1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập trường hợp trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh phú thọ

110 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đơn vị sự nghiệp công: Là các đơn vị được Nhà nước thành lập, để thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước giao, hoạt động sự nghiệp theo từng lĩnh vực về y tế, giáo dục, văn hóa, thông tin, b

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

-

LÊ QUANG NGỌC

HOÀN THIỆN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC CÔNG LẬP, TRƯỜNG HỢP TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN TỈNH PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

Thái Nguyên – 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

-

LÊ QUANG NGỌC

HOÀN THIỆN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC CÔNG LẬP, TRƯỜNG HỢP TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN TỈNH PHÚ THỌ

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 60.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: GS.,TS Mai Ngọc Cường

Thái Nguyên – 2013

Trang 3

MỤC LỤC

4 Ý nghĩa khoa học và những đóng góp mới của đề tài nghiên cứu: 3

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUẢN LÝ TÀI

1.1.1 Lý luận chung về đơn vị sự nghiệp công và chính sách tài chính

1.1.1.1 Đơn vị sự nghiệp công: 5

1.1.1.2 Những đặc trưng cơ bản của hoạt động sự nghiệp: 6 1.1.1.3 Phân loại hoạt động sự nghiệp 8 1.1.1.4 Vai trò của hoạt động sự nghiệp trong nền kinh tế thị trường 10

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm hoạt động và các loại hình đơn vị sự nghiệp

1.1.2.1 Khái niệm và đặc điểm hoạt động của đơn vị sự nghiệp ở Việt Nam 11 1.1.2.2 Các loại hình đơn vị sự nghiệp ở Việt Nam 13

1.2.2 Tổng quan các nghiên cứu về quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp

công 27

1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH Ở ĐƠN

1.3.1.1 Luật Ngân sách nhà nước 29

Trang 4

1.3.1.2 Cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước 30

1.3.2.1 Đặc điểm của ngành 32 1.3.2.2 Quy mô, tầm quan trọng của đơn vị sự nghiệp 33

1.3.3 Thị trường đầu vào, đầu ra của đơn vị sự nghiệp 33

1.3.3.1 Thị trường đầu vào của đơn vị sự nghiệp 33 1.3.3.2 Thị trường đầu ra của đơn vị sự nghiệp 34

1.3.4 Năng lực quản lý tài chính nội tại của đơn vị sự nghiệp 35

1.3.4.1 Trình độ cán bộ quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp 35 1.3.4.2 Hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị sự nghiệp 35

1.4 KINH NGHIỆM MỘT SỐ NƯỚC TRONG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH

1.4.1.1 Kinh nghiệm phân loại và xác định mức độ cấp kinh phí cho các đơn

1.4.1.2 Kinh nghiệm khoán kinh phí cho các đơn vị sự nghiệp công: 37

1.4.2.1 Kinh nghiệm về quy trình xây dựng dự toán đối với các đơn vị sự

1.4.2.2 Kinh nghiệm đánh giá hoạt động: 39

2.2.1 Khái quát về đặc điểm kinh tế xã hội tỉnh Phú Thọ 43 2.2.2 Khái quát về hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công của

Trang 5

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH

3.1 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH

TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN TỈNH PHÚ THỌ: 54 3.1.1 Khái quát về Trung tâm GDTX tỉnh Phú Thọ: 54

3.1.2.1 Biến đổi quy mô thu 55 3.1.2.2 Biến đổi cơ cấu nguồn thu 57 3.1.2.3 Về tổ chức quản lý thu 59

3.1.3.1 Biến đổi quy mô chi 60 3.1.3.2 Biến đổi cơ cấu chi 62 3.1.3.3 Về tổ chức quản lý chi 64

3.1.4 Về chênh lệch thu chi và phân phối chênh lệch thu chi: 66 3.2 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH

TẠI TRUNG TÂM GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN TỈNH PHÚ THỌ 68 3.2.1 Những thành tựu chủ yếu về quản lý tài chính 68 3.2.2 Những hạn chế chủ yếu về quản lý tài chính 69

3.2.3.1 Nguyên nhân về môi trường chính sách vĩ mô: 70 3.2.3.2 Nguyên nhân từ tình hình phát triển thị trường của Trung tâm: 72 3.2.3.3 Nguyên nhân về năng lực tổ chức quản lý nội bộ của Trung tâm: 73

CHƯƠNG 4 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI TRUNG TÂM GDTX TỈNH PHÚ THỌ 75 4.1 Phương hướng phát triển và định hướng hoàn thiện quản lý thu

chi tài chính tại Trung tâm GDTX tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2011-2015 75

Trang 6

4.1.1 Chủ trương định hướng phát triển phát triển kinh tế xã hội và

giáo dục đào tạo của tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2011-2015 75 4.1.2 Phương hướng hoàn thiện quản lý thu chi tài chính tại Trung tâm

4.3 Kiến nghị với cơ quan quản lý nhà nước các cấp về hỗ trợ hoàn

thiện quản lý thu chi tài chính tại Trung tâm GDTX tỉnh Phú Thọ: 83

Phụ lục 1 Mẫu phiếu điều tra, phỏng vấn M1 Phiếu điều tra cơ bản các

đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập trên địa bàn tỉnh Phú Thọ 2009-2011 92 Phụ lục 2 Phiếu khảo sát về quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp

Phụ lục 3: Tổng hợp trả lời câu hỏi khảo sát 98

CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, MÔ HÌNH

Bảng 2.1 Tình hình phát triển kinh tế xã hội tỉnh Phú Thọ 44 Bảng 2.2 Một số chỉ tiêu về các đơn vị sự nghiệp công trên địa bàn

tỉnh năm 2011

45 Bảng 3.1 Quy mô nguồn thu của Trung tâm GDTX tỉnh Phú Thọ 55 Bảng 3.2 Cơ cấu nguồn thu của Trung tâm GDTX tỉnh Phú Thọ 57 Bảng 3.3 Quy mô chi của Trung tâm GDTX tỉnh Phú Thọ 61 Bảng 3.4 Cơ cấu chi của Trung tâm GDTX tỉnh Phú Thọ 63 Bảng 3.5 Phân phối chênh lệch thu chi của Trung tâm giáo dục

Bảng 3.8 Đánh giá tình hình tổ chức quản lý về hoạt động tài chính

của đơn vị đào tạo công hiện nay

73

Bảng 4.1 Hướng lựa chọn ưu tiên tăng nguồn thu của đơn vị đào

tạo công lập những năm tới

76

Bảng 4.2 Lựa chọn ưu tiên cho chi tiêu của đơn vị đào tạo công lập

những năm tới

77

Bảng 4.3 Mức độ tác động của những nhân tố sau đây đến hoạt

động thu chi tài chính của các đơn vị đào tạo công lập hiện nay

Trang 8

DANH MỤC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BHXH: Bảo hiểm xã hội

BHYT: Bảo hiểm y tế

BHTN: Bảo hiểm thất nghiệp

CTMTQG: Chương trình mục tiêu quốc gia

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Trong các tổ chức kinh tế - xã hội, đơn vị sự nghiệp nói chung, công tác nhân sự, công tác tài chính, công tác kế hoạch, công tác cơ sở vật chất, …

đã và đang là những công tác trọng tâm quyết định đến sự tồng tạo và phát triển của đơn vị Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang phát triển theo chiều hướng nâng cao chất lượng và hiệu quả, chú trọng phát triển từ bề rộng sang chiều sâu, từ số lượng sang chất lượng, phát triển theo hướng bền vững Ngành giáo dục và đào tạo của Việt Nam đang thực thi hàng loạt các chính sách trong đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo thần Nghị quyết TW6, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa 11 Trong đó công tác tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các cơ sở giáo dục và đào tạo đã và đang được triển khai trong toàn quốc, mà trọng tâm là tự chủ về tài chính Do vậy, làm thế nào để quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp được hiệu quả, đúng luật và tạo động lực phát triển một cách toàn diện của các cơ sở giáo dục (trong đó có các Trung tâm giáo dục thường xuyên) là rất cần thiết

Trung tâm giáo dục thường xuyên (GDTX) tỉnh Phú Thọ, với tư cách là một đơn vị sự nghiệp, là một trường hợp cụ thể Mặc dù trong những năm qua, công tác quản lý tài chính của Trung tâm GDTX tỉnh Phú Thọ đã đạt được một số kết quả nhất định, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đề ra, song công tác quản lý tài chính tại Trung tâm GDTX tỉnh Phú Thọ vẫn bộc lộ nhiều hạn chế Để góp phần làm cho công tác quản lý tài chính của Trung tâm GDTX tỉnh Phú Thọ ngày càng tốt hơn, phù hợp hơn với tiến trình đổi mới

đất nước trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới và khu vực, đề tài "Hoàn thiện quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập, trường hợp Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Phú Thọ" được chọn làm luận

văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế

Trang 10

2 Mục tiêu nghiên cứu:

a Mục tiêu chung:

Trên cơ sở đánh giá, phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn thực trạng quản lý tài chính, các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thu, chi tài chính tại Trung tâm GDTX tỉnh Phú Thọ, trên cơ sở đó để làm rõ sự cần thiết

và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp công lập, mà cụ thể là tại Trung tâm GDTX tỉnh Phú Thọ trong thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

a Đối tượng nghiên cứu:

