1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa trên địa bàn thành phố tam kỳ

93 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 643,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ chuyên ngành chính sách công với đề tài “Thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa trên địa bàn thành phố Tam Kỳ”

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện luận văn này, tác giả đã nhận được

sự giúp đỡ tận tình của các cơ quan, các cá nhân

Với tất cả lòng chân thành, tác giả xin trân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Cao Thu Hằng vì sự hướng dẫn tận tình, chu đáo, đầy trách nhiệm của

cô đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả hoàn thành luận văn

Tác giả xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô giáo Học viện khoa học xã hội đã tận tình truyền đạt các kiến thức bổ ích trong suốt khóa học

Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của Văn phòng Hội đồng nhân dân - Ủy ban nhân dân thành phố Tam Kỳ, Phòng Văn hóa thông tin thành phố Tam

Kỳ, Trung tâm Văn hóa - Thể thao - Truyền thông thành phố Tam Kỳ đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình tìm tòi, thu thập tài liệu nghiên cứu để hoàn thành luận văn

Xin cảm ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ chuyên ngành chính sách công với đề tài

“Thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa trên địa bàn thành phố Tam Kỳ” là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu khoa học của bản

thân với sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Cao Thu Hằng - người hướng dẫn khoa học Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực Tác giả xin chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình

Học viên

Trần Quỳnh Mai

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1 THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 8

1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài 8 1.2 Tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa 15 1.3 Các bước thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa 18 1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa 23

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN

VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ TAM KỲ 28

2.1 Giới thiệu chung về thành phố Tam Kỳ và di sản văn hóa trên địa bàn thành phố 28 2.2 Tình hình thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa trên địa bàn thành phố Tam Kỳ……….36 2.3 Hạn chế trong việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ở Thành phố Tam Kỳ và nguyên nhân 52

Chương 3 MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ TAM KỲ HIỆN NAY 61

3.1 Mục tiêu 61 3.2 Phương hướng 62

Trang 6

3.3 Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa ở thành phố Tam Kỳ 64

KẾT LUẬN 79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

HĐND : Hội đồng nhân dân

UBND : Ủy ban nhân dân

VHTT : Văn hóa thông tin

VH-TT-DL : Văn hóa - Thể thao - Du lịch VNAH : Việt Nam anh hùng

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trải qua mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã tạo dựng

và lưu truyền một kho tàng di sản văn hóa vô giá Từ những nền văn hóa cổ như Đông Sơn, Sa Huỳnh thuộc thời đại kim khí cách ngày nay trên 2000 năm, đến văn hóa thời kỳ phong kiến tự chủ thuộc các vương quốc Đại Việt, Champa cho đến khi Việt Nam liền một dải từ Lạng Sơn - địa đầu Tổ quốc – đến đất mũi Cà Mau, nước ta đã hình thành cộng đồng 54 dân tộc anh em; mỗi dân tộc tùy theo điều kiện lịch sử và địa bàn cư trú mà có sự phát triển khác nhau, song dân tộc nào cũng có những nét văn hóa đặc sắc riêng của mình Những giá trị văn hóa đó đã được bảo tồn và phát huy qua nhiều thế hệ trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam hình thành nên một hệ thông các giá trị

di sản văn hóa của dân tộc

Thành phố Tam Kỳ thuộc tỉnh Quảng Nam là vùng đất có nhiều di sản văn hóa có giá trị, có ý nghĩa giáo dục truyền thống, tạo sức hút đối với du khách Những di sản văn hóa đó là niềm tự hào, và có vai trò quan trọng trong

sự phát triển của thành phố Nhận thức được tầm quan trọng đó, trong những năm qua, Tam Kỳ đã tổ chức việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa trên địa bàn Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, việc bảo tồn và phát huy các giá trị di tích văn hóa ở thành phố Tam Kỳ vẫn còn hạn chế, chưa được đầu tư một cách phù hợp, đâu đó vẫn còn tồn tại một

số bất cập nhưng chưa tìm ra được định hướng giá trị di tích văn hóa đặc trưng mang màu sắc vùng đất phủ lỵ Tam Kỳ xưa và thành phố trung tâm nay Các di sản văn hóa chưa được tập trung tôn tạo và phát huy được giá trị của

nó Một số di sản văn hóa trên địa bàn Thành phố chưa được gìn giữ cẩn thận,

bị xâm phạm, lấn chiếm,… Vì vậy, việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản

Trang 9

văn hóa ở Tam Kỳ trở thành yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay và những năm tới, nhằm cùng với các địa phương khác trên cả nước “phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, giữ gìn bản sắc tốt đẹp của dân tộc” [6, tr.303]

Trước tình hình đó, tác giả chọn đề tài “Thực hiện chính sách bảo tồn

và phát huy các giá trị di sản văn hóa trên địa bàn thành phố Tam Kỳ” làm

luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Chính sách công

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Việc nghiên cứu về bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa không còn là một vấn đề mới, nhưng luôn là đề tài có tính thời sự, và đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Cụ thể như:

Tác giả Trịnh Thị Minh Đức trong cuốn Bảo tồn di tích lịch sử-văn hoá

– giáo trình cho sinh viên đại học và cao đẳng chuyên ngành Bảo tàng đã nêu lên những vấn đề chung của hoạt động bảo tồn di tích như: kiểm kê, xếp hạng, bảo quản, tu bổ, phục hồi và tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa Tìm ra các hình thức khai thác, phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa Việt Nam [7]

Công trình nghiên cứu về “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam”, của Lưu Trần Tiêu Trong bài Một số vấn đề về di tích lịch sử văn

hóa [22, tr.496-511], khi đề cập vấn đề bảo tồn di tích, Lưu Trần Tiêu đã nêu lên 3 vấn đề cần tập trung là: công nhận di tích, quản lý cổ vật và phân phối quản lý di tích Tác giả nhấn mạnh: các di tích lịch sử văn hóa chỉ có thể được bảo vệ và phát huy cao nhất giá trị văn hóa khi thực hiện đồng bộ 3 mặt hoạt động này Do đó cần thiết phải thực hiện: Thứ nhất: thiết lập cơ chế, chính sách đúng đắn có tác dụng thúc đẩy sự nghiệp bảo tồn, bảo tàng trong cả nước; Thứ hai: cần có một hệ thống tổ chức thích hợp đủ khả năng hiện thực hóa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; Thứ ba:

Trang 10

cần tổ chức để đưa các hoạt động bảo tồn thực sự trở thành sự nghiệp của toàn dân

Trong những năm gần đây, thời kỳ đất nước đang trên đà phát triển và hội nhập quốc tế thì di sản văn hóa cũng được coi là một trong những nguồn lực tham gia vào sự phát triển chung ấy Tuy nhiên, bên cạnh mặt tác động tích cực tới nền kinh tế, đời sống xã hội thì sự phát triển đó cũng tạo ra những tác động tiêu cực, những hạn chế nhất định, nhất là đối với di sản văn hóa, trong đó có các di tích lịch sử - văn hóa Tác giả Hà Văn Tấn trong bài viết

“Bảo vệ di tích lịch sử văn hóa trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” đã nhận xét rằng: “Các di tích lịch sử - văn hóa đang trong quá

trình SOS khẩn cấp…Nếu chúng ta không có những chính sách bảo tồn thì ngay cả các di tích quý giá ấy cũng sẽ bị mất đi, mà một dân tộc bị đánh mất

là một dân tộc đánh mất trí nhớ…” [18] Ông phân tích các nguyên nhân dẫn đến tình trạng di tích bị hủy hoại trong đó có mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển, quá trình đô thị hóa dồn dập với yêu cầu bảo vệ nguyên trạng di tích Điều này do chúng ta bị động trước quá trình đô thị hóa, không nắm được các quy hoạch đô thị

Trong bài “Tầm nhìn tương lai đối với di sản văn hóa và hệ thống bảo

vệ di tích ở nước ta” của tác giả Nguyễn Quốc Hùng cũng đề cập đến những

tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa làm tổn hại đến hệ thống

di sản văn hóa nói chung, di tích lịch sử - văn hóa nói riêng Tác giả bài viết

đã phân tích khá kỹ ba nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trong điều kiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa hiện nay [11, tr 4-5]

