1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ văn hóa giao tiếp của lực lượng công an nhân dân

203 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 203
Dung lượng 2,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn hóa giao tiếp của lực lượng Công an nhân dân giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với các mặt công tác công an, nhất là góp phần củng cố, tăng cường sức mạnh đại đoàn kết trong thực h

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ ĐỨC HÙNG

ĐỀ TÀI VĂN HÓA GIAO TIẾP CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

HÀ NỘI – 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ ĐỨC HÙNG

ĐỀ TÀI VĂN HÓA GIAO TIẾP CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN

Chuyên ngành: QUẢN LÝ CÔNG

Mã số: 9.34.04.03

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS NGUYỄN VĂN HẬU

2 TS NGUYỄN BÙI NAM

HÀ NỘI – 2019

Trang 3

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

Trang 4

MỤC LỤC DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 7

1.1 Về mức độ nghiên cứu 7

1.2 Những vấn đề chung về giao tiếp và giao tiếp công vụ 8

1.2.1 Về khái niệm, chức năng, các hình thức giao tiếp cơ bản 8

Các hình thức giao tiếp cơ bản trong hành chính: 9

1.2.2 Về vai trò của giao tiếp công vụ 9

1.2.3 Đặc điểm, nguyên tắc giao tiếp công vụ 10

1.2.4 Phương pháp, kỹ năng cơ bản trong giao tiếp 11

1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới hành vi giao tiếp 12

1.3 Về văn hóa giao tiếp và tổ chức hoạt động giao tiếp công vụ 12

1.3.1 Về khái niệm, nội dung, cấu trúc của văn hóa công vụ 12

1.3.2 Phương pháp, công cụ đánh giá và xây dựng văn hóa giao tiếp trong cơ quan, tổ chức 13

1.3.3 Về hoạt động giao tiếp trong ngành, lĩnh vực cụ thể 14

1.4 Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài của luận án 17

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VĂN HÓA GIAO TIẾP CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN 19

2.1 Lý luận về văn hóa giao tiếp 19

2.1.1 Lý luận về giao tiếp 19

2.1.2 Khái niệm văn hóa giao tiếp 25

2.2 Lý luận về văn hóa giao tiếp của lực lượng Công an nhân dân 33

2.2.1 Nhiệm vụ và quy trình quản lý của lực lượng công an nhân dân 33

2.2.2 Đặc điểm, vai trò văn hóa giao tiếp của lực lượng Công an nhân dân36 2.2.3 Nội dung văn hóa giao tiếp của lực lượng Công an nhân dân 42

Trang 5

2.2.4 Yếu tố cấu thành và các tiêu chí đánh giá văn hóa giao tiếp của lực lượng công an nhân dân 46 2.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng, điều kiện đảm bảo văn hóa giao tiếp của Công an nhân dân 47

2.3 Kinh nghiệm quốc tế về văn hóa giao tiếp của lực lượng công an 51

2.3.1 Xây dựng hình ảnh cảnh sát mang tính nhân văn, thân thiện 51 2.3.2 Xây dựng hình ảnh cảnh sát nhanh nhẹn, khỏe mạnh, hình thể cân đối 52 2.3.3 Xây dựng đội ngũ cảnh sát chuyên nghiệp, mang tính phục vụ 53

3.2.1 Xây dựng và áp dụng các tiêu chí, tiêu chuẩn về văn hóa giao tiếp 57 3.2.2 Thực trạng xây dựng phong trào chính trị, tư tưởng về thực hiện văn hóa giao tiếp 60 3.2.3 Trang bị cơ sở vật chất, thiết bị, phương tiện giao tiếp 62 3.2.4 Công tác truyền thông, báo cáo về văn hóa giao tiếp 65

3.3 Thực trạng văn hóa giao tiếp hàng ngày trong lực lượng Công an nhân dân 67

3.3.1 Thực trạng thực hiện chuẩn mực trong giao tiếp hàng ngày với từng loại đối tượng 67 3.3.2 Thực hiện tư thế giao tiếp, lễ tiết, tác phong, chào hỏi, xưng hô,

cử chỉ, hành vi 80 3.3.3 Sử dụng trang phục trong giao tiếp của lực lượng Công an nhân dân 85 3.3.4 Văn hóa giao tiếp trong công tác phát ngôn, thông tin, báo cáo 89 3.3.5 Hoạt động giao tiếp, lễ tân hội nghị 91

Trang 6

3.3.6 Phương thức, cách thức giao tiếp của cán bộ công an trong giải quyết thủ tục hành chính 95

3.4 Thực trạng đảm bảo điều kiện, yếu tố tác động đến văn hóa giao tiếp 108

3.4.1 Thực trạng ban hành các quy định về văn hóa giao tiếp của lực lượng Công an nhân dân 108 3.4.2 Công tác huấn luyện, quản lý cán bộ về hành vi, văn hóa giao tiếp 116 3.4.3 Công tác kiểm tra, đánh giá và xử lý kỷ luật về thực hiện văn hóa giao tiếp 117

3.5 Đánh giá chung 121

3.5.1 Tổng hợp kết quả khảo sát chung, theo vùng miền, loại hình lực lượng và yếu tố cấu thành của văn hóa giao tiếp 121 3.5.2 Phân tích nguyên nhân, điều kiện đảm bảo thực hiện văn hóa giao tiếp của lực lượng công an 125

4.2.1 Hoàn thiện các quy định về văn hóa giao tiếp 129 4.2.2 Hoàn thiện tổ chức bộ máy, trách nhiệm thực hiện quy định, quy chế giao tiếp trong đơn vị 132 4.2.3 Nghiên cứu triển khai thực hiện Đề án xây dựng và thực hiện văn hóa công vụ trong lực lượng công an nhân dân 134