Là quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập, lấy ví dụ tại Trung tâm GDTX tỉnh Phú Thọ Vì Trung tâm GDTX tỉnh Phú Thọ là một đơn vị sự nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước, nên đổi mới quản lý tài chính tại Trung tâm GDTX tỉnh Phú Thọ bao gồm nhiều nội dung phức tạp như đổi mới quản lý tài chính của Nhà nước (với tư cách chủ sở hữu đối với Trung tâm GDTX tỉnh Phú Thọ), đổi mới quản lý tài chính tại chính đơn vị là Trung tâm GDTX tỉnh Phú Thọ Do khuôn khổ hạn chế của đề tài, nên trên cơ sở lý luận chung, luận văn tập trung nghiên cứu quản lý tài chính tại Trung tâm GDTX tỉnh Phú Thọ Cơ chế, chế độ quản lý tài chính của Nhà nước đối với đơn vị SN công được giới hạn trong các văn bản hiện hành của Nhà nước

Trang 11

b Phạm vi nghiên cứu:

- Về nội dung: Đề tại tập trung nghiên cứu đổi mới quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập, lấy ví dụ trường hợp tại Trung tâm GDTX tỉnh Phú Thọ

- Về không gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, chủ yếu tại Trung tâm GDTX tỉnh Phú Thọ

- Về thời gian: Các số liệu đề tài nghiên cứu từ năm 2009 đến năm

2011

4 Ý nghĩa khoa học và những đóng góp mới của đề tài nghiên cứu:

a Ý nghĩa khoa học của đề tài:

Trong bối cảnh Việt Nam đang thực thi hàng loạt các chính sách liên quan đến đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục, giao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập Tác giả đã nghiên cứu đề tài cụ thể ở Trung tâm GDTX tỉnh Phú Thọ, từ đó

đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quản lý tài chính ở đơn vị này trong bối cảnh hiện này

Đề tài nghiên cứu thành công có ý nghĩa góp phần quan trọng hoàn thiện và bổ sung cơ sở lý luận về quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập ở Việt Nam, đề xuất nhằm hoàn thiện chính sách quản lý tài chính cho Trung tâm GDTX tỉnh Phú Thọ Đề tài có thể ứng dụng cho các Trung tâm giáo dục thường xuyên ở các địa phương khác trong cả nước

b Những đóng góp mới của đề tài:

Đề tài góp phần bổ sung lý luận và thực tiễn về quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập; phân tích thực trạng công tác quản lý tài chính và đề xuất được các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý tài chính

ở Trung tâm GDTX tỉnh Phú Thọ Trên cơ sở đề xuất các giải pháp, luận văn kiến nghị với các cơ quan hữu quan để chủ động thực hiện tốt công tác quản

lý tài chính tại Trung tâm GDTX tỉnh Phú Thọ

Trang 12

5 Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn được kết cấu thành 4 chương, bao gồm:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 Thực trạng quản lý tài chính tại Trung tâm GDTX tỉnh Phú Thọ Chương 4 Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại Trung tâm GDTX tỉnh Phú Thọ

Trang 13

1.1.1.1 Đơn vị sự nghiệp công: Là các đơn vị được Nhà nước thành

lập, để thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước giao, hoạt động sự nghiệp theo từng lĩnh vực về y tế, giáo dục, văn hóa, thông tin, bảo tồn, bảo tàng, khoa học công nghệ, thể dục thể thao, quản lý tài nguyên, môi trường, khí tượng, thủy văn

Như vậy đơn vị sự nghiệp công được xác định bởi những thành tố đặc trưng:

- Do cơ quan Nhà nước thành lập, quản lý, thuộc sở hữu Nhà nước Đây là thuộc tính quan trọng nhất, là cơ sở để phân biệt các đơn vị sự nghiệp công lập với các đơn vị ngoài công lập

- Thực hiện nhiệm vụ do các cơ quan Nhà nước giao theo các lĩnh vực

về y tế, giáo dục, văn hóa, thông tin, bảo tồn, bảo tàng, khoa học công nghệ, thể dục thể thao, quản lý tài nguyên, môi trường, khí tượng, thủy văn nhằm thỏa mãn yêu cầu về phát triển của xã hội và nhu cầu của các cá nhân về học tập, chăm sóc sức khỏe, nâng cao thẩm mỹ, tiếp thu tri thức khoa học công nghệ

- Kinh phí hoạt động chủ yếu do Ngân sách Nhà nước (NSNN) cấp, được phép thu các khoản phí, lệ phí (là các khoản thu của NSNN) và được để lại theo qui định của Nhà nước

- Tham gia thực hiện phân phối lại thu nhập quốc dân thông qua NSNN

và các quỹ tài chính (BHXH, BHYT, BHTN, quỹ xóa đói giảm nghèo )

Trang 14

- Không thực hiện chức năng quản lý Nhà nước và không bao gồm các đơn vị thuộc lĩnh vực an ninh, quốc phòng

Như vậy có thể quan niệm rằng: Đơn vị SN công là đơn vị do Nhà nước thành lập để thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước giao trong các lĩnh vực chuyên môn, kinh phí hoạt động chủ yếu do Nhà nước cấp không vì mục tiêu lợi nhuận

1.1.1.2.Những đặc trưng cơ bản của hoạt động sự nghiệp:

Thứ nhất, hoạt động sự nghiệp có xu hướng cung cấp các loại hàng hóa, dịch vụ có tính chất của hàng hóa công cộng hoặc hàng hóa khuyến dụng

Kết quả của hoạt động sự nghiệp chủ yếu là học vấn, kỹ năng lao động của nhân dân, các giá trị văn hóa, khoa học, nghệ thuật khó đánh giá được giá trị kinh tế bằng tiền, nhưng có ý nghĩa tăng hiệu quả kinh tế xã hội chung, tăng năng lực sản xuất của quốc gia, tăng chất lượng sống của nhân dân, tăng phúc lợi xã hội, tạo hiệu ứng tích cực cho các lĩnh vực khác, lợi ích đem lại không chỉ cho người hưởng thụ trực tiếp mà còn cho những người khác … Nhiều sản phẩm của các đơn vị sự nghiệp có giá trị sử dụng tăng thêm khi tăng người sử dụng mà không tăng chi phí như phát thanh, truyền hình… Theo ý kiến của nhà kinh tế được giải thưởng Noben J Stieglits, nhà nước cung cấp hàng hóa công cộng sẽ có lợi hơn tư nhân [14, tr.170-173]

Hơn nữa, trong xã hội hiện đại, để đảm bảo công bằng và tiến bộ xã hội, Nhà nước nên cung cấp nhiều hàng hóa công cộng Bởi vì, nhờ sử dụng những hàng hóa công cộng do hoạt động sự nghiệp tạo ra mà quá trình sản xuất của cải vật chất được thuận lợi và ngày càng đạt hiệu quả cao hơn Hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, thể dục thể thao đem đến tri thức và bảo đảm sức khỏe cho lực lượng lao động, tạo điều kiện cho lao động có chất lượng ngày càng tốt hơn; hoạt động sự nghiệp khoa học, văn hóa thông tin mang lại những hiểu biết của con người về tự nhiên, xã hội, tạo ra những công nghệ mới phục vụ sản xuất và đời sống Nếu không có

Trang 15

sự cung cấp của Nhà nước, nhiều người không có cơ hội hưởng thụ những loại hàng hóa, dịch vụ đó

Thứ hai, hoạt động sự nghiệp không nhằm mục đích thu lợi nhuận trực tiếp

Trong nền kinh tế thị trường, một số sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp tạo ra có thể trở thành hàng hóa đem lại thu nhập cho đơn vị cung cấp Song do nhiều nguyên nhân, chẳng hạn như nếu trao đổi theo nguyên tắc thị trường thì nhiều người không có khả năng tiêu dùng hoặc không khuyến khích tiêu dùng đủ mức…, trong khi đó mở rộng tối đa sự tiêu dùng các loại hàng hóa đó có ý nghĩa vừa làm tăng năng lực sản xuất của đất nước, vừa có giá trị tiến bộ và công bằng Chính vì thế, Nhà nước cần tổ chức cung ứng hoặc duy trì các tài trợ để các hoạt động sự nghiệp cung cấp những sản phẩm, dịch vụ không thu tiền hoặc thu tiền chỉ để hoàn một phần chi phí, không nhằm thu lợi nhuận Ngoài ra, khi cung cấp các dịch vụ sự nghiệp không theo nguyên tắc thương mại bình thường, Nhà nước hướng đến mục tiêu phân phối lại thu nhập và tăng phúc lợi công cộng

Tuy nhiên, xét về mặt quản lý vi mô, Nhà nước mong muốn các đơn vị cung cấp hàng hóa, dịch vụ sự nghiệp phải hoạt động có hiệu quả, có nghĩa là hoạt động với chi phí tối thiểu Do đó, các biện pháp khoán kinh phí hay buộc các đơn vị sự nghiệp phải hạch toán thu chi không phải là giải pháp tăng thu lợi nhuận như các biện pháp quản lý doanh nghiệp, mà đơn thuần chỉ là giải pháp quản lý khuyến khích đơn vị sự nghiệp chủ động phát huy hết mọi năng lực của mình để tiết kiệm chi phí

Thứ ba, hoạt động sự nghiệp luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế xã hội và ngân sách của Nhà nước