Trong Bảo tồn di tích trong phát triển không gian đô thị, tác giả Doãn

Minh Khôi đã phân tích mối liên hệ giữa bảo tồn di tích và phát triển không

Trang 11

gian đô thị, đồng thời nêu lên kinh nghiệm của một số nước đã tiến hành quy hoạch đô thị theo quan điểm tạo ra sự hài hòa cái mới và cái cũ

Tác giả Phạm Hùng Cường với bài viết Nhận diện giá trị di sản trong công tác bảo tồn đã phân tích vai trò của lý luận trong việc nhận diện giá trị di

sản; qua đó, khẳng định cần có lý luận nhận diện giá trị một cách đúng đắn, đầy đủ thì mới có thể đưa ra cách thức bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phù hợp nhất Muốn làm được điều đó, theo tác giả, cần xây dựng lý luận nhận diện giá trị tích hợp và có quan điểm nhìn nhận giá trị tích hợp dưới các góc độ giá trị khác nhau, như: giá trị tự bản thân của di sản, các giá trị trị kế thừa, chuyển tiếp,

Bên cạnh đó, các bài viết đăng tải trên các tạp chí tác giả Dương Văn

Sáu viết về Di tích lịch sử - văn hóa và danh thắng Việt Nam; tác giả Nguyễn Thế Hùng “Phát huy giá trị di tích phục vụ sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và bảo vệ đất nước” [12, tr.27-31]

Nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng trong công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích văn hóa, trên cơ sở Chương trình hành động của tỉnh Quảng Nam thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 BCH Trung ương Đảng (khoá XI) về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Nam đã tham mưu Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết số 161/2015/NQ-HĐND ngày 07/7/2015 về đầu tư, tu bổ di tích quốc gia và di tích cấp tỉnh trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016 – 2020 UBND tỉnh ban hành quyết định Số 28/2010/QĐ-UBND ngày 26/11/2010 về ban hành quy chế quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử-văn hóa và danh lam thắng

cảnh trên địa bàn tỉnh Hội thảo “Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa Quảng

Nam trong thời kỳ hội nhập và phát triển” được Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Nam tổ chức vào ngày 20/9/2019 nhằm tạo tiền đề cho những

Trang 12

nghiên cứu sau này về văn hóa Quảng Nam, cũng như góp phần đưa ra những giải pháp phát huy giá trị văn hóa, tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội Hội thảo thu hút gần 200 đại biểu bao gồm các chuyên gia, nhà khoa học, nhà nghiên cứu trong lĩnh vực văn hóa, khảo cổ

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa trên địa bàn thành phố Tam Kỳ, đề tài đã làm rõ mục tiêu, phương hướng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa ở thành phố Tam Kỳ hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Từ mục đích nghiên cứu trên, đề tài luận văn hướng đến các nhiệm vụ nghiên cứu quan trọng như sau:

- Làm rõ một số vấn đề lý luận về việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa

- Phân tích thực trạng thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa trên địa bàn thành phố Tam Kỳ

- Đề xuất một số mục tiêu, phương hướng, giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa trên địa bàn thành phố Tam Kỳ hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa trên

địa bàn thành phố Tam Kỳ

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Về không gian: trên địa bàn thành phố Tam Kỳ

Trang 13

- Về thời gian: từ năm 2015 đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:

5.1 Cơ sở lý luận:

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh về văn hóa; quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách của nhà nước về công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

5.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu

Luận văn thu thập và xử lý dữ liệu cơ bản từ nhiều nguồn khác nhau như: tư liệu của Sở văn hóa thể thao và du lịch Tỉnh Quảng Nam, các chủ trương chính sách của Thành ủy và UBND Thành phố Tam Kỳ Tác giả đã có được một hệ thống tài liệu toàn diện về chủ đề nghiên cứu và là dữ liệu phục

vụ cho phân tích, dẫn luận tại Chương 1 và Chương 2

5.2.2 Phương pháp phân tích tài liệu

Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá các công trình liên quan của các tác giả đi trước, sử dụng các phương pháp cần thiết nhằm tối ưu nhất những tài liệu thu thập được trên thực tế, từ đó rút ra những điểm chung

5.2.3 Phương pháp quan sát

Thông qua sự trải nghiệm tại các khu di tích văn hóa, tác giả có cơ sở

để đánh giá giá trị di tích cũng như tiềm năng của lĩnh vực mà mình đang tìm hiểu Từ đó, cho phép tác giả tiếp cận vấn đề một cách chủ động, sâu sắc cũng như thẩm nhận được giá trị của di tích và tiềm năng phát triển

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn:

6.1 Ý nghĩa lý luận

Luận văn góp phần hệ thống hóa, làm rõ hơn một số vấn đề lý luận về thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa hiện nay

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Trang 14

- Luận văn cũng có giá trị tham khảo cho các nhà lãnh đạo, quản lý của thành phố Tam Kỳ trong việc nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách

bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa

- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho những người nghiên cứu, học tập và áp dụng trong việc thực hiện chính sách bảo bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa ở địa phương mình

7 Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm 3 chương, nội dung cụ thể như sau:

Chương 1: Thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa: Một số vấn đề lý luận

Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị

di sản văn hóa ở thành phố Tam Kỳ

Chương 3: Mục tiêu và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn thành phố Tam Kỳ

Trang 15

Chương 1 THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY

CÁC GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

1.1 Các khái niệm liên quan đến đề tài

1.1.1 Khái niệm chính sách công

Có nhiều quan niệm khác nhau về chính sách, luận văn đồng ý với quan

niệm “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm

vụ Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó Bản chất nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa” [15,

Trong công trình Tập bài giảng Chính trị học, tập thể tác giả cho rằng

“Chính sách công là chương trình hành động hướng đích của chủ thể nắm hoặc chi phối quyền lực cộng cộng”.[39, tr.235]

Các tác giả khác lại cho rằng “Chính sách công là một tập hợp những quyết định liên quan với nhau do nhà nước ban hành, bao gồm các mục tiêu

và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm đạt được các mục tiêu phát triển” [19, tr.10]

Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Hải “Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên

Trang 16

quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội” [8, tr.51]

Từ các định nghĩa trên cho thấy, cách quan niệm của các học giả về chính sách công có một số điểm lưu ý sau:

Thứ nhất, chính sách công dùng để chỉ chính sách của nhà nước Theo

nghĩa đó, nó chỉ xuất hiện khi nhà nước xuất hiện

Thứ hai, việc xuất hiện một chính sách (chính sách công) là để giải

quyết một, hay một vài mục tiêu nào đó Việc xác định thứ tự ưu tiên của các mục tiêu là tùy theo các chủ thể; tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, việc xác định các mục tiêu là không được loại trừ nhau

Thứ ba, chính sách công phải được xem như một quá trình từ khâu xác

định ý tưởng, hoạch định, thực hiện đến đánh giá kết quả thực hiện

1.1.2 Khái niệm thực hiện chính sách công

Như trên đã đề cập, nói đến chính sách (công) là nói đến một chu trình hành động của chủ thể - chu trình chính sách công Chu trình chính sách công bao gồm nhiều giai đoạn Mỗi giai đoạn lại gồm những bước khác nhau Mỗi tác giả, tùy theo cách tiếp cận, có những cách xác định chu trình chính sách công khác nhau Nhưng các tác giả đều khẳng định, thực hiện chính sách là một khâu trong chu trình chính sách công và là khâu quan trọng Theo tác giả Văn Tất Thu “thực hiện chính sách là một khâu cấu thành chu trình chính sách, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu nhất định” [21]

Thực hiện chính sách có vai trò quan trọng trong một chu trình chính sách Theo đó, “Tổ chức thực thi chính sách là trung tâm kết nối các khâu (các bước) trong chu trình chính sách thành một hệ thống Hoạch định được chính sách đúng, có chất lượng là rất quan trọng, nhưng thực hiện đúng chính sách còn quan trọng hơn Có chính sách đúng nếu không được thực hiện sẽ

