Tổng công ty Dệt - May Việt Nam là Tổng công ty Nhà nước, do Thủ tướng Chính phủ quyết địnhthành lập, gồm các thành viên có quan hệ gắn bóvới nhau về lợi ích kinh tế, tài chính, công ngh
Trang 1THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐỐI VỚI PHẦN VỐN NHÀ NƯỚC TẠI NHÀ MÁY LEN HÀ ĐÔNG
2.1 Tổng quan Nhà máy len Hà Đông
2.1.1 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển
Nhà máy len Hà Đông là một doanh nghiệp nhà nước, được khởi công xây dựng
vào tháng 4/1958 Năm 1959, chính thức đi vào hoạt động và có tên là Nhà máynhuộm in hoa Hà Đông Khi đó, Nhà máy chỉ là một cơ sở gia công nhuộm tẩy cácmặt hàng vải lụa, sợi thuộc công ty Bông vải, sợi-Bộ nội thương Ban đầu, côngnghệ sản xuất chủ yếu là sản xuất thủ công tren chảo rang và hong khô ngoài trời Tháng 1/1961, Nhà máy chính thức được chuyển sang cho bộ Công nghiệp nhẹquản lý và đổi tên thành Xí nghiệp in hoa Hà Đông Nhiệm vụ chủ yếu của xínghiệp lúc đó là in hoa trên vải và khăn mặt bông, nhuộm vải sợi phục vụ tiêudùng trong nước
Năm 1973, theo kế hoạch đầu tư mở rộng của Bộ Công nghiệp nhẹ, xí nghiệpđược đầu tư xây dựng thêm một phân xưởng sản xuất len phục vụ cho dệt thảmxuất khẩu Nhờ đó, thiết bị sản xuất của xí nghiệp được cơ khí hoá dần dần Đếnnăm 1977, xí nghiệp được đổi tên thành Nhà máy len nhuộm Hà Đông, thuộc Liênhiệp các xí nghiệp dệt Bộ công nghiệp
Từ năm 1990, thực hiên chương trình Đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước,Nhà máy đã tiến hành tổ chức lại sản xuất và sắp xếp lại lao động Để giải quyếtcông ăn việc làm cho số lao động dư thừa, Nhà máy đã xây dựng thêm một bộphận dệt thảm len xuất khẩu, đồng thời phát triển thêm dây truyền in vải hoa (lànghề truyền thống của nhà máy) Cũng trong năm này, Nhà máy đổi tên thànhCông ty len Hà Đông Năm 1996, Nhà máy đầu tư xây dựng thêm một phân xưởngsản xuất len Acrylic đan áo từ xơ hoá học với dây chuyền công nghệ và máy mócnhập khẩu từ Pháp
Năm 1999, Nhà máy chính thức sát nhập trở thành đơn vị trực thuộc Công tylen Việt Nam (thành viên của Tổng công ty dệt may Việt Nam) và mang tên Nhà
Trang 2Tổng công ty dệt may
Việt Nam
Nh máy len Hà máy len Hà à máy len Hà
Đông
Công ty len Việt Nam
máy len Hà Đông Hiện mặt hàng chủ yếu của Nhà máy là len thảm và len Acrylic;ngoài ra, nhà máy còn nhận gia công nhuộm vải và in hoa
Qua hơn 40 năm xây dựng và phát triển, Nhà máy đã có nhiều cố gắng trongviệc đầu tư mở rộng cơ sở vật chất kĩ thuật cho sản xuất Từ một cơ sở gia công,sản xuất thủ công ban đầu, đến nay đã trở thành một nhà máy với 320 cán bộ côngnhân viên Trong những năm gần đây, do biến động của thị trường tiêu thụ, sảnphẩm của nhà máy phải cạnh tranh với các hàng hoá nhập lậu bằng các đường tiểunghạch qua biên giới nên Nhà máy gặp rất nhiều khó khăn Tuy vậy, Nhà máy vẫnluôn cố gắng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước, đảm bảo việc làm cho sốlao động hiện có
Tổng công ty Dệt - May Việt Nam là Tổng công
ty Nhà nước, do Thủ tướng Chính phủ quyết địnhthành lập, gồm các thành viên có quan hệ gắn bóvới nhau về lợi ích kinh tế, tài chính, công nghệ,thông tin, đào tạo, nghiên cứu, tiếp thị, hoạt độngtrong ngành dệt, may mặc, nhằm tăng cường tích tụ, tập trung, phân công chuyênmôn hoá và hợp tác sản xuất để thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao; nâng cao khảnăng và hiệu quả kinh doanh của các đơn vị thành viên và của toàn Tổng công ty,đáp ứng nhu cầu của thị trường Cụ thể là:
+ Đổi mới công nghệ, trang thiết bị theo chiến lược phát triển của Tổng công ty + Giao lại cho các đơn vị thành viên quản lý, sử dụng các nguồn lực mà Tổngcông ty đã nhận của Nhà nước; điều chỉnh những nguồn lực đã giao cho các đơn vịthành viên trong trường hợp cần thiết, phù hợp với kế hoạch phát triển chung củatoàn Tổng công ty
Trang 3+ Lựa chọn, khai thác và mở rộng thị trường trong và ngoài nước; hướng dẫn vàphân công thị trường cho các đơn vị thành viên; được xuất khẩu, nhập khẩu theoquy định của Nhà nước.
