LỜI MỞ ĐẦU 1- Tính cấp thiết của đề tài Với đặc thù năng động, linh hoạt và thích ứng nhanh với các thay đổi của thị trường, doanh nghiệp nhỏ và vừa DNNVV Việt Nam nói chung và Thái Ngu
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THỊ MINH NGỌC
PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THỊ MINH NGỌC
PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Quản lý - Kinh tế
Mã số: 60 34 04 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN CHÍ THIỆN
THÁI NGUYÊN - 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
NGUYỄN THỊ MINH NGỌC
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của cơ quan, tổ chức, cá nhân Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn trân trọng nhất tới các tập thể và cá nhân đã tận tình giúp đỡ trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn thạc sĩ kinh tế của mình
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Trần Chí Thiện
- người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc tới các thầy cô giáo Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên, khoa Sau đại học đã trang bị cho tôi những kiến thức trong quá trình học tập và tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ của Ban giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Thái Nguyên, các phòng ban trong chi nhánh đã cung cấp tài liệu và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Thái Nguyên, ngày… tháng … năm 2012
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Minh Ngọc
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NHDT&PT : Ngân hàng đầu tư và phát triển
SMEDF – EU : Dự án quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Châu Âu
TK&HQNL : Tiết kiệm và hiệu quả năng lượng
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC BẢNG viii
Lời mở đầu 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Kết cấu của đề tài 3
Chương 1: LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4
1.1 Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế 1
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa 1 9
1.1.2 Vai trò của DN NVV trong nền kinh tế 6 11
1.1.3 Đặc điểm của DN NVV 10 14
1.2 Tổng quan về phát triển tín dụng ngân hàng đối với DN NVV 11 15
1.2.1 Khái niệm và đặc trưng của tín dụng ngân hàng 11 1510
1.2.2 Vai trò của tín dụng 12 16
1.2.3 Các hình thức tín dụng ngân hàng cung ứng cho DN NVV 14 18
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển tín dụng ngân hàng hỗ trợ DN NVV 25
1.4 Kinh nghiệm của một số nước về phát triển tín dụng hỗ trợ DN NVV cho NHCT TN 28
Trang 71.4.1 Tín dụng đối với DNNVV của một số nước 28
1.4.2 Bài học kinh nghiệm đối với ngân hàng Công thương Thái Nguyên 29
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 32 33 2.2 Phương pháp nghiên cứu 32
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 32
2.2.2 Phương pháp tổng hợp thông tin 33
2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 34
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu đánh giá việc phát triển tín dụng đối với DN NVV 35
2.3.1 Chỉ tiêu phát triển tín dụng đối với DN NVV theo chiều rộng 35 35
2.3.2 Chỉ tiêu phát triển tín dụng đối với DN NVV theo chiều sâu 36 36
2.4 Một số chỉ tiêu đo lường hiệu quả tín dụng DN NVV 37 40
2.4.1 Nhóm chỉ tiêu về quy mô và cơ cấu tín dụng DN NVV của NHTM 37 40
2.4.2 Nhóm chỉ tiêu phân tích chất lượng tín dụng 38 42
Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG NGÂN HÀNG HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNGTHÁI NGUYÊN 40
3.1 Tín dụng ngân hàng đối với các doanh nghiệp NVV trên địa bàn Thái Nguyên 40
3.1.1 Tình hình kinh tế xã hội tác động đến phát triển DN NVV ở Thái Nguyên 40 43 3.1.2 Thực trạng phát triển DN NVV trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 42 45
3.1.3 Những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của sự phát triển các DN trên địa bàn 47
3.1.4 Hoạt động của các TCTD cho vay đối với doanh nghiệp trên địa bàn Thái Nguyên 52
Trang 83.2 Thực trạng hoạt động tín dụng ngân hàng hỗ trợ cho DN NVV ở
NHCT Thái Nguyên 57
3.2.1 Quá trình phát triển của NHCT Việt Nam 57 58
3.2.2 Quá trình phát triển các sản phẩm tín dụng của NH Công Thương cho DN NVV 59
3.2.3 Thực trạng hoạt động tín dụng ngân hàng hỗ trợ DNNVV ở NHCT Thái Nguyên 61
3.2.4 Tình hình huy động vốn ở NHCT Thái Nguyên 72
3.3 Đánh giá về phát triển tín dụng hỗ trợ DN NVV ở NHCT Thái Nguyên 77 75 3.3.1 Những kết quả đạt được 77 75
3.3.2 Tồn tại và nguyên nhân 78 77
Chương 4: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG NGÂN HÀNG HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG THÁI NGUYÊN 81
4.1 Định hướng phát triển tín dụng ngân hàng 81
4.1.1 Định hướng và kế hoạch phát triển doanh nghiệp NVV 81
4.1.2 Định hướng phát triển các DN NVV ở tỉnh Thái Nguyên 83
4.2 Các giải pháp phát triển tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng công thương Thái Nguyên 85
4.2.1 Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn đáp ứng yêu cầu vốn vay trên địa bàn 85
4.2.2 Mở rộng mạng lưới hoạt động của NHCT Thái Nguyên 87 85
4.2.3 Giải pháp xử lý nợ tồn đọng và chấn chỉnh hoạt động tín dụng trên địa bàn 88
4.2.4 Điều chỉnh lãi suất linh hoạt cho phù hợp với DN NVV 90 87
4.2.5 Ứng dụng phương pháp tính điểm tín dụng trong cho vay đối với các DN NVV 90
Trang 94.2.6 Xây dựng các chương trình, dự án cho vay riêng của DN NVV 92 89
4.2.7 Giải pháp đào tạo và sử dụng CBTD DN đủ năng lực thực hiện tín dụng có hiệu quả 93
4.2.8 Giải pháp từ nội lực DN NVV để phát triển 95 92
4.3 Một số kiến nghị 97
4.3.1 Kiến nghị với tỉnh và ban ngành trên địa bàn Thái Nguyên 97 93
4.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 99 93
4.3.3 Kiến nghị với NHCT Việt Nam 100 96
Kết luận 102 97 Tài liệu tham khảo 104 99
Trang 10DANH MỤC BẢNG TRONG LUẬN VĂN
Bảng 3.1 Số lượng doanh nghiệp và lao động 40
Bảng 3.2 Quy mô và cơ cấu doanh nghiệp 45
Bảng 3.3 Tổng hợp huy động vốn của các tổ chức tín dụng 54
Bảng 3.4 Tổng hợp dư nợ của các tổ chức tín dụng 56
Bảng 3.5 Tổng hợp dư nợ của Ngân hàng Công thương Thái Nguyên 63
Bảng 3.6 Dư nợ theo thành phần của NHCT Thái Nguyên 66
Bảng 3.7 Dư nợ theo ngành của NHCT Thái Nguyên 67
Bảng 3.8 Tổng hợp dư nợ quá hạn của NHCT Thái Nguyên 69
Bảng 3.9 Tổng hợp huy động vốn của NHCT Thái Nguyên 74
Bảng 3.10 Tình hình huy động vốn và cho vay từ năm 2009 - 2011 76
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
1- Tính cấp thiết của đề tài
Với đặc thù năng động, linh hoạt và thích ứng nhanh với các thay đổi của thị trường, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) Việt Nam nói chung và Thái Nguyên nói riêng trong thời gian qua đã khẳng định vị trí và vai trò của mình trong nền kinh tế.Việc phát triển DNNVV sẽ góp phần đa dạng hoá các thành phần kinh tế, góp phần đáng kể vào sự tăng trưởng GDP của đất nước, đẩy nhanh tốc độ phát triển của nền kinh tế, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá dịch
vụ và còn góp phần giải quyết công ăn việc làm, ổn định đời sống cho hàng triệu lao động
Một thực trạng là số lượng lớn các DNNVV có quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ và luôn trong tình trạng thiếu vốn để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, đầu tư, cải tiến máy móc thiết bị mới Tuy nhiên, tiếp cận vốn của các DNNVV còn gặp phải nhiều khó khăn, do vốn ưu đãi phát triển DNNVV