4.3 Tăng cường công tác tổ chức huấn luyện nhân sự về văn hóa giao tiếp 135

4.3.1 Giáo dục, huấn luyện, xây dựng phong trào, điển hình gương mẫu

về văn hóa giao tiếp 135

4.4 Giải pháp đẩy mạnh công tác thông tin, kiểm tra đánh giá, xử lý kỷ luật về văn hóa giao tiếp 145

Trang 7

4.4.1 Đẩy mạnh công tác nắm, giải quyết, báo cáo thông tin về tình hình tư tưởng, đạo đức, lối sống, tác phong chiến sĩ 145 4.4.2 Tăng cường công tác phát ngôn, tuyên truyền, thông tin báo cáo 149 4.4.3 Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá và xử lý kỷ luật về thực hiện văn hóa giao tiếp 152

Tiểu kết chương 4 159

KẾT LUẬN 160 DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÙNG MỘT TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC PHỤ LỤC

PHỤ LỤC SỐ 01

PHỤ LỤC SỐ 02

PHỤ LỤC SỐ 03

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN

Bảng 3.1 Thực trạng đặc điểm văn hóa biểu hiện trong tổ chức thực hiện văn hóa giao tiếp 56 Bảng 3.2 Thực trạng văn hóa giao tiếp trong thực hiện lễ tiết, tác phong, cử chỉ, hành vi 81 Bảng 3.3 Thực trạng sử dụng trang phục trong giao tiếp 86 Bảng 3.4 Thực trạng đặc điểm văn hóa biểu hiện trong công tác truyền thông, phát ngôn, báo cáo văn hóa giao tiếp 90 Bảng 3.5 Thực trạng văn hóa giao tiếp trong tổ chức thực hiện tiếp khách 95 Bảng 3.6 Thực trạng văn hóa giao tiếp trong tổ chức thực hiện tiếp dân 100 Bảng 3.7 Thực trạng đặc điểm văn hóa biểu hiện trong các văn bản quy định về văn hóa giao tiếp 110 Bảng 3.8 Khảo sát nội dung đánh giá , kiểm tra xử lý kỷ luật về văn hóa giao tiếp 120 Bảng 3.9 Kết quả khảo sát đánh giá của người dân về VHGT của CAND 121 Bảng 3.10 Tổng hợp kết quả khảo sát trong xây dựng và thực hiện VHGT của công an nhân dân 123 Bảng 3.11 Phân tích kết quả khảo sát theo cấp, khu vực, loại hình lực lượng 124 Bảng 3.12 Phân tích kết quả theo yếu tố cấu thành của VHGT lực lượng CA 124 Bảng 3.13 Tổng hợp điều kiện đảm bảo VHGT 125 Bảng 4.1 Mẫu tiêu chí đánh giá văn hóa giao tiếp trong thực hiện lễ tiết, tác phong, cử chỉ, hành vi 154 Bảng 4.2 Mẫu tiêu chí đánh giá sử dụng trang phục trong giao tiếp 155 Bảng 4.3 Mẫu tiêu chí đánh giá công tác truyền thông, phát ngôn, báo cáoVHGT 156 Bảng 4.4 Mẫu tiêu chí đánh giá VHGT trong tổ chức tiếp khách 157

Biểu đồ 3.1 Tổng hợp mức độ tích cực trong xây dựng và thực hiện VHGT của công an nhân dân 123

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giao tiếp, văn hóa và văn hóa giao tiếp là những vấn đề không mới trong khoa học quản lí nguồn nhân lực nói chung cũng như trong thực tiễn quản lý cán bộ, công chức ở nhiều quốc gia trên thế giới Ở Việt Nam, hoạt động giao tiếp của lực lượng công an nhân dân là một trong những vấn đề trọng tâm trong đổi mới cải cách nền hành chính hướng tới các giá trị dân chủ, nền hành chính mang tính chất phục vụ nhân dân

Truyền thống vì dân phục vụ của lực lượng công an đã có từ khi thành lập lực lượng và được gìn giữ, phát huy qua các thời kỳ lịch sử phát triển của lực lượng Lực lượng công an của chúng ta bản chất là lực lượng vũ trang đơn thuần mà còn có tính chất tuyên truyền, có sự gắn bó mật thiết với nhân dân, được sự ủng hộ của nhân dân

Do vậy, tính chất và phương thức trong hoạt động giao tiếp của lực lượng công an nhân dân Việt nam là đặc biệt quan trọng, là một trong những phương thức chiến lược để lực lượng công an làm tròn sứ mệnh của mình trước nhân dân Ngoài ra, bản thân trong hoạt động nội bộ của lực lượng công an, hoạt động giao tiếp cũng đóng vai trò quan trọng giúp cho việc phối hơp, thống nhất trong thực thi nhiệm vụ, góp phần xây dựng văn hóa công vụ