+ Hướng dẫn giá hoặc khung giá xuất, nhập khẩu vật tư, nguyên liệu, phụ liệu,thiết bị, phụ tùng, sản phẩm và dịch vụ trong Tổng công ty; quy định khung giáxuất, nhập khẩu một số vật tư, nguyên phụ liệu, thiết bị, phụ tùng, sản phẩm vàdịch vụ quan trọng Trường hợp các đơn vị thành viên phải áp dụng mức giá khôngnằm trong khung giá xuất, nhập khẩu do Tổng công ty quy định thì phải được sựđồng ý của Tổng Giám đốc
+ Xây dựng và áp dụng các định mức lao động, vật tư chủ yếu, đơn giá tiềnlương trên đơn vị sản phẩm trong khuôn khổ các định mức, đơn giá của Nhà nước
Công ty Len Việt nam là doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, hạch
toán độc lập, được Tổng công ty dệt may Việt Nam giao vốn, tài nguyên, đất đai vàcác nguồn lực khác Công ty chịu trách nhiệm về cam kết của mình trong phạm vi
số vốn do Công ty quản lý và sử dụng, cụ thể là:
- Trong chiến lược và đầu tư phát triển, Công ty được giao tổ chức thực hiệncác dự án đầu tư phát triển theo kế hoạch của Tổng công ty và được Tổng công tygiao các nguồn lực để thực hiện dự án đó;
- Trong hoạt động kinh doanh, Công ty xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạchcủa mình trên cơ sở bảo đảm các mục tiêu, chỉ tiêu, các cân đối lớn, các định mứckinh tế - kỹ thuật chủ yếu, đơn giá và giá của Công ty phù hợp với kế hoạch chungcủa Tổng công ty;
- Trong hoạt động tài chính và hạch toán kinh tế:
+ Công ty được nhận vốn là nguồn lực khác của Nhà nước do Tổng công tygiao lại cho Công ty Công ty có nhiệm vụ bảo toàn, phát triển vốn và các nguồnlực này;
+ Công ty được hình thành quỹ đầu tư xây dựng cơ bản, quỹ phát triển sản xuất,quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ dự trữ tài chính theo Quy chế tài chính củaTổng công ty; có nghĩa vụ trích nộp và sử dụng các quỹ tập trung của Tổng công tyquy định tại Quy chế tài chính Tổng công ty và theo các quyết định của Hội đồngquản trị;
Trang 4GI MÁM
ĐỐC
+ Công ty giao vốn và nguồn lực khác cho các nhà máy thành viên, được quyền điều hoà vốn, điều động tài sản giữa các nhà máy thành viên, tương ứng với nhiệm
vụ sản xuất kinh doanh Công ty giao theo nguyên tắc tăng, giảm
Nhà máy len Hà Đông, với tư cách là một thành viên hạch toán phụ thuộc Công
ty len Việt Nam, được Công ty giao vốn, chịu trách nhiệm trước Công ty và Nhà nước về hiệu quả sử dụng, bảo toàn phát triển vốn và các nguồn lực được giao Nhà máy chịu sự chỉ đạo, điều phối trong hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động đầu tư và sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ trong hoạt động tài chính của Công
ty
Nhà máy Len Hà Đông tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh theo mô hình trựctuyến Đứng đầu nhà máy là giám đốc- chịu trách nhiệm lãnh đạo chung toàn nhàmáy Giám đốc chịu trách nhiệm trước Nhà nước, trước nhà máy về mọi hoạt độngsản xuất kinh doanh và thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước Giúp việc cho giámđốc có phó giám đốc kĩ thuật là người tham mưu cho giám đốc Dưới nữa, Nhàmáy có các phòng ban chức năng như: Phòng tổ chức hành chính, Phòng kĩ thuật,
Phòng kinh doanh, Phòng tài chính- kế toán Giữa các phòng ban chức năng có sự
phối hợp chặt chẽ với nhau, cùng triển khai thực hiện các mục tiêu sản xuất kinhdoanh của Nhà máy Dưới đây là sơ đồ tổ chức quản lý của Nhà máy len Hà Đông:
Phòng kinhdoanh
Ng nh cà máy len Hà ơđiện
Phân xưởngnhuộm, in hoa
Phânxưởng len2
Phân
xưởng len
1
Trang 52.1.3 Đặc điểm tổ chức hệ thống sản xuất và tiêu thụ
2.1.3.1 Nguyên vật liệu
Nguyên vật liệu của Nhà máy bao gồm nguyên liệu chính và vật liệu phụ (hoáchất thuốc nhuộm, nước nhuộm, nhiên liệu động lực) với nhiều chủng loại dùng đểsản xuất các loại sản phẩm khác nhau
Nguyên liệu chính chủ yếu bao gồm: Lông cừu nhập từ NewDiland dùng để sảnxuất len thảm; Tow Acrylic trắng nhập từ Nhật Bản để sản xuất len Acrylic
