ròng của DN nhưng không đưa ra mô hình tổng thể định giá DN [56] Về cơ bản, phương pháp tài sản ròng là một phương pháp có độ chính xác cần thiết để xác định giá trị tài chính của DN Tuy nhiên cần nghiên cứu tính đặc thù và quy mô hoạt động của DN để xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả tài chính, đặc biệt là tài sản vô hình; riêng đối với DNVT thì chưa được tác giả đề cập trong nghiên cứu Nhằm xác định giá trị DN, Steiger (2008) đã phân tích và đề xuất sử dụng phương pháp chiết khấu dòng tiền (DCF) để xác định giá trị gần đúng của DN [51] Tuy nhiên, nghiên cứu chưa xét ảnh hưởng do sự biến động của MTKD Cho nên, cần nghiên cứu toàn diện hơn và phải xem xét vấn đề áp dụng như thế nào đối với DNVT
Dưới góc độ quản lý chất lượng, các chứng chỉ chất lượng (Tiêu chuẩn chất lượng theo ISO), giải thưởng chất lượng quốc tế, khu vực hoặc theo từng quốc gia đã cung cấp phương pháp đánh giá chất lượng và hoạt động quản lý chất lượng của DN Trong đó, bộ tiêu chuẩn chất lượng ISO được sử dụng để đánh giá mức độ đáp ứng
về chất lượng sản phẩm và minh chứng cho sự minh bạch, hiệu quả của hệ thống quản lý DN Việc đáp ứng các yêu cầu của chứng chỉ chất lượng ISO được coi là một yếu tố quan trọng để đánh giá khả năng đáp ứng, thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường của DN Các mô hình Giải thưởng chất lượng lại nhằm mục đích nâng cao nhận thức
và khuyến khích các tổ chức, DN tự đánh giá hoạt động quản lý chất lượng như Giải thưởng Deming [61], Giải thưởng Malcolm Baldrige (Hoa Kỳ) [64], Giải thưởng chất lượng châu Âu [50] Hạn chế của các mô hình giải thưởng chất lượng là chỉ nêu
ra và xác định kết quả cần đạt được nhưng không chỉ ra cách thức làm thế nào để đạt
Trang 18được kết quả đó, không đánh giá tổng thể hoạt động quản lý
Trong lĩnh vực vận tải, một số ít công trình nghiên cứu đã đề cập đến đánh giá một vài khía cạnh về chi phí, hiệu quả kinh doanh, năng lực cạnh tranh, chất lượng dịch vụ vận tải, …theo những cách tiếp cận khác nhau
Theo cách tiếp cận chi phí, các tác giả M Maibach, C Schreyer (2008) xây dựng mô hình phân tích định lượng để xác định chi phí bên ngoài ảnh hưởng đến hoạt động KD của DNVT [57] Mặc dù không nghiên cứu trực tiếp về đánh giá DN, nhưng nghiên cứu đã cung cấp phương pháp mang tính định hướng để xác định các chi phí bên ngoài, từ đó xây dựng chiến lược, kế hoạch ngân sách của DNVT, đồng thời cung cấp cơ sở khoa học để hoạch định chính sách quản lý vĩ mô trong lĩnh vực giao thông vận tải
Nhằm đánh giá năng lực cạnh của DNVT đường bộ, tác giả Tокарь, Александр Сергеевич (2011) nghiên cứu và làm rõ một số nguyên tắc nghiên cứu khả năng cạnh tranh của DNVT đường bộ Đặc biệt, tác giả sử dụng các công cụ thống kê dựa trên mô hình phân tích SWOT, phân tích theo nhóm yếu tố nhằm xây dựng mô hình toán học đánh giá khả năng cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh của các DNVT đường bộ [66]
Tác giả Caroline Rodier (2012) nghiên cứu xây dựng mô hình đánh giá hiệu quả của DNVT theo 04 tiêu chí về đáp ứng nhu cầu vận tải, sử dụng năng lượng, hiệu quả kinh tế và môi trường [49] Kết quả nghiên cứu được sử dụng để hoạch định quy hoạch phát triển và đổi mới chiến lược kinh doanh của các DNVT (trừ vận tải hàng không) Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ đưa ra mô hình mang tính khái quát cao dựa trên thông tin tổng quát hóa từ dữ liệu về hoạt động tài chính của doanh nghiệp, chưa xem xét chi tiết những yếu tố ảnh hưởng của các yếu tố thị trường (như thay đổi trong hệ thống giao thông vận tải)
Tác giả O Rybak (2014) đề xuất phương pháp đánh giá giá trị vô hình của Công ty hàng không Ucraina theo 6 tiêu chí: Quyền khai thác nguồn lực tự nhiên; quyền sử dụng phương tiện cá nhân; bằng sáng chế; bản quyền và quyền liên quan; quyền đối với tài sản phi truyền thống và quyền đối với tài sản vô hình khác [59] Tác giả đề xuất phương pháp đánh giá theo các cách tiếp cận doanh thu, tiếp cận thị trường và chi phí với 3 mức độ đánh giá: quyền sử dụng cơ bản; quyền sử dụng thứ cấp và các quyền phụ khác Nghiên cứu đã chỉ ra khả năng áp dụng phương pháp
Trang 19đánh giá giá trị vô hình đối với DN dịch vụ, trong đó có các DNVT
1.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Vấn đề đánh giá và xác định giá trị DN đã được đề cập trong một số văn bản quản lý nhà nước, tài liệu phục vụ giảng dạy, học tập, nghiên cứu tại trường đại học
và một số nghiên cứu độc lập Với mục tiêu và cách tiếp cận khác nhau, một số nghiên cứu về đánh giá xếp hạng DN, xếp hạng tín dụng DN và xác định giá trị DN nói chung và xác đinh giá trị tài sản của DN nói riêng Số lượng nghiên cứu đánh giá DNVT còn rất hạn chế
Tác giả Nguyễn Minh Thu (2013) đã đề xuất quy trình, phương pháp tính chỉ số tổng hợp đánh giá phát triển bền vững ở Việt Nam với ba bước Đồng thời tính toán thử nghiệm để đánh giá thực trạng bền vững trong quá trình phát triển của Việt nam giai đoạn 2001 - 2010 Nghiên cứu đã tổng hợp được các nhân tố ảnh hưởng đến đánh giá phát triển bền vững của quốc gia thông qua các chỉ số, nhưng chưa có khả năng áp dụng ở các doanh nghiệp
Tác giả Trần Đình Cường (2010) trình bày tổng quát nội dung đánh giá xếp hạng DN và đánh giá giá trị DN [15],trong đó, tác giả đã nêu ra phương pháp xác định giá trị liên tục và giá trị của chủ sở hữu trên cơ sở đánh giá về kết quả KD và ước tính chi phí sử dụng ngân quỹ DN Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập đến phương pháp đánh giá cho các DN hoạt động trong các lĩnh vực đặc thù ngành như DNVT Các tác giả Trần Văn Dũng (2007)[16], Nguyễn Minh Điện (2010) [17], Nguyễn Minh Hoàng (2008) [21]đã phân tích các mô hình xác định giá trị DN và đề xuất phương pháp định giá DN phục vụ cho quá trình cổ phần hóa DNNN ở Việt Nam Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa đề cập đến việc đánh giá MTKD hoặc đánh giá kết quả KD, triển vọng của DN trong tương lai như thế nào và chưa nghiên cứu DNVT