Trang 17

trở thành khẩu hiệu suông, không những không có ý nghĩa, mà còn ảnh hưởng đến uy tín của chủ thể hoạch định và ban hành chính sách (uy tín của nhà nước) Nếu chính sách không được thực hiện đúng sẽ dẫn đến sự thiếu tin tưởng và sự phản ứng của nhân dân đối với nhà nước Điều này hoàn toán bất lợi về mặt chính trị và xã hội, gây những khó khăn, bất ổn cho nhà nước trong công tác quản lý” [21] Thực chất, việc thực hiện chính sách là từng bước hiện thực hóa mục tiêu của chính sách, khẳng định tính đúng đắn của chính sách công và giúp cho chính sách công ngày càng hoàn thiện hơn [9, tr.11-14]

Thực hiện chính sách cũng bao hàm nhiều giai đoạn Trong luận văn này, tác giả xem xét việc thực hiện chính sách bao gồm những nội dung sau:

Thứ nhất, xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách

Thứ hai, phổ biến, tuyên truyền chính sách

Thứ ba, phân công, phối hợp thực hiện chính sách

Thứ tư, duy trì chính sách

Thứ năm, điều chỉnh chính sách

Thứ sáu, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách

Thứ bảy, đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm trong thực hiện chính sách

1.1.3 Khái niệm về văn hóa và giá trị văn hóa

1.1.3.1 Khái niệm về văn hóa

Hiện nay, trong ngôn ngữ của tất cả các dân tộc trên thế giới đều có khái niệm về văn hóa, nhưng văn hóa là một vấn đề không dễ cắt nghĩa đầy

đủ, trọn vẹn Ngay từ rất sớm, Hồ Chủ tịch đã nhìn nhận: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết; đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng khác Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa

là tổng hợp những phương thức sinh hoạt và biểu hiện của nó mà loài người

Trang 18

đã sản sinh ra nhằm thích ứng với những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [10, tr.1]

Tại hội nghị thế giới Về Chính sách văn hóa vì sự phát triển (năm 1982

tại Mehico), văn hóa được coi là “tập hợp các đặc điểm nổi bật về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm của xã hội hay một nhóm xã hội, và ngoài văn học và nghệ thuật nó còn bao gồm cả lối sống, cách thức cùng chung sống, các giá trị hệ thống giá trị, truyền thống và tín ngưỡng”.[13, tr.20]

Tác giả Trần Quốc Vượng định nghĩa: “văn hóa theo nghĩa rộng, là cái

tự nhiên được biến đổi bởi con người, bao hàm cả kỹ thuật, kinh tế, để từ đó hình thành một lối sống, một thế ứng xử, một thái độ tổng quát của con người đối với vũ trụ, thiên nhiên và xã hội, là cái vai trò của con người trong vũ trụ, với những hệ thống chuẩn mực, những giá trị, những biểu tượng, những quan niệm tạo nên phong cách diễn tả tri thức và nghệ thuật của con người” [39, tr.35-36]

Như vậy, các định nghĩa đều cho rằng văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo trong lịch sử, nhằm đáp ứng nhu cầu của mình trong hoạt động sống Nó có thể là các sản phẩm vật chất, như: đình, chùa, miếu, , cũng có thể là giá trị tinh thần, phong tục, tập quán, các chuẩn mực về lối sống,

Văn hóa được tạo thành và phát triển trên cơ sở hình thành và phát triển của con người Trình độ phát triển chung của văn hóa phụ thuộc trực tiếp vào trình độ làm chủ tự nhiên, bản thân và xã hội của con người Nó có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, như: Nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI)

của Đảng đã nêu rõ “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước Văn hóa phải được đặt ngang hàng kinh tế, chính trị, xã hội” [3, tr.2] Văn hóa thể hiện năng lực bản chất và thể

Trang 19

hiện giá trị đích thực của con người, phục vụ cho sự phát triển toàn diện của con người Nói đến văn hóa là nói đến cái tốt đep, chân-thiện-mỹ

1.1.3.2 Khái niệm về giá trị văn hóa

Nói đến giá trị là nói đến cái có ý nghĩa về con người, xã hội và văn hóa Hay có thể nói, giá trị là tất cả những đánh giá của con người về bất cứ một hiện tượng trong xã hội về con người, về tự nhiên mang ý nghĩa tốt đẹp

Hệ giá trị được hình thành nên trong một quá trình xã hội tương đối lâu dài, chúng tạo nên cơ sở để đánh giá tính có ích về mặt xã hội cũng như của các thành viên Do đó, chúng quyết định những nguyên tắc của việc cùng chung sống của cộng đồng hay xã hội Nhưng giá trị không tùy thuộc vào sở thích của bất kỳ cá nhân nào, mà thỏa mãn những nhu cầu chung, được đại đa số người trong cộng đồng cùng chia sẻ Không chỉ mang tính khách quan, giá trị

mà còn bao hàm cả trong tâm lý, tình cảm của con người, người ta có thể phấn đấu, hi sinh cho những giá trị mà người ta cho là cao đẹp Giá trị của một nền văn hóa có thể thay đổi, nhưng nhìn chung thì đó là một yếu tố tương đối ổn định và bền vững so với cuộc đời của một cá nhân nào đó

Giá trị văn hóa là giá trị bản sắc kết quả sáng tạo tích lũy của một cộng đồng, dân tộc biểu hiện qua các chuẩn mực về đạo đức, tư tưởng, tình cảm

…của tập thể, cộng đồng hay mỗi cá thể được cộng đồng lựa chọn tiếp nhận

và khao khát hướng tới, thông qua sự trải nghiệm lịch sử Đó không phải là thuật ngữ để mô tả, mà có hàm ý đánh giá Người ta thường dựa trên một quan điểm văn hóa nhất định để đánh giá về những gì là đúng hay sai, đẹp hay xấu, thiện hay ác, do đó nên hay không nên làm Nguyên tắc có tính bao quát

đó có ảnh hưởng rất lớn đối với tiến trình của xã hội

1.1.4 Khái niệm di sản văn hóa

Di sản văn hóa là bộ phận cơ bản và trọng yếu trong nền văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc Di sản văn hóa chính là cơ sở, là nền tảng cho con

Trang 20

người trong sự phát triển ngày một cao của xã hội Từ đó, có thể hiểu: “Di sản văn hóa quy định tại Luật này bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.[15]

Di sản văn hóa vật thể: “Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” [15] Theo nghĩa đó, những cổ

vật, những công trình kiến trúc hoặc còn ẩn trong lòng đất hoặc đang lưu giữ trong các bảo tàng, các công cụ, sản xuất, đồ dùng bằng sành sứ, những thành quách, chùa tháp, đình làng, phố cổ, lăng tẩm, cung điện đều thuộc loại hình văn hóa này

Di sản văn hóa phi vật thể: là toàn bộ những giá trị văn hóa vô hình, được hình thành thông qua đời sống tinh thần, được lưu truyền, biến đổi qua thời gian với quá trình tái tạo, kế thừa rộng rãi trong cộng đồng Luật Di sản

văn hóa xác định: “Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác” [15] Loại hình văn hóa

phi vật thể này rất đa dạng, gồm: các thể loại văn học, chữ viết, các hình thức nghệ thuật, sân khấu, ngôn ngữ, triết lý, đạo đức, truyền thuyết, huyền thoại,

lễ hội, nghi lễ, phong tục, tập quán, y học dân tộc, ẩm thực, Sự đa dạng này tương ứng với sự đa dạng của các cộng đồng, dân tộc làm nên tính đa dạng,

độc đáo của các nền văn hóa

1.1.5 Khái niệm bảo tồn và phát huy di sản văn hóa

Trang 21

Văn hóa cũng luôn nằm trong tiến trình vận động, không ngừng phát triển và biến đổi, sự biến đổi và phát triển đó cũng tuân theo những quy luật nhất định Lịch sử phát triển của loài người, của nhân loại luôn luôn diễn ra và phát triển từ thấp đến cao Xét cho cùng, tất cả những điều đó là kết quả tất yếu của sự thay thế phương thức sản xuất từ thấp đến cao hơn, tiên tiến hơn

để phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất Với tư cách là sản phẩm,

là sự phản ánh điều kiện sinh hoạt của xã hội, văn hóa cũng có sự biến đổi nhất định Song, mặt khác, văn hóa cũng mang tính độc lập tương đối mà biểu thị chủ yếu của nó là tính kế thừa

Bảo tồn là khái niệm chỉ sự giữ lại, duy trì lại và truyền lại từ trong di sản truyền thống những yếu tố tích cực, hợp lý, những giá trị nhân bản tạo

cơ sở cho sự ra đời và phát triển cái mới, cái tiến bộ

Phát huy giá trị văn hóa là hoạt động nhằm đưa các giá trị văn hóa truyền thống vốn có thâm nhập vào thực tiễn đời sống xã hội; tạo động lực thúc đẩy xã hội ngày một phát triển và đem lại những điều tốt đẹp về mặt tinh thần lẫn vật chất cho nhân loại Phát huy các giá trị văn hóa còn bao hàm ý nghĩa tạo ra môi trường tốt nhất để những yếu tố mang tính truyền thống phát huy một cách hữu hiệu, tác dụng tích cực trong cuộc sống đương đại

Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa là một quá trình thống nhất biện chứng giữa lọc bỏ và kế thừa, giữa tiếp thu và phê phán, giữa việc lưu giữ và phát triển thêm nữa, giữa tu bổ và tôn tạo các giá trị di sản văn hóa truyền thống để xây dựng và tiếp tục phát triển cái mới, cái tiến bộ Vì vậy, công tác kế thừa, trùng tu, tôn tạo và ngày càng phát huy các di sản văn hóa của mỗi quốc gia và cả nhân loại luôn là nhu cầu tất yếu đặt ra cho mỗi người dân mà còn là nhiệm vụ của toàn nhân loại

Đề cập vấn đề này, sinh thời, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc “phát huy vốn quý báu” của dân tộc Người đặc biệt nhấn mạnh đến công tác bảo

Trang 22

tồn, tu bổ, đồng thời phát huy tốt các giá trị văn hóa sẵn có: “Khôi phục cái

cũ thì nên chọn cái tốt, còn cái không tốt thì loại dần ra ” Đối với Hồ Chủ

tịch, khôi phục phải gắn liền với chọn lọc, đánh giá để giữ lại cái tốt, loại bỏ cái xấu hay những tập tục trái với thuần phong mỹ tục Điều đó không có nghĩa là loại bỏ hoàn toàn cái cũ để xây dựng cái mới, mà bắt nguồn từ tất cả những gì tinh túy nhất của văn hóa cần được gìn giữ và phát huy

Vì vậy, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa có ý nghĩa vô cùng quan trọng để một quốc gia, dân tộc tồn tại vững bền ở mọi thời kỳ lịch

sử, là điều tiên quyết để tạo dựng nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa

1.1.6 Khái niệm thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị

Thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa đóng vai trò quan trọng, là tổng hòa nhiều quyết sách có nội dung tối ưu nhằm chắt lọc, đề xuất các công cụ, giải pháp để thực hiện tốt việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa Việc thực hiện chính sách này được đặc biệt quan tâm từ các văn bản pháp luật đến văn kiện các kỳ Đại hội Đảng, được cụ thể qua việc hoạch định chiến lược phát triển văn hóa qua từng thời kỳ, đặc biệt là Luật Di sản văn hóa và các Thông tư, Nghị định hướng dẫn Luật di sản văn hóa được các cơ quan chuyên môn có thẩm quyền ban hành, cùng với các văn bản pháp quy khác

1.2 Tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa

Trang 23

Thứ nhất, thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản

văn hóa góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc

Một nền văn hóa của bất kỳ quốc gia nào bao giờ cũng gắn liền với đặc trưng của dân tộc, mang nét đặc thù để phân biệt, nhận diện mà không nhầm lẫn với một dân tộc nào khác, cái mà nhìn vào đó bất cứ ai cũng có thể biết đó

là quốc gia, dân tộc đó Đó chính là bản sắc văn hóa của một dân tộc Bản sắc văn hóa dân tộc còn thì dân tộc còn, và ngược lại, nếu nó mất đi thì dân tộc sẽ lụi tàn hoặc diệt vong

Trải qua không ít các cuộc chiến xâm lăng, sự tàn phá, sự khắc nghiệt của thiên nhiên, đặc biệt là thời kỳ mở cửa và hội nhập với thế giới hôm nay

đã nảy sinh nhiều bất cập, thậm chí cả những mâu thuẫn giữa yêu cầu bảo tồn

và phát triển các di tích văn hóa của dân tộc gắn liền với sự phát triển kinh tế

xã hội Trong các tác nhân gây tổn hại cho di sản văn hóa, ngoài sự tác động của yếu tố thiên tai, địch họa thì con người, cách hành xử thiếu văn hóa của chính con người đối với di sản là thủ phạm chính Bên cạnh đó, xu hướng hiện đại hóa trong cuộc sống hiện nay làm cho con người ta bỏ quên những yếu tố truyền thống Lối sống thực dụng, sự vị kỉ đã dẫn đến không ít hành động đáng phê phán đối với di sản

Ngoài ra, quá trình toàn cầu hóa cũng đem đến những tác hại không nhỏ trong việc giữ gìn và phát huy di sản văn hóa Tình trạng đánh cáp cổ vật tuồng ra nước ngoài khá phổ biến và khó bề ngăn chặn Cuộc đấu tranh giữa

“hòa nhập” với “hòa tan”, “đổi mới” với “đổi màu” đang là cuộc đấu tranh

không khoan nhượng trên mọi mặt trận mà trong đó, văn hóa chính là vấn đề đầu tiên quyết định sự thành bại trong công cuộc hội nhập

Ngày nay, trong điều kiện nền kinh tế thị trường, các di sản văn hóa giữ vai trò là tài nguyên vô giá, Tuy nhiên, bảo tồn di sản không hề đồng nghĩa với việc đóng khung trong di sản Chủ trương kế thừa, gìn giữ những truyền

Trang 24

thống ngàn đời về lòng nhân ái, bao dung, trọng đạo lý, thương người như thể thương thân và kế thừa không chỉ nội dung mà còn cả hình thức trong tất cả các loại hình nghệ thuật: văn thơ, nhạc họa, kiến trúc, mỹ thuật, tuồng chèo,… đến các loại hình dân dã: bài chòi, các làn điệu dân ca, các bài đồng dao cho trẻ em,…

Thứ hai, góp phần xây dựng đất nước

Sắc lệnh số 65-SL ngày 23/11/1945 đã khẳng định “Việc bảo tồn cổ tích là việc rất cần thiết cho công cuộc kiến thiết nước Việt Nam” Nội dung

cơ bản của Sắc lệnh thể hiện tầm nhìn chiến lược và những định hướng cơ bản của Hồ Chí Minh Cũng đề cập về nội dung này, Đại hội Đảng lần thứ X khẳng định: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế - xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội… Tiếp tục đầu tư cho việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng, kháng chiến, các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của dân tộc, các giá trị văn hóa, nghệ thuật, ngôn ngữ, thuần phong mỹ tục của cộng đồng các dân tộc Bảo tồn và phát huy văn hóa, văn nghệ dân gian Kết hợp hài hòa việc bảo vệ, phát huy các di sản văn hóa với các hoạt động phát triển kinh tế,

du lịch” [2]

Thứ ba, tạo tiền đề cơ bản cho quá trình giao lưu, hợp tác văn hóa

Văn hóa dân tộc là một dòng chảy liên tục phát triển qua các giai đoạn lịch sử và trong sự giao thoa với các nước về nhiều mặt, là sự trao đổi trong quá trình thâm nhập vào nhau, tác động lẫn nhau của những dòng tư tưởng, sự hợp tác và phát triển giữa quốc gia này với quốc gia khác Chúng ta giao lưu với các nền văn hóa làm cho cái hữu ích, cái đúng, cái tốt, cái đẹp hòa quyện vào nhau, tác động lẫn nhau, làm cho các dân tộc xích lại gần nhau, là cơ sở,