Vật liệu phụ bao gồm: Midlonfast blue E 200%, Polar Yellow, Albegal A dùng
để sản xuất len thảm; Tinegal MR, Soft AWT dùng để sản xuất len Acrylic; Cácloại vật liệu phụ khác
2.1.3.2 Lao động
Nhà máy len Hà Đông có số công nhân viên trong danh sách là 405 người
nhưng hiện thực tế đi làm tại Nhà máy là 320 người trong đó nhân viên quản lý là
44 người (do thời gian trước, Nhà máy không có việc làm nên đã giải quyết chomột bộ phận công nhân viên về nghỉ không lương)
2.1.3.3 Trang thiết bị, máy móc
Máy móc, thiết bị của Nhà máy len Hà Đông hiện nay đã quá cũ Hầu hết các
máy móc, thiết bị của Nhà máy đã được đưa vào sử dụng từ năm 1976 và 1982.Riêng máy móc thiết bị tại phân xưởng 2 tuy mới được đầu tư mua năm 1996nhưng không phải máy móc thiết bị mới được sản xuất mà cũng chỉ là hàng dùnglại, theo xác minh chúng được sản xuất từ năm 1989
2.1.3.4 Cơ cấu tổ chức sản xuất
Nhà máy gồm có 3 phân xưởng và một ngành sản xuất Các phân xưởng đều có
mô hình tổ chức quản lý như sau: Đứng đầu các phân xưởng, ngành là các quản
cơ điện
Phânxưởng nồihơi
Trang 6đốc, trưởng ngành Giúp việc cho các quản đốc có các đốc công, các cán bộ kĩthuật và các tổ trưởng sản xuất, giúp việc cho trưởng ngành cũng có các tổ trưởngsản xuất Mỗi phân xưởng và ngành sản xuất một hoặc một nhóm sản phẩm: Phânxưởng len 1 sản xuất len thảm, phân xưởng len 2 sản xuất len cao cấp Acrylic đan
áo từ xơ hoá học, phân xưởng nhuộm- in hoa nhuộm, in vải hoa gia công các loạitheo yêu cầu của khách hàng, ngành cơ điện sản xuất phụ trợ cho các phân xưởngtrong nhà máy
2.1.3.5 Tình hình tiêu thụ:
Hiện nay, Nhà máy có hai cửa hàng giới thiệu và bán sản phẩm của Nhà máy,nhưng chỉ có một cửa hàng là hoạt động thực sự có hiệu quả Tình hình tiêu thụ sảnphẩm được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1: Sản lượng thực tế năm 2001, 2002
Loại sản phẩm Sản lượng sản xuất (kg) Sản lượng tiêu thụ (kg)
(Nguồn: Báo cáo tình hình tiêu thụ sản phẩm của Nhà máy)
Như vậy, sản lượng sản xuất, tiêu thụ len thảm giảm do nhu cầu đối với mặthàng này giảm mạnh Chỉ có len Acrylic là tăng sản lượng sản xuất, tiêu thụ; vớimặt hàng này, đối thủ cạnh tranh đáng kể nhất của Nhà máy là len AC của TrungQuốc có giá hiện rẻ hơn len của Nhà máy 2000đ/cân song chất lượng kém hơn,tràn vào theo đường tiểu ngạch chiếm lĩnh thị trường và len Vĩnh Thịnh chuyênsản xuất len Acrylic dùng để đan áo, công ty này nhập khẩu top màu nên có lợi thế
là màu của họ đẹp và đồng đều hơn song lại có hạn chế là không chủ động được vềmàu của sản phẩm nên không đáp ứng được nhu cầu đa dạng và thường xuyên thayđổi của khách hàng, trong khi đó Nhà máy len Hà Đông do quy trình sản xuất là tựnhuộm màu nên tuy sản phẩm không đẹp và đồng đều được như bên Vĩnh Thịnh(do công nghệ lạc hậu hơn và tay nghề công nhân yếu hơn) song lại có thể chủđộng trong việc nhuộm màu đáp ứng nhu cầu đa dạng và hay thay đổi của ngườitiêu dùng; nhờ lợi thế đó mà sản lượng sản xuất, tiêu thụ của Nhà máy năm qua
Trang 7vẫn tăng Có thể kể tên một số khách hàng lớn của Nhà máy trong 2 năm qua gồmcó: Công ty TNHH Hoàng Dương (60 tấn len Acrylic mỗi năm), Công ty cổ phầnkinh doanh len Sài Gòn (20 tấn len Acrylic mỗi năm), Công ty TNHH Đông Đô(20 tấn len thảm), Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủ công mỹ nghệ Nam Định (6tấn len thảm)
2.2 Thực trạng công tác quản lý đối với phần vốn nhà nước tại Nhà máy len
Hà Đông
2.2.1 Cơ sở thực hiện quản lý vốn nhà nước tại Nhà máy len Hà Đông