Tác giả Nguyễn Trọng Hòa (2009) nghiên cứu xây dựng mô hình xếp hạng tín dụng DN Việt Nam trong tiến trình chuyển đổi kinh tế [20] Nghiên cứu lựa chọn phương pháp phân tích hồi quy đa biến dựa vào dữ liệu thống kê để xây dựng mô hình toán học đánh giá mức độ ảnhhưởng của 37 chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động tài chính, phục vụ cho phân tích xếp hạng tín dụng các DN đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Như vậy, nghiên cứu chỉ tập trung phân tích đánh giá dưới góc
độ tài chính dựa trên cơ sở dữ liệu thống kê mà chưa đề cập đến các yếu tố môi
Trang 20trường khác có ảnh hưởng đến hoạt động KD của DN
Tác giả Nguyễn Hồng Liên (2012) nghiên cứu xây dựng mô hình đánh giá trình
độ công nghệ dựa trên nền tảng Atlas công nghệ, khoa học trí tuệ nhân tạo và công nghệ thông tin nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ đánh giá mức độ đạt được về trình độ công nghệ của DN [24] Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ tập trung vào mục tiêu xây dựng mô hình phân tích đánh giá theo ngành và giải pháp kỹ thuật về công nghệ thông tin để xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu phục vụ đánh giá trình độ công nghệ
mà chưa đề cập đến những vấn đề quản lý KD của DN
Tác giả Đinh Thế Hùng (2012) nghiên cứu áp dụng các phương pháp thống kê nhằm xác định giá trị tài sản, đánh giá mức độ tuân thủ và minh bạch trong quản lý tài sản để phục vụ cho công tác kiểm toán [23] Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập đến các giá trị khác như vị thế của DN, ưu thế của sản phẩm, dịch vụ … cho nên chưa đảm bảo ĐGDN một cách toàn diện
Tác giả Nguyễn Thị Hoàng Giang, Bùi Thị Hồng Nhung (2014) nghiên cứu áp dụng mô hình định giá tương đối dựa trên các tỉ số P/B và P/E đối với các DN niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh [18] Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để đánh giá và lựa chọn phương án đầu tư, đồng thời sử dụng phương pháp phân tích hồi quy kiểm nghiệm khả năng áp dụng mô hình định giá tương đối để dự đoán giá chứng khoán
Tác giả nguyễn Thị Thanh Hải (2013) tiến hành nghiên cứu hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá HQKD trong các DN xây dựng công trình giao thông thuộc Bộ Giao thông vận tải, đồng thời đã bổ sung các chỉ tiêu đánh giá tính sáng tạo và hiệu quả của việc sử dụng các giải pháp thi công hợp lý, đánh giá hiệu quả của công tác phục vụ thi công và đánh giá sự hài lòng của chủ đầu tư về tiến độ, thời gian, chất lượng, giá cả thông qua các chỉ tiêu đánh giá HQKD của doanh nghiệp xây dựng Các tác giả Phan Chí Anh, Nguyễn Thu Hà, Nguyễn Minh Huệ (2013) nghiên cứu tổng hợp các mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ và đề xuất tiêu chí đánh giá các mô hình chất lượng Nghiên cứu đã chỉ ra sự phát triển của mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ phản ánh sự thay đổi trong quá trình cung ứng dịch vụ; kết quả của việc đo lường chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như cách thức thiết lập dịch vụ, thời gian, nhu cầu, mức độ kỳ vọng của khách hàng
Tác giả Nguyễn Văn Thụ (2015), trong giáo trình “Phân tích kinh tế” đã chỉ ra
Trang 21phương pháp đánh giá hiệu quả trong trạng thái động đã chỉ rõ phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong quá trình phát triển Đây là phương pháp đánh giá hoàn toàn có định lượng và toàn diện hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
1.3 Khoảng trống khoa học và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
1.3.1 Khoảng trống khoa học
ĐGDN là một phạm trù nghiên cứu rất rộng và phức tạp do trong hệ thống KD của DN luôn tồn tại quan hệ biện chứng giữa các yếu tố cấu thành và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố tác động Mỗi khía cạnh đánh giá liên quan đến cả các yếu tố định lượng và định tính Mặt khác, mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến kết quả đánh giá rất khác nhau tùy thuộc vào quan điểm đánh giá, quy mô và sự phức tạp của đối tượng được đánh giá Đặc biệt trong lĩnh vực có tính đặc thù như doanh nghiệp vận tải, cần có cách tiếp cận khoa học để đưa ra phương pháp đánh giá phù hợp, khả thi trong MTKD nhất định
Ở trên thế giới và trong nước, ngoài các nghiên cứu về ĐGDN nói chung, nghiên cứu chuyên sâu về đánh giá DNVT còn rất hạn chế về số lượng và chưa đảm bảo tính hệ thống, toàn diện Ngoài việc áp dụng đánh giá xếp hạng tín nhiệm DN theo nguyên tắc chung, có 1 số công trình nghiên cứu đánh giá từng khía cạnh riêng
về chi phí bên ngoài, năng lực cạnh tranh, giá trị tài sản vô hình và giá trị thương hiệu của DNVT Do đó, ĐGDN một cách toàn diện và hệ thống vẫn còn là khoảng trống rất lớn về khoa học Đặc biệt đối với DNVT ở Việt Nam, ĐGDN vừa là nhiệm
vụ quan trọng của các nhà quản lý, vừa là đòi hỏi thực tiễn của mỗi DN trong bối cảnh hội nhập kinh tế ngày càng sâu, rộng
Riêng phương pháp đánh giá của PGS TS Nguyễn Văn Thụ, trong giáo trình
“Phân tích kinh tế” tuy đã chỉ ra phương pháp đánh giá quá trình phát triển của doanh nghiệp trong trạng thái động Tuy đây là một phương pháp đánh giá khá toàn diện và đầy đủ nhưng còn chưa đề cập tới vấn đề “từ kết quả đánh giá toàn diện chung ấy”,phương pháp này tuy đã xem xét đánh giá các yếu định lượng, nhưng các yếu tố định tính lại chưa được xét đến, mà trong nền kinh tế thị trường ngành KDdịch vụ chịu tác động rất lớn bởi các yếu tố định tính, vì vậy chưa có những đánh giá chuyên sâu định tính này và không thể đề xuất các giải pháp khắc phục những yếu tố định tính quan trọng tác động đến sự phát triển có hiệu quả của doanh nghiệp trong giai đoạn sau như thế nào
Trang 221.3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở kế thừa những thành tựu khoa học thế giới và trong nước và với mục tiêu đề tài: “Hệ thống hóa cơ sở lý luận, nghiên cứuhoàn thiện phương pháp đánh giá trạng thái phát triển của doanh nghiệp phù hợp với môi trường kinh doanh