Thời gian vừa qua, những đổi mới của nền kinh tế đất nước dẫn đến những thay đổi lớn trong xã hội, nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự xã hội của lực lượng công

an thêm nặng nề, phức tạp và có nhiều tính chất mới Nội dung, phương thức các hoạt động giao tiếp cũng có nhiều thay đổi Thực tế cho thấy, nhiều vụ việc xảy ra trong quá trình đảm bảo an ninh trật tự xã hội do lực lượng công an thiếu phương pháp giao tiếp phù hợp, vì thế, vụ việc không được xử lý thấu đáo, không đạt hiệu quả giải quyết thậm chí có thể làm phức tạp thêm tình hình Đặc biệt trong thời gian này, nhà nước đang đẩy mạnh nghiên cứu, tìm kiếm giải pháp xây dựng nền văn hóa công cụ hiện đại, phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn và yêu cầu phát triển bền vững Trước những đòi hỏi mới của hoàn cảnh, trước những thay đổi về kinh tế

xã hội, của sự phát triển công nghệ, của yếu tố văn hóa hội nhập, bên cạnh những giá trị truyền thống, việc tìm hiểu, xây dựng và phát triển một cách có hệ thống các giá trị và kỹ năng văn hóa giao tiếp của lực lượng công an là đòi hỏi mang tính cấp bách Trong điều kiện hội nhập hiện nay, để bảo đảm sức mạnh nội tại đặc thù của lực lượng công an Việt Nam là “lực lượng công an nhân dân”, phát huy sức mạnh nhân dân, thì hoạt động giao tiếp phải là nhiệm vụ chiến lược hàng đầu, sức mạnh chính trị phải được đặt lên trên sức mạnh vũ trang Phát triển văn hóa giao tiếp vì thế là “kế sâu rễ bền gốc” trong chiến lược phát triển lực lượng Văn hóa giao tiếp là phương thức, cách thức để củng cố niềm tin của nhân dân

Trong giai đoạn hội nhập và phát triển hiện nay, nhu cầu của xã hội ngày càng cao thì các yêu cầu về văn hoá giao tiếp trong hoạt động công vụ ngày càng được chú trọng

Có văn hoá giao tiếp, đội ngũ cán bộ, công chức sẽ thể hiện hình ảnh tốt đẹp của nền hành chính Việt Nam, của người công bộc trước nhân dân Việt Nam và với bạn bè thế

Trang 10

giới Việc nâng cao nhận thức và giáo dục văn hóa giao tiếp, lối sống thượng tôn pháp luật cho đội ngũ cán bộ công chức cần được đặc biệt chú trọng, bởi nó góp phần xây dựng được một Chính phủ, một Nhà nước kiến tạo Muốn có một xã hội văn minh thì trước tiên chúng ta cần có đội ngũ cán bộ công chức văn minh, ứng xử đúng theo những chuẩn mực đề ra Chính vì vậy, ngoài các quy định về mặt pháp lý, bản thân việc nâng cao văn hoá giao tiếp cũng là đòi hỏi bức thiết thực tế của toàn xã hội

Lực lượng Công an nhân dân với nhiệm vụ bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ nhân dân, cần phải chủ động, nắm chắc tình hình; phát hiện kịp thời và đấu tranh ngăn chặn, đập tan mọi âm mưu chống phá Việt Nam của các thế lực thù địch, góp phần bảo vệ công cuộc đổi mới, bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân Văn hóa giao tiếp của lực lượng Công an nhân dân giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với các mặt công tác công an, nhất là góp phần củng cố, tăng cường sức mạnh đại đoàn kết trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội và xây dựng lực lượng Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại Vì thế, việc nghiên cứu mang tính lý luận những vấn đề liên quan tới văn hóa giao tiếp của công an nhân dân là điều cần thiết nhằm hệ thống hóa, đưa ra những luận điểm phù hợp về văn hóa giao tiếp của công an nhân dân trong tình hình mới

Việc tìm hiểu hoạt động giao tiếp của lực lượng công an một cách hệ thống, xác định các yếu tố ảnh hưởng, trong điều kiện hoàn cảnh mới, tạo dựng thành văn hóa giao tiếp đặc thù là một hướng đi cần thiết nhằm đảm bảo hiệu quả chất lượng thực sự cho công tác này

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Văn hóa giao tiếp của

lực lượng Công an nhân dân” làm luận án nghiên cứu

2 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

2.1 Câu hỏi nghiên cứu

Luận án sẽ phải trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu cơ bản sau đây:

- Thế nào là văn hóa giao tiếp của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam?

- Thực trạng văn hóa giao tiếp của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam hiện nay như thế nào?

- Cần áp dụng những giải pháp gì để hoàn thiện văn hóa giao tiếp của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam?

2.2 Giả thuyết nghiên cứu

Văn hóa trong giao tiếp của Công an nhân dân là cách đối nhân xử thế có lý,

có tình của cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân trong việc giải quyết các mối quan hệ với nhân dân, đối với đồng chí, đồng đội khi thực hiện nhiệm vụ được giao Văn hóa giao tiếp của chiến sĩ Công an nhân dân góp phần xây dựng lực lượng Công an nhân dân như là công cụ chuyên chính sắc bén bảo vệ Đảng, chế độ, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ nhân dân Trên thực tế, văn hóa giao tiếp của lực lượng Công an nhân dân hiện nay còn tồn tại nhiều hạn chế, chưa thực sự làm “tròn vai, tròn hình ảnh” người chiến sĩ công an trong lòng dân chúng; vì thế các giải pháp về: chính trị

tư tưởng, tổ chức bộ máy và hoạt động, đào tạo bồi dưỡng nâng cao năng lực cán

bộ, chiến sĩ, v.v sẽ góp phần nâng cao văn hóa giao tiếp của lực lượng này

Trang 11

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận án đưa ra giải pháp nhằm nâng cao văn hóa giao tiếp của lực lượng Công

an nhân dân thông qua việc xây dựng những luận cứ khoa học và thực tiễn về văn hóa giao tiếp của lực lượng này

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận án cần thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

- Phân tích, làm rõ, hệ thống cơ sở lý luận về văn hóa, văn hóa giao tiếp, văn hóa giao tiếp của lực lượng Công an nhân dân để làm cơ sở lý luận cho nghiên cứu