Quốc hội, Chính Phủ, các Bộ ban hành các văn bản pháp luật (từ Luật tới Thôngtư) quy định các chế độ quản lí vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước Có thể kểtên một số văn bản sau đây: Luật doanh nghiệp nhà nước ngày 20/04/1995; Nghịđịnh số 59/CP ngày 3/10/1996 của Chính phủ về Quy chế quản lý tài chính và hạchtoán kinh doanh đối với doanh nghiệp Nhà nước; Nghị định số 27/1999/NĐ-CPngày 20/04/1999 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung Nghị định số 59/CP nóitrên; Nghị định số 69/2002/NĐ-CP ngày 12/7/2002 về quản lý và xử lý nợ tồnđọng đối với DNNN và Thông tư số 85/2002/TT-BTC hướng dẫn thực hiện Nghịđịnh này; Thông tư số 62/1999/TT-BTC ngày7/6/1999 hướng dẫn việc quản lý, sửdụng vốn và tài sản trong doanh nghiệp nhà nước; Chế độ quản lí, sử dụng và tríchkhấu hao tài sản cố định (Ban hành kèm theo Quyết định số 166/1999/QĐ-BTCngày 30/12/1999 của Bộ trưởng Bộ tài chính)
Tổng công ty dệt may Việt Nam dựa vào những văn bản pháp luật liên quannhư trên và Quy chế tài chính mẫu của Tổng công ty nhà nước (Ban hành kèm theoQuyết định số 838 TC/QĐ/TCDN ngày 28/8/1996 của Bộ trưởng Bộ Tài chính)xây dựng Quy chế tài chính của Tổng công ty dệt may Việt Nam (Ban hành kèmtheo Quyết định số 36/QĐ/HĐQT ngày 15/2/1997 của Chủ tịch Hội đồng quản trịTổng công ty dệt may Việt Nam) Công ty len Việt Nam (một thành viên hạch toánđộc lập Tổng công ty dệt may Việt Nam) căn cứ vào đó xây dựng Quy chế tàichính Công ty len Việt Nam (Ban hành kèm theo Quyết định số 19/QĐ-CTLVN
ngày 19/8/1999 của Tổng giám đốc Công ty len Việt Nam), trong đó đưa ra Chế
độ tài chính của các đơn vị thành viên ( là các thành viên hạch toán phụ thuộc
Công ty len Việt Nam trong đó có Nhà máy len Hà Đông) Các nhà máy thành viên
Trang 8chịu trách nhiệm thi hành nghiêm chỉnh các quy định trong quy chế này Ngoài cácquy định trên, các nhà máy thành viên thực hiện đúng quy chế quản lý tài chính vàhạch toán kinh doanh theo quy định hiện hành của nhà nước.
Nội dung các văn bản trên đây hình thành nên căn cứ để các cấp quản lý quản lývốn nhà nước tại Nhà máy len Hà Đông
2.2.2 Tổ chức thực hiện quản lý vốn nhà nước tại Nhà máy
2.2.2.1 Quản lý quá trình hình thành vốn
Được thành lập ngày 29/3/1999, Công ty len Việt Nam thực hiện giao vốn choNhà máy len Hà Đông trên cơ sở số vốn Nhà máy len Hà Đông đang quản lý và sửdụng Theo Biên bản giao vốn đó, vốn Công ty len Việt Nam giao cho Nhà máylen Hà Đông sử dụng và bảo toàn tính đến 0h ngày 1/7/1999 thể hiện ở Bảng dưới:
Bảng 2: Vốn giao cho Nhà máy len Hà Đông tính đến ngày 1/7/1999
đơn vị : đồng
Chỉ tiêu Tổng nguồn
vốn
Trong đó Nguồn ngân sách Nguồn bổ sung
Tổng số vốn giao 11.250.652.059 4.847.958.744 6.402.693.315
1 Vốn cố định 5.200.688.859 2.503.093.658 2.697.595.201-Dùng trong SXKD 4.956.668.276 2.259.073.075 2.697.595.201
(Nguồn : Biên bản giao vốn cho Nhà máy len Hà Đông ngày 1/7/1999)
Số vốn giao được xác định qua sổ sách Nhà máy len Hà Đông đưa lên, khôngđược Công ty len Việt Nam kiểm kê kỹ lưỡng để đánh giá lại giá trị phần vốn nhànước tại Nhà máy
Trang 9Theo số liệu tổng kết được từ Báo cáo tài chính của Nhà máy những năm gầnđây, Vốn Nhà nước giao cho Nhà máy được thể hiện ở Đồ thị sau:
Đồ thị 1: Tình hình biến động vốn nhà nước qua hai năm 2001-2002
(số dư tại thời điểm 31/12 hàng năm)
Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 VNN (đ) 11203245976 11255478548 10877609283 18488599890
Đồ thị trên cho thấy chỉ có
sự giảm nhẹ của vốn nhà nước
0 2000000000
Trang 10giai đoạn 1999-2001 theo cả giá trị tuyệt đối và tương đối (trong năm 2001 Nhàmáy điều chuyển 1 cửa hàng cho Công ty len Việt Nam cùng máy móc cho Nhàmáy len Bình Lợi); song sang năm 2002 thì có sự biến động mạnh là do khoản vốn7.478.889.093 đ trước đã được Công ty len Việt Nam quyết định điều chuyển khỏiNhà máy nhưng Nhà máy chưa chuyển mà vẫn để lại ở tài khoản 336- phải trả nội
bộ, trong năm 2000 sau khi Nhà máy được kiểm toán thấy việc điều chuyển đókhông hợp lí đã kiến nghị lên Công ty điều chuyển lại số vốn đó cho Nhà máy vàđược Công ty thực hiện trong năm 2002