từ nguồn tài trợ của nước ngoài còn hạn chế Chính vì vậy, để mở rộng sản xuất kinh doanh, DNNVV chủ yếu tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng và nguồn vốn này được coi là công cụ quan trọng trong việc hỗ trợ cho các DNNVV trong toàn bộ quá trình phát triển, bắt đầu từ khâu khởi sự, đi vào hoạt động, mở rộng sản xuất kinh doanh và hội nhập kinh tế quốc tế
Từ năm 2000, Ngân hàng công thương Việt Nam nay là Ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam đã đánh giá các DNNVV là đối tượng khách hàng quan trọng, là thị trường tiềm năng mà NHCT cần hướng tới Điều đó đã được cụ thể hoá bằng các chương trình hành động trong kế hoạch phát triển hàng năm tài trợ cho DNNVV Đến nay NHCT Việt Nam được đánh giá cao như là một trong các Ngân hàng thương mại (NHTM) hàng đầu Việt Nam về cho vay DNNVV, được Bộ Tài chính Ngân hàng Nhà
Trang 12nước chỉ định là Ngân hàng duy nhất của Việt Nam tham gia ký kết biên bản ghi nhớ giữa các tổ chức tài chính APEC tài trợ cho DNNVV Việt Nam Số lượng khách hàng DNNVV chiếm 50% số lượng khách hàng và chiếm tới 60% dư nợ cho vay của NHCT Việt Nam
Năm 2009, cùng chung tay với các quốc gia trên thế giới Chính phủ Việt Nam đã đưa ra các giải pháp kích thích tăng trưởng nhằm nâng đỡ nền kinh
tế Tuy các gói kích cầu hỗ trợ lãi suất cho khách hàng thông qua hoạt động tín dụng chưa thực sự phát huy hiệu quả như mong muốn nhưng nó cũng đã đóng góp một phần quan trọng trong việc duy trì và ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh cho các DNNVV Việt Nam trong thời kỳ suy thoái kinh tế
Vì vậy việc đánh giá, phân tích thực trạng và tìm ra các giải pháp hỗ trợ thông qua hoạt động tín dụng ngân hàng nhằm giúp DNNVV vượt qua thử thách, ổn định và phát triển là việc cần thiết và cấp bách không chỉ là của các doanh nghiệp mà còn là của các NHTM Chính vì những lý do trên, em đã lựa
chọn đề tài: “Phát triển tín dụng ngân hàng hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và
vừa ở Ngân hàng TMCP công thương Thái Nguyên” làm đề tài luận văn
Thạc sĩ
2- Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Xuất phát từ yêu cầu và tính cấp thiết của đề tài, luận văn nghiên cứu nhằm đạt được các mục tiêu sau:
Thứ nhất: Hệ thống, phân tích luận giải để làm rõ hơn những vấn đề cơ
bản về phát triển dịch vụ tín dụng ngân hàng đối với loại hình DNNVV
Thứ hai: Phương pháp nghiên cứu
Thứ ba: Phân tích, đánh giá đúng mực thực trạng tín dụng hỗ trợ
DNNVV của NHCThái Nguyên
Thứ tư: Luận văn đề xuất hệ thống giải pháp, kiến nghị nhằm phát triển
dịch vụ tín dụng hỗ trợ DNNVV ở tỉnh Thái Nguyên
Trang 133- Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Tín dụng ngân hàng là vấn đề rộng, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về tín dụng ngân hàng hỗ trợ đối với DNNVV
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn lấy thực tế hoạt động tín dụng đối với DNNVV ở NHCT Thái Nguyên trong giai đoạn 2009- 2011 làm cơ sở minh chứng
4- Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp, so sánh đối chiếu…
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được bố cục thành 4 chương:
Chương 1: Lý luận về phát triển tín dụng ngân hàng hỗ trợ DNNVV của NHTM
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng tín dụng ngân hàng hỗ trợ DNNVV ở NHCT Thái Nguyên
Chương 4: Giải pháp nhằm phát triển tín dụng ngân hàng hỗ trợ DNNVV ở NHCT Thái Nguyên
Trang 14Chương 1
LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN TÍN DỤNG HỖ TRỢ
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế
1.1.1 Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa
Tại các nền kinh tế khác nhau, ở từng giai đoạn phát triển kinh tế thì việc phân loại doanh nghiệp thành doanh nghiệp lớn (DNL) và DNNVV thay đổi Tại Hồng Kông các DNNVV được phân loại theo ngành sản xuất và số lượng nhân viên Theo đó, các DNNVV trong các ngành sản xuất có số nhân viên dưới 100 người và ngành phi sản xuất có số nhân viên dưới 50 người Bên cạnh đó, từ góc độ là bên cung cấp dịch vụ, các ngân hàng tại Hồng Kông còn đưa ra việc phân loại dựa vào các tiêu chí như doanh thu hàng năm, mức độ tập trung tư bản, năng lực tín dụng
Tại Đài Loan, tùy thuộc vào bản chất của từng ngành kinh doanh các cơ quan Chính phủ phân loại DNNVV dựa trên số lượng nhân viên thường xuyên:
- Các doanh nghiệp trong ngành sản xuất, ngành xây dựng hoặc ngành khai thác mỏ, số lượng nhân viên thường xuyên dưới 200 người
- Các doanh nghiệp trong các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và chăn nuôi, ngành điện, nước và gas, ngành bán lẻ, bệnh viện, ngành giao thông và liên lạc, ngành tài chính và bảo hiểm, bất động sản và cho thuê, ngành dịch vụ công nghệ và khoa học, ngành dịch vụ giáo dục, ngành y tế và phúc lợi xã hội, ngành văn hóa thể thao và giải trí hoặc các ngành dịch vụ khác có số lượng nhân viên dưới 50 người
Bên cạnh đó, theo Bộ Kinh tế Đài Loan, DNNVV là những doanh nghiệp đăng ký với Bộ Kinh tế và đáp ứng các yêu cầu sau đây:
Trang 15- Doanh nghiệp trong ngành sản xuất, ngành xây dựng, hoặc ngành khai thác mỏ có vốn góp không quá 80 triệu Nhân dân tệ
- Doanh nghiệp trong ngành nông nghiệp, lâm nghiệp ngư nghiệp và chăn nuôi, ngành điện, nước và gas, ngành bán lẻ, bệnh viện, ngành giao thông liên lạc, tài chính và bảo hiểm, bất động sản và cho thuê, ngành dịch vụ công nghệ và khoa học, ngành y tế và phúc lợi xã hội, ngành văn hóa thể thao
và giải trí hoặc các ngành dịch vụ khác có doanh thu của Nhà nước không quá
100 triệu Nhân dân tệ
Tại Việt Nam, việc phân loại DNNVV được quy định cụ thể tại Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của Chính phủ V/v trợ giúp phát triển DNNVV Việt Nam, theo đó DNNVV được khái niệm như sau:
“ Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp; siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy
mô tổng nguồn vốn ( tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm ( tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:
Doanh nghiệp siêu nhỏ
Số lao động Tổng nguồn vốn Số lao động Tổng nguồn vốn Số lao động I- Nông,
lâm nghiệp
và thuỷ sản
10 người trở xuống
20 tỷ đồng trở xuống
Từ trên 10 người đến
300 người II- C/nghiệp
và xây dựng 10 người trở
xuống
20 tỷ đồng trở xuống
Từ trên 10 người đến
300 người III- Thương
mại và dịch
vụ
10 người trở xuống
10 tỷ đồng trở xuống
Từ trên 10 người đến
100 người
Trang 16Một trong những điểm mới của Nghị định 56 là đưa ra một định nghĩa tương đối cụ thể về DNNVV phân theo 03 loại hình: doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa Và một điểm nhấn quan trọng của Nghị định là " DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật", theo đó khu vực DNNVV đến nay không chỉ có doanh nghiệp mà còn có các hợp tác xã và hộ kinh doanh cá thể
Từ các quan niệm trên có thể rút ra những tiêu chí để xác định DNNVV trong khu vực cũng như ở Việt Nam
- Số lượng lao động
- Số lượng vốn góp
- Đặc điểm ngành nghề kinh doanh
1.1.2 Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế
Theo số liệu thống kê, tính đến cuối năm 2009 Việt nam có khoảng 400.000 doanh nghiệp dự kiến đến năm 2011 có khoảng 623.700 doanh nghiệp đăng ký theo Luật doanh nghiệp; trong số này khoảng 97% là các DNNVV Khu vực DNNVV đóng vai trò quan trọng trong phát triển bền vững của các nền kinh tế thể hiện trên các mặt sau đây:
Một là, góp phần đáng kể vào sự phát triển và ổn định KT-XH: Việc phát
triển DNNVV đã có những đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, đặc biệt đối với những nước có trình độ phát triển thấp như Việt Nam thì giá trị gia tăng hoặc GDP do các DNNVV tạo ra hàng năm chiếm tỷ trọng khá lớn, đảm bảo thực hiện những chỉ tiêu cơ bản của nền kinh tế