- Phân tích và đánh giá các quy định pháp lý, thực trạng về văn hóa giao tiếp của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam nhằm chỉ ra những hạn chế, các vấn đề cần nghiên cứu giải quyết

- Trên cơ sở tìm hiểu những vấn đề lý luận và thực tiễn về văn hóa giao tiếp của lực lượng công an nhân dân, luận án đưa ra các quan điểm khoa học, đề xuất lý thuyết, đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao văn hóa giao tiếp của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là văn hóa giao tiếp của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: trong phạm vi luận án này nghiên cứu về văn hóa giao tiếp trong các

hoạt động thực thi công vụ của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam

Về thời gian: đề tài thu thập tài liệu phục vụ cho việc đánh giá thực trạng văn hóa

giao tiếp của lực lượng Công an nhân dân thông qua việc thực hiện các khảo sát và phân tích các số liệu từ năm 2016 đến nay Đây là giai đoạn mà ngành công an đẩy mạnh chấn chỉnh lực lượng về mọi mặt, trong đó tập trung vào hoàn thiện văn hóa giao tiếp, ứng xử cho cán bộ, chiến sĩ toàn ngành

Về không gian: nghiên cứu về văn hóa giao tiếp trong Công an nhân dân Việt

Nam các cấp từ trung ương tới địa phương, bao gồm các loại hình lực lượng (Cảnh sát Phòng cháy và chữa cháy, cảnh sát cơ động, cảnh sát bảo vệ, công an địa phương, v.v.), ở các địa bàn trên toàn quốc

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng

và duy vật lịch sử

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phân tích tài liệu, số liệu thứ cấp

Đây là phương pháp nghiên cứu khoa học phổ biến, đặc biệt là trong nghiên cứu khoa học xã hội Việc nghiên cứu luận án dựa trên kết quả phân tích các tài liệu thứ cấp là các nghiên cứu có liên quan tới văn hóa, văn hóa giao tiếp, văn hóa giao tiếp của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam Việc sử dụng phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp là nhằm phát hiện những điểm mới, những điểm có thể kế thừa,

Trang 12

bổ sung hay bàn luận thêm từ các nghiên cứu có liên quan của những người đã nghiên cứu Bên cạnh đó, phương pháp này cũng giúp tìm kiếm thông tin làm cơ sở cho việc phân tích, tổng hợp nhằm hình thành các luận điểm, luận cứ, luận chứng phục vụ cho việc nghiên cứu của đề tài

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Mục đích của phương pháp này là tìm kiếm, thu thập thông tin giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là đánh giá về văn hóa giao tiếp của lực lượng Công

an nhân dân

Dựa trên khung lý thuyết về văn hóa giao tiếp của lực lượng Công an nhân dân, dựa trên nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, tác giả đã xây dựng phiếu điều tra và tiến hành khảo sát thử với 24 chiến sĩ công an huyện Đan Phượng Qua khảo sát thử

và phỏng vấn những đối tượng này, tác giả đã có một số điều chỉnh bảng hỏi cho phù hợp và tiến hành khảo sát chính thức

Để có thể thu thập được những thông tin đa chiều, khách quan nhất về thực trạng văn hóa giao tiếp của lực lượng Công an nhân dân, tác giả đã thiết kế phiếu hỏi cho ba nhóm đối tượng Nhóm thứ nhất là cấp lãnh đạo, quản lý trong lực lượng Công an nhân dân; nhóm thứ hai là các chiến sĩ trong lực lượng Công an nhân dân

và nhóm thứ ba là công dân Phiếu khảo sát được phát trực tiếp và gửi phiếu điện tử qua chương trình Google Drive từ tháng 01/2017 đến tháng 12/2017 Phiếu được gửi tới 400 cán bộ, chiến sĩ trên các địa bàn Hà Nội, Thái Bình, Nghệ An, Kiên Giang, thành phố Hồ Chí Minh 200 phiếu cũng được gửi tới công dân trên địa bàn các tỉnh nói trên tại nơi họ sinh sống và khi họ tới làm các thủ tục về hộ khẩu, xuất nhập cảnh, đăng kí xe ô tô, gắn máy,

Nhóm 1 và 2, số phiếu phát ra là 400 phiếu, số phiếu thu về là 350 phiếu Nhóm 3, số phiếu phát ra là 200 phiếu, số phiếu thu về là 167 phiếu

Phiếu thu về được xử lý, tổng hợp theo tiêu chí, từng nhóm đối tượng đặc thù và được sử dụng làm căn cứ để phân tích, đánh giá thực trạng văn hóa giao tiếp của lực lượng Công an nhân dân Một số phiếu có thông tin cần phân tích sâu hoặc cần trao đổi

để kiểm chứng thông tin, tác giả đã trực tiếp liên hệ với chiến sĩ thực hiện các phiếu đó

Phương pháp phỏng vấn sâu

Phương pháp phỏng vấn sâu được sử dụng nhằm thu thập những thông tin làm sáng

tỏ những nhận định, đánh giá về văn hóa giao tiếp của lực lượng Công an nhân dân Theo phương pháp này, tác giả đã tiến hành phỏng vấn hai nhóm chuyên gia Nhóm thứ nhất là 04 giảng viên Học viện Hành chính Quốc gia về những vướng mắc trong lý luận, thực tiễn về văn hóa giao tiếp Nhóm thứ hai là 03 giảng viên trường công an và 03 cán bộ lãnh đạo công an địa phương (trên địa bàn Hà Nội) để hiểu rõ hơn thực tiễn về văn hóa giao tiếp của lực lượng Công an nhân dân Nội dung trao đổi phỏng vấn được thiết kế nhằm tìm kiếm các thông tin đánh giá thực trạng văn hóa giao tiếp của Công an nhân dân, các yếu tố ảnh hưởng tới văn hóa giao tiếp của lực lượng này Các nội dung phỏng vấn sâu đã được trình bày cụ thể, kết hợp thông tin định lượng và định tính trong từng mục thuộc nội dung tổ chức xây dựng VHGT của lực lượng