Trong kinh tế thị trường, các hoạt động sự nghiệp cũng là công cụ để Nhà nước thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, nhất là các chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng, chương trình dân số, kế hoạch hóa gia đình, chương trình phát triển giáo dục, chương trình phát triển văn hóa

Trang 16

Những chương trình mục tiêu quốc gia chi phối hoạt động sự nghiệp nằm trong tổng thể chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội nói chung

Hơn nữa, nhu cầu về các sản phẩm, dịch vụ sự nghiệp của xã hội thì nhiều vô hạn, trong khi đó nguồn tài chính của Nhà nước giành cho các hoạt động này lại bị hạn chế bởi ngân sách nhà nước cũng như mối quan hệ với các nhu cầu chi tiêu khác của Nhà nước Chính vì thế, cung sản phẩm, dịch vụ sự nghiệp luôn thấp hơn nhu cầu và việc xác định phải cung cấp các loại sản phẩm, dịch vụ sự nghiệp với quy mô bao nhiêu luôn là vấn đề hóc búa của các Nhà nước

Thứ tư, sản phẩm của các hoạt động sự nghiệp có tính ích lợi chung và lâu dài

Sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp tạo ra chủ yếu là những giá trị về tri thức, văn hóa, phát minh, sức khỏe, đạo đức, các giá trị về xã hội Đây

là những sản phẩm thường mang lại lợi ích cho nhiều người, cho nhiều đối tượng trên phạm vi rộng Nhiều sản phẩm sự nghiệp có tác dụng lâu dài như các phát minh khoa học, các giá trị văn hóa, trình độ học vấn, kỹ năng lao động…

Nhìn chung, đại bộ phận các sản phẩm do hoạt động sự nghiệp tạo ra là sản phẩm có tính phục vụ không chỉ bó hẹp trong một ngành hoặc một lĩnh vực nhất định, những sản phẩm đó khi tiêu dùng thường có tác dụng lan toả

và vực được sử dụng đi, sử dụng lại nhiều lần

1.1.1.3 Phân loại hoạt động sự nghiệp

Hoạt động sự nghiệp trong xã hội rất đa dạng, phong phú và có thể phân loại chúng theo nhiều tiêu thức khác nhau

- Căn cứ vào lĩnh vực hoạt động, các hoạt động sự nghiệp được chia thành:

+ Sự nghiệp kinh tế: Là hoạt động sự nghiệp nhằm phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp cho yêu cầu sản xuất kinh doanh, đảm bảo cho các ngành kinh

tế hoạt động bình thường, thuận lợi

Trang 17

+ Sự nghiệp văn hóa xã hội (gọi tắt là sự nghiệp văn xã): Là các hoạt động phục vụ cho các yêu cầu phát triển của xã hội về văn hóa, sức khỏe và các nhu cầu về đời sống tinh thần của nhân dân

- Căn cứ vào đặc điểm nguồn tài chính đảm bảo cho hoạt động sự nghiệp, hoạt động sự nghiệp được chia thành:

+ Hoạt động sự nghiệp không có thu: Là hoạt động do Nhà nước đảm bảo hoàn toàn nhu cầu tài chính Những hoạt động này thường là những hoạt động cung cấp các dịch vụ thiết yếu cho xã hội, phạm vi tiêu dùng rộng rãi và chỉ có Nhà nước mới có thể thực hiện một cách hiệu quả nhất Thuộc về những hoạt động này gồm có các hoạt động về văn hóa tuyên truyền, giáo dục tiểu học, đào tạo, khoa học, y tế cho người nghèo, đảm bảo xã hội,

+ Hoạt động sự nghiệp có thu: Là những hoạt động mà nguồn tài chính đảm bảo vừa do Nhà nước cung cấp, vừa do người tiêu dùng đóng góp một phần dưới dạng phí, lệ phí Những hoạt động này thường là những hoạt động cung cấp các dịch vụ có tác động trực tiếp đến quá trình sản xuất và đời sống

mà người tiêu dùng có thể trả tiền do họ thấy ngay hiệu quả sử dụng dịch vụ, hoặc là họ muốn nhận được những dịch vụ có phí phân biệt theo chất lượng

- Căn cứ vào tính chất hoạt động của chúng, hoạt động sự nghiệp được chia thành:

+ Hoạt động sự nghiệp thường xuyên: Là những hoạt động được tổ chức và duy trì hoạt động liên tục và xã hội luôn luôn có nhu cầu tiêu dùng sản phẩm dịch vụ của nó, bất luận điều kiện kinh tế xã hội trong từng giai đoạn như thế nào Thuộc về hoạt động sự nghiệp thường xuyên là các hoạt động về giáo dục tiểu học, đào tạo, khoa học, y tế, văn hóa …

+ Hoạt động sự nghiệp không thường xuyên: Là những hoạt động sự nghiệp để thực hiện các chương trình cụ thể của Nhà nước trong một giai đoạn nhất định

Trang 18

1.1.1.4 Vai trò của hoạt động sự nghiệp trong nền kinh tế thị trường

Trong thời đại ngày nay, một nước giầu hay nghèo, lạc hậu hay phát triển không phải chỉ phụ thuộc vào khối lượng hàng hóa tư nhân mà người dân có được do trao đổi trên thị trường, mà còn phụ thuộc vào khối lượng phúc lợi xã hội mà họ được hưởng, trong đó có các sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp cung cấp Hơn nữa, tiềm năng phát triển nhanh hay chậm trong tương lai của một nước không những do số lượng lao động, tài nguyên thiên nhiên và vốn đã tích lũy được quyết định, mà chủ yếu là do khả năng phát huy tiềm năng sáng tạo của con người chi phối Tiềm năng sáng tạo này nằm trong các yếu tố cấu thành con người về trình độ văn hóa, tri thức khoa học, thể lực, tâm hồn, đạo đức lối sống, thị hiếu, thẩm mỹ, giao tiếp của mỗi

cá nhân và của cả cộng đồng… Đa phần yếu tố cấu thành tiềm năng sáng tạo của con người do hoạt động sự nghiệp cung cấp trong quá khứ, hiện tại và tương lai

Hoạt động sự nghiệp là động lực to lớn giúp dân tộc bảo tồn và phát triển văn hóa, truyền thống, các giá trị đạo đức… Nghị quyết Đại hội toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X đã khẳng định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội” [13]

Hoạt động sự nghiệp đóng vai trò động lực cải cách, đổi mới, phát triển giáo dục - đào tạo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa VII) và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 (khóa VIII) của Đảng ta đã khẳng định quan điểm khoa học công nghệ cùng với giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu trong phát triển đất nước

Thể dục - thể thao là một bộ phận quan trọng trong chính sách phát triển khoa học xã hội của Đảng và Nhà nước ta nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, góp phần tích cực nâng cao sức khoẻ, thể lực, giáo dục nhânnhân cách, đạo đức lối sống lành mạnh, làm phong phú đời sống văn hóa,

Trang 19

tinh thần của nhân dân, nâng cao năng suất lao động xã hội và sức chiến đấu của các lực lượng vũ trang Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa VII) của Đảng ta đã khẳng định “Sức khỏe là vốn quý của mỗi con người và của toàn

xã hội, là nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [11] Hoạt động sự nghiệp có vai trò quan trọng trong lĩnh vực này

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm hoạt động và các loại hình đơn vị sự nghiệp của đơn vị sự nghiệp ở Việt Nam

1.1.2.1 Khái niệm và đặc điểm hoạt động của đơn vị sự nghiệp ở Việt Nam

“Chương trình đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công giai đoạn 2004-2005”, ban hành theo Quyết định số 08/2004/QĐ-TTg ngày 15/01/2004 của Thủ tướng Chính phủ đã xác định: ĐVSN là một loại hình đơn vị được Nhà nước ra quyết định thành lập, thực hiện nhiệm vụ chuyên môn nhất định nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao trên lĩnh vực quản lý, thực hiện các hoạt động sự nghiệp Đó là đơn vị thuộc sở hữu nhà nước, hoạt động trong các lĩnh vực giáo dục, đào tạo, văn hóa, thông tin, nghiên cứu khoa học, y tế, không theo nguyên tắc hạch toán kinh doanh [24]

ĐVSN thuộc khu vực phi lợi nhuận, sự chi tiêu của các đơn vị này, theo con mắt của các nhà quản lý tài chính nhà nước, mất đi, không thu hồi lại được vốn gốc, mặc dù các đơn vị này vẫn tính khấu hao tài sản cố định Trong quá trình hoạt động, các ĐVSN được Nhà nước trang trải kinh phí đáp ứng nhu cầu chi tiêu từ ngân sách nhà nước hoặc được bổ sung từ các nguồn khác

Đặc điểm hoạt động của các ĐVSN là rất đa dạng, bắt nguồn từ nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường Mục đích hoạt động của các ĐVSN là phục vụ lợi ích cộng đồng, xã hội, đất nước Trong quá trình cung cấp hàng hóa và dịch vụ công cho xã hội, các ĐVSN được phép tạo lập nguồn thu nhập nhất định thông qua các khoản thu phí và các khoản thu từ cung ứng dịch vụ do Nhà nước quy định để trang trải các khoản chi tiêu Quản lý tài chính ĐVSN phải tuân thủ theo những quy định pháp lý của Nhà nước Tùy theo đặc điểm tạo lập nguồn thu của các