Hai là, DNNVV thu hút nhiều lao động, giải quyết nhiều việc làm với
chi phí đầu tư thấp (chi phí trung bình để tạo ra một chỗ việc làm chỉ bằng 1/3
- 1/5 so với doanh nghiệp lớn) Tác động kinh tế xã hội lớn nhất của các DNNVV là giải quyết một số lượng lớn việc làm cho dân cư, làm tăng thu nhập cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo Đặc biệt trong thời
Trang 17kỳ các doanh nghiệp lớn sa thải công nhân thì khu vực DNNVV lại thu hút số lao động này hoặc có tốc độ thu hút lao động mới cao hơn hẳn khu vực các doanh nghiệp lớn Ở Việt Nam, theo đánh giá của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế thì lao động của các DNNVV trong các khu vực phi nông nghiệp hiện
có khoảng 7,8 triệu người, chiếm 79,2% tổng số lao động phi nông nghiệp và chiếm 22,5% lực lượng lao động của cả nước
- DNNVV là nơi trực tiếp sản xuất một khối lượng sản phẩm hàng hoá tương đối lớn đáp ứng cho nhu cầu của xã hội, làm giảm bớt áp lực cầu của thị trường, đồng thời đóng góp vào ngân sách Nhà nước
Ba là, đa dạng hóa và tăng thu nhập của dân cư một cách ổn định,
thường xuyên Kết quả điều tra cho thấy, thu nhập của dân cư vùng có DNNVV phát triển gấp 4 lần thu nhập của vùng thuần nông Như vậy, với sự phát triển mạnh của các DNNVV sẽ góp phần giảm bớt chênh lệch về thu nhập giữa các bộ phân dân cư, tạo ra sự phát triển tương đối đồng đều giữa các vùng và cải thiện mối quan hệ giữa các khu vực kinh tế khác nhau
Bốn là, khai thác, phát huy các nguồn lực và tiềm năng tại chỗ của các
địa phương, các nguồn tài chính của dân cư các vùng
Hiện nay, theo đánh giá của các chuyên gia thì tiềm năng trong dân còn rất lớn chưa được khai thác (như tiềm năng về trí tuệ, tay nghề tinh xảo, lao động, vốn, điều kiện tự nhiên, bí quyết nghề, quan hệ huyết thống, làng nghề với những hương ước nghề nghiệp) Hiện cả nước có trên 2.000 làng nghề, trong đó 2/3 là làng nghề truyền thống Việc phát triển các DNNVV ở các ngành nghề truyền thống trong nông thôn hiện nay là một trong những hướng quan trọng để sử dụng tay nghề tinh xảo của các nghệ nhân mà hiện nay đang
có xu hướng mai một dần, đồng thời thu hút lao động nông thôn phát huy lợi thế từng vùng, nhằm phát triển kinh tế - xã hội
Năm là, DNNVV đã góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế Điều này đặc
biệt có ý nghĩa đối với sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn
Trang 18DNNVV góp phần quan trọng trong việc giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp - một vấn đề hết sức nan giải và bức thiết khi mà một số lượng lớn lao động còn khả năng lao động dôi dư do sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước Việc giải quyết có hiệu quả vấn đề thất nghiệp sẽ dẫn đến giảm bớt các
tệ nạn xã hội và tạo ra phát triển hài hoà cho nền kinh tế
Phát triển DNNVV cũng có nghĩa là phát triển công nghiệp và dịch vụ nông thôn, xóa dần tình trạng thuần nông và độc canh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn Hơn nữa, sự phát triển DNNVV sẽ làm cho cơ cấu của thành phần kinh tế thay đổi, các cơ sở kinh tế ngoài quốc doanh tăng lên nhanh chóng, các DNNN được sắp xếp và củng cố lại, kinh doanh có hiệu quả
để phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế Đối với cơ cấu ngành, việc phát triển nhiều ngành, nghề đa dạng, phong phú (cả ngành nghề hiện đại và truyền thống) theo hướng lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm thước đo Trong cơ cấu lãnh thổ, các doanh nghiệp được phân bố đều hơn về lãnh thổ (cả nông thôn
và thành thị, miền núi và đồng bằng) DNNVV góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý theo hướng kinh tế thị trường, nâng cao khả năng cạnh tranh trong nền KT
Sáu là, cùng với sự phát triển các DNNVV là sự xuất hiện ngày càng
nhiều hơn các nhà kinh doanh, đây là lực lượng rất cần thiết để góp phần thúc đẩy sản xuất - kinh doanh ở Việt Nam phát triển Hiện nay đội ngũ các nhà kinh doanh ở nước ta còn khiêm tốn cả về số lượng và chất lượng do ảnh hưởng của cơ chế cũ để lại Do đó, sự phát triển của các DNNVV có tác dụng đào tạo, thử thách, chọn lọc qua thực tế đội ngũ các nhà sản xuất - kinh doanh, góp phần xây dựng một đội ngũ các doanh nhân, lực lượng cán bộ quản lý doanh nghiệp có chất lượng cao cho đất nước Cơ chế quản lý mềm dẻo trong các DNNVV cũng tạo điều kiện cho sự phát triển năng lực của người lao động, từng bước thực hiện công bằng xã hội
Trang 19Bảy là, tạo môi trường cạnh tranh thúc đẩy sản xuất - kinh doanh phát
triển có hiệu quả hơn Sự tham gia của rất nhiều DNNVV vào sản xuất - kinh doanh làm cho số lượng và chủng loại hàng hóa, dịch vụ trong nền kinh tế tăng lên rất nhanh Kết quả là làm tăng tính chất cạnh tranh trên thị trường, tạo ra sức ép lớn buộc các doanh nghiệp phải thường xuyên tự đổi mới, giảm chi phí, tăng chất lượng để thích ứng với môi trường mới Những yếu tố đó tác động lớn làm cho nền kinh tế năng động, hiệu quả hơn Bên cạnh đó, DNNVV là khu vực có khả năng khai thác và thu hút vốn trong dân, đây là nguồn vốn còn nhiều tiềm năng chưa được khai thác
Theo kế hoạch, đến năm 2011 Việt nam sẽ có 600.000 doanh nghiệp (đa phần là DNNVV đăng ký và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp) Vai trò của các DNNVV trong nền kinh tế được tạo ra chủ yếu là do các đặc điểm của các doanh nghiệp này (được đề cập chi tiết hơn ở phần sau) Tính dễ khởi sự đã tạo điều kiện cho việc thành lập các DNNVV trở nên dễ dàng, do đó góp phần tích cực vào việc tạo việc làm Số lượng đông đảo các DNNVV đã tạo điều kiện cho việc thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư phục vụ cho mục đích kinh doanh và đầu tư Với một môi trường kinh doanh thuận lợi thì rào cản tham gia vào thị trường là tương đối thấp, góp phần khuyến khích các cá nhân tham gia kinh doanh và thành lập doanh nghiệp Việc luân chuyển hàng hoá, dịch vụ và lao động của các DNNVV góp phần tích cực vào phát triển đồng đều giữa các vùng Cọ xát và tích luỹ kinh nghiệm trên thương trường góp phần đào tạo các cán bộ quản lý cho các doanh nghiệp lớn cũng như tạo điều kiện cho các DNNVV hội nhập hiệu quả hơn vào nền kinh tế thế giới Tính linh hoạt và năng động tạo điều kiện cho các DNNVV đóng vai trò quan trọng trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá và HĐH
Trang 201.1.3 Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Các DNNVV được phân loại thông qua qui mô, số lượng lao động và vốn tạo nên các đặc điểm của DNNVV Trong các điều kiện và các hoàn cảnh khác nhau thì đây có thể là điểm mạnh hoặc điểm yếu của các doanh nghiệp này
Tính dễ khởi sự Luật Doanh nghiệp hiện nay áp dụng mức vốn pháp
định bắt buộc khi khởi sự đối với các ngành nghề kinh doanh không có điều kiện Luật cũng không qui định số lượng lao động tối thiểu khi cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp Cùng với môi trường kinh doanh đang được cải thiện thì số lượng các DNNVV đăng ký mới gia tăng nhanh chóng
Tính linh hoạt cao Do mô không lớn nên đầu tư của các DNNVV vào
các dây chuyền và máy móc công nghệ không nhiều, chính vì lẽ đó nên sau một thời gian hoạt động nếu nhận thấy một ngành, hay một mặt hàng kinh doanh nào đó không có lời thì lập tức các DNNVV sẽ chuyển hướng sang các mặt hàng và dịch vụ hiệu quả hơn Một số DNNVV sau một thời gian khẳng định được uy tín và thương hiệu đã tiến hành các biện pháp tích luỹ vốn và