Trang 13

Bên cạnh đó, tác giả cũng sử dụng các bài phỏng vấn các chuyên gia là lãnh đạo ngành công an của các tác giả khác được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng Đây là cách thức giúp tác giả thu thập thêm nhiều thông tin, tiếp cận thêm nhiều ý kiến của các chuyên gia mà do hạn chế về nhiều mặt nên tác giả không thể tiếp cận Do vậy, luận án có thêm nhiều luận cứ, luận chứng thuyết phục hơn Trong quá trình nghiên cứu đề tài luận án, tác giả cũng đã tích cực tham gia các cuộc hội thảo khoa học có liên quan đến chủ đề luận án do Học viện Hành chính Quốc gia, Công an thành phố Hà Nội, Bộ Công an tổ chức để tiếp thu các ý kiến trao đổi, thảo luận của các nhà khoa học, các chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu Những thông tin thu thập được đã được tác giả phân tích, đánh giá, tổng hợp nhằm đưa ra những đề xuất về văn hóa giao tiếp của lực lượng Công an nhân dân

6 Những đóng góp mới của luận án

an nhân dân:

- Luận án đã xác định vai trò của văn hóa giao tiếp là nhiệm vụ chiến lược hàng đầu của lực lượng nhằm đảm bảo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó

- Với hướng nghiên cứu này, Luận án đã xây dựng bộ tiêu chí đánh giá, xây dựng hệ thống phương pháp tổ chức hoạt động giao tiếp, làm nền tảng xây dựng văn hóa giao tiếp, giúp cho hoạt động giao tiếp hướng tới các giá trị một cách bền vững

- Luận án xây dựng các nội dung lý luận làm rõ các điều kiện đảm bảo cho văn hóa giao tiếp được hiệu quả

Luận án đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao văn hóa giao tiếp của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam

6.2 Về thực tiễn

Luận án đã đưa ra những đóng góp về phân tích văn hóa giao tiếp của Công an nhân dân, đặc điểm văn hóa giao tiếp của lực lượng này nhằm chỉ ra được những khác biệt về văn hóa giao tiếp của lực lượng này với các đối tượng cán bộ, công chức khác

Luận án đưa ra những đánh giá về thực trạng văn hóa giao tiếp của lực lượng Công an nhân dân hiện nay nhằm cung cấp cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này Dựa trên những luận giải khoa học về lý luận và thực tiễn, luận án đưa ra những đề xuất nhằm nâng cao văn hóa giao tiếp của lực lượng Công an nhân dân trong thời gian tới

Điểm mới về mặt thực tiễn của Luận án tập trung vào 3 khía cạnh

Trang 14

Khía cạnh thứ nhất, Luận án dựa trên hệ thống tiêu chí đánh giá được xây dựng để đưa ra kết quả khảo sát đánh giá văn hóa giao tiếp của lực lượng công an nhân dân trên bình diện tổng thể và phân tích kết quả theo từng khía cạnh thể hiện bản sắc văn hóa, đặc thù đối tượng như: loại hình lực lượng, từng nội dung hoạt động, vùng miền, địa phương, cũng như đánh giá kết quả dựa theo các giá trị, các yếu tố cấu thành văn hóa như yếu tố chân, thiện, mỹ

Khía cạnh thứ hai, Luận án làm rõ các điều kiện đảm bảo và mức độ đảm bảo hiệu quả đối với văn hóa giao tiếp của lực lượng công an, từ đó đề xuất giải pháp phù hợp với yêu cầu thực tiễn

Khía cạnh thứ ba là về các giải pháp áp dụng vào thực tiễn, Luận án đã tập trung hoàn thiện hệ thống tiêu chí đánh giá văn hóa giao tiếp một cách chi tiết và cụ thể theo từng loại hoạt động của lực lượng Luận án đưa ra đề xuất cụ thể về điều chỉnh các văn bản quy định, quy chế hoạt động của lực lượng, đua ra các quy định

và chế tài cụ thể đối với việc tổ chức và thực hiện giao tiếp Luận án cũng đề xuất những phương pháp áp dụng hệ thống tiêu chí đánh giá lồng ghép trong các hoạt động đặc thù của lực lượng như: xây dựng phong trào, điển hình tiên tiến, kiểm tra đánh giá

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu chuyên khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy về giao tiếp, ứng xử, thực hiện điều lệ trong Công an nhân dân

Với kết quả nghiên cứu của luận án, có thể có những nghiên cứu tiếp theo về văn hóa giao tiếp nói chung và văn hóa giao tiếp trong Công an nhân dân nói riêng

8 Cấu trúc của luận án

Luận án gồm các phần và chương như sau:

Phần Mở đầu

Phần Nội dung:

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 2: Cơ sở lý luận về văn hóa giao tiếp của lực lượng Công an nhân dân Chương 3: Thực trạng văn hóa giao tiếp của lực lượng Công an nhân dân Chương 4: Quan điểm chỉ đạo và giải pháp nâng cao văn hóa giao tiếp của lực lượng Công an nhân dân