Trang 20

ĐVSN, Nhà nước áp dụng cơ chế tài chính thích hợp để các ĐVSN thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình Phù hợp với xu hướng cải cách khu vực công trong bối cảnh hội nhập, Nhà nước thực hiện chính sách đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với các ĐVSN theo hướng nâng cao quyền tự chủ tài chính nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ công phục vụ xã hội

ĐVSN có những đặc điểm khác với cơ quan hành chính Cơ quan hành chính là những tổ chức cung cấp trực tiếp các dịch vụ hành chính công cho người dân khi thực hiện chức năng quản lý Nhà nước của mình Các dịch vụ hành chính công được cung cấp theo luật định, với chất lượng đồng nhất cho mọi người tiêu dùng và được chi trả trực tiếp bằng ngân sách nhà nước Dịch

vụ hành chính công là chức năng của cơ quan hành chính Nhà nước, là trách nhiệm và nghĩa vụ của bộ máy Nhà nước với nhân dân và chỉ có Nhà nước (chứ không có một tổ chức tư nhân nào khác) có đủ thẩm quyền thực hiện chức năng đó Nhà nước với tư cách là một tổ chức công quyền phải có nghĩa

vụ cung cấp các dịch vụ này cho nhân dân, còn người dân có nghĩa vụ đóng góp cho Nhà nước dưới hình thức thuế Như vậy, quan hệ trao đổi các dịch vụ hành chính công không phản ánh quan hệ thị trường, mà phản ánh quan hệ nghĩa vụ của Nhà nước và phương tiện thực hiện nghĩa vụ do xã hội công dân cung cấp Người sử dụng dịch vụ có thể trả một phần hoặc không phải trả tiền cho việc sử dụng dịch vụ đó, nhưng phải đóng thuế để chi trả cho chúng Chính vì vậy cơ quan hành chính chỉ được tự chủ tài chính trong phần kinh phí ngân sách nhà nước cấp (cơ chế khoán chi), không được tự do mở rộng dịch vụ và nguồn thu Dịch vụ và nguồn thu là cố định theo luật Trong khi

đó, dịch vụ của ĐVSN cung ứng có thể cạnh tranh với khu vực tư nhân và cung ứng theo nhu cầu nên các đơn vị này được phép khai thác và mở rộng nguồn thu từ các hoạt động sự nghiệp của mình Đặc điểm khác biệt này cho phép ĐVSN có thể hoạt động theo nguyên tắc tự chủ tài chính

ĐVSN có những điểm khác với loại hình doanh nghiệp Trong kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tuân thủ nguyên tắc hạch toán kinh doanh, hướng tới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận bằng cách tự bù đắp đủ chi phí và có

Trang 21

lãi Doanh nghiệp phải hoạt động theo quy luật thị trường ĐVSN không hoàn toàn hoạt động theo cơ chế thị trường và không coi lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của mình

Lĩnh vực sự nghiệp tạo ra những sản phẩm đặc biệt vừa mang tính phục

vụ chính trị-xã hội, vừa mang tính hàng hóa đòi hỏi phải bù đắp chi phí Với chức năng phục vụ xã hội, sản phẩm của hoạt động sự nghiệp không thể đo bằng giá trị tiền tệ hữu hình Những đơn vị tạo ra sản phẩm đó không thể và càng không hạch toán được lỗ lãi đơn thuần bởi sản phẩm của nó thuộc chức năng phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội Mặt khác, mỗi sản phẩm này đều mang trong nó giá trị đã hao phí để tạo ra nó Để tái sản xuất giản đơn, các ĐVSN phải thu lại từ ngân sách nhà nước và từ chi trả của người hưởng thụ

Hiệu quả hoạt động của ĐVSN không đơn thuần đo đếm bằng tiền, mà thường được tính bằng các giá trị phi tiền tệ Chính vì thế, việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các ĐVSN thường khó khăn

1.1.2.2 Các loại hình đơn vị sự nghiệp ở Việt Nam

Có rất nhiều tiêu thức để phân loại ĐVSN

* Căn cứ vào vị trí, ĐVSN được phân loại thành:

- ĐVSN ở Trung ương là những ĐVSN trực thuộc Chính phủ như Thông tấn xã Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV), Đài Truyền hình Việt Nam (VTV), các bệnh viện, trường học, các nhà xuất bản quốc gia…

- ĐVSN ở địa phương như đài phát thanh truyền hình ở địa phương, các bệnh viện, trường học, do địa phương quản lý,

* Căn cứ vào từng lĩnh vực hoạt động sự nghiệp cụ thể, ĐVSN bao gồm:

- ĐVSN giáo dục, đào tạo

- ĐVSN y tế (Bảo vệ chăm sóc sức khỏe nhân dân)

- ĐVSN văn hóa, thông tin

Trang 22

- ĐVSN kinh tế (Duy tu, sửa chữa đê điều, trạm trại, )

- Đơn vị sự nghiệp khác

* Căn cứ vào nguồn thu thì ĐVSN được chia thành hai loại:

- Đơn vị sự nghiệp không có thu: Là đơn vị được Nhà nước cấp toàn bộ kinh phí để đảm bảo hoạt động của đơn vị và kinh phí được cấp theo nguyên tắc không hoàn lại trực tiếp

- ĐVSN có thu gồm hai loại:

+ ĐVSN có thu tự đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên:

Là đơn vị có nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp ổn định, bảo đảm được toàn

bộ chi phí hoạt động thường xuyên, ngân sách nhà nước không phải cấp kinh phí cho hoạt động thường xuyên cho đơn vị

+ ĐVSN có thu tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động thường xuyên:

Là đơn vị có nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp nhưng chưa tự trang trải toàn

bộ chi phí hoạt động thường xuyên, ngân sách nhà nước phải cấp một phần chi phí cho hoạt động thường xuyên của đơn vị

1.1.3 Quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta

1.1.3.1 Khái niệm quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta

Quản lý là yêu cầu tất yếu để đảm bảo sự hoạt động bình thường của mọi quá trình và hệ thống kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị có sự tham gia tự giác của nhiều người Thực chất của quản lý là thiết lập và thực hiện hệ thống các phương pháp và biện pháp khác nhau của chủ thể quản lý để tác động một cách có ý thức tới đối tượng quản lý nhằm đạt tới kết quả nhất định

Quản lý bao gồm nhiều phương diện như quản lý công nghệ, quản lý thương mại, quản lý nhân sự, quản lý tài chính…Quản lý tài chính là hoạt động của chủ thể quản lý trong lĩnh vực tài chính nhằm sử dụng nguồn tài sản dưới hình thái tiền, giấy tờ có giá của một đơn vị, tổ chức vừa đảm bảo cho đơn vị, tổ chức hoạt động bình thường, vừa đảm bảo cho nguồn tài chính sử dụng tiết kiệm và sinh lợi nhiều nhất

Trang 23

Chủ thể quản lý tài chính ĐVSN gồm cơ quan nhà nước chuyên trách,

bộ phận quản lý tài chính trong ĐVSN

* Quản lý tài chính ĐVSN từ phía Nhà nước (với tư cách chủ sở hữu và

cơ quan quản lý hành chính của Nhà nước) Tùy theo tổ chức bộ máy nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, có các cơ quan nhà nước trực tiếp quản lý tài chính ĐVSN khác nhau Hiện nay, cơ quan chuyên trách quản lý tài chính các ĐVSN ở trung ương là Bộ Tài Chính, Bộ chủ quản, ở địa phương là Sở Tài chính và Sở chủ quản

Mục tiêu của Nhà nước trong quản lý tài chính các ĐVSN là đề ra chính sách, chế độ, quy chế hoạt động tài chính phù hợp với luật pháp và chức năng, nhiệm vụ của ĐVSN

1.1.3.2 Vai trò của quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường nước ta

Quản lý tài chính là một trong những hoạt động quản lý quan trọng của bất kỳ một tổ chức nào trong điều kiện kinh tế thị trường Bởi vì, tài chính biểu hiện tổng hợp và bao quát hoạt động của đơn vị Thông qua quản lý tài chính, chủ thể quản lý không chỉ kiểm soát được toàn bộ chu trình hoạt động của đơn vị

mà còn đánh giá được chất lượng hoạt động của chúng Tài chính còn biểu hiện lợi ích của các chủ thể tham gia và liên quan đến đơn vị Thông qua quản lý tài chính, chủ thể quản lý sử dụng được công cụ kích thích lợi ích một cách hữu hiệu

Quản lý tài chính ở các ĐVSN cũng có vai trò quan trong như thế Ngoài

ra, do hoạt động của các ĐVSN rất đa dạng, tham gia trong nhiều lĩnh vực kinh

tế, văn hóa, xã hội và theo đuổi không chỉ mục tiêu riêng, mà còn phục vụ mục

Trang 24

tiêu chung của toàn xã hội nên quản lý tài chính khá phức tạp, thường được quy định cụ thể cho từng ngành Trong điều kiện kinh tế thị trường, yêu cầu về chất lượng dịch vụ công và hiệu quả hoạt động của các ĐVSN là những vấn đề còn mang tính phức tạp hơn nữa Bên cạnh các khoản chi của ngân sách nhà nước đối với các ĐVSN, các đơn vị này còn có nguồn thu nhập từ chi trả của dân cư Quản lý tốt tài chính của ĐVSN không những góp phần làm giảm bớt các khoản chi sự nghiệp của ngân sách nhà nước, mà còn khuyến khích cung cấp dịch vụ chất lượng cao cho xã hội với chi phí tiết kiệm