và điều kiện khai thác hiện nay của các DNVT ở Việt Nam, trong đó lựa chọn một DNVT hành khách bằng ô tô trên tuyến cố định để vận dụng thử nghiệm thực tế kết
quả nghiên cứu đã đạt được”, luận án đặt ra những nhiệm vụ cần thực hiện như sau:
- Hệ thống hóa và hoàn thiện thêm cơ sở lý luận về đánh giá DNVT theo cách tiếp cận hệ thống trong trạng thái vận động và phát triển của DNVT hành khách bằng
ô tô phục vụ cho quản lý hoạt động kinh doanh của các DNVT;
- Phát triển phương pháp phân tích đánh giá thực trạng hoạt động đánh giá DVNT hành khách bằng ô tô để làm cứ liệu thực tế cho việc hoàn thiện mô hình đánh giá DNVT ở Việt Nam
- Hoàn thiện hệ thống tiêu chí, chỉ tiêu đánh giá; đề xuất phương pháp và chuẩn mực đánh giá các tiêu chí, chỉ tiêu phản ánh tổng hợp hoạt động kinh doanh của DNVT hành khách bằng ô tô trên tuyến cố định, làm cơ sở ra các quyết định tối ưu cho các chủ thể có liên quan
- Đề xuất phương pháp khoa học trong xác định trọng số cho từng tiêu chí, chỉ tiêu đánh giá nhằm cung cấp luận cứ khoa học để áp dụng đánh giá tổng thể hoặc từng khía cạnh phù hợp với quy mô và đặc thù kinh doanh của DNVT ở Việt Nam
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Khung nghiên cứu của luận án
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:
Nghiên cứu cơ sở hình thành nội dung đánh giá DNVT ô tô nói chung và DNVT hành khách bằng ô tô theo tuyến cố định nói riêng Cơ sở hình thành nội dung đánh giá DNVT cần phải phản ánh được đầy đủ quan hệ các yếu tố bên trong DNVT
và các yếu tố đặc trưng của hoạt động vận tải, DVVT và DNVT trong môi trường hoạt động
Phân tích các nội dung đánh giá để hình thành hệ thống tiêu chí, chỉ tiêu và chuẩn mực đánh giá các mặt hoạt động của DNVT Đồng thời, đảm bảo kết quả đánh giá giúp chủ thể đánh giá có thể nhận thức toàn diện về trạng thái hiện tại và triển vọng của DNVT
Trang 23Nghiên cứu mô hình xác định trọng số các tiêu chí, phương pháp tổng hợp xếp hạng DNVT và những đặc trưng chung cho từng hạng
Nghiên cứu ứng dụng mô hình đã xây dựng để đánh giá một DNVT hành khách
cụ thể
Với đối tượng nghiên cứu là đánh giá các DNVT hành khách bằng ô tô ở Việt Nam trong giai đoạn hội nhập, khung nghiên cứu của luận án khái quát qua hình 1.1
Hình 1.1 Khung nghiên cứucủa luận án
1.4.2 Phương pháp nghiên cứu và thu thập thông tin
1.4.2.1 Thu thập và xử lý thông tin thứ cấp
Trên cơ sở các tài liệu thu thập được để tiến hành nghiên cứu tổng quan về đánh giá doanh nghiệp và DNVT, xác định khoảng trống khoa học và hình thành khung nghiên cứu lý thuyết,bổ sung hoàn thiện hệ thống lý luận về DVVT, DNVT và đánh giá DNVT
- Nghiên cứu các lý thuyết chung về các lĩnh vực liên quan từ toán kinh tế, kinh
tế vĩ mô và vi mô, lý thuyết thông tin kinh tế, lý thuyết hệ thống, trong đó đặc biệt nghiên cứu một một nền tảng quan trọng trong tư duy và đối với phân tích kinh tế là triết học Mác – Lê nin
- Nghiên cứu các công trình khoa học đã công bố có liên quan trong và ngoài nước
tiêu chí
Mô hình tổng hợp kết quả đánh giá DNVT
Kết quả đánh giá DNVT
Trang 24- Nghiên cứu các văn bản pháp quy hiện nay của Nhà nước Việt Nam
Để có các thông tin thứ cấp, luận án sử dụng các phương pháp cụ thể sau:
Phương pháp khảo sát thực tiễn: Sử dụng để hình thành đối tượng, nội dung và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Phương pháp thống kê: Dựa vào các báo cáo định kỳ của DNVT, của Tổng cục Thống kê và Bộ Giao thông vận tải để tiến hành thống kê, so sánh và đánh giá mức
độ đạt được của các tiêu chí đánh giá DNVT
Phương pháp phân tích, tổng hợp: Sử dụng để phân chia nhỏ đối tượng để tiến hành nghiên cứu từng bộ phận cấu thành đối nhằm nhận biết những đặc trưng của từng bộ phận cấu thành đối tượng Phương pháp tổng hợp được sử dụng để liên kết đặc trưng các bộ phận cấu thành của đối tượng nghiên cứu nhằm nhận thức đối tượng một cách tổng thể Phân tích và tổng hợp là hai phương pháp có quan hệ mật thiết với nhau tạo thành sự thống nhất không thể tách rời: Phân tích được tiến hành theo phương hướng tổng hợp, còn tổng hợp được thực hiện dựa trên kết quả của phân tích
1.4.2.2 Thu thập và xử lý thông tin sơ cấp
Ngoài những thông tin thứ cấp được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, luận
án còn thực hiện thu thập và xử lý các thông tin sơ cấp nhằm giải quyết các nhiệm vụ đặt ra
Phương pháp chuyên gia: Thu thập và xin ý kiến chuyên gia nhằm làm rõ các nội dung nghiên cứu, đặc biệt sử dụng phương pháp này để xác định tiêu chuẩn, chuẩn mực đánh giá các tiêu chí, chỉ tiêu định tính
Phương pháp điều tra: Thực hiện chủ yếu qua phiếu điều tra để xác định tầm quan trọng các tiêu chí, làm cơ sở để xây dựng mô hình và tính toán trọng số của các tiêu chí đánh giá
Phương pháp phỏng vấn và quan sát tại DNVT để đánh giá các chỉ tiêu định tính
Ngoài ra, trong luận án còn sử dụng các phương pháp của toán kinh tế, các phương pháp phân tích hoạt động kinh doanh; mô hình hóa, … để nghiên cứu và thực hiện nhiệm vụ của luận án
Trang 25CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ DOANH NGHIỆP VẬN TẢIHÀNH
KHÁCH BẰNG Ô TÔ 2.1 Hoạt động vận tải
2.1.1 Khái niệm về hoạt động vận tải
2.1.1.1 Định nghĩa
Vận tải là hoạt động có mục đích của con người nhằm di chuyển hàng hoá, hành khách trong không gian để thoả mãn nhu cầu của con người Theo tiến trình, hoạt động vận tải là một quá trình thay đổi (di chuyển) vị trí của hàng hóa, hành khách trong không gian và thời gian cụ thể để nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người
Cũng giống như các ngành sản xuất kinh doanh khác, quá trình cung cấp DVVT (trừ vận tải đường ống) cũng có chu kỳ sản xuất (chu kỳ cung cấp DVVT) bao gồm 9 giai đoạn, từ giai đoạn đầu là chuẩn bị cho đến giai đoạn cuối là chạy rỗng đến nơi nhận hàng, khách tiếp theo, mỗi chu kỳ vận tải là chuyến đi cũng bao gồm đầy đủ các yếu tố của quá trình sản xuất, đó là: Sức lao động, đối tượng lao động (đối tượng vận chuyển) và tư liệu lao động (phương tiện vận chuyển và các cơ