Kết luận

Danh mục các công trình công bố kết quả nghiên cứu của đề tài luận án

Danh mục tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Nghiên cứu về văn hóa giao tiếp trong lực lượng công an có các tài liệu đề cập đến một số nội dung liên quan như: Khái niệm, nội dung, đặc điểm, yêu cầu, phương pháp thực hiện hoạt động giao tiếp; cấu trúc văn hóa giao tiếp và phương pháp xây dựng văn hóa giao tiếp công vụ

1.1 Về mức độ nghiên cứu

Các nội dung tổng hợp về giao tiếp, giao tiếp công vụ có: Đề tài “Văn hóa

công vụ ở Việt Nam hiện nay” - Đề tài nghiên cứu khoa học thuộc chương trình

trọng điểm cấp nhà nước, chủ nhiệm đề tài: TS Huỳnh Văn Thới, Hà Nội 2015

[86]; sách chuyên khảo của GS.TS Mai Hữu Khuê (Chủ biên) (1997), Kỹ năng giao

tiếp trong hành chính, Nxb Lao động, Hà Nội [44]; Học viện Hành Chính Quốc gia

(2011), “Giao tiếp và Quan hệ công chúng”, tập bài giảng hệ cử nhân hành chính Học viện Hành chính quốc gia [96]; Đào Thị Ái Thi (2008), “Kỹ năng giao tiếp của

đội ngũ công chức hành chính trong tiến trình cải cách hành chính nhà nước”, Luận

án tiến sĩ quản lý hành chính công, Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội [104]

Về kỹ năng, phương pháp giao tiếp có các công trình nghiên cứu của Raymond

de Saint Lauren (2004), Nghệ thuật nói trước công chúng, (bản dịch tiếng Việt), Nxb Văn hóa- Thể thao, Hà Nội [54]; Phong Thiên (2007), Nghệ thuật giao tiếp

trong cuộc sống hàng ngày, NXB Thanh Hóa, Thanh Hóa [68]; E.N Zareska (

2002), Lý thuyết và thực tiễn kỹ năng nói Nxb DELO [80]; Hoàng Văn Tuấn (2014), Các quy tắc hay trong giao tiếp, Nxb Hồng Đức, Hà Nội [72]

Về các tình huống giao tiếp ứng xử, các hoạt động giao tiếp trong ngành, lĩnh vực đặc thù có các tài liệu, công trình nghiên cứu của các tác giả: Trịnh Thanh Hà

(2009), “Xây dựng văn hóa ứng xử công vụ công chức cơ quan HCNN ở Việt Nam

hiện nay”, Luận án tiến sĩ quản lý hành chính công, Học viện Hành chính Quốc gia,

Hà Nội [93]; Chu Tôn - Hoàng Quý (2000), Cách cư xử giữa thủ trưởng với nhân

viên, Nxb Thanh Niên, Hà Nội [71]; A.N Lêônchiev: Hoạt động - giao tiếp - nhân cách NXB Giáo dục Hà Nội, 1989 [55]; Trần Thị Tuyết Oanh (chủ biên), Phạm

Khắc Chương, Phạm Viết Vượng, Nguyễn Văn Diện, Lê Tràng Định: Giáo dục học

tập 2- NXB ĐHSP 2005; Học viện Hành Chính Quốc gia (2010), “Kỹ năng giao tiếp

và chất vấn của đại biểu hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân”, tài liệu bồi dưỡng

đại biểu Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân, Hà Nội [97]; TS Nguyễn Thị Hà

(2015), “Kỹ năng giao tiếp, ứng xử nhằm góp phần nâng cao hiệu quả giao tiếp nội

bộ của cơ quan”, Nội san tháng 4,5,6 /2015, Khoa văn bản và CNHC Học viện

Hành chính Quốc gia, Hà Nội [45]

Về kỹ năng giao tiếp, văn hóa ứng xử trong lực lượng công an có các công

trình nghiên cứu: Đề tài khoa học trọng điểm cấp bộ “Văn hóa ứng xử của Công an

nhân dân (CAND)”, Bộ Công an, GS.TS.Trần Đại Quang (chủ nhiệm đề tài), Hà

Nội [64, 85]; Tài liệu “Kỹ năng giao tiếp và tạo ảnh hưởng” và tài liệu ‘Kỹ năng

Trang 16

thuyết trình hiệu quả” của lực lượng công an nhân dân (giáo trình bồi dưỡng Kỹ

năng hành chính dành cho cán bộ cấp vụ của Trường đại học An ninh nhân dân)

2014 [91, 92]

Về mức độ nghiên cứu: Nội dung đề tài trọng điểm cấp nhà nước chỉ đề cập đến vấn đề văn hóa công vụ hóa nói chung hoặc về một phần trong văn hóa giao tiếp là quy tắc ứng xử của lực lượng công an Các tài liệu nghiên cứu khác về văn hóa giao tiếp của lực lượng công an mới chỉ ở mức độ tài liệu bồi dưỡng, bài viết khoa học

Về cơ sở pháp lý trong hoạt động giao tiếp công vụ:

Quyết định 03/2007/QĐ-BNV ngày 26/2/2007 của Bộ Nội vụ ban hành Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, và viên chức làm việc trong bộ máy chính quyền địa phương; và Quy chế Văn hóa công sở, được ban hành kèm theo Quyết định 129/2007/QĐ-TTg ngày 02/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ Hai văn bản này đều thiết lập những quy định cụ thể và rõ ràng về giao tiếp trong thực thi công vụ; do vậy, là nền tảng quan trọng cho việc xây dựng lề lối, tác phong làm việc chuyên nghiệp, hiệu quả và tạo dựng một hình ảnh tích cực về nền công vụ trong lòng công chúng và doanh nghiệp