Việc quản lý, sử dụng nguồn tài chính ở các ĐVSN liên quan trực tiếp đến hiệu quả kinh tế - xã hội và chi tiêu đóng góp của nhân dân Do đó, nếu tài chính của các ĐVSN được quản lý, giám sát, kiểm tra tốt, sẽ góp phần hạn chế, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng trong khai thác và sử dụng nguồn lực tài chính công, đồng thời nâng cao hiệu quả việc sử dụng các nguồn tài chính của đất nước

Ngoài ra, quản lý tài chính các ĐVSN còn cung cấp thông tin để tái cơ cấu hoạt động cung cấp dịch vụ văn hóa, giáo dục, y tế, thể dục thể thao… trong tương quan với sự cạnh tranh của khu vực tư nhân

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.2.1 Mục tiêu, nguyên tắc và nội dung quản lý tài chính ở các đơn

vị sự nghiệp:

1.2.1.1 Mục tiêu quản lý tài chính ở đơn vị sự nghiệp:

Việc quản lý tài chính ĐVSN nhằm đạt tới các mục tiêu:

- Làm cho ĐVSN hoạt động có hiệu quả, đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của xã hội

- Tạo động lực khuyến khích các ĐVSN tích cực, chủ động tổ chức hoạt động hợp lý, xác định số biên chế cần có, sắp xếp, tổ chức và phân công lao động khoa học, nâng cao chất lượng công việc nhằm sử dụng kinh phí tiết kiệm

Trang 25

- Nêu cao ý thức trách nhiệm, tăng cường đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực trong sử dụng tài chính

- Tạo điều kiện để công chức phát huy khả năng, nâng cao chất lượng công tác và tăng thu nhập vật chất cho cá nhân và tập thể

1.2.1.2 Nguyên tắc quản lý tài chính ở các đơn vị sự nghiệp

- Nguyên tắc hiệu quả: Là nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong quản

lý tài chính nói chung và trong quản lý các ĐVSN nói riêng Hiệu quả trong quản lý tài chính thể hiện ở sự so sánh giữa kết quả đạt được trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế và xã hội với chi phí bỏ ra Tuân thủ nguyên tắc này

là khi tiến hành quản lý tài chính các ĐVSN, Nhà nước cần quan tâm cả hiệu quả về xã hội và hiệu quả kinh tế Mặc dù rất khó định lượng hiệu quả về xã hội, song những lợi ích đem lại về xã hội luôn được đề cập, cân nhắc thận trọng trong quá trình quản lý tài chính công Nhà nước phải cân đối giữa việc thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu trên cơ sở lợi ích của toàn thể cộng đồng, những mục tiêu chính trị quan trọng cần phải đạt được trong từng giai đoạn nhất định với định mức chi hợp lý Hiệu quả kinh tế là tiêu thức quan trọng để các cá nhân hoặc cơ quan có thẩm quyền cân nhắc khi xem xét các phương án,

dự án hoạt động sự nghiệp khác nhau Hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế là hai nội dung quan trọng phải được xem xét đồng thời khi hình thành một quyết định hay một chính sách chi tiêu ngân sách liên quan đến hoạt động sự nghiệp

- Nguyên tắc thống nhất: Là thống nhất quản lý tài chính ĐVSN bằng

những văn bản luật pháp thống nhất trong cả nước Thống nhất quản lý chính

là việc tuân theo một khuôn khổ chung từ việc hình thành, sử dụng, thanh tra, kiểm tra, thanh quyết toán, xử lý những vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện quản lý thu, chi tài chính ở các ĐVSN Thực hiện nguyên tắc quản

lý này sẽ đảm bảo tính công bằng, bình đẳng trong đối xử với các ĐVSN khác nhau, hạn chế những tiêu cực và rủi ro trong hoạt động tài chính, nhất là những rủi ro có tính chất chủ quan khi quyết định các khoản thu, chi

Trang 26

- Nguyên tắc tập trung, dân chủ: Là nguyên tắc quan trọng trong quản

lý tài chính đối với các ĐVSN thụ hưởng ngân sách nhà nước Nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý tài chính ĐVSN đảm bảo cho các nguồn lực của xã hội được sử dụng hợp lý cả ở quy mô nền kinh tế quốc dân lẫn quy mô ĐVSN

- Nguyên tắc công khai, minh bạch: ĐVSN là tổ chức công nên việc

quản lý tài chính các đơn vị này phải đáp ứng yêu cầu chung trong quản lý tài chính công, đó là công khai, minh bạch trong động viên, phân phối các nguồn lực xã hội, nhất là nguồn lực về tài chính Bởi vì tài chính công là đóng góp của xã hội Thực hiện công khai, minh bạch trong quản lý sẽ tạo điều kiện cho cộng đồng có thể giám sát, kiểm soát các quyết định về thu, chi tài chính công, hạn chế những thất thoát và đảm bảo tính hợp lý trong chi tiêu của bộ máy nhà nước

1.2.1.3 Nội dung quản lý tài chính ở đơn vị sự nghiệp

a Quản lý nguồn thu

Thứ nhất, các nguồn thu tài chính ở ĐVSN:

Tài chính của các ĐVSN hình thành từ các nguồn sau:

- Nguồn thu từ ngân sách Nhà nước: Đặc điểm của nguồn ngân sách là Nhà nước cấp phát theo dự toán xác định cho những nhiệm vụ, chương trình mục tiêu đã được duyệt Để có được nguồn kinh phí ngân sách cấp, các đơn vị phải thực hiện tốt công tác lập kế hoạch, dự toán theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, các văn bản đặc thù cho từng ngành, từng lĩnh vực, quy chế được duyệt của đơn vị

- Nguồn thu ngoài ngân sách Nhà nước (được phép để lại đơn vị từ các nguồn thu theo chế độ): các khoản thu từ quyên góp, tặng, biếu không phải nộp ngân sách nhà nước theo chế độ và nguồn thu do dân cư chi trả Trong

đó, nguồn thu do dân tự chi trả hiện đang có vị trí quan trọng trong nguồn thu ngoài ngân sách nhà nước Nguồn này gồm các khoản sau:

Trang 27

+ Các khoản phí: Phí thực chất là giá cả của hàng hóa, dịch vụ mà người tiêu dùng phải trả cho người cung cấp khi được hưởng các hàng hóa, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp tạo ra Nói cách khác, đây là khoản tiền mà người tiêu dùng phải trả trực tiếp cho người cung cấp Tùy tính chất và mục đích sử dụng của từng loại hàng hóa, dịch vụ cụ thể mà Nhà nước quy định mức phí ĐVSN được phép thu

Phí thường được thu trong các lĩnh vực: Văn hóa-thông tin, giáo đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế, giao thông vận tải, nông nghiệp, hải sản, lao động thương binh xã hội , ví dụ như học phí, viện phí, thủy lợi phí, phí bảo vệ môi trường,

dục-+ Các khoản thu sự nghiệp: Thông qua các hoạt động sự nghiệp, các đơn vị ứng dụng sản xuất ra sản phẩm hoặc dịch vụ văn hóa, thông tin, khoa học, thể thao, y tế tạo ra nguồn thu Thu sự nghiệp gồm các khoản thu trong các lĩnh vực sau:

• Thu sự nghiệp giáo dục, đào tạo: Thu hợp đồng giảng dạy nghiệp vụ chuyên môn khoa học kỹ thuật, thu từ kết quả hoạt động sản xuất và ứng dụng khoa học của các trường trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, các trường cao đẳng, đại học

• Sự nghiệp y tế, dân số, kế hoạch hóa gia đình: Thu viện phí, thu dịch

vụ khám chữa bệnh, thực hiện các biện pháp tránh thai; thu bán các sản phẩm đơn vị ứng dụng khoa học sản xuất để phòng chữa bệnh (như các loại vắc xin phòng bệnh, )

• Sự nghiệp văn hóa-thông tin: Thu dịch vụ quảng cáo, thu bán sản phẩm văn hóa như bản tin, tạp chí; thu từ hoạt động biểu diễn của các đoàn nghệ thuật

• Thể dục-thể thao: Thu tiền bán vé từ hoạt động thi đấu, biểu diễn thể dục, thể thao, thu hợp đồng dịch vụ thể thao như thuê sân bãi, dụng cụ thể dục thể thao,

• Sự nghiệp nghiên cứu khoa học, công nghệ, môi trường: Thu bán các sản phẩm từ kết quả hoạt động sản xuất, nghiên cứu, thử nghiệm, thu dịch vụ

Trang 28

khoa học, bảo vệ môi trường, thu hợp đồng nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước

• Sự nghiệp kinh tế: Thu từ dịch vụ đo đạc bản đồ, điều tra khảo sát, quy hoạch nông lâm, thiết kế trồng rừng, thu dịch vụ khí tượng thủy văn, dịch

vụ kiến trúc, quy hoạch đô thị,

+ Các khoản thu khác

Thứ hai, yêu cầu đối với quản lý nguồn thu:

- Quản lý toàn diện từ hình thức, quy mô đến các yếu tố quyết định số thu Bởi vì tất cả các hình thức, quy mô và các yếu tố ảnh hưởng đến số thu đều quyết định số thu tài chính làm cơ sở cho mọi hoạt động của ĐVSN Nếu không quản lý toàn diện sẽ dẫn đến thất thoát khoản thu, làm ảnh hưởng không chỉ đến hiệu quả quản lý tài chính, mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của ĐVSN