sở vật chất khác cho vận chuyển)
2.1.1.2 Phân loại hoạt động vận tải
Có nhiều quan điểm khác nhau về phân loại hoạt động vận tải, vận tải được phân loại theo các tiêu thức sau:
Theo tính chất của vận tải
+ Vận tải công nghệ (vận tải nội bộ) là việc vận chuyển trong nội bộ DN nhằm
di chuyển nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, thành phẩm, bán thành phẩm, con người…phục vụ cho quá trình sản xuất của DN bằng phương tiện của DN đó mà không trực tiếp thu tiền cước phí vận tải
+ Vận tải công cộng là việc KDVT (hàng hóa hay hành khách) để thu tiền cước DVVT và tìm kiếm lợi nhuận
+ Vận tải bán công cộng là việc KDVT (hàng hóa hay hành khách) để thu tiền cước DVVT và tìm kiếm lợi nhuận bằng xe và phương tiện thô sơ
+ Vận tải cá nhân là việc vận chuyển cá nhân để nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân (hoặc người thân) mà không thu tiền cước vận tải
Trang 26Theo phương thức (hình thức) thực hiện quá trình vận tải
- Vận tải đường thủy (vận tải đường biển; thủy nội địa);
Theo cách tổ chức quá trình vận tải
- Vận tải đơn thức (Unimodal Transport) là quá trình vận tải hàng hóa (VTHH) hay hành khách (HK) được vận chuyển từ nơi đi (xuất phát) tới nơi đến (kết thúc) chỉ bằng một phương thức vận tải duy nhất
- Vận tải đa phương thức (Multimodal Transport) là quá trình VTHH hay hành khách từ nơi đi tới nơi đến được thực hiện bằng ít nhất là 2 phương thức vận tải, nhưng chỉ sử dụng một hợp đồng vận tải duy nhất và chỉ một người chịu trách nhiệm trong quá trình vận tải đó
- Vận tải đứt đoạn (Segmented Transprt) là quá trình được thực hiện bằng 2 hay nhiều phương thức vận tải, nhưng phải sử dụng 2 hay nhiều hợp đồng vận tải do 2 hay nhiều người chịu trách nhiệm
Phân loại theo các tiêu thức khác
- Theo cự ly vận chuyển: cự ly dài (lớn); trung bình và ngắn
- Theo tính chất vận tải, theo phương thức thực hiện quá trình vận tải, theo đối tượng vận chuyển, theo cách tổ chức quá trình vận tải
- Theo khối lượng vận chuyển, theo phạm vi vận tải, theo tuyến và loại đường vận chuyển
2.1.2 Dịch vụ vận tải
2.1.2.1 Đặc điểm dịch vụ vận tải
Khái niệm dịch vụ được hiểu theo nhiều nghĩa tùy thuộc cách tiếp cận và quan
Trang 27điểm khác nhau Theo quan hệ tương tác với khách hàng, dịch vụ là một quá trình hoạt động tương tác giữa khách hàng và hệ thống dịch vụ nhằm chuyển giao giải pháp hoặc giải quyết vấn đề của khách hàng Theo quan điểm giá trị, các hoạt động dịch vụ làm gia tăng giá trị như tính thuận tiện, thoải mái, sức khỏe hay giá trị sử dụng đối với khách hàng và/hoặc tài sản của khách hàng Theo quan điểm hệ thống, một số nhà nghiên cứu xem xét dịch vụ như là một hệ thống sản xuất chuyển đổi các yếu tố đầu vào thành các giá trị gia tăng đầu ra bằng các tiện ích hỗ trợ khách hàng không chỉ đơn thuần về ý nghĩa kinh tế Như vậy, dịch vụ được hiểu là một hệ thống tương tác giữa nhà cung cấp và khách hàng và/hoặc kết hợp với các sản phẩm hàng hoá nhằm tạo giá trị gia tăng bằng cách tạo điều kiện hoặc làm thay đổi trong khách hàng và/hoặc thay đổi tài sản vật chất của khách hàng mà không dẫn đến quyền sở hữu
Dịch vụ là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật [27]
Dịch vụ có các đặc trưng cơ bản sau:
- Tính vô hình
Dịch vụ thường không có hình thái vật chất cụ thể (mặc dù, một số dịch vụ tồn tại trong vỏ vật chất) nên khách hàng khó hình dung nên khó đánh giá chất lượng của dịch vụ, đồng thời không thể dự trữ, đo đếm hay dùng thử trước khi quyết định mua như đối với sản phẩm hữu hình nên nhà cung ứng khó đạt được quy mô tối ưu trong hoạt động cung ứng dịch vụ
- Quá trình cung ứng gắn liền với tiêu thụ dịch vụ
Quá trình cung ứng dịch vụ và tiêu thụ (tiêu dùng) dịch vụ xảy ra đồng thời, không có sự tách biệt về thời gian và không gian giữa hai quá trình này, nên người cung ứng dịch vụ phải tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với khách hàng tại các địa điểm và thời gian phù hợp cho hai bên Do đặc trưng này nên khó cân bằng cung với cầu dịch vụ và cũng không thể chuyển quyền sở hữu từ khách hàng này sang khách hàng khác
- Tính không đồng đều về chất lượng
Chất lượng dịch vụ chịu tác động mạnh bởi kỹ năng, thái độ của người cung ứng dịch vụ, quan hệ giữa khách hàng với người cung ứng dịch vụ, nên khó có sự
Trang 28đồng đều về chất lượng dịch vụ Đặc điểm này đòi hỏi sự ổn định của các thủ tục, quy trình cơ bản khi cung ứng dịch vụ cho khách hàng và đòi hỏi nhất định của bộ phận tiếp xúc khách hàng
- Không thể dự trữ dịch vụ
Dịch vụ không có hình thái vật chất, chỉ tồn tại trong khoảng thời gian mà nó được cung ứng, nên không thể sản xuất hàng loạt để dự trữ nhằm đáp ứng nhu cầu cao của thị trường
Tóm lại, dịch vụ là một loại hình sản xuất với sản phẩm đầu ra đặc trưng bởi
các thuộc tính trừu tượng (vô hình), có thể gồm một hoặc nhiều quá trình tương tác giữa khách hàng với hệ thống dịch vụ Môi trường vật chất kỹ thuật và hoạt động của con người là các nhân tố quan trọng đảm bảo quá trình chuyển giao dịch vụ được hoàn thành và thỏa mãn nhu cầu khách hàng
Vận tải nói chung và VTHK nói riêng là một ngành dịch vụ nên có đầy đủ các đặc trưng chung của dịch vụ Tuy nhiên, do không tác động trực tiếp đến đối tượng sản xuất – đối tượng vận chuyển và được thực hiện trong môi trường tự nhiên nhất định nên DVVT hành khách còn có các đặc điểm riêng trên các khía cạnh:
- Về nhu cầu vận tải: VTHK đáp ứng nhu cầu đi lại, một loại nhu cầu cơ bản của con người Mặc dù nhu cầu đi lại của con người là tất yếu, nhưng nhu cầu này chỉ phát sinh nếu DVVT đáp ứng được mục đích và nhu cầu của hành khách