mở rộng qui mô để trở thành các doanh nghiệp lớn Tuy nhiên, có nhiều chủ DNNVV bằng lòng với qui mô của doanh nghiệp mình và thể hiện tính linh hoạt cao để khẳng định vị trí trên thương trường
Tính linh hoạt trong cạnh tranh Với xuất phát điểm là khả năng dễ
tham gia vào thị trường cũng như rút khỏi thị trường, trong các chuỗi giá trị ngành hàng thì các DNNVV có thể khá dễ dàng tìm cho mình phân khúc phù hợp trong hợp tác với các doanh nghiệp lớn
Bên cạnh đó, chúng ta cũng có thể kể đến hàng loạt các điểm yếu của các DNNVV, mà khởi đầu là thiếu các nguồn lực phát triển, đặc biệt là các nguồn lực về tài chính và con người Đối với một số ngành hàng thì các DNNVV không tận dụng được các lợi thế về qui mô Còn một điểm nữa đó là sự hình thành và phát triển của các DNNVV phụ thuộc nhiều vào chủ doanh nghiệp nên khó thu hút trí tuệ tập thể trong các quyết định dài hạn và chiến lược của
Trang 21doanh nghiệp Điều này thể hiện qua cách thức đưa ra các quyết định quan trọng mang tính chiến lược của doanh nghiệp Tại các doanh nghiệp lớn các quyết định mang tính chiến lược được thực hiện theo qui trình và có hệ thống, tuy nhiên tại các DNNVV thì các quyết định này trong nhiều trường hợp mang nặng ý kiến chủ quan của chủ doanh nghiệp
1.2 Tổng quan về phát triển tín dụng ngân hàng đối với DNNVV
1.2.1 Khái niệm và đặc trưng của tín dụng ngân hàng
Tín dụng ra đời cùng với sự xuất hiện tiền tệ Khi một chủ thể kinh tế cần một lượng hàng hoá cho nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất trong khi chưa có tiền hoặc số tiền hiện có chưa đủ họ có thể sử dụng hình thức vay mượn để đáp ứng nhu cầu Có hai cách vay mượn: vay chính loại hàng hoá đang có nhu cầu hoặc vay tiền để mua loại hàng hoá đó Quan hệ vay mượn như vậy gọi là quan hệ tín dụng
Tín dụng là quan hệ vay mượn, mượn vốn lẫn nhau dựa trên sự tin tưởng
số vốn đó sẽ được hoàn trả lại vào một ngày xác định trong tương lai Có thể định nghĩa quan hệ tín dụng một cách đầy đủ như sau: Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị( dưới hình thức giá trị hoặc hiện vât) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu
Như vậy một quan hệ tín dụng phải thoả mãn những đặc trưng sau:
- Là quan hệ chuyển nhượng mang tính chất tạm thời Đối tượng của sự
chuyển nhượng có thể là tiền tệ hoặc là hàng hoá dưới hình thức kéo dài thời gian thanh toán trong quan hệ mua bán hàng hoá Tính chất tạm thời của sự chuyển nhượng đề cập đến thời gian sử dụng lượng giá trị đó Nó là kết quả của sự thoả thuận giữa các đối tác tham gia quá trình chuyển nhượng để đảm bảo sự phù hợp giữa thời gian nhàn rỗi và thời gian cần cần sử dụng lượng giá trị đó Sự thiếu phù hợp của thời gian chuyển nhượng có thể ảnh hưởng đến quyền lợi tài chính và hoạt động kinh doanh của cả hai bên và dẫn đến nguy
Trang 22cơ phá huỷ quan hệ tín dụng Thực chất trong quan hệ tín dụng chỉ có sự chuyển nhượng quyền sử dụng lượng giá trị tạm thời nhàn rỗi trong một khoảng thời gian nhất định mà không có sự thay đổi quyền sở hữu đối với lượng giá trị đó
- Tính hoàn trả Lượng vốn được chuyển nhượng phải được hoàn trả
đúng hạn cả về thời gian và về giá trị bao gồm hai bộ phận: gốc và lãi Phần lãi phải đảm bảo cho lượng giá trị hoàn trả lớn hơn lượng giá trị ban đầu Sự chênh lệch này là giá trả cho quyền sử dụng vốn tạm thời Nói cách khác, nó
là giá trả cho sự hy sinh quyền sử dụng vốn hiện tại của người sở hữu vì thế
nó phải đủ hấp dẫn để người sở hữu có thể sẵn sàng hy sinh quyền sử dụng đó
- Quan hệ tín dụng dựa trên cơ sở sự tin tưởng giữa người đi vay và người cho vay Có thể nói đây là điều kiện tiên quyết để thiết lập quan hệ tín
dụng Người cho vay tin tưởng rằng vốn sẽ được hoàn trả đầy đủ khi đến hạn Người đi vay cũng tin tưởng vào khả năng phát huy hiệu quả của vốn vay Sự gặp gỡ giữa người đi vay và người cho vay về điểm này sẽ là điều kiện hình thành quan hệ tín dụng Cơ sở của sự tin tưởng này có thể do uy tín của người
đi vay, do giá trị tài sản thế chấp và do sự bảo lãnh của người thứ ba
Như vậy, quan hệ tín dụng ra đời và phát triển dựa trên cơ sở vốn có của mâu thuẫn quá trình tuần hoàn vốn tiền tệ trong xã hội Cùng một lúc có chủ thể kinh tế tạm thời dư thừa một khoản vốn tiền tệ trong khi các chủ thể kinh
tế khác lại có nhu cầu bổ sung vốn Khi mâu thuẫn đó được giải quyết thì nguồn lực của xã hội được sử dụng một cách có hiệu quả và quá trình tái sản xuất được tiến hành liên tục
1.2.2 Vai trò của tín dụng
1.2.2.1 Tín dụng góp phần thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội
- Vai trò quan trọng nhất của tín dụng là cung ứng vốn một cách kịp thời cho các nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của các chủ thể kinh tế trong xã hội Nhờ đó mà các chủ thể này có thể đẩy nhanh tốc độ sản xuất cũng như tốc độ
Trang 23tiêu thụ sản phẩm Một hệ thống các hình thức tín dụng đa dạng không những thoả mãn nhu cầu đa dạng về vốn của nền kinh tế mà còn làm cho sự tiếp cận các nguồn vốn tín dụng trở nên dễ dàng, tiết kiệm chi phí giao dịch và giảm bớt các chi phí nguồn vốn cho các chủ thể kinh doanh
- Việc mở rộng và nâng cao hiệu quả các hình thức tín dụng sẽ tạo sự chủ động cho các doanh nghiệp trong việc thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh trong khi nó không phải phụ thuộc quá nhiều vào vào nguồn vốn tự có của bản thân Điều này giúp cho các nhà sản xuất tích cực tìm kiếm cơ hội đầu tư mới và nâng cao năng lực sản xuất của xã hội
- Các nguồn vốn tín dụng được cung ứng luôn kèm theo các điều kiện tín dụng để hạn chế rủi ro đạo đức và rủi ro lựa chọn đối nghịch buộc những người đi vay phải quan tâm thực sự đến hiệu quả sử dụng vốn để đảm bảo mối quan hệ lâu dài với các tổ chức cung ứng tín dụng
1.2.2.2 Tín dụng là kênh chuyển tải tác động của Nhà nước đến các mục tiêu
Trang 241.2.2.3 Tín dụng là công cụ thực hiện các chính sách xã hội
Các chính sách xã hội, về mặt bản chất được đáp ứng bằng nguồn tài trợ không hoàn lại từ Ngân sách nhà nước Song phương thức tài trợ không hoàn lại thường bị hạn chế về quy mô và thiếu hiệu quả Để khắc phục hạn chế này, phương thức tài trợ không hoàn lại có xu hướng bị thay thế bởi phương thức tài trợ có hoàn lại của tín dụng nhằm duy trì nguồn cung cấp tài chính và có điều kiện mở rộng quy mô tín dụng chính sách Chẳng hạn việc tài trợ vốn cho người nghèo ngày nay được thực hiện phổ biến bằng tín dụng đối với người nghèo với lãi suất thấp Thông qua phương thức tài trợ này, các mục tiêu chính sách được đáp ứng một cách chủ động và hiệu quả hơn Khi các đối tượng chính sách buộc phải quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn để đảm bảo hoàn trả đúng thời hạn thì kỹ năng lao động của họ sẽ được cải thiện từng bước Đó chính là mục đích của việc sử dụng phương thức tài trợ các mục tiêu chính sách bằng con đường tín dụng
1.2.3 Các hình thức tín dụng ngân hàng cung ứng cho DNNVV
Căn cứ vào thời hạn vay vốn, các khoản vay của doanh nghiệp bao gồm: tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung-dài hạn
1.2.3.1 Căn cứ vào thời hạn tín dụng
* Tín dụng ngắn hạn
Tín dụng ngắn hạn là các khoản cho vay có thời hạn không quá 12 tháng nhằm đáp ứng các nhu cầu về vốn ngắn hạn như bổ sung ngân quỹ, đảm bảo yêu cầu thanh toán đến hạn, bổ sung nhu cầu vốn lưu động cho sản xuất, kinh doanh hoặc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cá nhân Đây là loại tín dụng có mức rủi ro thấp vì thời hạn hoàn vốn nhanh, tránh được các rủi ro về lãi suất, về lạm phát cũng như sự bất ổn định của môi trường kinh tế vĩ mô Căn cứ vào tính chất của việc cấp vốn và phương pháp cho vay của tổ chức tín dụng, các hình thức cụ thể của cho vay ngắn hạn bao gồm: chiết khấu chứng từ có giá, cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng, thấu chi, bao thanh toán…