Trang 25

tiền đề để các dân tộc và nhân dân thế giới cùng phấn đấu hướng tới mục tiêu cuối cùng là độc lập, tự do, công bằng, bác ái, bình đẳng và dân chủ

Trong giao lưu văn hóa, không chỉ giao lưu giới thiệu di sản trong nước

mà cần phải tiếp nhận một cách có chọn lọc bản sắc văn hóa của dân tộc khác

và mở rộng giao lưu quốc tế Trong quá trình giao lưu hội nhập lại còn phải tính đến sự lợi dụng hợp tác quốc tế để tấn công vào nền tảng tinh thần của dân tộc vào nền văn hóa đậm đà bản sắc của dân tộc ta Thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa sẽ tạo nền tảng vững chắc, tiền

đề cơ bản cho sự giao lưu, hợp tác của Việt Nam hiện nay

1.3 Các bước thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị

di sản văn hóa

Bước 1: Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách bảo tồn

và phát huy các giá trị di sản văn hóa

Để chính sách bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa đi vào cuộc sống, trước hết nhà hoạch định chính sách ở các cấp cần phải xây dựng kế hoạch triển khai và chương trình cụ thể để thực hiện các nội dung kế hoạch đã đề ra đảm bảo chính sách đem lại kết quả tốt nhất Một số nội dung của kế hoạch thực hiện chính sách đó là:

- Kế hoạch về tổ chức, điều hành;

- Kế hoạch về cung cấp các nguồn vật lực;

- Kế hoạch về thời gian triển khai thực hiện;

- Kế hoạch về kiểm tra, đôn đốc, thực thi chính sách

Kế hoạch được xây dựng cần nêu được mục đích, yêu cầu của việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản; quy định về thời gian hoàn thành kế hoạch có thể theo từng giai đoạn thực hiện cho từng hạng mục cụ thể; những nguyên tắc, nội quy cũng như những quy định, chế tài cụ thể đối với từng tổ chức, cá nhân, đơn vị tham gia thực hiện việc điều hành chính sách Bên cạnh đó, cũng

Trang 26

cần đưa ra những quy chế về thi đua, khen thưởng kịp thời nhằm động viên, khích lệ các đối tượng làm tốt công tác này Ngược lại, phê bình, nhắc nhở các tổ chức, cá nhân trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chưa hoặc chậm hoàn thành nhiệm vụ, không đảm bảo tiến độ như kế hoạch đề ra gây ảnh hưởng chung đến việc thực hiện chính sách Kế hoạch được xây dựng và thực hiện ở cấp nào thì do cấp đó thông qua và ban hành chính thức đảm bảo tính pháp lý

và tiến hành triển khai thực hiện đối với những bộ phận đơn vị, liên quan

Bước 2: Phổ biến, tuyên truyền chính sách bảo tồn và phát huy các

giá trị di sản văn hóa

Một trong những yếu tố có tầm quan trọng, quyết định sự thành bại của chính sách bảo tồn, phát huy di sản văn hóa là công tác tuyên truyền, phổ biến nội dung chính sách đến các tổ chức, đơn vị, các cán bộ trực tiếp làm công tác bảo tồn di sản, đặc biệt là đến mỗi người dân Làm thế nào để họ hiểu được, thấy được tầm quan trọng và sự cần thiết của việc bảo tồn, phát huy di sản Qua đó, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của mình, ý thức tự giác, trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi người trong việc góp phần bảo tồn, gìn giữ và ngày càng phát huy hơn nữa các giá trị văn hóa Từ đó, đề ra được nhiều ý kiến hay, cách làm mới, giải pháp phù hợp trong việc thực hiện các mục tiêu mà chính sách đề ra, đem lại những kết quả thiết thực

Bước 3: Phân công, phối hợp thực hiện chính sách chính sách bảo

tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa

Để việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản đạt được những kết quả nhất định, nhất thiết cần phải có sự phân công phân nhiệm cụ thể đối với các tổ chức, đơn vị, bộ phận của các cơ quan chức năng liên quan và chính quyền địa phương nơi có di sản Đồng thời, có sự phối kết hợp mật thiết, chặt chẽ với nhau trong thời gian chính sách được triển khai thực hiện Đây là một yếu tố tác động khá lớn đến mục tiêu mà chính sách

Trang 27

mong muốn đạt đến cũng như kết quả cuối cùng mà chính sách đem lại Theo

đó, có thể phân công cơ quan tham mưu chính ở cấp Trung ương là Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch, ở các Tỉnh, Thành là Sở Văn hóa, thể thao và du và Phòng Văn hóa, thông tin, truyền thông đối với cấp Huyện, Thị; cơ quan chủ trì thực hiện là chính quyền các cấp từ Trung ương đến cơ sở và nhiều cơ quan khác phối hợp với nhau, như: tài chính, giáo dục,… Trong quá trình thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy di sản văn hóa không thể tránh khỏi động chạm đến quyền lợi của một số người dân, bởi liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau nên cần phải có sự phối hợp, phân công nhiệm vụ một cách linh hoạt, nhạy bén và thực hiện chủ động, sáng tạo, phù hợp với mọi tình huống

để chính sách được duy trì ổn định, đem lại kết quả nhất định trong công tác quản lý, điều hành

Bước 4: Duy trì chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn

hóa

Muốn chính sách bảo tồn, phát huy giá trị di sản được tồn tại và đi vào thực tế cuộc sống thì cần phải duy trì việc thực hiện chính sách một cách đều đặn, thường xuyên bằng nhiều hoạt động cụ thể, thiết thực như: đổi mới cách tuyên truyền bằng nhiều hình thức khác nhau theo hướng gần gũi, dễ cảm nhận, dễ đi vào lòng người, từ đó khích thích du khách tìm đến với di sản; trùng tu, tôn tạo các di tích có thể theo từng hạng mục vừa chống xuống cấp vừa đem lại cảnh quang thoáng đãng, sạch đẹp nhưng không mất đi vẻ uy nghi, cổ kính sẵn có; duy trì, phát huy các hoạt động lễ hội gắn với di tích và tạo ra các sản phẩm du lịch; xây dựng môi trường, cảnh quang xung quanh di tích và hình ảnh con người văn hóa,… Trong quá trình duy trì chính sách chắc chắn sẽ gặp phải những thuận lợi và khó khăn, tùy vào từng tình huống các cấp chính quyền sẽ tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được; đồng thời, sẽ

Trang 28

sử dụng những quyền hành, công cụ pháp lý vốn có để có thể tạo môi trường thuận lợi để chính sách được tiếp tục thực hiện có hiệu quả

Bước 5: Điều chỉnh chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản

văn hóa

Từ thực tế quá trình thực hiện và duy trì chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản sẽ có những ưu điểm và nhược điểm nhất định Từ đó, nhà hoạch định chính sách căn cứ từng trường hợp cụ thể sẽ có những bước điều chỉnh sao cho phù hợp, hài hòa với yêu cầu quản lý, tình hình thực tế và quá trình vận động đi lên của đời sống xã hội Có một nguyên tắc đặt ra là, cơ quan nào ban hành chính sách thì cơ quan đó mới đủ thẩm quyền sửa đổi chính sách, nhưng thực tế cho thấy công việc này được thực hiện khá thoáng,

có nghĩa là: các cơ quan, đơn vị chủ quản trong quá trình theo dõi chính sách được thực thi nếu phát hiện những điểm cần phải thay đổi, điều chỉnh cho phù hợp thì có thể tự động điều chỉnh đảm bảo đem lại hiệu quả nhưng không làm sai lệch mục tiêu cố hữu của nó là bảo tồn, phát huy giá trị di sản

Tuy nhiên, cũng cần phải nói nguyên tắc nhất quán của chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản là chỉ được điều chỉnh, thay đổi cơ chế, chính sách hoặc kiện toàn, củng cố, bổ sung những biện pháp thực sự hiệu quả để đảm bảo chính sách vẫn còn nguyên vẹn mục tiêu của nó Ngược lại, nếu tất

cả những điều chỉnh đó làm thay đổi mục tiêu của chính sách thì có khả năng chính sách đó không còn giá trị hiện hữu