- Coi trọng công bằng xã hội, những người có điều kiện, hoàn cảnh và mức thu nhập như nhau phải đóng góp như nhau Đây là thể hiện yêu cầu công bằng chung cho mọi hoạt động của Nhà nước

- Thực hiện nghiêm túc, đúng đắn các chính sách, chế độ thu do cơ quan có thẩm quyền ban hành ĐVSN không được tự ý đặt ra các khoản thu cũng như mức thu

- Quản lý các nguồn thu theo kế hoạch, đảm bảo thu sát, thu đủ, tổ chức tốt quá trình quản lý thu, đồng thời đề ra các biện pháp tổ chức thu thích hợp

- Đối với các đơn vị được sử dụng nhiều nguồn thu phải có biện pháp quản lý thu thống nhất nhằm thực hiện thu đúng mục đích, thu đủ và thu đúng

kỳ hạn

Thứ ba, quy trình quản lý thu:

Quy trình quản lý thu ở các ĐVSN được tiến hành theo từng năm kế hoạch qua các bước sau:

- Xây dựng kế hoạch dự toán thu

- Thực hiện kế hoạch thu theo dự toán

Trang 29

- Quyết toán các khoản thu

Khi xây dựng kế hoạch dự toán thu phải dựa vào nhiệm vụ chính trị, xã hội được giao cho đơn vị cũng như các chỉ tiêu cụ thể, từng mặt hoạt động do cơ quan có thẩm quyền thông báo Các văn bản pháp lý quy định thu như các chế

độ thu do Nhà nước quy định cũng là căn cứ quan trọng để xây dựng kế hoạch

dự toán thu Đồng thời kế hoạch dự toán thu phải được xây dựng trên cơ sở số kiểm tra về dự toán thu do cơ quan có thẩm quyền thông báo Cuối cùng, khi xây dựng kế hoạch dự toán thu phải dựa trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình thực hiện dự toán thu của các năm trước (chủ yếu là năm báo cáo) và triển vọng của các năm tiếp theo

Thực hiện kế hoạch thu theo dự toán: Dự toán thu là căn cứ quan trọng

để tổ chức thực hiện thu Trong quá trình thu, đơn vị phải thực hiện thu đúng đối tượng, thu đủ, tuân thủ các quy định của Nhà nước để bảo đảm hoạt động của đơn vị mình

Quyết toán các khoản thu: Cuối năm, đơn vị phải giải quyết những vấn

đề còn tồn tại trong khâu tổ chức thu nộp, sau đó tổng hợp, đánh giá tình hình chấp hành dự toán thu đã được giao, rút ra những kinh nghiệm cho việc khai thác nguồn thu, công tác xây dựng dự toán và tổ chức thu nộp trong thời gian tới, nộp báo cáo cho cơ quan quản lý cấp trên

b Quản lý quá trình sử dụng tài chính

Thứ nhất, các khoản chi của ĐVSN:

ĐVSN được phép chi các khoản sau:

- Chi hoạt động thường xuyên của đơn vị theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao:

+ Chi cho người lao động: Chi tiền lương, tiền công; các khoản phụ cấp lương; các khoản trích bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, kinh phí công đoàn theo quy định,

Trang 30

+ Chi quản lý hành chính: Vật tư văn phòng, dịch vụ công cộng, thông tin liên lạc, công tác phí, hội nghị phí, thuê mướn,

+ Chi hoạt động nghiệp vụ

+ Chi mua sắm tài sản, sửa chữa thường xuyên tài sản; khoản kinh phí này được sử dụng để mua sắm, trang bị thêm hoặc phục hồi lại giá trị sử dụng cho những tài sản cố định đã bị xuống cấp

+ Chi khác: Chi tiếp khách, mua bảo hiểm phương tiện,

- Chi thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ, ngành; Chương trình mục tiêu quốc gia; chi thực hiện nhiệm vụ đặt hàng của Nhà nước; chi vốn đối ứng thực hiện các dự án có vốn nước ngoài theo quy định

- Chi thực hiện tinh giản biên chế theo chế độ do Nhà nước quy định

- Chi đầu tư phát triển: chi đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản, chi thực hiện các dự án đầu tư theo quy định

- Chi thực hiện các nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao

- Các khoản chi khác: các ĐVSN có thu còn có các khoản chi hoạt động tổ chức thu phí; chi hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ (kể cả chi nộp thuế, trích khấu hao tài sản cố định)

Thứ hai, yêu cầu đối với quản lý chi:

- Đảm bảo nguồn tài chính cần thiết để các ĐVSN hoàn thành các nhiệm vụ được giao theo đúng đường lối, chính sách, chế độ của Nhà nước

Để thực hiện yêu cầu này đòi hỏi các đơn vị cần xác lập thứ tự ưu tiên cho các khoản chi để bố trí kinh phí cho phù hợp

- Quản lý các khoản chi phải đảm bảo yêu cầu tiết kiệm và hiệu quả Tiết kiệm là một nguyên tắc hàng đầu của quản lý tài chính Nguồn lực luôn

có giới hạn nhưng nhu cầu không có giới hạn Do vậy trong quá trình phân bổ

và sử dụng nguồn lực khan hiếm phải tính toán sao cho chi phí thấp nhất, kết quả cao nhất

Hoạt động sự nghiệp diễn ra trên phạm vi rộng, đa dạng và phức tạp Nhu cầu chi của ĐVSN luôn gia tăng với tốc độ nhanh trong khi khả năng

Trang 31

huy động nguồn thu có hạn nên cần phải tiết kiệm, thực hiện hiệu quả trong quản lý tài chính các ĐVSN

Để đạt được tiêu chuẩn tiết kiệm và hiệu quả trong quản lý các khoản chi của các ĐVSN cần phải quản lý chặt chẽ từ khâu xây dựng kế hoạch, dự toán, xây dựng định mức, thường xuyên phân tích, đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm việc thực hiện chi tiêu, trên cơ sở đó đề ra các biện pháp tăng cường quản lý chi đối với các ĐVSN

Thứ ba, nội dung quản lý chi tài chính ở ĐVSN Trong thực tiễn, các

ĐVSN có nhiều biện pháp quản lý các khoản chi tài chính khác nhau, nhưng các biện pháp quản lý chung nhất là:

- Thiết lập các định mức chi Định mức chi vừa là cơ sở để xây dựng kế hoạch chi, vừa là căn cứ để thực hiện kiểm soát chi của các ĐVSN Các định mức chi phải được xây dựng một cách khoa học Từ việc phân loại đối tượng đến trình tự, cách thức xây dựng định mức phải được tiến hành một cách chặt chẽ và có cơ sở khoa học Các định mức chi phải bảo đảm phù hợp với loại hình hoạt động của từng đơn vị

Các định mức chi phải có tính thực tiễn tức là phải phản ánh mức độ phù hợp của các định mức với nhu cầu kinh phí cho các hoạt động Chỉ có như vậy, định mức chi mới trở thành chuẩn mực cho quản lý kinh phí

- Lựa chọn thứ tự ưu tiên cho các loại hoạt động hoặc theo nhóm mục chi sao cho với tổng số chi có hạn nhưng khối lượng công việc vẫn hoàn thành và đạt chất lượng cao Để đạt được điều này phải có phương án phân phối và sử dụng kinh phí khác nhau Trên cơ sở đó lựa chọn phương án tối ưu cho cả quá trình lập dự toán, phân bổ và sử dụng kinh phí

- Xây dựng quy trình cấp phát các khoản chi chặt chẽ, hợp lý nhằm hạn chế tối đa những tiêu cực nảy sinh trong quá trình cấp phát, tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm soát chi của các cơ quan có thẩm quyền

- Thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra và kiểm toán nhằm ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực trong việc sử dụng nguồn kinh phí của Nhà nước,

Trang 32

đồng thời qua công tác này phát hiện những bất hợp lý trong chế độ, chính sách nhằm bổ sung hoàn thiện chúng

Thứ tư, quy trình quản lý chi tài chính ở các ĐVSN:

* Lập dự toán chi: Lập dự toán chi là khâu khởi đầu và quan trọng trong quản lý chi ngân sách nhà nước, nó có ý nghĩa quyết định đến chất lượng và hiệu quả của khâu chấp hành, kế toán và quyết toán chi ngân sách nhà nước Khi lập dự toán cần dựa trên những căn cứ sau:

- Chủ trương của Nhà nước về duy trì và phát triển các hoạt động sự nghiệp trong từng giai đoạn nhất định Dựa vào căn cứ này sẽ giúp cho việc xây dựng dự toán chi tài chính ở ĐVSN có một cái nhìn tổng quát về những mục tiêu, nhiệm vụ mà đơn vị phải hướng tới trong năm, từ đó xác lập được các hình thức, phương pháp phân phối nguồn vốn vừa tiết kiệm, vừa đạt hiệu quả cao

- Dựa vào các chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, đặc biệt là các chỉ tiêu có liên quan trực tiếp đến việc cấp phát kinh phí chi ngân sách nhà nước kỳ kế hoạch cho các ĐVSN Đây chính là việc cụ thể hóa các chủ trương của Nhà nước trong từng giai đoạn thành các chỉ tiêu cho kỳ kế hoạch Khi dựa trên căn cứ này để xây dựng dự toán chi phải thẩm tra, phân tích tính đúng đắn, hiện thực, tính hiệu quả của các chỉ tiêu thuộc kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội Trên cơ sở đó có kiến nghị điều chỉnh lại các chỉ tiêu kế hoạch cho phù hợp