- Về tương tácgiữa hành khách và hệ thống dịch vụ: Không có sự tách rời giữa hoạt động cung ứng với tiêu dùng DVVT Hành khách không chỉ là khách hàng mà còn tham gia trực tiếp vào quá trình vận tải nên mức độ tương tác của hành khách góp phần quan trọng tạo nên DVVThoàn hảo
- Về yêu cầu đối với DVVT: Vấn đề an toàn sinh mạng và đáp ứng các nhu cầu phát sinh của hành khách là các yêu cầu quan trọng đối với DVVT Hành khách
có nhiều nhu cầu phát sinh và dễ thay đổi nên đòi hỏi DVVT phải có tính đa dạng và linh hoạt cao DVVT không làm thay đổi về thể chất hay gia tăng giá trị cho hành khách và/hoặc làm biến đổi tài sản của hành khách Đặc điểm này rất khác biệt so với các dịch vụ khác
- Về tác động của môi trường: Trong quá trình vận tải, có nhiều yếu tố tác động ngẫu nhiên từ môi trường bên ngoài Do đó, vấn đề dự báo và chuẩn bị phương án để đảm bảo hoạt động bình thường trong mọi điều kiện là rất quan trọng
Trang 29Quá trình vận chuyển hàng hóa và hành khách trong không gian và theo thời gian tạo ra DVVT nên DVVT được đánh giá thông qua 2 chỉ tiêu: Sản lượng vận chuyển và sản lượng luân chuyển.Theo WTO, DVVT được chia thành sản phẩm vận tải cốt lõi và dịch vụ hỗ trợ vận tải.Cũng như mọi loại sản phẩm, dịch vụ khác, DVVT có giá trị và giá trị sử dụng.Giá trị DVVT là lượng hao phí lao động xã hội cần thiết trong quá trình tạo ra DVVT; giá trị sử dụng của DVVT là khả năng đáp ứng nhu cầu di chuyển Đặc điểm cơ bản của DVVT thể hiện qua các mặt:
- Giá trị DVVT là hao phí lao động xã hội kết tinh trong DVVT không phải là sản phẩm độc lập mà chỉ làm gia tăng giá trị của hàng hóa trong lưu thông Cho nên, giảm chi phí vận tải góp phần làm giảm chi phí lưu thông, tăng hiệu quả hoạt động cho các DN và cho nền kinh tế
- DVVT được hình thành bởi quá trình cung cấp DVVT – quá trình diễn ra ở ngoài DNVT nên khó quản lý, kiểm soát và đánh giá chất lượng DVVT; đồng thời chịu tác động lớn từ môi trường hoạt động vận tải
2.1.2.2 Đặc điểm nhu cầu vận tải
Nhu cầu vận chuyển là nhu cầu tất yếu của xã hội nhằm thoả mãn một nhu cầu
nhất định của con người như: Đi làm, đi học, du lịch, thăm viếng, vui chơi, giải trí, Đồng thời nhu cầu vận tải phát sinh là để thoả mãn một nhu cầu khác của con người
Nhu cầu vận chuyển ít có khả năng thay thế: Để di chuyển hàng hoá, hành
khách trong không gian thì không có sản phẩm của ngành nào có thể thay thế được DVVT
Sự thay đổi giá cước tác động chậm đến nhu cầu vận chuyển: Khi giá cước
tăng do tập quán sinh hoạt và sự thay đổi của sản xuất không thể thay đổi được ngay nên khi giá cước tăng ở kỳ này thì nhu cầu vận tải trong kỳ thay đổi rất ít, chỉ đến các
kỳ sau mới thay đổi Hay nói cách khác, nhu cầu vận tải có độ co dãn đối với giá rất nhỏ trong ngắn hạn, còn trong dài hạn thì độ co dãn này lớn hơn
Nhu cầu vận chuyển có xu hướng bão hoà và tăng chậm so với nhịp độ tăng chung của nền kinh tế: Khi sản xuất phát triển, nhu cầu vận tải tăng rất nhanh, tuy
nhiên khi sản xuất và vận tải phát triển đến mức độ nhất định, nó sẽ đạt đến sự hợp lý trong phát triển Do đó nhu cầu vận tải sẽ có xu hướng tăng chậm hơn so với tốc độ tăng trưởng kinh tế Trong lĩnh vực VTHK, khi sản xuất phát triển thì thu nhập và mức sống tăng nên nhu cầu đi lại bằng phương tiện cá nhân tăng, nhu cầu vận tải
Trang 30bằng phương tiện công cộng tăng chậm hơn tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế
Nhu cầu vận chuyển mang tính xã hội sâu sắc: Mỗi khu vực, dân tộc có những
thói quen, phong tục, tập quán sản xuất và sinh hoạt khác nhau nên nhu cầu vận tải của các khu vực cũng khác nhau
Nhu cầu vận chuyển biến động theo thời gian và không gian
+ Nhu cầu vận chuyển biến động theo thời gian: Hoạt động sản xuất và hoạt
động của con người thường diễn ra theo chu kỳ nhất định, do đó nhu cầu vận chuyển cũng biến động theo thời gian
Trong nghiên cứu tổ chức vận tải, người ta dùng hệ số biến động theo thời gian
để biểu thị mức độ biến động về nhu cầu vận chuyển
KTG
QtbTrong đó:
KTG
Bđ : Hệ số biến động nhu cầu vận chuyển theo thời gian
Qmax: Nhu cầu vận chuyển ở thời kỳ cao điểm
Qtb: Nhu cầu vận chuyển ở mức trung bình
Dựa vào quy luật biến động của nhu cầu DVVT theo thời gian để xây dựng kế hoạch sử dụng phương tiện, phương án tổ chức vận chuyển và bảo dưỡng sửa chữa phương tiện
+ Nhu cầu vận chuyển biến động theo không gian
- Sự mất cân đối giữa chiều đi và chiều về trên toàn tuyến vận chuyển
Người ta sử dụng hệ số biến động theo chiều để biểu thị sự mất cân đối trên hướng vận chuyển
KChiÒu
QvềTrong đó:
KChiÒu
Bđ :Hệ số biến động nhu cầu vận chuyển trên hướng
Qđi: Khối lượng vận chuyển chiều đi
Qvề: Khối lượng vận chuyển chiều về
KChiÒu
Bđ > 1: Khu vực nghiên cứu đóng vai trò là nơi phát sinh khối lượng vận chuyển
Trang 31KChiÒu
Bđ < 1: Khu vực đóng vai trò là nơi thu hút khối lượng vận chuyển
- Sự không đồng đều khối lượng vận chuyển trên tuyến
Trên một tuyến nào đó, khối lượng vận chuyển thay đổi trên từng đoạn hình thành nên các đoạn tuyến, mỗi đoạn tuyến có khối lượng vận chuyển khác nhau Đây
là kết quả của sự quy hoạch nơi sản xuất, tiêu thụ (sự phân bố các cụm dân cư, các khu sản xuất, các trung tâm tiêu thụ hàng hoá ) trên tuyến không đồng đều Trong trường hợp này, cũng sử dụng hệ số biến động để biểu thị sự thay đổi nhu cầu vận chuyển trên tuyến
KTuyÕn
QtbTrong đó:
Qmax: Khối lượng vận chuyển lớn nhất trên tuyến;
Qtb: Khối lượng vận chuyển trung bình trên tuyến
2.1.2.3 Đặc điểm quá trình cung ứng dịch vụ vận tải
Cung ứng DVVT được thực hiện trên cơ sở kết hợp đồng thời 3 yếu tố sản xuất như những ngành sản xuất khác, đó là: Sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động Tuy nhiên các yếu tố này có những đặc điểm khác biệt nhất định so với sản xuất vật chất
Sức lao động: Theo Các Mác, sức lao động là toàn bộ những năng lực thể chất
và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống, và được người
đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị thặng dư nào đó Sức lao động là khả năng lao động của con người, là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình sản xuất nói chung cũng như của cung cấp DVVT nói riêng, đây là yếu tố mang tính sáng tạo, chủ động trong quá trình sản xuất Tuy nhiên, sức lao động chỉ là khả năng lao động, còn hoạt động lao động (lao động) là sự tiêu dùng sức lao động trong một quá trình sản xuất nhất định
Cơ sở vật chất kỹ thuật: Chính là các tư liệu sản xuất trong cung cấp DVVT, là
yếu tố cần thiết trong quá trình cung cấp DVVT Cơ sở vật chất kỹ thuật gồm:
- Hạ tầng giao thông: Môi trường vật chất trong đó diễn ra DVVT, gồm: Mạng lưới đường giao thông, các công trình trên đường, các nút của mạng lưới,
- Cơ sở vật chất kỹ thuật của DNVT: Là những cơ sở vật chất kỹ thuật của DNVT
mà người sử dụng nó là lao động của DNVT, khách hàng hoặc cả hai cùng sử dụng
Trang 32Khách hàng: Là người thuê vận tải, trực tiếp sử dụng DVVT để thỏa mãn nhu
cầu vận chuyển hàng hóa và hành khách Đặc biệt, trong VTHK thì hành khách vừa
là đối tượng lao động, vừa là khách hàng Cho nên, có sự khác biệt về vai trò của khách hàng giữa vận chuyển hàng hóa và vận chuyển hành khách Đây là sự khác biệt quan trọng khi đánh giá DNVT về phương diện khách hàng Cần lưu ý rằng, trong vận chuyển hành khách, sự tương tác giữa hành khách với hành khách và giữa hành khách với nhân viên mà họ tiếp xúc có ảnh hưởng nhất định đến quá trình cung cấp DVVT và chất lượng dịch vụ vận chuyển hành khách
Như vậy, trong hoạt động vận tải, nếu không có đồng thời ba yếu tố là sức lao động, khách hàng và cơ sở vật chất cho hoạt động vận tải thì ta không thể hoàn thành quá trình tạo ra DVVT Hệ thống cung cấp DVVT được mô tả như sau:
(1) Nhu cầu vận tải không được đáp ứng (2) Năng lực vận tải dự trữ
Hình 2.1 Hệ thống cung cấp DVVT
Như vậy, quá trình cung ứng DVVT có những đặc trưng ảnh hưởng đến hoạt động đánh giá DNVT sau:
Cung ứng DVVT cũng là một dạng của hoạt động thương mại trong đó DNVT
có nghĩa vụ thực hiện DVVT cho khách hàng có nhu cầu vận chuyển hoặc đi lại và nhận được một khoản tiền thù lao làm dịch vụ Người làm dịch vụ có thể có hoặc
Trang 33không trực tiếp thực hiện quá trình vận tải
Vận tải không có đối tượng lao động như các ngành khác mà chỉ có đối tượng vận chuyển (hàng hoá, hành khách) Con người thông qua công cụ vận tải tác động vào đối tượng vận chuyển để thay đổi vị trí không gian và thời gian của chúng
Hoạt động vận tải không sáng tạo ra sản phẩm mới, mà sáng tạo ra một sản phẩm đặc biệt và cũng có hai thuộc tính của hàng hoá: Giá trị và giá trị sử dụng Bản chất hoạt động vận tải là thay đổi vị trí chứ không phải làm thay đổi hình dáng, tính chất lý hoá của đối tượng vận chuyển
Quá trình vận tải gắn liền với quá trình tiêu thụ sản phẩm vận tải, không có sự tách biệt giữa sản xuất với tiêu thụ, khi kết thúc vận tải thì sản phẩm vận tảicũng được tiêu thụ hết ngay
Hoạt động cung ứng DVVT không có khả năng dự trữ sản phẩm Để thoả mãn nhu cầu vận chuyển tăng đột xuất hoặc chuyên chở theo mùa, ngành vận tải phải dự trữ năng lực chuyên chở
DNVT không sở hữu mọi cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động cung ứng DVVT, trong khi đó chất lượng DVVT phụ thuộc rất nhiều vào cơ sở hạ tầng vận tải
và không thuộc sở hữu của DNVT
2.1.3 Doanh nghiệp vận tải
2.1.3.1 Khái niệm doanh nghiệp vận tải
Theo luật DN 2015 của Việt Nam, DN là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ
sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích KD[26]
DNVT là DN kinh doanh trong lĩnh vực vận tải
Về mặt quan hệ pháp lý, DNVT là nơi thực hiện các hoạt động vận tải cần thiết của xã hội để duy trì sự tồn tại và phát triển của xã hội, các hoạt động này được bảo đảm bằng pháp luật Đây đồng thời là nơi phân chia kết quả lao động giữa các DN, chủ DN với người lao động; nơi hợp tác giữa các thành viên trong DN, nó phải được bảo đảm bằng pháp luật Đây cũng là nơi thi hành quyền lực (quyền ra quyết định của lãnh đạo DN để người dưới quyền thực hiện) và việc thực hiện quyền này cũng được bảo đảm bằng pháp luật
2.1.3.2 Đặc điểm chủ yếu của doanh nghiệp vận tải
Dođặc điểm của sản xuất vận tải là “Quá trình sản xuất gắn liền với quá trình
Trang 34tiêu thụ” nênkhi căn cứ vào quá trình sản xuất thì ngành vận tải xếp vào ngành sản xuất vật chất; còn căn cứ vào quá trình tiêu thụ thì ngành vận tải xếp vào ngành dịch
vụ Theo xu thế chungngườita xếp vận tải thuộc ngành dịch vụ, thuộc (nhóm)khu vực
3 theo phân loại của WTO
Đặc trưng nổi bật của DNVT là hoạt động trên địa bàn rộng lớn, phương tiện hoạt động ngoài phạm vi DN, do đó DNVT có một số điểm khác biệt trong quá trình hoạt động với các DN khác như:
- Hoạt động phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên của tuyến khai thác như điều kiện địa hình, luồng tuyến, thời tiết,
- Khó kiểm soát hoạt động của PTVT ở bên ngoài DN, vì vậy đòi hỏi làm tốt công tác giáo dục ý thức trách nhiệm, tinh thần độc lập, sáng tạo, tính kỷ luật cho lao động trực tiếp; đồng thời, DN liên tục nâng cao chất lượng của đội ngũ lao động
- Tính rủi ro cao: Bộ phận tài sản chính của DNVT chính là PTVT hoạt động trên các tuyến khai thác luôn gặp những rủi ro, dễ gây tổn thất lớn cho DN Đặc điểm này đòi hỏi các DNVT luôn phải có những biện pháp đề phòng, ngăn ngừa rủi ro, không ngừng đổi mới công nghệ, PTVT và đặc biệt chú trọng đến trình độ của lao động trực tiếp điều khiển phương tiện
- DNVT không dự trữ được DVVT nên để đáp ứng nhu cầu vận tải biến động theo không gian và thời gian, các DNVT phải dự trữ năng lực vận chuyển: Phương tiện, thiết bị và lao động
- Hầu hết các PTVT sử dụng nhiên liệu hóa thạch nên hoạt động vận tải có tác động nhất định đến vấn đề làm khan hiếm tài nguyên và ảnh hưởng đến môi trường
- Đối tượng của vận tải gồm hàng hóa và hành khách, trong đó DVVT hành khách phải đảm bảo điều kiện cần thiết đáp ứng nhu cầu phát sinh (ăn, uống, vệ sinh, thông tin, giải trí, )