Bước 6: Theo dõi, đôn đốc, kiểm tra thực hiện chính sách bảo tồn và

phát huy các giá trị di sản văn hóa

Một chính sách nói chung hay chính sách bảo tồn và phát huy di sản nói riêng trong quá trình thực hiện không thể bỏ qua công tác theo dõi, đôn đốc, kiểm tra công tác thực hiện chính sách Bởi, chính sách được ban hành theo cách nhìn nhận chung, bao quát của các cấp có thẩm quyền; bởi, thấy

Trang 29

được sự cần thiết phải ban hành chính sách để công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản được quan tâm thực hiện và hơn hết là giữ lại sự vẹn nguyên của di sản như một nét văn hóa của dân tộc nhằm giáo dục cho thế hệ mai sau truyền thống yêu nước Tuy nhiên, có một thực tế là điều kiện về tự nhiên, vị trí địa lý, môi trường, nền văn hóa, điều kiện về chính trị, kinh tế, hay như tập quán, thói quen của con người ở mỗi vùng không giống nhau, năng lực của cán bộ làm công tác chuyên môn về bảo tồn, bảo tàng không đồng đều nên việc theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện chính sách là thực sự cần thiết Qua theo dõi, kiểm tra có thể nắm bắt được việc thực hiện chính sách có đảm bảo các nội dung như kế hoạch đề ra hay không? tiến độ thực hiện chính sách đến đâu? có những khó khăn, vướng mắc gì trong quá trình thực hiện? hay

ít nhất có thể phát hiện ra những lỗ hổng trong quản lý, điều hành việc thực hiện chính sách để từ đó có thể đôn đốc các bộ phận liên quan tiếp tục thực hiện đảm bảo hơn hoặc có những giải pháp phù hợp để chính sách bảo tồn, phát huy di sản đem lại kết quả như mong muốn Từ đó, vừa có thể từng bước hoàn thiện chính sách, vừa có thể kịp thời điều chỉnh sao cho phù hợp công tác thực thi chính sách của đội ngũ cán bộ làm công tác này nhằm tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên lĩnh vực bảo tồn di sản,

Bước 7: Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách

bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa

Đây là khâu cuối cùng trong quy trình thực hiện chính sách nhằm đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm trong suốt quá trình thực thi chính sách bảo tồn

và phát huy giá trị di sản Từ đó, có thể rút ra kết luận chung nhất, một sự nhìn nhận cụ thể nhất về kết quả trên tất cả các mặt, như: công tác lãnh, chỉ đạo, điều hành của các cấp lãnh đạo; tổng kết kinh phí để thực hiện chính sách; công tác phối, kết hợp giữa các đơn vị liên quan; việc chấp hành và thực hiện chính sách của các tổ chức, cá nhân mà đặc biệt là sự đồng thuận của

Trang 30

người dân; những mục tiêu, mục đích cuối cùng mà chính sách mang lại,… Bên cạnh đó, cũng cần đánh giá những ưu, khuyết điểm, những thành quả đạt được hay những hạn chế, thiếu sót cần được khắc phục và tiếp tục phát huy

Từ đó, đưa ra những kinh nghiệm trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản ở từng địa phương cụ thể Đồng thời, kịp thời biểu dương, động viên và

có cơ chế khen thưởng đối với các cá nhân, đơn vị thực hiện tốt chính sách

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách bảo tồn

và phát huy các giá trị di sản văn hóa

1.4.1.2 Môi trường thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa

Nói đến môi trường thực thi chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị

di sản văn hóa là nói đến nhiều nhân tố ảnh hưởng khác nhau, như: nhân tố về chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh,… Một quốc gia mà vấn đề chính trị không ổn định, xảy ra chiến tranh thì rõ ràng, mức độ ưu tiên cho việc thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa sẽ không nhiều Tương tự như vậy, một quốc gia chưa có bề dày lịch sử, thì vấn

đề này cũng sẽ không được ưu tiên so với việc phát triển văn hóa đương đại

1.4.1.3 Mối quan hệ giữa các đối tượng thực hiện chính sách bảo tồn

và phát huy các giá trị di sản văn hóa

Trang 31

Lợi ích của các nhóm đối tượng trong quá trình thực hiện để đạt đến mục đích cuối cùng của chính sách bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phụ thuộc vào sự đồng nhất hay không đồng nhất trong mối quan hệ tương đồng giữa các đối tượng này với nhau Nếu nhóm đối tượng này có mối liên

hệ một cách trực tiếp đến quyền lợi, lợi ích của thành phần được thụ hưởng thì đích đến của chính sách sẽ dễ dàng được thực hiện hơn; ngược lại, nếu lợi ích của nhóm đối tượng trực tiếp thực hiện chính sách không liên quan hoặc mang tính độc lập với các thành phần được thụ hưởng chính sách thì việc tiến hành thực thi chính sách ắt sẽ gặp nhiều vấn đề khó khăn, từ đó mục tiêu của chính sách khó đạt đến

1.4.1.4 Tiềm lực của các nhóm đối tượng thực hiện chính sách bảo tồn

và phát huy các giá trị di sản văn hóa

Có thể hiểu tiềm lực của các nhóm đối tượng thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa là tất cả những tiềm năng, thế mạnh vốn có của từng nhóm đối tượng mà không dựa dẫm hay nhờ vào sự hỗ trợ từ bất kỳ tổ chức nào Điều đó được biểu hiện ở nhiều yếu tố khác nhau, như: về năng lực, trình độ và cả về quy mô tổ chức trên các khía cạnh chính trị, kinh

tế, văn hóa, xã hội,… Nếu nhóm đối tượng thực hiện có sẵn điều kiện kinh tế thì sẽ dễ dàng hơn trong việc huy động nguồn lực vật chất để thực hiện Song nếu nhóm đối tượng thực hiện chưa có nhiều kiến thức, nhiều kinh nghiệm thực hiện về vấn đề này thì khả năng thành công của việc thực hiện chính sách sẽ không cao

1.4.1.5 Đặc tính của đối tượng thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa

Những tính chất riêng biệt, đặc trưng không lẫn lộn với bất kỳ nhóm đối tượng nào hay còn gọi là đặc tính của đối tượng thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa được hình thành do bản chất cố hữu

Trang 32

của nó hoặc được tạo nên do sự tác động, ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp từ môi trường bên ngoài trong quá trình vận động và phát triển Nếu đối tượng thực hiện chính sách phức tạp, thì rõ ràng, việc thực hiện chính sách sẽ khó

khăn, cần nhiều nguồn lực hơn

đủ các bước trong quy trình tổ chức thực thi chính sách

1.4.2.2 Năng lực thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị

di sản văn hóa của cán bộ, công chức trong bộ máy quản lý nhà nước

Đây là một tiêu chí có thể nói đóng vai trò quan trọng trong suốt quá trình thực thi chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản, góp phần rất lớn trong việc quyết định kết quả mà chính sách đạt được Nếu đội ngũ cán bộ làm công tác bảo tồn có đầy đủ năng lực, trình độ, sự hiểu biết, khả năng tư duy, tìm tòi, khả năng nhận định, phân tích, tiên lượng, dự báo tình hình,… để

có thể đáp ứng được yêu cầu đặt ra của xã hội hoặc ứng biến đối với những sự việc phát sinh trong quá trình thực hiện chính sách và cả trong tương lai Mặc khác, cần nêu cao trách nhiệm, năng lực, đạo đức thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ để xử lý hài hòa các vấn đề phát sinh

1.4.2.3 Điều kiện vật chất cần cho quá trình thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa

Trang 33

Ngoài điều kiện về nhân lực thì không thể bỏ qua điều kiện về vật lực

để đáp ứng cho quá trình thực thi chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Cùng với các nhân tố khác như đã nêu thì nhân tố về vật chất, kinh

tế, tài chính cũng góp phần không nhỏ đến sự thành công hay thất bại của chính sách Trong điều kiện kinh tế hiện nay, bên cạnh nguồn ngân sách đầu

tư cho công tác này được nhà nước cấp để thực hiện công tác bảo tồn di sản thì các nhà lãnh đạo cần kêu gọi sự quan tâm đầu tư, hỗ trợ của các tổ chức, đơn vị, hay cá nhân trong và ngoài nước,…Điều kiện vật chất có thể kể đến là những tiến bộ khoa học kỹ thuật, những sáng kiến kinh nghiệm, những mô hình mới, cách làm hay để thu hút đầu tư cho công tác này