Ở Nhà máy len Hà Đông, hình thức thực hiện đầu tư và phạm vi đầu tư của Nhànước vào Nhà máy cụ thể như sau:
Hai là, cho Nhà máy vay dài hạn không tính lãi, để lại tiền khấu hao để Nhà
máy tái đầu tư, thay thế đổi mới tài sản cố định và sử dụng cho các yêu cầu kinh doanh khác theo quy định của Nhà nước;
Ba là, giao quyền sử dụng đất cho Nhà máy dưới hình thức thuê đất:
- Diện tích đất Nhà máy thuê là 39.938m2
- Về đường phố, khu đất nằm trên đường 430 thuộc địa bàn Vạn Phúc Căn cứvào Quyết định 03 của UBND tỉnh Hà Tây thì lô đất của Nhà máy nằm trênđường phố loại 2
- Về vị trí, căn cứ vào thông tư liên bộ 856, thông tư 70 của Bộ Tài Chính, căn
cứ thực tế lô đất của Nhà máy từ đường 430 kéo dài xuống áp với ruộng canhtác của Vạn Phúc (chiều dài > 200m2)
- Về tiền thuê, hiện Nhà máy phải nộp tiền thuê hàng năm: 101.457.000 đ
Trang 11Là một đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc Công ty len Việt Nam, vốn Nhànước giao cho Nhà máy quản lí và sử dụng bao gồm:
Một là, vốn được cấp từ ngân sách và vốn có nguồn gốc ngân sách:
+ Do Công ty len Việt Nam cấp trực tiếp;
+ Công ty len Việt Nam điều chuyển về từ các đơn vị nội bộ là các Nhà máy: Dệt chăn - Len Bình Lợi, Len Vĩnh Thịnh, Len Biên Hoà, Len Hải Phòng, Len Nam Định;
+ Quỹ khấu hao cơ bản Công ty len Việt Nam không thu mà để lại cho Nhàmáy quản lí và sử dụng (để tái đầu tư, thay thế đổi mới tài sản cố định và sử dụngcho các yêu cầu kinh doanh khác theo quy định);
+ Tiền lãi không phải trả từ các khoản vốn vay Tổng công ty dệt may ViệtNam;
Hai là, vốn Nhà máy tự tích luỹ từ lợi nhuận sau thuế của Nhà máy;
Hàng năm Nhà máy len Hà Đông căn cứ vào nhiệm vụ sản xuất kinh doanh,tiến hành xây dựng kế hoạch tài chính Công ty len Việt Nam xem xét nhu cầu vềvốn của Nhà máy; nếu qua xem xét thấy Nhà máy thiếu vốn, Công ty có biện pháp
bổ sung kịp thời: điều động, xin cấp bổ sung theo luật định, hoặc đi vay cho Nhàmáy và ngược lại
Bên cạnh vốn được giao, Nhà máy đã tự huy động vốn để phục vụ sản xuất kinh
doanh, thay đổi cơ cấu nguồn và tài sản nhằm mục tiêu hiệu qủa, bảo toàn và pháttriển vốn, cụ thể: Nhà máy sử dụng tín dụng Ngân hàng với số dư Nợ1000.000.000đ tại thời điểm 01/01/2002, tín dụng thương mại với số dư Nợ435.504.481 đồng tại thời điểm 01/01/2002 và 617.731.708 đồng tại thời điểm31/12/2000 Vốn này được Nhà máy sử dụng để phục vụ kịp thời các nhu cầutrong kinh doanh theo nguyên tắc bảo toàn và có hoàn trả Tài sản được thay đổi cơcấu theo hướng giảm ngân quỹ nhằm đẩy mạnh sản xuất (tăng tồn kho) và tiêu thụ(tăng phải thu) Tổng giám đốc Công ty len Việt Nam uỷ quyền cho Giám đốc Nhàmáy len Hà Đông được vay vốn lưu động theo mức quy định tại giấy uỷ quyền vớithời gian vay từ 6 tháng đến dưới 12 tháng Vay dài hạn được căn cứ vào từng dự
án được duyệt Trong trường hợp có nhu cầu vay lớn hơn, Tổng giám đốc sẽ uỷ
Trang 12quyền từng trường hợp cụ thể Tổng giám đốc công ty còn uỷ quyền cho Giám đốcnhà máy len Hà Đông được ký hợp đồng mua nguyên vật liệu trả chậm thông quaVinatex ở phía bắc, hoặc các đơn vị khác.
2.2.2.2 Quản lý quá trình sử dụng vốn
a, Từ phía Nhà máy len Hà Đông:
Nhà máy len Hà Đông theo đó đã và đang thực hiện các biện pháp quản lý sau:
Một là, Nhà máy đã mở sổ và ghi sổ kế toán (theo hình thức Nhật ký chứng từ)
theo dõi chính xác toàn bộ tài sản và vốn hiện có theo đúng chế độ hạch toán kếtoán, thống kê hiện hành: cụ thể là theo Quyết định số 1141/TC/QĐ/CĐKT ngày1/11/1995 về chế độ kế toán doanh nghiệp; Thông tư số 10 TC/CĐKT ngày20/3/1997 và Thông tư số 120/1999/TT-BTC ngày 7/10/1999 hướng dẫn sửa đổi,