- Vốn đầu tư của DNVT chủ yếu là cho PTVT và các thiết bị phục vụ cho quá trình bảo dưỡng, sửa chữa PTVT hoặc cho quá trình tiêu thụ, mức trang bị tính bình quân một lao động cao
Các DNVT ô tô khác với DN thuộc các ngành kinh tế khác ở chỗ quá trình sản xuất cũng là quá trình tiêu thụ sản phẩm Cung cấp DVVT không có sản phẩm tồn kho; đánh giá chất lượng vận tải bằng các chỉ báo chất lượng; chất lượng DVVT phụ thuộc rất nhiều vào công tác tổ chức kinh doanh của bản thân mỗi DN
Trang 352.1.3.3 Phân loại doanh nghiệp vận tải
Việc phân loại DNVT tùy vào mục đích nghiên cứu, có nhiều cách phân loại khác nhau và được thể hiện trong Bảng 2.1
Bảng 2.1 Phân loại doanh nghiệp vận tải
STT Tiêu chí phân loại Loại doanh nghiệp vận tải
- DNVT ra ngoài nước (quốc tế)
- DNVT trong nước (Nội tỉnh, liên tỉnh)
6 Theo hình thức đầu tư - DNVT có vốn đầu tư nước ngoài (FDI, liên doanh)
- DNVT có vốn đầu tư trong nước
2.2 Đánh giá doanh nghiệp vận tải ô tô
2.2.1 Khái niệm đánh giá doanh nghiệp
Thuật ngữ đánh giá được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau nên có nhiều khái niệm khác nhau:
Trang 36Đánh giá là đưa ra nhận định tổng hợp về các dữ kiện đo lường được qua các
kỳ kiểm tra và kết thúc bằng cách đối chiếu, so sánh với những tiêu chuẩn đã được xác định rõ ràng trước đó trong các mục tiêu
Đánh giá là quá trình thu thập, xử lý thông tin để lượng định tình hình và kết quả công việc giúp quá trình lập kế hoạch, quyết định và hành động có kết quả Đánh giá là quá trình mà qua đó ta quy cho đối tượng một giá trị nào đó
Đánh giá là quá trình có hệ thống, độc lập và được lập thành văn bản để nhận được bằng chứng đánh giá và xem xét đánh giá chúng một cách khách quan để xác định mức độ thực hiện các chuẩn mực đánh giá (TCVN ISO/IEC 9000:2007)
Một cách chung nhất, có thể đưa ra khái niệm đánh giá như sau:
Đánh giá là một phương thức được sử dụng để nhận thức (thấy được mức độ đạt được) về một hay một số thuộc tính của đối tượng cần được đánh giá theo một phương diện nào đó tùy theo mục đích đánh giá bằng cách quy thuộc tính đối tượng
ra một giá trị nào đó rồi đem so sánh đối chiếu với một chuẩn mực, tiêu chuẩn hay một đối tượng khác đã được chọn
Theo khái niệm này, đánh giá có các vấn đề cơ bản sau:
- Đánh giá là một phương thức được sử dụng để thấy được mức độ đạt được có thỏa mãn yêu cầu đặt ra hay không về một hay một số thuộc tính của đối tượng (cần được đánh giá) theo một phương diện nào đó tùy theomục đích đánh giá;
- Khi đánh giá, cần xác định rõ nội dung các thuộc tính và phải quy đổi các thuộc tính đó ra các một giá trị nào đó;
- Phải có các chuẩn mực, tiêu chuẩn hay một đối tượng khác đã được chọn để làm cơ sở đánh giá
ĐGDN được hiểu là quá trình đo lường, xác định mức độ đạt được về cácc mặt của DN;thông qua phân tích dữ liệu quá khứ và hiện tại, ĐGDN nhằm xác định trạng thái của DN, thiết lập hệ thống cảnh báo các nguy cơ tiềm ẩn và cung cấp thông tin
dự đoán triển vọng phát triển của DN trong tương lai
Trạng thái hiện tại của doanh nghiệp được xác định thông qua đo lường, đánh giá mức độ đạt được của từng yếu tố cấu thành hệ thống KD của DN và quan hệ giữa chúng, đánh giá mức độ quan hệ tương tác giữa DN với môi trường thông qua các kết quả hoạt động của DN Kết quả đánh giá trạng thái hiện tại của DN là căn cứ quan trọng để các nhà quản trị DN đưa ra quyết định có hiệu quả, thiết lập hệ thống
Trang 37cảnh báo nguy cơ tiềm ẩn và dự đoán triển vọng phát triển của DN trong tương lai ĐGDN có thể hiểu là hoạt động nhằm xác định mức độ đạt được đối với từng phần hoặc toàn bộ các mặt hoạt động của DN Mặt khác, vấn đề ĐGDN cần xem xét tính đặc thù trong từng lĩnh vực KD của DN để có cách tiếp cận và đưa ra phương pháp đo lường phù hợp Như vậy, để đánh giá DN, cần thiết lập hệ thống tiêu chí, chỉ tiêu (các thuộc tính) phản ánh toàn diện các mặt hoạt động của DN và sử dụng linh hoạt phương pháp đo lường, phân tích cho phù hợp
Trong lĩnh vực vận tải, đánh giá DNVT ô tô là hoạt động nhằm đo lường, xác định mức độ đạt được của các mặt hoạt động trong DNVT Nội dung ĐGDN có thể được hình thành dưới các góc độ tiếp cận khác nhau nhằm đánh giá các mặt hoạt động bên ngoài và bên trong của DN Theo cách tiếp cận hệ thống, những vấn đề cơ bản hình thành nội dung và đặt ra yêu cầu đánh giá gồm các nguồn lực (Cơ sở vật chất kỹ thuật, tài chính, ), tổ chức và quản lý (Cơ cấu tổ chức, con người, ), hiệu quả KT - XH của DNVT Kết quả đánh giá được thể hiện bằng hệ thống thứ hạng phản ánh hiện trạng của DN tại một thời điểm nhất định Do hoạt động của DN liên tục thay đổi theo thời gian nên kết quả ĐGDN chỉ đạt độ chính xác nhất định, phù hợp với hoạt động KD trong từng giai đoạn cụ thể
Việt Nam đang chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong xu hướng toàn cầu hoá, hội nhập ngày một sâu rộng vào kinh tế khu vực
và quốc tế nhưng các DN của Việt Nam hầu như chưa có những đổi mới, cải cách cần thiết để phù hợp với MTKD mới (cơ cấu tổ chức bộ máy còn cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả, năng suất lao động thấp, giá thành sản phẩm vẫn còn cao so với các nước trong khu vực, ….); các DNVT nước ngoài sẽ vào Việt Nam tham gia hoạt động vận tải Những nhân tố này đặt các DN Việt Nam vào tình thế hết sức khó khăn trong một MTKD với mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt và mức độ rủi ro cao hơn Có thể nói ĐGDN là một nhu cầu thiết thực và khách quan đối với mọi chủ thể liên quan đến hoạt động KD của DN, gồm các chủ thể trong DN (Chủ sở hữu và người lao động) và các chủ thể bên ngoài DN (Quản lý nhà nước, đối thủ cạnh tranh, nhà cung ứng; khách hàng;chủ nợ và các nhà đầu tư tiềm năng)
2.2.2 Mục đích và lợi ích đánh giá doanh nghiệp vận tải ô tô
2.2.2.1 Mục đích đánh giá doanh nghiệp vận tải ô tô
Mục đích chung của ĐGDN là thông qua đánh giá quá khứ và hiện tại của DN