Ngoài hai văn bản trên, chủ yếu các chính sách được ban hành tập trung chủ yếu vào hình thức giao tiếp bằng văn bản, nhất là văn bản quy phạm pháp luật, một số quy định về giao tiếp thông qua hình thức hội họp (như Quyết định 114/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 25/5/2006 ban hành quy định về chế độ hội họp trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước; Quyết định 45/2018/QĐ-TTg ngày 09/11/2018 quy định chế độ họp trong hoạt động quản lý, điều hành của cơ quan thuộc hệ thống hành chính nhà nước), một số quy định về vấn đề phối hợp (như Nghị định số 144/2005/NĐ-CP quy định về công tác phối hợp giữa các cơ quan hành chính nhà nước trong xây dựng và thực hiện chính sách, chiến lược quy hoạch, kế hoạch) Nhìn chung, còn thiếu những chính sách, quy định cụ thể về hệ thống các nguyên tắc cũng như chỉ dẫn cụ thể, hay quy tắc về chuẩn mực hành vi tương ứng về các hình thức giao tiếp để trên cơ sở đó các cơ quan, tổ chức có thể cụ thể hóa hơn nữa cho phù hợp với đặc thù ngành, nghề… của tổ chức

1.2 Những vấn đề chung về giao tiếp và giao tiếp công vụ

Các nội dung tổng hợp về giao tiếp, giao tiếp công vụ có: Đề tài “Văn hóa

công vụ ở Việt Nam hiện nay”, Đề tài nghiên cứu khoa học thuộc chương trình trọng

điểm cấp nhà nước, chủ nhiệm đề tài: TS Huỳnh Văn Thới, Hà Nội 2015; sách

chuyên khảo của GS.TS Mai Hữu Khuê (Chủ biên) (1997), Kỹ năng giao tiếp trong

hành chính, Nxb Lao động, Hà Nội; Học viện Hành Chính Quốc gia (2011), “Giao tiếp và Quan hệ công chúng”, tập bài giảng hệ cử nhân hành chính Học viện Hành

chính quốc gia (2011) Các đề tài kể trên tập trung chủ yếu giới thiệu lý luận chung

về khái niệm, đặc điểm giao tiếp và giao tiếp công vụ

1.2.1 Về khái niệm, chức năng, các hình thức giao tiếp cơ bản

Theo GS.TS Mai Hữu Khuê Chủ biên sách chuyên khảo (1997), Kỹ năng giao

tiếp trong hành chính, Nxb Lao động, Hà Nội và theo tài liệu Học viện Hành Chính

Trang 17

Quốc gia (2011), “Giao tiếp và Quan hệ công chúng”, giáo trình hệ cử nhân hành

chính, giao tiếp là một quá trình trong đó các bên tham gia tạo ra hoặc chia sẻ thông tin, cảm xúc với nhau nhằm đạt được mục đích giao tiếp Giao tiếp là một quá trình, giao tiếp liên quan đến việc chia sẻ thông tin hoặc cảm xúc giữa các bên tham gia Giao tiếp không thể mang tính một chiều Như vậy, giao tiếp có thể được hiểu là các biểu hiện mang tính hướng ngoại và bề mặt khi con người thể hiện các tiếp xúc tương tác với các cá nhân khác trong cộng đồng Cái gốc của các biểu hiện bề mặt

đó là cách tiếp cận của cá nhân ứng với từng vấn đề như vụ việc, con người, công việc hay cuộc sống nói chung

Nói đến giao tiếp ứng xử là nhấn mạnh tính tình thế của các hành vi giao tiếp trong đó các bên tham gia giao tiếp cần tính tới các đặc thù của bối cảnh như thời điểm, không gian hay các yếu tố liên quan đến bên cùng tham gia giao tiếp để có nhận thức và hành vi phù hợp

Các hình thức giao tiếp cơ bản trong hành chính:

Theo nội dung sách chuyên khảo của GS.TS Mai Hữu Khuê (Chủ biên)

(1997), Kỹ năng giao tiếp trong hành chính, Nxb Lao động, Hà Nội và Tập bài giảng hệ cử nhân hành chính Học viện Hành Chính Quốc gia (2011), “Giao tiếp

và Quan hệ công chúng”, (2011): về cơ bản có các hình thức giao tiếp sau:

- Giao tiếp thông qua tiếp xúc trực tiếp (nghe, nói)

- Giao tiếp phi ngôn từ (nét mặt, trang phục, khoảng cách, v.v.)

Chức năng cơ bản của giao tiếp: các tài liệu đã làm rõ chức năng cơ bản của giao tiếp như: chức năng thông tin liên lạc, chức năng điều chỉnh hành vi Chức năng kích động liên lạc, là môi trường thực hiện lễ nghi Các chức năng này đều đảm bảo là công cụ cơ bản, tạo điều kiện thực hiện hiệu quả các hoạt động quản lý

1.2.2 Về vai trò của giao tiếp công vụ

Trong Đề tài “Văn hóa công vụ ở Việt Nam hiện nay”, Đề tài nghiên cứu khoa

học thuộc chương trình trọng điểm cấp nhà nước, chủ nhiệm đề tài: TS Huỳnh Văn

Thới, Hà Nội 2015 và Tài liệu “Giao tiếp và Quan hệ công chúng”, tập bài giảng hệ

cử nhân hành chính Học viện Hành chính quốc gia (2011), khái niệm Giao tiếp công

vụ được giới thiệu là loại giao tiếp đặc biệt vì nó liên quan đến uy tín cũng như quyền lực của nhà nước Do vậy, bản thân mỗi người thực thi công vụ cần phải nhận thức được tầm quan trọng của giao tiếp trong quá trình thực thi công vụ và qua đó trang bị

kỹ năng giao tiếp để thực hịên hoạt động công vụ Giao tiếp trong thực thi và để thực thi công vụ (viết tắt là giao tiếp công vụ) là toàn bộ các hình thức giao tiếp được thực hiện trong bối cảnh thực thi công vụ, do các bên tham gia công vụ thực hiện và để thực thi công vụ