- Dựa vào khả năng nguồn kinh phí có thể đáp ứng cho nhu cầu chi tiêu thường xuyên kỳ kế hoạch Muốn dự đoán được khả năng này, ĐVSN phải dựa vào cơ cấu thu ngân sách nhà nước kỳ báo cáo và mức tăng trưởng của các nguồn thu kỳ kế hoạch, từ đó thiết lập mức cân đối tổng quát giữa khả năng nguồn kinh phí và nhu cầu chi ngân sách nhà nước

- Kết quả phân tích, đánh giá tình hình quản lý và sử dụng kinh phí chi ngân sách nhà nước kỳ báo cáo sẽ cung cấp các thông tin cần thiết cho việc lập dự toán

Trang 33

Quá trình lập dự toán chi ngân sách Nhà nước được tiến hành theo các bước cơ bản sau:

1) Căn cứ vào dự toán sơ bộ về thu, chi ngân sách nhà nước kỳ kế

hoạch để xác định các định mức chi tiêu tổng hợp dự kiến ngân sách sẽ phân

bổ cho mỗi đối tượng Trên cơ sở đó hướng dẫn các đơn vị tiến hành lập dự toán kinh phí Bước này còn được gọi là xác định và giao số kiểm tra từ cơ quan tài chính hoặc cơ quan chủ quản cho ĐVSN

2) Dựa vào số kiểm tra và văn bản hướng dẫn lập dự toán kinh phí, các

đơn vị dự toán tiến hành lập dự toán kinh phí của mình để gửi đơn vị dự toán cấp trên hoặc cơ quan tài chính Căn cứ vào mức độ phân cấp về chi ngân sách nhà nước, cơ quan tài chính ở mỗi cấp có nhiệm vụ xét duyệt, tổng hợp

dự toán kinh phí các đơn vị trực thuộc để hình thành dự toán chi ngân sách trình cơ quan có thẩm quyền xét duyệt

3) Căn cứ vào dự toán chi ngân sách nhà nước đã được cơ quan có thẩm

quyền thông qua, cơ quan tài chính sau khi xem xét điều chỉnh lại cho phù hợp

sẽ chính thức phân bổ dự toán chi ngân sách nhà nước cho mỗi đơn vị

* Chấp hành dự toán chi ngân sách nhà nước: Chấp hành dự toán chi

ngân sách nhà nước là khâu quahn trọng trong chu trình quản lý ngân sách nhà nước Trong quá trình sử dụng tài chính theo dự toán cần dựa trên những căn cứ sau:

+ Dựa vào định mức chi được duyệt của từng chỉ tiêu trong dự toán Đây là căn cứ mang tính quyết định nhất trong chấp hành dự toán chi ngân sách Nhà nước

+ Dựa vào khả năng nguồn kinh phí có thể dành cho nhu cầu chi ngân sách nhà nước trong mỗi kỳ báo cáo Chi thường xuyên của ngân sách nhà nước luôn bị giới hạn bởi khả năng huy động của các nguồn thu Mặc dù các khoản chi thường xuyên đã được ghi trong dự toán nhưng khi số thu không đảm bảo vẫn phải cắt giảm một phần nhu cầu chi tiêu Đây là một trong

Trang 34

những giải pháp thiết lập lại sự cân đối giữa thu và chi ngân sách nhà nước trong quá trình chấp hành dự toán

+ Dựa vào các chế độ, chính sách chi ngân sách nhà nước hiện hành Đây là căn cứ mang tính pháp lý cho công tác tổ chức chấp hành dự toán chi ngân sách nhà nước, bởi lẽ tính hợp lý của các khoản chi sẽ được xem xét dựa trên cơ sở các chính sách, chế độ của Nhà nước đang có hiệu lực thi hành Để làm được điều đó các chính sách, chế độ phải phù hợp với thực tiễn

Để đạt được mục tiêu cơ bản của việc tổ chức chấp hành dự toán chi ngân sách nhà nước, ĐVSN phải đảm bảo phân phối, cấp phát và sử dụng nguồn vốn hợp lý, tiết kiệm, thông qua áp dụng các biện pháp sau:

- Trên cơ sở dự toán chi ngân sách đã được duyệt và các chế độ, chính sách hiện hành, cơ quan chức năng phải hướng dẫn cụ thể, rõ ràng cho các đơn vị thi hành

- Tổ chức các hình thức cấp phát vốn thích hợp với mỗi loại hình đơn

vị, mỗi loại hoạt động và nguồn kinh phí hoạt động, trên cơ sở đó quy định rõ trình tự cấp phát nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc thống nhất thực hiện

- Hướng dẫn các đơn vị thực hiện tốt chế độ hạch toán kế toán áp dụng cho các đơn vị, sao cho sự hình thành nguồn kinh phí và sử dụng kinh phí phải được hạch toán đúng, đủ, chính xác và kịp thời Trên cơ sở đó đảm bảo việc quyết toán kinh phí được nhanh, chính xác, đồng thời cung cấp các tài liệu có tính chuẩn mực cao cho các cơ quan có thẩm quyền xét duyệt

- Cơ quan tài chính phải thường xuyên xem xét khả năng đảm bảo kinh phí cho nhu cầu chi ngân sách nhà nước để có biện pháp điều chỉnh kịp thời nhằm thiết lập lại thế cân đối mới trong qua trình chấp hành dự toán

- Thường xuyên kiểm tra, giám sát tình hình nhận và sử dụng kinh phí tại mỗi đơn vị sao cho mỗi khoản chi tiêu đảm bảo theo dự toán, đúng định mức tiêu chuẩn của Nhà nước, góp phần nâng cao tính tiết kiệm và hiệu quả trong quản lý chi ngân sách

Trang 35

* Quyết toán chi ngân sách Nhà nước: Quyết toán chi ngân sách nhà

nước là khâu cuối cùng trong chu trình quản lý chi tài chính Đó là quá trình kiểm tra, rà soát, chỉnh lý lại các số liệu đã được phản ánh sau một kỳ chấp hành dự toán để phân tích, đánh giá kết quả chấp hành dự toán, rút ra những kinh nghiệm và bài học cần thiết cho kỳ chấp hành dự toán tiếp theo Bởi vậy, trong quá trình quyết toán các khoản chi ngân sách phải đảm bảo các yêu cầu

cơ bản sau:

- Lập đầy đủ các loại báo cáo tài chính và gửi kịp thời cho các cơ quan

có thẩm quyền xét duyệt theo chế độ quy định

- Số liệu trong báo cáo phải đảm bảo tính chính xác, trung thực Nội dung các báo cáo tài chính phải theo đúng nội dung ghi trong dự toán được duyệt và theo đúng mục lục ngân sách nhà nước quy định

- Báo cáo quyết toán năm của các đơn vị dự toán các cấp trước khi trình

cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phải có xác nhận của Kho bạc nhà nước đồng cấp và phải được cơ quan Kiểm toán nhà nước kiểm toán

- Báo cáo quyết toán của các đơn vị dự toán không được để xảy ra tình trạng quyết toán chi lớn hơn thu

1.2.2 Tổng quan các nghiên cứu về quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp công

Đã có nhiều công trình và đề tài nghiên cứu về quản lý tài chính, cơ chế tài chính đối với doanh nghiệp Về quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công cũng đã có một số công trình tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên chưa có một đề tài hay luận văn nào trực diện bàn về quản lý tài chính của Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh Phú Thọ Cụ thể một số công trình

đã nghiên cứu như:

- PTS Trần Thu Hà (1997): “Đổi mới cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu” Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, năm 1997

Trang 36

Đề tài này là một công trình khoa học nghiên cứu tương đối tổng quát

về cơ chế tài chính đối với đơn vị sự nghiệp, đã giải quyết được các vấn đề như:

+ Làm rõ được vai trò, vị trí của các đơn vị sự nghiệp đối với sự phát triển của kinh tế - xã hội, sự tồn tại khách quan của các hoạt động sự nghiệp

+ Tổng kết đánh giá tương đối toàn diện về thực trạng hoạt động sự nghiệp và tình hình quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp trong thời

kỳ chuyển đổi sang cơ chế thị trường (giai đoạn 1991-1995) Đã đánh giá được những vướng mắc, hạn chế trong chính sách như: về quản lý phí, lệ phí,

cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp chưa thống nhất, chưa phù hợp với các loại hình hoạt động sự nghiệp …

+ Đã đưa ra được một số quan điểm, định hướng và kiến nghị chín giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính các đơn vị sự nghiệp

có thu cho giai đoạn 1999-2005 Trên cơ sở các kiến nghị, đề xuất này, Bộ Tài chính đã tiếp tục nghiên cứu, trình Chính phủ ban hành Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16/01/2002 thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu và tiếp sau là Nghị định số 43/2006/NĐ-CP của Chính phủ ban hành cơ chế tự chủ tự chịu trách nhiệm về tài chính và tổ chức

bộ máy đối với tất cả các đơn vị sự nghiệp công

Tuy nhiên đề tài này còn có hạn chế như: Các đề xuất chủ yếu mới giải quyết được vấn đề cơ chế quản lý; chính sách quản lý chi NSNN vẫn còn mang nặng tính bao cấp, chưa làm rõ được chính sách đối với đơn vị sự nghiệp công; chính sách thuế, chính sách khuyến khích phát triển sự nghiệp công, chính sách về quản lý vốn, tài sản công … chưa phù hợp với cơ chế thị trường