bổ sung chế độ kế toán doanh nghiệp về niên độ kế toán (bắt đầu từ 1/1 kết thúc31/12); đơn vị tiền tệ sử dụng trong ghi chép (đồng); phương pháp kế toán TSCĐ(phương pháp khấu hao tuyến tính và đánh giá theo mặt bằng giá tại thời điểm);phương pháp kế toán hàng tồn kho (phương pháp kê khai thường xuyên) ; phảnánh trung thực, kịp thời tình hình sử dụng, biến động của tài sản và vốn trong qúatrình kinh doanh của Nhà máy; với báo cáo tài chính doanh nghiệp, Nhà máy thựchiện đúng các quy định trong Chế độ báo cáo tài chính doanh nghiệp ban hành theoQuyết định số 167/2000/QĐ-BTC ngày 25/10/2000 Theo đó, Nhà máy đã lập 3biểu mẫu báo cáo bắt buộc là Bảng cân đối kế toán, Kết quả hoạt động kinh doanh
và Thuyết minh báo cáo tài chính Thực hiện công khai tài chính với cán bộ thuế
và với cấp trên (Công ty len Việt Nam)
Hai là, đối với ngân quỹ, Nhà máy đã mở sổ theo dõi chi tiết các khoản: Tiền
mặt tại quỹ (gồm cả ngân phiếu), Tiền gửi ngân hàng và Tiền đang chuyển; thựchiện Quy chế tài chính của Công ty len Việt Nam, Nhà máy đã mở tài khoản ViệtNam đồng ở Ngân hàng Công thương Hà Tây (số dư cuối năm 2002 là826.720.150 đồng), thực hiện chuyên thu, chuyên chi đối với tài khoản này theoquy định của Công ty len Việt Nam (quy định trong Quy chế tài chính Công ty lenViệt Nam) Cụ thể, tài khoản này đã được thông báo tới ngân hàng về được quyđịnh chuyên thu chuyên chi như sau:
Trang 13- Về thu: + Thu về các khoản tiền do Công ty len Việt Nam và các nhà máy
thành viên trong Công ty chuyển tới;
+ Thu về các khoản do cơ quan nhà nước cấp;
+ Thu về các khoản do Nhà máy nộp vào tài khoản;
+ Thu về tiền hoàn thuế GTGT;
- Về chi: + Rút tiền về để trả lương và các khoản chi phí khác tại Nhà máy;
+ Chi trả bằng chuyển khoản cho các đơn vị trong nước về việc mua nguyên vật liệu ;
+ Chuyển tiền về Công ty và các đơn vị thành viên trong Công ty;
+ Trả tiền điện, điện thoại, nước, nộp thuế
Tuy vậy, quy định về hạn mức số dư tiền mặt (50.000.000 đồng) và số dư tàikhoản (100.000.000 đồng) của Công ty len Việt Nam không được Nhà máy thựchiện
Ba là, đối với TSCĐ, từ năm 2000 đến nay, Nhà máy quản lí, sử dụng và trích
khấu hao đúng theo Chế độ quản lí, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định banhành kèm theo Quyết định số 166/1999/QĐ-BTC ngày 30/12/1999 của Bộ trưởng
Bộ tài chính (trước đó, Nhà máy đã thực hiện theo Chế độ quản lý, sử dụng vàtrích khấu hao tài sản cố định ban hành kèm theo Quyết định số 1062TC/QĐ/CSTC ngày 14/11/1996 của Bộ trưởng Bộ Tài chính) Cụ thể:
- Các TSCĐ trong Nhà máy đều có bộ hồ sơ riêng (bộ hồ sơ gồm có biên bảngiao nhận tài sản cố định, hợp đồng, hoá đơn mua tài sản cố định và các chứng từkhác có liên quan), được theo dõi, quản lý, sử dụng và trích khấu hao theo đúngcác quy định trong Chế độ hiện hành Nhà máy áp dụng phương pháp khấu haotuyến tính theo điều 18 của Chế độ này, theo đó:
Mức trích khấu hao Nguyên giá của tài sản cố định
trung bình hàng năm =
của tài sản cố định Thời gian sử dụng.
Trang 14Thời gian sử dụng của TSCĐ được Nhà máy định theo quy định tại điều 15 củaChế độ hiện hành Đồng thời, Nhà máy xác định nguyên giá của tài sản cố địnhnhư sau:
+ Đối với TSCĐ loại mua sắm (như Máy biến áp 380/ 220 V-nguyên giá63.570.440 đ, Máy bứt đầu tư thêm-nguyên giá 84.028.704 đ mới mua năm
2001 ): Nguyên giá = giá thực tế phải trả + chi phí vận chuyển, bốc dỡ + chi phí lắp đặt, chạy thử, thuế và lệ phí tr|ớc bạ;
+ Đối với TSCĐ loại đầu tư xây dựng (như Nhà kèo tiệp Len 2 mới-nguyên giá664.007.464 đ xây xong trong năm 2001, Nhà vệ sinh khu điều hành-nguyêngiá 39.174.000 đ xây xong đầu năm 2002 ):
Nguyên giá = giá quyết toán công trình xây dựng + các chi phí khác liên quan;
+ Đối với TSCĐ loại được Công ty len cấp, được điều chuyển đến từ các đơn vịnội bộ của Công ty len (như Máy ghép chuyển từ len NĐ lên- nguyên giá865.422.356 đ, Máy sợi thô chuyển từ len NĐ lên-nguyên giá 449.515.209 đ ):
Nguyên giá TSCĐ là nguyên giá phản ánh ở đơn vị bị điều chuyển phù hợp với
bộ hồ sơ của TSCĐ đó Nhà máy căn cứ vào nguyên giá, số khấu hao luỹ kế,.