Trang 38để thấy rõ điểm mạnh, điểm yếu của DN, từ đó xác định trạng thái hiện tại, dự đoán triển vọng và cảnh báo các nguy cơ tiềm ẩn đối với DN Dựa vào kết quả đánh giá trạng thái hiện tại và xem xét sự biến động của MTKD để dự đoán khả năng phát triển của DN Các nguy cơ tiềm ẩn có thể tác động trên nhiều phương diện đối với hoạt động của DN Kết quả đánh giá trạng thái hiện tại của DN là một trong những nguồn thông tin quan trọng để làm căn cứ dự báo các nguy cơ có thể xảy ra đối với
DN Cho nên, DN cần thiết lập một hệ thống chỉ tiêu cảnh báo với những tiêu thức
cụ thể (có thể là tiêu thức thuộc tính hoặc tiêu thức số lượng) để cho biết DN đã bị rơi vào vùng bị báo động hay chưa Các chỉ tiêu của hệ thống này tùy thuộc vào ngành nghề, lĩnh vực hoạt động của DN Ngoài ra, phương pháp và cách thức đánh giá cũng ảnh hưởng quan trọng đến kết quả đánh giá
Tóm lại, mục đích cơ bản của ĐGDN là xác định trạng thái hiện tại, dự đoán triển vọng và thiết lập hệ thống cảnh báo nguy cơ tiềm ẩn có ảnh hưởng xấu đến hoạt động KD của DN, từ đó làm cơ sở cho các chủ thể có liên quan đến DN đưa ra các quyết định hiệu quả hơn Về cơ bản, mỗi chủ thể khác nhau sẽ đặt ra yêu cầu và mục đích đánh giá khác nhau Tuy nhiên, mỗi chủ thể đánh giá cần dựa vào hệ thống tiêu chí, chỉ tiêu, phương pháp đo lường và chuẩn mực đánh giá thống nhất
2.2.2.2 Lợi ích từ đánh giá doanh nghiệp vận tải
Thông qua việc đánh giá DN, các bên có liên quan và bản thân DN phát hiện kịp thời các tồn tại để đề ra các biện pháp khắc phục, cải tiến để nâng cao HQKD ĐGDN đem lại lợi ích nhất định cho các chủ thể liên quan như quản lý nhà nước, DNVT, đối thủ cạnh tranh và các đối tác khác
Đối với cơ quan quản lý nhà nước
Để thực hiện tốt chức năng quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế quốc dân, các
cơ quan quản lý nhà nước cần tiến hành đánh giá DNVT làm cơ sở đề ra các chính sách liên quan như: Chính sách thuế, chính sách đầu tư, chính sách tín dụng, …Các chính sách này đảm bảo MTKD lành mạnh, tạo điều kiện cho nền kinh tế cũng như các doanh nghiệp phát triển một cách ổn định và bền vững
Kết quả ĐGDN cho phép các cơ quan quản lý nhà nước kịp thời tiến hành những biện pháp điều chỉnh chính sách, thực hiện tốt hơn chức năng điều tiết và quản
lý vĩ mô nền KT – XH Đồng thời, Chính phủ có thể đánh giá mức độ tác động của các chính sách kinh tế, chính trị, … đến nền kinh tế quốc gia để kịp thời đưa ra các
Trang 39quy định pháp lý nhằm tạo ra một MTKD thuận lợi và bình đẳng cho các hoạt động
KD của các DN Mặt khác, khi Chính phủ - đóng vai trò là người chủ sở hữu, những quyết định phù hợp sẽ đảm bảo nâng cao HQKD của khối các DNNN
Đối với doanh nghiệp vận tải
Mỗi DNVT luôn có nhu cầu biết rõ hiện trạng cũng như triển vọng phát triển trong tương lai của nó để đề điều chỉnh, cải tiến hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả
KD, tăng doanh thu, tăng thị phần, tăng lợi nhuận, tăng cường khả năng cạnh tranh,
… Thông qua đánh giá, DN có khả năng nhận định thực tế và khách quan về thành tích của DN;đồng thời, kết quả đánh giá là cứ liệu quan trọng để DNVT dự đoán nguy cơ tiềm ẩn, dự báo triển vọng phát triển, từ đó đề ra kế hoạch, biện pháp cần thiết để nâng cao HQKD, tăng cường khả năng cạnh tranh, nâng cao thị phần và đảm bảo phát triển bền vững
Đối với các chủ sở hữu doanh nghiệp, chủ nợ
Đối với các chủ sở hữu, ĐGDN là làm cơ sở để đưa ra các quyết định thích hợp nhằm bảo vệ quyền lợi của họ trong DN như: Ủng hộ hay phản đối (thay thế) ban lãnh đạo điều hành DN; tiếp tục đầu tư hay rút vốn ra khỏi DN
Đối với các chủ nợ, kết quả ĐGDN là cơ sở để các chủ nợ hiện tại và tiềm năng đưa ra quyết định tiếp tục cho vay hay rút vốn vay, từ chối cho vay hay cho vay, hoặc cho vay với những điều kiện đảm bảo nhất định nào đó
Đối với các đối thủ cạnh tranh
Kết quả ĐGDN cho phép xác định vị thế của DN trên thị trường Sự hiểu biết
về đối thủ cạnh tranh thông qua ĐGDN sẽ là các thông tin quan trọng để mỗi DNVT
đề ra chiến lược và tổ chức hoạt động KD nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường
Đối với các nhà cung cấp
Các nhà cung cấp cần ĐGDN nhằm xác định khả năng mua và khả năng thanh toán tiền hàng của DN khách hàng, từ đó đề ra chính sách nhằm hạn chế tối đa sự phát sinh các khoản nợ khó đòi Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng thương mại (Phát sinh dưới dạng mua bán chịu, mua bán chậm trả, …) là một hình thức tín dụng khá phổ biến nên các nhà cung cấp càng cần thiết phải ĐGDN khách hàng
Đối với khách hàng
Các khách hàng ĐGDN nhằm mục đích xác định khả năng cung ứng, tính ổn
Trang 40định của nguồn cung cấp, … Đặc biệt đối với các khách hàng chủ yếu sử dụng dịch
vụ của DN, kết quả đánh giá DNVT cung cấp thông tin quan trọng để quyết định lựa chọn dịch vụ đảm bảo cho hoạt động của khách hàng
2.2.3 Nội dung đánh giá doanh nghiệp vận tải hành khách bằng ô tô
Các kết quả đã đạt được và triển vọng phát triển của DNVThành khách bằng ô
tô được hình thành dựa trên quan hệ giữa các yếu tố trong hệ thống cung cấp DVVT hành khách bằng ô tô, các yếu tố này có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp với mức
độ, phạm vi và chiều hướng khác nhau Mối quan hệ và sự tương tác giữa các yếu tố này là cơ sở hình thành các nội dung đánh giá DN
Hoạt động cung cấp DVVT và các yếu tố tác động đến hoạt động cung cấp DVVT của các DNVT hành khách bằng ô tôcó thể khái quát qua hình 2.2
Hình 2.2 Quan hệ giữa các yếu tố trong hệ thống cung ứng dịch vụ vận tải
Ngoài ra, quá trình đánh giá DNVT nói chung và DNVT hành khách bằng ô tôcòn chịu ảnh hưởng bởi:
- Đặc điểm của quá trình vận tải ô tô;
- Đặc điểm hệ thống cung cấp DVVT của các DNVT;
- Đặc điểm hoạt động của DNVT;
- Đặc điểm của DVVT;
- Đặc điểm của nhu cầu vận tải ô tô
- Những yếu tố không định lượngđược như thái độ phục vụ của nhân viên
Chủ sở hữu
Các tác động bên ngoài
KẾT QUẢ
Quá trình
vận tải
Khách hàng