- Phạm Chí Thanh (2011) “ Đổi mới chính sách tài chính đối với khu vực sự nghiệp công ở Việt Nam” Luận án tiến sỹ , Trường Đại học Kinh tế

quốc dân năm 2011

Trang 37

Trong đề tài này, tác giả đã nghiên cứu, làm rõ bản chất kinh tế, vai trò, địa vị của các đơn vị sự nghiệp công trong nền kinh tế; những vấn đề lý luận

và thực tiễn về chính sách tài chính đối với khu vực sự nghiệp công trong điều kiện kinh tế thị trường Làm rõ sự cần thiết và kiến nghị những giải pháp nhằm đổi mới chính sách tài chính đối với khu vực sự nghiệp công trong điều kiện chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang nền kinh

tế thị trường định hướng XHCN

Tuy vậy, những đề xuất của Luận án chưa đi sâu đánh giá về định lượng, do vậy trong hoạt động thực tiễn cần lượng hóa các tác động của chính sách để có những đánh giá phù hợp

1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH Ở ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP

1.3.1 Chế độ quản lý tài chính công

1.3.1.1 Luật Ngân sách nhà nước

Để quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia, nâng cao tính chủ động

và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước, củng cố luật tài chính, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả ngân sách và tài sản của Nhà nước, tăng tích lũy nhằm thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo quốc phòng, an ninh, đối ngoại , cần quản lý ngân sách nhà nước theo luật Phù hợp với yêu cầu đó, Quốc hội nước ta đã thông qua Luật Ngân sách nhà nước năm 1997 Sau đó, tại Khóa họp XI, Kỳ họp thứ hai năm 2002 Quốc hội đã bổ sung và tiếp tục hoàn thiện Luật Ngân sách nhà nước

Từ khi có Luật Ngân sách nhà nước mọi khoản chi ngân sách nhà nước, trong đó có chi cho ĐVSN, đều phải tuân theo Luật Ngân sách nhà nước được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch, có phân công, phân cấp quản lý, gắn quyền hạn với trách nhiệm

Trang 38

Quốc hội quyết định dự toán ngân sách nhà nước, phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước

Theo Luật Ngân sách nhà nước, các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước phải lập, chấp hành, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, quyết toán ngân sách nhà nước theo các quy định thống nhất trong cả nước Ngoài ra, việc sử dụng ngân sách nhà nước phải đúng mục đích và theo mục lục mà Luật đã quy định

Nhờ có Luật Ngân sách nhà nước, quản lý tài chính trong các ĐVSN trở nên minh bạch hơn, ổn định trong thời gian đủ dài để các đơn vị thụ hưởng ngân sách có điều kiện tìm phương án sử dụng ngân sách hiệu quả, kích thích tính tự chủ của ĐVSN nhiều hơn trước trong tìm kiếm lợi ích từ tiết kiệm chi ngân sách nhà nước, tạo cơ chế kiểm tra, giám sát của Nhà nước và

cơ quan ngôn luận đối với việc sử dụng ngân sách nhà nước Tuy nhiên, do luật Ngân sách nhà nước của ta còn chưa thực sự hoàn thiện, nhiều quy định còn cứng nhắc, ví dụ như quy định phải sử dụng ngân sách theo mục lục ngân sách, quy định ngân sách cấp dưới thuộc ngân sách cấp trên,… đã hạn chế quyền tự chủ của đơn vị cơ sở trong sử dụng ngân sách hiệu quả Ngoài ra, muốn cải tiến quản lý tài chính ở các ĐVSN phải chờ sự thay đổi của Luật Ngân sách nhà nước nên thường chậm chạp

1.3.1.2 Cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước

Cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước là toàn bộ các chính sách, chế

độ chi tài chính thống nhất trong các cơ quan nhà nước mà các ĐVSN phải tuân thủ Trong cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước, các công cụ về định mức chi tiêu, danh mục được phép chi tiêu, quy trình xét duyệt và cấp ngân sách, phân cấp quản lý chi tài chính công có vai trò quan trọng Thông qua

cơ chế quản lý tài chính, Nhà nước kiểm tra, kiểm soát việc sử dụng các nguồn lực tài chính công trong các ĐVSN Chính vì thế, cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước là cơ sở, nền tảng của quản lý tài chính trong các ĐVSN

Trang 39

Tính chất tiến bộ hay lạc hậu của cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước ảnh hưởng trực tiếp đến quản lý tài chính trong các ĐVSN

Một mặt, cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước tạo ra môi trường pháp

lý cho việc tạo lập và sử dụng các nguồn lực tài chính nhằm đáp ứng yêu cầu hoạt động của đơn vị Nó được xây dựng dựa trên quan điểm định hướng về chính sách quản lý ĐVSN trong từng giai đoạn cụ thể của Nhà nước nhằm cụ thể hóa các chính sách đó Cơ chế này sẽ vạch ra các khung pháp lý về mô hình quản lý tài chính của ĐVSN, từ việc xây dựng các tiêu chuẩn, định mức, các quy định về lập dự toán, điều chỉnh dự toán, cấp phát kinh phí, kiểm tra, kiểm soát, đến quyết toán kinh phí, nhằm phát huy tối đa hiệu quả quản lý vĩ

mô của Nhà nước có tính đến quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị

Do đó, nếu cơ chế tài chính phù hợp sẽ tạo điều kiện tăng cường và tập trung nguồn lực tài chính, đảm bảo sự linh hoạt, năng động và hữu hiệu của các nguồn lực tài chính, giúp cho ĐVSN thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn được giao Ngược lại, nếu các định mức quá lạc hậu, quy trình cấp phát và kiểm tra quá rắc rối, phức tạp thì không chỉ chi phí quản lý tài chính tăng, mà còn gây tình trạng che dấu, biến báo các khoản chi cho hợp lệ, hoặc quản lý tài chính không theo kịp hoạt động chuyên môn trong các ĐVSN

Cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước đối với ĐVSN có tác động đến chương trình chi tiêu ngân sách quốc gia, ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện các chương trình, mục tiêu quốc gia về hoạt động sự nghiệp Vì vậy, cơ chế tài chính đó nếu được thiết lập phù hợp, hiệu quả sẽ đảm bảo cung ứng đủ nguồn kinh phí cho hoạt động chuyên môn, tránh được thất thoát, lãng phí các nguồn lực tài chính, đảm bảo phát huy tối đa hiệu quả, tạo tiền đề vật chất cho việc thực hiện tốt các chương trình quốc gia về hoạt động sự nghiệp Ngược lại, nếu cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước không phù hợp sẽ làm cho các chương trình được thực hiện không như mong muốn, thậm chí làm cho chương trình phá sản

Trang 40

Cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước đóng vai trò như một cán cân công lý, đảm bảo sự công bằng, hợp lý trong việc tạo lập và sử dụng các nguồn lực tài chính giữa các lĩnh vực hoạt động sự nghiệp khác nhau, cũng như giữa các ĐVSN trong cùng một lĩnh vực Nhờ đó, các ĐVSN dù hoạt động ở đâu, lĩnh vực nào cũng được quan tâm, tạo điều kiện phát triển tương xứng với yêu cầu của xã hội đối với lĩnh vực đó và tiềm lực kinh tế của quốc gia đó

Mặt khác, cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước vạch ra hành lang pháp lý cho ĐVSN nhưng nếu các cơ chế này không phù hợp sẽ trở thành hàng rào trói buộc, cản trở đến quá trình tạo lập và sử dụng nguồn lực tài chính của ĐVSN, ảnh hưởng xấu đến kết quả hoạt động chuyên môn của đơn

vị Nếu cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước sơ hở, lỏng lẻo có thể làm hao tổn ngân sách nhà nước, thất thoát, lãng phí các nguồn lực tài chính khác mà không đạt được mục tiêu chính trị, xã hội đã định

1.3.2 Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp

1.3.2.1 Đặc điểm của ngành

Đặc điểm hoạt động của ngành là một trong những nhân tố ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý tài chính của ĐVSN Do đặc điểm hoạt động của các đơn vị khác nhau dẫn đến mô hình quản lý tài chính của các đơn vị cũng sẽ khác nhau Các ĐVSN nằm trong từng ngành sẽ được đơn vị chủ quản thiết lập cho những cơ chế quản lý tài chính nội bộ, nhất là hệ thống định mức chi tiêu, áp dụng riêng trong ngành Cơ chế quản lý này vừa phải cụ thể hóa các văn bản pháp quy của Nhà nước, vừa đáp ứng được những yêu cầu riêng của ngành, phù hợp với những yêu cầu quản lý cụ thể, đặc thù mà Nhà nước chưa quy định, sao cho công tác quản lý tài chính thích hợp và chặt chẽ hơn

Nhìn chung, do chịu tác động của những cơ quan quản lý ngành, nên cơ chế quản lý theo ngành các ĐVSN thường chặt chẽ hơn quy định chung của Nhà nước Một số ngành có những chính sách quản lý tập trung, hạn chế phân

Ngày đăng: 24/02/2021, 19:45

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w