giá trị còn lại trên sổ kế toán và bộ hồ sơ của TSCĐ đó để xác định các chỉ tiêunguyên giá, số khấu hao luỹ kế, giá trị còn lại trên sổ kế toán của tài sản cố định
và phản ánh vào sổ kế toán Các chi phí có liên quan tới việc điều chuyển tàisản cố định được Nhà máy hạch toán vào chi phí kinh doanh trong kỳ
- Nhà máy sử dụng quỹ khấu hao cơ bản của Nhà máy để tái đầu tư, thay thế đổimới tài sản cố định Trong năm 2002, Nhà máy đề nghị Công ty len Việt Nam xintrích từ quỹ này hơn 1 tỷ đồng để mua sắm máy móc thiết bị và xây dựng nhàxưởng mới cho dự án đầu tư bổ sung thiết bị tăng năng lực sản xuất dây chuyềnkéo sợi len từ 150 tấn/năm 300 tấn/năm
- Các chi phí để nâng cấp TSCĐ được Nhà máy phản ánh tăng thêm nguyên giá TSCĐ đó Các chi phí sửa chữa TSCĐ được Nhà máy hạch toán trực tiếp (hoặc phân bổ dần nếu chi phí là lớn) vào chi phí kinh doanh trong thời kỳ
Trang 15- TSCĐ được Nhà máy phân loại, thống kê, đánh số và có thẻ riêng, được theodõi chi tiết theo từng đối tượng ghi tài sản cố định và được phản ánh trong sổ theodõi TSCĐ Hiện TSCĐ trong Nhà máy được phân thành:
+ TSCĐ dùng cho mục đích kinh doanh, gồm Loại 1: Nhà cửa, vật kiến trúc (như trụ sở làm việc, nhà kho, hàng rào, sân bãi ), Loại 2: Máy móc, thiết bị
công tác (như máy bứt tách tow, máy ghép, máy sợi, máy đậu Savio, máy
xe ); Loại 3: Phương tiện vận tải (hiện chỉ có Ô tô); Loại 4: Thiết bị, dụng cụ
quản lý (như Máy phô tô SF 2025 h/c, Máy in LQ 2180 t/v, Máy FAX 1270,Máy vi tính máy in ổ đĩa CD (KD,KT,GĐ,T/c), Máy điều hoà nhiệt độ (GĐ),
Bộ loa đài phòng họp, Điên thoại ); Loại 5: Thiết bị động lực (như Máy biến
thế 380/ 220 V, Máy biến áp 380/ 220 V, Hệ thống điện, Hệ thống nước, Nồi
hơi đốt than ); Loại 6: Đất
+ TSCĐ dùng cho phúc lợi, gồm có 28 căn nhà trong khu tập thể Len Nhuộm
và Mương thoát nước tập thể;
Nhà máy đã thực hiện việc quản lý, sử dụng đối với những TSCĐ đã khấu haohết nhưng vẫn tham gia vào hoạt động kinh doanh như: Máy nhuộm len, Máy đánhống, Máy sấy len, Máy chải, Máy xé săn, Máy nén khí, Máy xé trộn, Máy sợi con,Máy vắt ly tâm, Máy bào, Máy nhuộm mẫu Định kỳ vào cuối mỗi năm tài chính,Nhà máy vẫn tiến hành kiểm kê TSCĐ và kết quả kiểm kê cho kết quả đủ;
- Riêng đối với quyền sử dụng đất (mà theo sổ sách của Nhà máy là Đất), diệntích đất 39.938m2 Nhà nước giao đã được Nhà máy quản lí và sử dụng như sau: + Phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Nhà máy (xây dựng nhà cửacông trình kiến trúc cho hoạt động sản xuất, cho công tác quản lí điều hành và hoạtđộng bán hàng);
+ Một số mảnh đất do chưa có nhu cầu sử dụng cho các hoạt động nêu trênđược nhà máy đầu tư xây dựng thành các cửa hàng, nhà xưởng để cho thuê
+ Nhà máy điều chuyển Nhà kho vật tư phụ tùng (gồm cả đất) cho Công ty lenViệt Nam trong năm 2002 theo yêu cầu của Công ty len;
+ Bên cạnh đó vẫn còn một số mảnh đất để trống do chưa có nhu cầu sử dụnghoặc không thể khai thác sử dụng (phía sau giáp với đồng Vạn Phúc có 10000m2
Trang 16(rộng 200m * 50m) do ảnh hưởng của đường điện cao thế nên hiện tại Nhà máykhông đưa vào khai thác sử dụng được);
- Nhà máy cho thuê hoạt động các TSCĐ thuộc quyền quản lý và sử dụng củamình (những TSCĐ tạm thời chưa dùng đến) để nâng cao hiệu suất sử dụng, tăngthu nhập, đồng thời vẫn đảm bảo theo dõi và quản lý được TSCĐ Nhà máy đã lậpphương án trình Tổng giám đốc Công ty len Việt Nam duyệt trước khi thực hiện.Nhà máy và bên thuê TSCĐ đã lập hợp đồng thuê TSCĐ trong đó nói rõ loạiTSCĐ, thời gian thuê, tiền thuê phải trả và trách nhiệm hai bên Cụ thể: Nhà máy
ký hợp đồng cho công ty TNHH dệt Quốc Tấn thuê nhà xưởng (1507 m2 ,10.549.000 đ/tháng) + sân bãi (556,55 m2, 1.947.925 đ/tháng) thời hạn 10 năm(1/7/20001/7/2010); cho công ty TNHH Hoàng Dương thuê 1 cửa hàng(1.200.000 đ/tháng) thời hạn 5 năm (15/5/200115/5/2005), cho thuê nhà nồi hơiKZL (309 m2, 2.781.000 đ/tháng) + sân bãi (550 m2, 1.925.000 đ/tháng) thời hạn