Trang 25- Chiết khấu chứng từ có giá
Đây là hình thức mà qua đó ngân hàng mua các giấy tờ có giá ngắn hạn của người thụ hưởng trước khi các giấy tờ có giá này đến hạn thanh toán Đối tượng chiết khấu là các giấy tờ có giá ngắn hạn, bao gồm tín phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, sổ tiết kiệm, thương phiếu, bộ chứng từ hàng xuất, các trái phiếu có thời gian lưu hành còn lại tới 12 tháng, các giấy tờ khác trị giá bằng tiền
- Cho vay từng lần
Đây là hình thức thường được dùng bởi các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn không thường xuyên, cần vay tiền cho hoạt động kinh doanh cụ thể Theo hình thức này mỗi lần vay doanh nghiệp và ngân hàng thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng
- Cho vay theo hạn mức tín dụng
Theo hình thức này, ngân hàng và doanh nghiệp xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định
Ngân hàng và doanh nghiệp căn cứ vào phương án, kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp, tỷ lệ cho vay tối đa so với tài sản bảo đảm, khả năng nguồn vốn của tổ chức tín dụng để tính toán và thoả thuận với doanh nghiệp một hạn mức tín dụng duy trì trong thời hạn nhất định hoặc theo chu kỳ sản xuất kinh doanh Nội dung thoả thuận này phải được thể hiện và ký kết bằng hợp đồng tín dụng
Hạn mức tín dụng là mức dư nợ vay tối đa được duy trì trong một thời hạn nhất định mà tổ chức tín dụng và doanh nghiệp đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng
Hình thức này thường được áp dụng đối với doanh nghiệp có uy tín với ngân hàng, có nhu cầu vay vốn - trả nợ thường xuyên, có đặc điểm sản xuất - kinh doanh, luân chuyển vốn không phù hợp với phương thức cho vay từng lần
So với hình thức cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng tạo điều kiện cho doanh nghiệp linh hoạt và chủ động hơn trong việc sử dụng vốn
Trang 26vay Nhưng nếu doanh nghiệp không có nhu cầu vay thường xuyên thì không cần vay theo hình thức này vì nếu vòng quay vốn vay quá thấp trong hạn mức tín dụng có thể làm cho tổ chức tín dụng cho vay xét nét hơn trong các hợp đồng tín dụng mới
- Cho vay theo hạn mức thấu chi
Đây là hình thức cho vay mà ngân hàng thoả thuận bằng văn bản chấp thuận cho doanh nghiệp chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của doanh nghiệp phù hợp với các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán
So với các hình thức vay trên, vay theo hạn mức thấu chi tạo điều kiện cho doanh nghiệp chủ động và linh hoạt hơn trong việc sử dụng vốn Tuy nhiên, hiện nay ở Việt nam chưa phổ biến hình thức cho vay này
- Bao thanh toán
Bao thanh toán là một hình thức cho vay qua đó ngân hàng đứng ra thanh toán ngay cho doanh nghiệp xuất khẩu một phần tiền về hàng hoá đã bán cho doanh nghiệp nhập khẩu nước ngoài và sau đó sẽ đòi lại ở doanh nghiệp nhập khẩu nước ngoài Nó là hoạt động mà ngân hàng mua lại các khoản nợ có hoá đơn, thường trên cơ sở miễn truy đòi của các doanh nghiệp
Dịch vụ bao thanh toán đầy đủ bao gồm 3 chức năng:
Quản lý nợ: ngân hàng quản lý sổ bán hàng, hoá đơn nợ, thu nợ khi đến hạn; Cấp tín dụng: doanh nghiệp được ứng trước khoản tiền khoảng 80-90% trị giá hoá đơn, còn lại được nhận khi ngân hàng thu được nợ sau khi trừ các khoản chi phí nghiệp vụ (bao gồm cả lãi suất tài trợ);
Về chống rủi ro: thường việc tài trợ bao thanh toán là miễn truy đòi nên doanh nghiệp hạn chế được các rủi ro không thu được tiền hàng xuất hiện từ phía người mua
- Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng
Trang 27Theo hình thức này, ngân hàng chấp thuận cho doanh nghiệp được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng Khi vay để phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, tổ chức tín dụng và doanh nghiệp phải tuân theo các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về phát hàng và sử dụng thẻ tín dụng
Như vậy, các DNNVV với đặc điểm về qui mô và vốn, cùng với đặc thù
về hoạt động nên thường xuyên có nhu cầu tiếp cận các khoản vay ngắn hạn
để giải quyết các nhu cầu và giao dịch thường xuyên và trước mắt Việc nắm bắt và sử dụng thành thạo các loại hình dịch vụ nêu trên đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hoạt động đều đặn của doanh nghiệp Một trong những vấn đề các DNNVV gặp phải là sau khi đã tiếp cận được các khoản vay ngắn hạn thì việc sử dụng các khoản vay trên đúng mục đích và có hiệu quả đóng vai trò quan trọng Việc sử dụng các vốn vay ngắn hạn cho các kế hoạch kinh doanh và đầu tư dài hạn thực sự là thách thức và tiềm ẩn rủi ro cho các DNNVV và các ngân hàng
* Tín dụng trung và dài hạn
Tín dụng trung - dài hạn có thời hạn cho trên 12 tháng, tín dụng trung hạn có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng, tín dụng dài hạn có thời hạn trên 60 tháng Tín dụng trung - dài hạn cho doanh nghiệp chủ yếu phục vụ cho việc thực hiện các dự án đổi mới, mở rộng sản xuất - kinh doanh và đầu
tư xây dựng cơ bản mới Vì thời hạn dài nên loại tín dụng này chứa đựng mức rủi ro cao, kể cả rủi ro cá biệt và rủi ro hệ thống Các hình thức cho vay trung
- dài hạn bao gồm: cho vay theo dự án đầu tư, cho vay hợp vốn, cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng, cho thuê tài chính,
- Cho vay theo dự án đầu tư
Trang 28Đây là hình thức tín dụng qua đó ngân hàng cho doanh nghiệp vay vốn
để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các
dự án đầu tư phục vụ đời sống
Về bản chất, dự án đầu tư là một tập hợp các đề xuất về nhu cầu vốn, cách thức sử dụng vốn, kết quả tương ứng thu được trong một khoảng thời gian xác định đối với hoạt động cụ thể để đạt được mục tiêu nhất định
Về phương pháp, thì vay theo dự án đầu tư tương tự như vay từng lần Ngân hàng và doanh nghiệp vay thoả thuận mức vốn đầu tư duy trì cho
cả thời gian đầu tư của dự án Việc trả nợ thường tiến hành theo định kỳ một cách đều đặn, lãi tiền vay thường được tính theo số dư nợ và trả cùng với nợ gốc phải trả
- Cho vay hợp vốn
Đây là hình thức tín dụng mà qua đó một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của doanh nghiệp do một nhóm tổ chức tín dụng cho vay, trong đó có một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các tổ chức tín dụng khác Cho vay hợp vốn có thể áp dụng trong cả cho vay ngắn hạn và cho vay trung - dài hạn, nhưng thực tế nó thường được sử dụng trong cho vay trung - dài hạn
- Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng
Theo hình thức này, tổ chức tín dụng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho doanh nghiệp vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định để đầu tư cho dự án Tổ chức tín dụng và doanh nghiệp thoả thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng Hạn mức tín dụng dự phòng được áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp cần chủ động về vốn cho việc thực hiện các dự án đầu tư trong tương lai Để được tổ chức tín dụng cam kết cung cấp cho một lượng vốn trong thời gian thực hiện các dự án đó, doanh nghiệp phải trả phí cam kết tính cho hạn mức tín dụng dự phòng (kể cả trường hợp không rút vốn theo hạn mức này)
Trang 29- Cho thuê tài chính
Cho thuê tài chính được coi là hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ sở hợp đồng cho thuê giữa bên cho thuê với bên thuê Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu đối với các tài sản cho thuê Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thoả thuận
Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng cho thuê tài chính Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng cho thuê tài chính ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm
ký hợp đồng
Hoạt động cho thuê tài chính trên lãnh thổ Việt Nam phải được thực hiện qua các công ty cho thuê tài chính được thành lập và hoạt động tại Việt nam Đối với các DNNVV, cho thuê tài chính là một công cụ hữu hiệu Trên thực
tế còn một số lượng khá lớn các DNNVV mỗi khi có nhu cầu về trang bị máy móc là tìm cách tiếp cận vốn ngân hàng để mua các tài sản đó Do thiếu về nguồn lực tài chính và không có tài sản đảm bảo nên doanh nghiệp không tiếp cận được các nguồn vốn cần thiết Một trong những giải pháp cho vấn đề này
là sử dụng phương tiện cho thuê tài chính Việc sử dụng thành thạo công cụ này trên thực tế đã tạo điều kiện giải quyết nhiều khó khăn về vốn của doanh nghiệp Bên cạnh đó việc sử dụng phương thức giao dịch mua và cho thuê lại
đã giúp các DNNVV giải quyết khá hiệu quả nhu cầu về vốn
Đối với các DNNVV, một trong những khía cạnh của cho thuê tài chính được các DNNVV đánh giá cao chính là việc các doanh nghiệp này không phải chịu sức ép từ tài sản đảm bảo và nhất là khi các doanh nghiệp này còn chưa tạo dựng được uy tín trên thương trường
Trang 301.2.4.2 Căn cứ vào đảm bảo tín dụng
Căn cứ vào đảm bảo tín dụng, các khoản vay của doanh nghiệp bao gồm: tín dụng có đảm bảo và tín dụng không có đảm bảo
- Cho vay có đảm bảo
Cho vay có đảm bảo là việc khách hàng dùng tài sản bảo đảm của mình hoặc bên thứ ba làm bảo đảm cho nghĩa vụ vay vốn ở ngân hàng
Cầm cố là hình thức mà qua đó người nhận tài trợ của ngân hàng phải
chuyển quyền kiểm soát tài sản đảm bảo sang cho ngân hàng trong thời gian cam kết, thường là thời gian nhận tài trợ
Điểm cơ bản là cầm cố thích hợp với những tài sản ngân hàng có thể kiểm soát, bảo quản tương đối chắc chắn và bên cạnh đó việc ngân hàng nắm giữ không ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của bên nhận tài trợ Ví dụ như các sổ tiết kiệm, kim loại quí và các giấy tờ có giá Các tài sản này gọn nhẹ,
dễ quản lý và không chịu ảnh hưởng của các yếu tố môi trường tự nhiên Cầm
cố cũng có thể được áp dụng đối với hàng hoá, trong trường hợp này ngân hàng thường chấp nhận các loại hàng hoá ít chịu tác động của môi trường (tính chất lý hoá và công dụng) trong thời gian cầm cố
Ngân hàng yêu cầu cầm cố khi xét thấy việc khách hàng nắm giữ tài sản đảm bảo là không an toàn cho ngân hàng, thường đó là các tài sản mà khách hàng dễ bán, dễ chuyển nhượng
Khi tài trợ dựa trên đảm bảo bằng cầm cố, ngân hàng kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ, an toàn của vật cầm cố như quyền sở hữu của khách hàng, khả năng chi trả của người cam kết đối với vật cầm cố, giá trị thị trường khi phát mại Ngân hàng cùng với khách hàng định giá vật cầm cố, ký hợp đồng cầm
cố, qui định quyền và nghĩa vụ đối với các đảm bảo cầm cố như chuyển giao vật cầm cố, nghĩa vụ của ngân hàng trong việc quản lý, giữ gìn vật cầm cố, quyền của ngân hàng phát mại vật cầm cố khi khách hàng vi phạm các cam kết trong hợp đồng tài trợ
Trang 31Thế chấp là hình thức mà qua đó người nhận tài trợ phải chuyển các giấy
tờ chứng nhận sở hữu (hoặc sử dụng) các tài sản đảm bảo sang cho ngân hàng nắm giữ trong thời gian cam kết
Điểm khác biệt của thế chấp so với cầm cố là nhiều tài sản của khách hàng trở thành đảm bảo cho các khoản tài trợ của ngân hàng song vẫn phải tham gia vào quá trình hoạt động, sản xuất - kinh doanh Đối với những tài sản này ngân hàng không thể cầm cố Các tài sản này thường cồng kềnh, phân tán và hơn nữa việc bán hoặc chuyển nhượng cũng không đơn giản Do tài sản của các doanh nghiệp chủ yếu là tài sản cố định và hàng hoá vì vậy đảm bảo bằng thế chấp là phổ biến Giá trị của tài sản loại này thường lớn nên doanh nghiệp có thể thế chấp để vay ngân hàng với qui mô lớn
Đối với các DNNVV, cầm cố - thế chấp là các hình thức tương đối dễ áp dụng trên thực tế và được các DNNVV sử dụng thường xuyên Đây cũng là giải pháp đầu tiên được đề cập tới mỗi khi nhu cầu về vốn nảy sinh Một trong những vấn đề các DNNVV gặp phải là đối với những tài sản có giá trị lớn có thể được sử dụng để cầm cố - thế chấp thì doanh nghiệp lại gặp khó khăn trong việc chứng minh được quyền sở hữu các tài sản đó (chứng nhận quyền
sở hữu nhà, đất, xe ôtô…) vì trên thực tế các tài sản này có thể chưa được cấp các loại giấy tờ trên vì các lý do khác nhau Bên cạnh đó việc định giá các tài sản cầm cố - thế chấp cũng là vấn đề gây tranh cãi Các ngân hàng và các tổ chức tín dụng có xu hướng định giá thấp hơn so với giá thị trường, điều đó phần nào gây khó khăn cho các DNNVV Song song với các lý do về xu hướng hạn chế rủi ro của bên cung cấp tín dụng thì vấn đề cũng nằm ở khả năng hạn chế của các cán bộ tín dụng trong việc định giá các tài sản đặc thù, không phổ biến
- Cho vay không có bảo đảm
Phần lớn cho vay của ngân hàng là cho vay trực tiếp, tuy nhiên bên cạnh
đó ngân hàng cũng phát triển các hình thức cho vay gián tiếp Đây là hình
Trang 32thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian Ngân hàng có thể chuyển một vài khâu của hoạt động cho vay sang các tổ chức trung gian như thu nợ, phát tiền vay… Tổ chức trung gian cũng có thể đứng ra tín chấp cho các thanh viên vay, hoặc các thành viên trong nhóm bảo lãnh cho thành viên vay, nhất
là trong trường hợp không có hoặc không đủ tài sản thế chấp
Ngân hàng có thể cho vay qua các tổ, hội, nhóm như nhóm sản xuất, hội nông dân, hội phụ nữ …
Đối với các DNNVV, tại một số quốc gia trên thế giới thì đây là mô hình thành công trong việc cung cấp tín dụng cho DNNVV Vấn đề chính ở đây là khi các ngân hàng không có đủ thông tin về doanh nghiệp thì họ phải mời đến bên thứ ba có thể giúp cung cấp bổ sung thông tin về doanh nghiệp Các tổ chức hiệp hội ngành nghề, tổ, hội, nhóm, hội phụ nữ… là nơi các DNNVV hoặc bản thân chủ doanh nghiệp là thành viên nên thường nắm bắt đầu đủ hơn các thông tin về doanh nghiệp, qua đó có thể tham gia bảo lãnh, thu nợ… Nâng cao vai trò của các tổ chức hiệp hội, ngành nghề là một trong số những giải pháp mà nhiều nền kinh tế áp dụng Các tổ chức hiệp hội, ngành nghề do nắm được các thông tin về liên kết giữa các doanh nghiệp thành viên, các chỉ
số của ngành nên ở một chừng mực nhất định có thể đứng ra tín chấp cho các thành viên vay vốn
- Dịch vụ bảo lãnh
Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh) thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho doanh nghiệp (bên được bảo lãnh) khi doanh nghiệp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ
đã cam kết với bên nhận bảo lãnh Doanh nghiệp phải nhận nợ và hoàn trả nợ cho tổ chức tín dụng số tiền đã được trả thay
Các loại bảo lãnh bao gồm: bảo lãnh vay vốn; bảo lãnh thanh toán; bảo lãnh dự thầu; bảo lãnh thực hiện hợp đồng; bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản
Trang 33phẩm; bảo lãnh hoàn thanh toán và các loại bảo lãnh khác (bảo lãnh đối ứng, xác nhận bảo lãnh, đồng bảo lãnh)
Trên thực tế, dịch vụ bảo lãnh đang trở nên ngày càng gần gũi và quen thuộc với các DNNVV Bản thân nhu cầu sử dụng dịch vụ bảo lãnh xuất phát