1.4.2.4 Sự đồng tình ủng hộ của người dân

Đây là vấn đề được coi là yếu tố quan trọng trong quá trình thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa Bởi, mọi chính sách được xây dựng nên đều có một mục đích chung là làm cho xã hội tốt hơn và cốt yếu là hướng đến người dân, sự đồng thuận và hài lòng của người dân, vì đây là đối tượng thụ hưởng trực tiếp kết quả của chính sách Nếu chính sách bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa khi đưa vào sử dụng mang một ý nghĩa thiết thực, thỏa mãn được mong mỏi của người dân, đi vào cuộc sống của họ thì coi như chính sách đó thành công và ngược lại

Trang 34

đà bản sắc dân tộc

Ở Chương 1, luận văn đã khái quát những vấn đề liên quan đến di sản văn hóa; quy trình thực hiện chính sách; các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chính sách và tầm quan trọng của việc bảo tồn, phát huy các giá trị

di sản văn hóa hiện nay; làm cơ sở để phân tích thực trạng thực hiện chính sách bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa trên địa bàn thành phố Tam

Kỳ trong Chương 2

Trang 35

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ TAM KỲ

2.1 Giới thiệu chung về thành phố Tam Kỳ và di sản văn hóa trên địa bàn thành phố

2.1.1 Giới thiệu chung về thành phố Tam Kỳ

2.1.1.1 Về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, diện tích, dân số

Tam Kỳ là thành phố tỉnh lỵ của Quảng Nam, nằm ở vùng đồng bằng ven biển, địa hình Tam Kỳ có ba vùng khá rõ rệt: vùng cát ven biển, vùng đồng bằng và vùng bán sơn địa gồm những dãy đồi núi thấp ở phía tây liền kề huyện Phú Ninh với diện tích tự nhiên 93,97km2, dân số 113.677 người, mật

độ dân số 1.210 người/km2 [5] Tam Kỳ nằm ở toạ độ từ 108019’ đến 180034’ đông kinh tuyến và 15023’ đến 15039’ bắc vĩ tuyến; phía đông giáp biển, tây giáp huyện Phú Ninh, phía nam giáp huyện Núi Thành, phía bắc giáp huyện Thăng Bình; cách thành phố Đà Nẵng 70km về phía nam, cách sân bay Chu Lai và cảng Kỳ Hà khoảng 30 km về phía bắc Tam Kỳ là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của tỉnh Quảng Nam, là địa phương có bề dày truyền thống yêu nước và cách mạng Hiện nay, thành phố Tam Kỳ gồm 13 đơn vị hành chính, trong đó có 09 phường, gồm: An Mỹ, An Phú, An Sơn, An Xuân, Hòa Hương, Hòa Thuận, Phước Hòa, Tân Thạnh, Trường Xuân Và 4 xã, gồm: Tam Ngọc, Tam Phú, Tam Thăng, Tam Thanh

Thành phố Tam Kỳ nằm trong vùng nhiệt đới ẩm gió mùa; mùa hè nóng; mùa mưa ẩm ướt; rét nhiều vào khoảng tháng 12 - tháng 1 Vùng ven biển Tam Kỳ ảnh hưởng khí hậu duyên hải nên dễ chịu hơn

Trang 36

- Về nhiệt độ: Số giờ nắng trung bình hằng năm là 1800 giờ Nhiệt độ trung bình hàng năm 26,40 Vào mùa hè nhiệt độ dao động từ 280C đến 350C, thỉnh thoảng có những cơn mưa giông làm dịu bớt không khí oi bức, đó cũng

là nguồn nước bổ sung cho các ao hồ, sông suối, đồng ruộng

- Về lượng mưa trung bình hằng năm ở Tam Kỳ khoảng 2490mm Vào mùa mưa, từ tháng 10 đến tháng 12, lượng mưa dao động từ 420mm/tháng đến 860mm/tháng

Thỉnh thoảng nạn hạn hán cũng xảy ra ở Tam Kỳ do sự thất thường của chế độ mưa mùa hè, vào khoảng tháng 6 đến tháng 8, nếu lượng mưa chỉ có 20mm đến 25mm/tháng thì ao hồ cạn nước, ruộng đồng nứt nẻ, cây cối thiếu nước Tuy nhiên từ khi có công trình đại thủy nông Phú Ninh với hệ thống kênh mương trải dài khắp các thôn xóm, nhiều vùng của Tam Kỳ đã cơ bản thoát khỏi nạn hạn hán

Cũng như nhiều nơi trên đất Quảng Nam, Tam Kỳ thường bị lụt lội trong khoảng thời gian giữa mùa mưa, nhất là vùng trũng thường xuyên bị ngập lụt cục bộ do nước mưa thoát chậm Mức độ ngập lụt tuỳ theo lượng nước mưa của mỗi năm; do tác động của bão tố, có những năm lượng nước mưa vào thời gian cao điểm đạt đến 400mm - 500mm/ngày, gây ra ngập lụt nhiều nơi trong thị xã, có nơi bị ngập sâu 2-3m nước, gây trở ngại giao thông, thiệt hại về người lẫn vật nuôi và cây trồng Trong thế kỷ XX, có lẽ người dân Tam Kỳ không thể quên được trận lụt lịch sử năm 1964 cũng như hai trận lụt kinh hoàng liên tiếp vào đầu tháng 11 và cuối tháng 12 năm 1999

- Về độ ẩm: Độ ẩm trung bình ở Tam Kỳ là 86% Vào mùa mưa lũ, độ

ẩm trong không khí tăng cao đến 90%, có năm đến 96% Trong khi ở vùng rừng núi, độ ẩm cao và mưa kéo dài là điều kiện thuận lợi cho các loại cây rừng và các loại nấm -trong đó có nhiều loại nấm ăn được- phát triển mạnh, trở thành tác nhân có lợi; thì ở các khu dân cư, các loại nấm mốc, mối mọt

Trang 37

cũng phát triển, gây hại cho các loại lương thực, thực phẩm dự trữ, vật dụng gia đình cũng như các công trình kiến trúc bằng tre, gỗ

- Tam Kỳ nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, do đó có 2 mùa gió chính:

+ Gió mùa hạ từ tháng 3 đến tháng 9 Hướng gió thịnh hành là gió mùa tây nam mang không khí khô và nóng Xen kẽ có gió đông và đông nam Mùa

hạ còn có gió Lào là loại gió tây khô và nóng, mỗi đợt kéo dài 2-3 ngày trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 8, chủ yếu ảnh hưởng ở vùng Nghệ An đến Quảng Trị, nhưng cũng có khi lan rộng vào tận Tam Kỳ Vào thời điểm có gió Lào, nhiệt độ có thể lên đến 380C- 390C, cây cối khô héo, cháy lá

+ Gió mùa đông từ tháng 10 đến tháng 3, hướng gió bắc, tây bắc và đông bắc Trong mùa này còn xuất hiện xen kẻ gió đông, đông nam, tây, tây nam

+ Thông thường, vào mùa mưa có gió mùa đông-bắc mang theo không khí lạnh ở phía bắc hoặc kèm theo bão tố Gió bão thường thay đổi nhiều hướng Bão thường xuất hiện trong thời gian từ tháng 6 đến tháng 11 Bão và

áp thấp nhiệt đới có tần suất đổ bộ vào bờ biển cao nhất vào tháng 10 và 11 Tốc độ và hướng di chuyển của bão thường rất phức tạp, tùy thuộc vào từng cơn bão Bão thường gây ra gió mạnh, tốc độ trung bình 30 - 40m/s, đổi hướng liên tục nên có sức tàn phá rất lớn Trong vùng bão thường có lượng mưa lớn trên 100mm/ngày, có những cơn bão lượng mưa lên đến 300 - 400mm/ngày hoặc hơn