10 năm (1/7/20001/7/2010) Hiện mỗi năm Nhà máy thu hơn 200 triệu đồng tiềnthuê Trong thời gian cho thuê, Nhà máy vẫn tính và trích khấu hao đối với nhữngTSCĐ này vào chi phí kinh doanh trong kỳ
- Nhà máy đã nhượng bán các TSCĐ không cần dùng, lạc hậu về kỹ thuật đểthu hồi vốn sử dụng cho mục đích kinh doanh có hiệu qủa hơn (năm 2001, Nhàmáy nhượng bán 1 ô tô tải con và 1 máy sợi con thu 147 triệu đồng, năm 2002nhượng bán 1 số TSCĐ gắn với Nhà in hoa thu 11 triệu đồng); Nhà máy cũng đãthanh lý những tài sản lạc hậu hư hỏng không có khả năng phục hồi, tài sản lạc hậu
kỹ thuật không có nhu cầu sử dụng, tài sản sử dụng không có hiệu qủa và khôngthể nhượng bán nguyên trạng Hiện Nhà máy cũng đang xin Công ty len Việt Namcho thanh lý một số tài sản khác (đã khấu hao hết) Những tài sản chờ thanh lý baogồm:
1 Nồi hơi đốt than
1 Máy đánh ống chuyển từ NĐ lên
Trang 171 hệ Máy điều hoà không khí
2 Nồi hơi đốt dầu Pháp
1 Máy xé Lông cừu ET 60
3 Máy nhuộm len
1 Máy sấy lông cừu
Để nhượng bán, thanh lý tài sản, một Hội đồng đánh giá thực trạng về mặt kỹthuật, thẩm định giá trị tài sản đã được thiết lập (gồm có sự tham gia của Giámđốc, cán bộ phòng kỹ thuật, phòng kế toán và phòng kinh doanh) Tài sản đem nhượng bán được tổ chức đấu giá, thông báo công khai trên báo Nhân Dân Chênhlệch giữa số tiền thu được do thanh lý, nhượng bán tài sản với giá trị còn lại trên sổ
kế toán và chi phí nhượng bán, thanh lý đã được hạch toán vào kết qủa kinh doanhcủa Nhà máy (phần Lợi nhuận bất thường)
Bốn là, đối với công nợ, Nhà máy đã mở sổ theo dõi chi tiết tất cả các khoản
công nợ phải thu theo từng đối tượng nợ, thời gian nợ và số tiền thiếu nợ Định kỳ(tháng, qúy), Nhà máy tiến hành đối chiếu, tổng hợp, phân tích tình hình công nợphải thu; đặc biệt là các khoản nợ đến hạn, qúa hạn và các khoản nợ khó đòi (là cáckhoản phải thu dự kiến không thu được trong kỳ kinh doanh tới do khách nợ không
có khả năng thanh toán) Với các khoản nợ không thu hồi được, Nhà máy xác định
rõ mức độ, nguyên nhân, trách nhiệm và biện pháp xử lý rồi trình Tổng giám đốcCông ty len Việt Nam xem xét phê duyệt Ngày 10/9/2002, một Hội đồng xử lýcông nợ đã được thành lập, họp xem xét Nợ tồn đọng khó đòi phát sinh từ năm
1996 đến nay vẫn chưa thu hồi được Hội đồng gồm Giám đốc, Trưởng phòng tàichính-kế toán và một nhân viên phòng tài chính- kế toán chuyên kế toán công nợcủa Nhà máy Căn cứ vào Nghị định số 69/2002/NĐ-CP về quản lí và xử lí nợ tồnđọng đối với DNNN và Quyết định số 628/QĐ-TCHC của Giám đốc Nhà máy len
Hà Đông về thành lập Hội đồng xử lý công nợ, sau khi xem xét kỹ khả năng thuhồi các khoản nợ tồn đọng, đã thống nhất trích lập dự phòng các khoản nợ tồnđọng khó đòi sau:
Trang 18Bảng 3: Các khoản nợ tồn đọng khó đòi phát sinh từ năm 1996 đến nay STT Tên người nợ Số nợ (đ) Năm p/s nợ Lý do lập dự phòng
1 HTX Hoà Phát-Hoa
Khách hàng đã ngừnghoạt động và khôngtìm được địa chỉ
2 Nguyễn Văn
Mạnh-Cục thuế Hà Tây 2.000.000 1996
Là cá nhân đã già yếukhông có khả năngthanh toán
3 Nhà máy giầy Yên
(Nguồn: Biên bản xử lý công nợ khó đòi năm 2002 của Nhà máy)
Toàn thể Hội đồng xử lý công nợ đã nhất trí thông qua biên bản Mức trích dựphòng như vậy là phù hợp với Thông tư số 107/2001/TT-BTC ngày 31/12/2001hướng dẫn chế độ trích lập và bổ sung các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho,giảm giá chứng khoán đầu tư, dự phòng nợ khó đòi tại doanh nghiệp; theo đó, tổngmức lập dự phòng các khoản nợ phải thu khó đòi tối đa bằng 20% tổng dư nợ phảithu của doanh nghiệp tại thời điểm lập Báo cáo tài chính năm (tức là không quá20% * 6.422.771.513 = 1.284.554.302,6 đ >15.372.379 đ) Khoản dự phòng cáckhoản nợ khó đòi sau tạm được Nhà máy hạch toán vào chi phí kinh doanh củaNhà máy Mức trích này đã được Tổng giám đốc Công ty len Việt Nam duyệt