từ đòi hỏi của quá trình kinh doanh và hoạt động thường xuyên của DNNVV Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế khu vực và thế giới đã tăng cường hợp tác giữa các DNNVV Việt Nam với các doanh nghiệp trên thế giới Do vậy bên cạnh nhu cầu nội tại về sử dụng các dịch vụ bảo lãnh, việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ này một phần là do các đối tác bên ngoài yêu cầu và đề xuất Chính vì lẽ đó trong một số trường hợp các DNNVV Việt Nam được các đối tác nước ngoài yêu cầu sử dụng một số loại hình dịch vụ bảo lãnh mà bản thân các doanh nghiệp này chưa quen thuộc Các DNVVN Việt nam đã ngày càng trở nên quen thuộc với các loại hình dịch vụ bảo lãnh như bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng Trong thời gian tới, dịch vụ bảo lãnh sẽ tiếp tục khẳng định được vị trí và vai trò với các DNNVV bởi lẽ các NHTM khó thu thập đầy đủ thông tin cần thiết về hoạt động và tình hình tài chính của các DNNVV để đầu tư tín dụng trực tiếp, do vậy bảo lãnh của bên thứ ba là rất cần thiết
1.2.4.3 Căn cứ vào chủ thể tham gia quan hệ tín dụng
Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp được
thực hiện thông qua hình thức mua bán chịu hàng hoá, trong đó người cho vay
là người bán chịu hàng hoá vì đã chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng lượng giá trị hàng hoá bán chịu cho người mua Ngược lại, thay vì việc trả tiền ngay, người mua được sử dụng số hàng đó một thời gian nhất định phụ thuộc vào thời gian bán chịu
Việc xuất hiện quan hệ tín dụng thương mại là tất yếu vì sự cách biệt giữa thời gian tiêu thụ và thời gian sản xuất, làm cho có doanh nghiệp có hàng muốn bán nhưng chưa cần tiền ngay, trong khi có doanh nghiệp cần hàng
Trang 34nhưng chưa tiêu thụ được sản phẩm Quan hệ mua bán chịu cho phép giải quyết được mâu thuẫn này và thoả mãn nhu cầu của hai phía
Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng vốn giữa ngân hàng với
các chủ thể kinh tế khác trong xã hội, trong đó ngân hàng giữ vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng gián tiếp mà người tiết kiệm, thông qua vai trò trung gian của ngân hàng, thực hiện đầu tư vốn vào các chủ thể có nhu cầu về vốn Khác với hình thức tín dụng trực tiếp, nguồn vốn của tín dụng ngân hàng là nguồn vốn huy động của
xã hội với khối lượng và thời hạn khác nhau, do đó nó có thể thoã mãn các nhu cầu vốn đa dạng về khối lượng cũng như thời hạn và mục đích sử dụng
Vì nguồn vốn huy động có tính chất nhàn rỗi tạm thời nên tín dụng ngân hàng chủ yếu đáp ứng các nhu cầu vốn ngắn hạn
Tín dụng ngân hàng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp vốn cho nhu cầu kinh doanh của các DNNVV - bởi chúng không đủ điều kiện
để tham gia vào các thị trường vốn trực tiếp Cao hơn thế, khả năng cung ứng vốn của tín dụng ngân hàng còn góp phần đẩy nhanh nhịp độ tích tụ, tập trung vốn và tăng cường khả năng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
Tín dụng Nhà nước là quan hệ tín dụng được thực hiện dưới hình thức
tiền tệ hoặc hiện vật giữa một bên là Nhà nước và một bên là các chủ thể kinh
tế khác trong xã hội Trong đó Nhà nước là người đi vay bằng cách phát hành trái phiếu và tín phiếu, tuỳ theo tính chất thiếu hụt của Ngân sách Người mua các chứng khoán này là người cho nhà nước vay bao gồm: Các hộ gia đình, các ngân hàng và các định chế phi ngân hàng, ngân hàng trung ương hoặc các
tổ chức nước ngoài
Tín dụng doanh nghiệp là quan hệ tín dụng trực tiếp giữa các doanh
nghiệp và công chúng Quan hệ vay mượn này được thể hiện dưới hai hình thức hoàn toàn khác nhau:
Trang 35Quan hệ tín dụng tiêu dùng là tín dụng đáp ứng nhu cầu của người tiêu
dùng Trong đó các tổ chức thương nghiệp lớn là người cho khách hàng của mình vay bằng cách cho phép họ sử dụng một khối lượng hàng hoá tiêu dùng nhất định mà không phải trả tiền trong một thời gian nhất định
Quan hệ tín dụng giữa doanh nghiệp và công chúng với tư cách là người tiết kiệm, trong mối quan hệ này, các doanh nghiệp là người có nhu cầu đầu
tư, huy động vốn trực tiếp bằng cách phát hành các loại trái phiếu trên thị trường vốn người mua trái phiếu là người cho vay đây là quan hệ chuyển nhượng vốn trực tiếp, đóng một vai trò quan trọng trong việc cung ứng các khoản vốn trung và dài hạn cho nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất của doanh nghiệp và nền kinh tế
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển tín dụng ngân hàng hỗ trợ DNNVV
Một là, môi trường kinh doanh thuận lợi và các cơ chế chính sách tích
cực sẽ tác động trực tiếp tới việc cung cấp dịch vụ tín dụng ngân hàng cho các DNNVV, cụ thể:
Môi trường kinh doanh bao gồm các thể chế và các qui định luật pháp
đóng vai trò nền tảng mà trên đó các ngân hàng - cũng là các doanh nghiệp và các DNNVV cùng tồn tại và phát triển “Môi trường nào - doanh nghiệp ấy”
là câu nói thể hiện mối quan hệ và tác động trực tiếp của môi trường kinh doanh tới sự hình thành và phát triển của cộng đồng doanh nghiệp Môi trường kinh doanh ổn định sẽ kích thích đầu tư, các doanh nghiệp yên tâm sản xuất kinh doanh, tăng cường mở rộng sản xuất, nhu cầu vốn tín dụng tăng và Ngân hàng cũng không lo ngại về việc cho vay của mình
Kế tiếp phải kể đến tác động của các qui định pháp lý trong lĩnh vực này Hiện nay các qui định pháp lý trong lĩnh vực hỗ trợ phát triển DNNVV và dịch vụ tín dụng ngân hàng đang ngày càng được hoàn thiện, tuy nhiên các qui định này chưa đồng bộ và chưa đáp ứng được các đòi hỏi của thực tế Một
Trang 36điểm rất quan trọng là lĩnh vực dịch vụ tín dụng có quan hệ mật thiết với các lĩnh vực khác của đời sống kinh tế-xã hội Các qui định trong Luật Dân sự, Luật Đất đai, luật Hôn nhân và Gia đình… đều có tác động tới việc cung cấp dịch vụ tín dụng ngân hàng cho DNNVV
Hai là, xét từ góc độ của các DNVVN, do các DNNVV có xuất phát
điểm từ giới hạn về qui mô và nguồn lực hạn chế Cũng chính từ đặc điểm này
đã ảnh hưởng trực tiếp tới việc tiếp cận dịch vụ tín dụng của doanh nghiệp
Yếu tố đầu tiên phải kể đến là kiến thức và thông tin của các DNNVV về dịch vụ tín dụng và các qui trình tiếp cận Các DNNVV thường gặp phải vấn
đề trên do nguồn lực về con người và trình độ của đội ngũ nhân viên hạn chê, quy mô doanh nghiệp nhỏ nên việc phổ cập kiến thức và cập nhật thông tin về doanh nghiệp và Ngân hàng gặp nhiều khó khăn
Hạn chế về nguồn lực tài chính và con người trong một chừng mực nhất định đã ảnh hưởng tới cách thức điều hành doanh nghiệp Ở Việt Nam số lượng lớn các DNNVV được quản lý theo kiểu “công ty gia đình” và hệ quả
là các hệ thống quản trị nội bộ như quản trị nguồn nhân lực, hệ thống tài chính - kế toán thiếu chuyên nghiệp, mang tinh chất đối phó
Việc không có hệ thống tài chính - kế toán chuyên nghiệp thường dẫn tới tình trạng các DNNVV không có các báo cáo tài chính theo tiêu chuẩn để dựa trên đó các ngân hàng có thể đưa ra các quyết định đầu tư chính xác Đây là một trong số những yếu tố mà bản thân các DNNVV có thể tự mình cải thiện tình hình Theo ý kiến nhiều chuyên gia, đây có thể được coi là yếu tố chủ quan có vai trò quan trọng hàng đầu trong việc tăng cường năng lực tiếp cận
và sử dụng dịch vụ tín dụng ngân hàng của các DNNVV
Ba là, xét từ góc độ của các ngân hàng, các nhân tố thuộc về nội tại của
một ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến việc cung cấp dịch vụ tín dụng cho các DNNVV Nhóm nhân tố này bao gồm: năng lực điều hành của lãnh đạo ngân
Trang 37hàng; nguồn nhân lực; hệ thống mạng lưới cung cấp dịch vụ; mức phí; hiểu biết và nắm thông tin về đặc thù, hoạt động của các DNNVV
Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, vai trò lãnh đạo của người đứng đầu là vô cùng quan trọng Ban lãnh đạo ngân hàng phải có khả năng nắm bắt kịp thời mọi diễn biến liên quan đến hoạt động của ngân hàng, định hướng hoạt động ngân hàng phù hợp với xu thế phát triển và phát huy, kết hợp tối đa sức mạnh của các nguồn lực thành một sức mạnh tổng hợp của một ngân hàng Bên cạnh đó nguồn nhân lực giỏi, năng lực quản trị, quản lý rủi ro cũng được ngân hàng quan tâm
Trong hoạt động tín dụng thì yếu tố lãi suất cho vay là nhân tố quan trọng hàng đầu ảnh hưởng tới việc cung cấp dịch vụ tín dụng cho DNNVV Qui mô các giao dịch của các DNNVV là nhỏ do vậy hệ số tỷ lệ giữa các khoản chi phí giao dịch tính trên giá trị của khoản vay/giá trị giao dịch trở nên cao hơn nhiều so với các giao dịch qui mô lớn Điều này tạo ra thách thức lớn cho các ngân hàng trong việc đa dạng hoá dịch vụ và xây dựng mức lãi suất cạnh tranh cho dịch vụ tín dụng Đây cũng chính là một trong những giải pháp (được nêu trong chương 3) phát triển dịch vụ tín dụng ngân hàng hỗ trợ DNNVV
Tiếp theo phải kể đến sự cần thiết của việc ứng dụng công nghệ hiện đại trong lĩnh vực ngân hàng Công nghệ thông tin cũng giúp các ngân hàng nâng cao năng lực quản lý rủi ro đối với từng khách hàng và toàn bộ hệ thống Việc nắm bắt được đặc thù hoạt động của các DNNVV đóng vai trò then chốt trong việc tạo dựng thành công của các ngân hàng phục vụ DNNVV Hiểu biết về hoạt động và đặc thù của các DNNVV đã giúp các ngân hàng này xây dựng qui trình tín dụng và các dịch vụ ngân hàng phù hợp với nhu cầu của các DNNVV Các tổ chức hiệp hội và các tổ chức xã hội của DNNVV cũng là kênh để trợ giúp ngân hàng nắm bắt thông tin tốt hơn
Trang 381.4 Kinh nghiệm của một số nước về phát triển tín dụng hỗ trợ DNNVV, bài học cho Ngân hàng Công thương Thái Nguyên
1.4.1 Tín dụng đối với DNNVV của một số nước
Trong những năm gần đây, nhiều Chính phủ và Tổ chức Tài chính quốc
tế đang xem xét những vấn đề cơ bản trong việc tiếp cận tài chính của các DNNVV - vấn đề rủi ro và chi phí cao cũng được xem xét bằng việc tạo ra các chương trình tín dụng ưu đãi hoặc bảo lãnh tín dụng
Tại Singapore, Singapore đã trở thành "con rồng" ở Đông Nam Á, nhờ
vào sự phát triển vượt bậc của các doanh nghiệp Từ năm 1970, một số chương trình hỗ trợ tài chính của Chính phủ được đưa ra, có ý nghĩa nhất là chương trình tài chính cho DNNVV (SIFS) do EDB cộng tác với ngân hàng phát triển Singapore thành lập, EDB cung cấp các nguồn vốn ban đầu cho các trung tâm xúc tiến doanh nghiệp (EPC), nơi có nhiệm vụ khuyến khích và thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp trong nước thông qua việc tập hợp, phân loại và xử lý các nhu cầu của họ Chính phủ đã thành lập một trung tâm xúc tiến phát triển kinh doanh để cung cấp dịch vụ tư vấn, xử lý cho các nhà doanh nghiệp sở tại
Việc phát triển doanh nghiệp Singapore là do Chính phủ tạo được một môi trường kinh doanh thuận lợi và hạ tầng cơ sở đảm bảo có hiệu quả; là hết sức coi trọng phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là việc đào tạo cho đội ngũ doanh nhân có khả năng tiếp thu công nghệ mới Chính phủ điều phối cả về mặt thể chế và ban hành chính sách khuyến khích, gắn với thúc đẩy tinh thần
tự lực cánh sinh của đội ngũ doanh nhân
Tại Đài loan, Ngân hàng Hợp tác Đài Loan (TCB) trong một thời gian
dài đã cung cấp nhiều loại dịch vụ tài chính cho DNNVV Đài Loan, bao gồm cho vay và tư vấn tài chính Những doanh nghiệp được Ngân hàng Hợp tác Đài Loan hỗ trợ, cùng với nỗ lực của bản thân họ đã có khả năng cạnh tranh vững mạnh ở thị trường trong nước và nước ngoài Với các yếu tố quan trọng
Trang 39như mở rộng hoạt động kinh doanh của ngân hàng, củng cố kênh dịch vụ và tạo quy mô kinh tế, Ngân hàng Hợp tác Đài loan (TCB) còn đưa ra các giải pháp:
- Cải thiện các báo cáo tài chính của DNNVV và tăng độ minh bạch đối với các thông tin tài chính
- Bổ sung kiến thức tài chính và khả năng lập kế hoạch tài chính cho chủ DNNVV và nhân viên kế toán
- Giúp DNNVV hiểu được các quy trình và tiêu chuẩn đánh giá rủi ro tín dụng
Ngoài việc củng cố hoạt động kinh doanh thông qua các khoản cho vay doanh nghiệp lớn và bảo hiểm, Ngân hàng Hợp tác Đài Loan còn vụ dành riêng một phần vốn của mình để thúc đẩy DNNVV phát triển, thông qua các quĩ như Quỹ phát triển DNNVV… Đối với những DNNVV có tiềm năng nhưng thiếu tài sản đảm bảo, Ngân hàng giúp họ có được bảo lãnh từ Quỹ Bảo lãnh tín dụng cho DNNVV để họ có thể dễ dàng tiếp cận vốn vay từ ngân hàng Nhằm hỗ trợ DNNVV phản ứng với môi trường kinh tế thường xuyên thay đổi, Ngân hàng đã giới thiệu một sản phẩm tài chính mới - những khoản cho vay có giá trị nhỏ cho DNNVV- theo đó thủ tục cho vay được đơn giản hoá Sản phẩm mới này được thiết kế nhằm giúp DNNVV dễ tiếp cận vốn vay nhờ đó có thể mở rộng diện khách hàng và tăng lợi nhuận cho ngân hàng
1.4.2 Bài học kinh nghiệm đối với ngân hàng công thương Thái Nguyên
Qua việc nghiên cứu kinh nghiệm hỗ trợ tín dụng cho DNNVV của một
số nước có thể rút ra những kinh nghiệm đối với NHCT Thái Nguyên
- Thứ nhất, nhận thức đúng, đủ và rõ ràng vai trò giúp đỡ của Chính
phủ, các ban ngành trung ương, của chính quyền địa phương trong quá trình hình thành cũng như phát triển DNNVV Nhận thức rõ việc phát triển DNNVV luôn gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Các cấp chính quyền luôn coi việc tạo các điều kiện thuận lợi cho DNNVV phát triển là nhiệm vụ quan trọng của mình, như: giải phóng mặt bằng, chủ
Trang 40động trong việc đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật và xã hội; kêu gọi các doanh nhân trong và ngoài nước đầu tư và kinh doanh trên địa bàn tỉnh; chuẩn bị tốt các điều kiện xã hội cho doanh nghiệp phát triển như lao động, đào tạo nghề, chuyển nghề, nhà ở cho công nhân và chuyên gia, vui chơi giải trí, văn hoá…
- Thứ hai, nhận thức được vai trò của các hiệp hội là hết sức cần thiết
cho sự phát triển của các DNNVV Hiệp hội đã có khoảng gần 20.000 hội viên, đến năm 2015 sẽ thu hút khoảng 100.000 hội viên Với hơn 540.000 doanh nghiệp đăng ký hoạt động, số lượng hội viên cần tiếp tục thu hút, tập hợp tham gia Hiệp hội là rất lớn, trong đó có một số hiệp hội đang ngày càng phát huy hiệu quả Các Hiệp hội làm việc đại diện cho quyền lợi của doanh nghiệp và thực hiện các hoạt động hỗ trợ cụ thể cho hội viên của mình, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân phát triển lớn mạnh Hiệp hội chính là đầu mối liên kết với các chủ thể nước ngoài, nhất là đội ngũ đông đảo Việt kiều, để họ tham gia vào quá trình phát triển kinh tế, tham gia vào hệ thống phân phối hàng hóa của Việt Nam
- Thứ ba, với những trợ giúp từ bên ngoài (Chính phủ, Hiệp hội ) thì
bản thân DNNVV cũng phải xây dựng cho mình một nội lực vững chắc, bởi nếu không có nội lực vững chắc thì không có cơ sở để chủ động hoạt động sản xuất – kinh doanh, càng khó có thể "thẩm thấu" được những sự trợ giúp vừa khó tìm vừa rất quý báu đó Lịch sử phát triển của một quốc gia hay một doanh nghiệp đã chứng minh tính nguyên tắc rằng, nội lực luôn là chính, sử dụng sự giúp đỡ bên ngoài là quan trọng, và nếu doanh nghiệp không tự vươn lên thì mọi sự hỗ trợ từ bên ngoài đều không có hiệu quả
- Thứ tƣ, ngân hàng thường xuyên hoàn thiện và cung ứng các sảm
phẩm dịch vụ mới để đáp ứng nhu cầu vay vốn của các DNNVV Ngân hàng tiếp tục hoàn thiện, cải tiến các sản phẩm tài trợ uỷ thác dành riêng cho các DNNVV nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp này tiếp cận nhanh nhất với các hoạt động tín dụng của ngân hàng