Theo số liệu Tổng điều tra dân số thành phố Tam Kỳ có đến ngày 01/4/2019 là 122.374 người, trong đó thành thị có 91.450 người, nông thôn có 30.924 người Nam có 59.630 người, nữ có 62.744 người Qua biến động dân

số từ năm 2017 đến 2019, cho thấy dân số Tam Kỳ gia tăng khá nhanh nhưng

Trang 38

do tác động đô thị hóa nên sự phân bố dân cư các vùng không đồng đều, ngày càng tập trung nhiều ở thành thị:

- Dân số thành thị theo thống kê năm 2007 có 74.771 người, theo thống

kê năm 2019 có 91.450 người Xu hướng tăng

- Dân số nông thôn theo thống kê năm 2007 có 31.972 người, theo

thống kê năm 2019 có 30.924 người Xu hướng giảm

Đời sống của người dân Tam Kỳ xưa chủ yếu là nông nghiệp kết hợp với ngư nghiệp và tiểu thủ công nghiêp, sản xuất và trao đổi hàng hóa dưới dạng nhỏ lẻ Nghề đánh bắt cá, chế biến mắm, làm muối có từ lâu đời nhưng

do tổ chức còn lạc hậu nên sản lượng thấp; nông nghiệp chịu nhiều ảnh hưởng của thiên tai nên đời sống của người dân còn khá bấp bênh Nghề thủ công truyền thống cũng có từ khá sớm, như: nghề khai quặng, nấu sắt, rèn công cụ

ở Hồng Lư (Hòa Hương), nghề trồng bông dệt vải ở Bãi Dương, cây Duối (Tam Phú), nghề ươm tơ dệt lụa ở xóm Hàng (Hòa Hương), nghề trồng lát dệt chiếu ở Thạch Tân (Tam Thăng), nghề trồng và làm thuốc lá ở Trường Xuân,… Hiện nay, đa phần các làng nghề đó đã bị mai mọt, chỉ còn lại một ít nghề vẫn còn được lưu giữ nhưng ở quy mô khá nhỏ, như: nghề rèn ở Hồng

Lư (phường Hòa Hương), nghề dệt chiếu cói ở Thạch Tân (xã Tam Thăng)

Ngày nay, Tam Kỳ đã và đang dần chuyển mình, đời sống vật chất và tinh thần của người dân nơi đây được cải thiện đáng kể, Tam Kỳ đã có những bước phát triển mạnh mẽ và rõ nét, cơ cấu kinh tế từng bước được chuyển dịch theo hướng tích cực và bền vững, quy hoạch và phát triển đô thị cũng như vùng ven có nhiều khởi sắc, cả thành phố đang phấn đấu cho một tương lai tốt đẹp hơn

2.1.1.2 Về sự ra đời định danh Tam Kỳ

Trang 39

Tam Kỳ là một vùng đất giàu truyền thống văn hóa và lịch sử Khởi nguồn từ một xã nhỏ ven sông, nay Tam Kỳ đã trở thành một trung tâm tỉnh

lỵ, một thành phố đang trên đà phát triển

Dưới thời Lê Trung Hưng (từ 1602), những đợt di dân ào ạt từ các xứ Thanh - Nghệ - Tĩnh vào đây để khai khẩn “vùng đất hứa” này Chủ yếu họ là những nạn nhân trong cuộc chiến tranh Lê - Mạc ở “Đàng Ngoài”, phải liều lĩnh vượt biển vào xứ Quảng Nam để mưu tìm cuộc sống Trên đường đi, họ gặp sóng to gió lớn nên phải tìm nơi an toàn để lánh nạn Từ biển Đông nhìn vào đất liền, những lưu dân này nhìn thấy ba mô đất cao nhô lên thành hình tam giác - đó là núi An Hà, núi Quảng Phú và dãy núi Trà Cai Thuyền họ tìm được đường vào đến đoạn sông đò Ba Bến (nơi hợp lưu của sông Bàn Thạch với hai nhánh sông Tam Kỳ xưa) Nhận thấy đất đai màu mỡ, sông nước thuận lợi, họ quyết định an cư tại đây Để dễ định vị, họ tự đặt tên cho vùng đất này từ ba thế núi, gọi là Tam Kỳ

Tại một tư liệu trong gia phả tộc Trần ở phường Hòa Hương, có liên quan đến sự ra đời của xã Tam Kỳ xưa Đó là sắc phong của vua Lê Hiển Tông (1740 - 1786) ban thưởng ông Trần Văn Túc ở làng Hương Trà (phường Hòa Hương ngày nay) đã có công đốc thuế ở tuần đò Tam Kỳ Sắc ban ghi rõ:

“Cảnh Hưng nhị thập thất niên, nhị ngoại nhị thập nhất nhựt” Dịch là : “Đời vua Cảnh Hưng thứ 27, ngày 21 tháng 2” (năm Đinh Hợi - 1767) Câu đầu tiên trong nội dung ban thưởng ghi: “Thị Thăng Hoa phủ, nội phủ Kim hộ thuộc tân lập Tam Kỳ xã” Căn cứ niên đại trên sắc phong này cho thấy: Xã mới lập Tam Kỳ thuộc “nội phủ Kim hộ” (nghĩa là: những hộ dân làm vàng được xếp vào khu vực nội phủ của Thăng Hoa) của phủ Thăng Hoa, dưới thời

Lê Hiển Tông Như vậy, tên xã Tam Kỳ có thể chính thức được định danh vào khoảng từ 1760 đến 1767, dưới thời Lê Trung Hưng (Bằng sắc này hiện còn

Trang 40

được lưu giữ ở nhà ông Trần Văn Tuyền - hậu duệ tộc Trần Văn - ở phường Hòa Hương, thành phố Tam Kỳ)

Đối chiếu tư liệu này với sách “Phủ biên tạp lục” của nhà sử học Lê Quý Đôn, phần ghi lại sự thay đổi về địa giới hành chánh ở xứ Quảng Nam (trang 89), cho thấy rất trùng khớp với thời gian định danh Tam Kỳ nêu trên Mặc dù lúc bấy giờ “Đàng Trong” thuộc quyền hùng cứ của các chúa Nguyễn, nhưng từ Chúa Tiên (Nguyễn Hoàng) đến Chúa Sãi (Nguyễn Phúc Nguyên), đều còn thừa mệnh của triều Lê Vì vậy, dù thực tế cuộc cải tổ hành chánh ở “Đàng Trong” chủ yếu do chúa Nguyễn Phúc Nguyên đến chúa Nguyễn Phúc Lan thực hiện, nhưng đều có sự chuẩn y chính thức của triều đình trung ương nhà Lê

Với những căn cứ sử liệu, tư liệu nêu trên, có thể cho phép chúng ta xác định: Tên gọi Tam Kỳ đã xuất hiện từ đầu thế kỷ XVII, dựa vào đặc điểm địa

lý của vùng đất này Nhưng phải trải qua gần một thế kỷ sau - thế kỷ XVIII -

nó mời chính thức được định danh thành đơn vị hành chính cấp xã Và đến đầu thế kỷ XX, dười thời vua Thành Thái (1906), vùng đất này được nâng lên thành cấp phủ: Phủ Tam Kỳ Lỵ sở của Phủ Tam Kỳ đóng ở khu vực Ủy ban nhân dân Phường An Mỹ ngày nay

Không phải ngẫu nhiên khi giải thưởng “Phong cảnh thành phố châu Á năm 2015 do UN Habitat châu Á thực hiện (Chương trình định cư con người của Liên hiệp quốc tại châu Á) lại trao tặng cho Thành phố Tam Kỳ Và càng phải có lý do khi mới đây, cũng chính tổ chức này cùng với Quỹ giao lưu quốc tế Hàn Quốc (Korea Foundation) chọn một vùng ven gần TP.Tam Kỳ cho dự án phát triển các loại hình mỹ thuật cộng đồng Rõ ràng, như ý kiến của các nhà nghiên cứu văn hóa, đô thị trẻ Tam Kỳ có rất nhiều yếu tố về cảnh quan để có thể phát triển thành phố theo hướng nghiêng về sinh thái, văn hóa

Ngày đăng: 24/02/2021, 17:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w