Các tài liệu giới thiệu vai trò của giao tiếp nói chung và vai trò của giao tiếp công vụ:

- Giao tiếp giúp thể hiện mình và biết người

- Giao tiếp quyết định các ‘vấn đề’ của cuộc sống nảy sinh và được giải quyết

- Giao tiếp giúp hoàn thiện nhân cách

Trang 18

- Giao tiếp giúp tạo nên cộng đồng

- Giao tiếp giúp tạo nên văn hóa

Có thể nói một cách khái quát về vai trò của giao tiếp trong cuộc sống là giúp con người: Biết; Hiểu; Hành động; Cộng tác

TS Huỳnh Văn Thới trong đề tài “Văn hóa công vụ ở Việt Nam hiện nay”

[85], Đề tài nghiên cứu khoa học thuộc chương trình trọng điểm cấp nhà nước, giới thiệu về khái niệm, vai trò của văn hóa công vụ: Ở nhiều quốc gia, văn hoá công vụ được xem như một giải pháp quan trọng để tạo sự thay đổi hành vi của các cơ quan công quyền, hành vi của công chức trong mối quan hệ hành chính giữa nhà nước và công dân, tổ chức Bên cạnh đó, một số nghiên cứu đi sâu luận giải về những hạn chế của nền hành chính, những thất bại trong cải cách khu vực công xuất phát từ khía cạnh văn hoá Thực tế cho thấy, rất nhiều yếu kém, hạn chế theo kiểu "không giống ai" trong nền hành chính của chúng ta hiện nay đều có căn nguyên từ văn hóa

và chỉ có thể giải quyết bằng những phương cách văn hóa

Các tác giả Nguyễn Minh Đoan (chủ biên), Bùi Thị Đào, Nguyễn Văn Năm

trong cuốn sách “Pháp luật, lối sống và văn hoá công sở”, NXB Tư pháp, Hà Nội,

năm 2011, cho rằng cần thể chế hoá các quy định về văn hoá công sở, cụ thể các chuẩn mực văn hoá công vụ thành những nghĩa vụ, bổn phận, trách nhiệm của cán

bộ, công chức

Vai trò của giao tiếp đối với các nhà quản lý

Tài liệu “Giao tiếp và Quan hệ công chúng”, tập bài giảng hệ cử nhân hành

chính Học viện Hành chính quốc gia (2011) [97] nhấn mạnh vai trò của giao tiếp trong quản lý: Trong công tác lãnh đạo quản lý, hoạt động giao tiếp thường xuyên diễn ra giữa nhà lãnh đạo quản lý và đối tượng lãnh đạo quản lý, giữa cấp trên và cấp dưới, giữa các nhóm làm việc với nhau, giữa cá nhân với cá nhân Để hoàn thành các nhiệm vụ mục tiêu của quản lý phải có sự phối hợp cùng nhau, thông cảm với nhau, tác động qua lại ảnh hưởng lẫn nhau

1.2.3 Đặc điểm, nguyên tắc giao tiếp công vụ

Theo nội dung sách chuyên khảo của GS.TS Mai Hữu Khuê (Chủ biên)

(1997), Kỹ năng giao tiếp trong hành chính, Nxb Lao động, Hà Nội và Tập bài giảng hệ cử nhân hành chính Học viện Hành Chính Quốc gia (2011), “Giao tiếp và

Quan hệ công chúng”, (2011), đặc điểm đặc thù của giao tiếp công vụ, xác định rõ

nguồn gốc và quá trình giao tiếp công vụ chịu ảnh hưởng sâu sắc của các đặc điểm công vụ hành chính nhà nước Trong đó cần đặc biệt coi trọng đến tính đa dạng, phức tạp về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, phân chia quyền lực công của các

tổ chức công vụ hành chính nhà nước cũng như sự năng động đa dạng của các bên tham gia trong quá trình giao tiếp Quá trình giao tiếp công vụ có một số đặc điểm như: có tính định hướng, công khai, liên tục, thứ bậc, tính chuẩn mực,

Nguyên tắc giao tiếp công vụ:

Các tài liệu cũng giới thiệu một số nguyên tắc giao tiếp công vụ:

- Tôn trọng lẫn nhau và hài hòa lợi ích

Trang 19

- Giao tiếp cần đảm bảo thỏa mãn lợi ích của cán bộ, công chức- công dân, doanh nghiệp- và cộng đồng nói chung

- Lựa chọn giải pháp tối ưu trong giao tiếp: Phù hợp hoàn cảnh; Tôn trọng

quy luật tâm, sinh lý; Thẩm mỹ hành vi

- Tôn trọng sự bình đẳng và các quy luật khách quan: Bình đẳng; Công khai;

Tin cậy

1.2.4 Phương pháp, kỹ năng cơ bản trong giao tiếp

Theo tài liệu GS.TS Mai Hữu Khuê (Chủ biên) (1997), Kỹ năng giao tiếp trong

hành chính, Nxb Lao động, Hà Nội và Tập bài giảng cử nhân hành chính Học viện

Hành Chính Quốc gia (2011), “Giao tiếp và Quan hệ công chúng” (2011), cần xây

dựng phương pháp, kỹ năng cơ bản sau: Phương pháp tự rèn luyện, cải thiện năng lực giao tiếp, xây dựng uy tín và hình ảnh trong giao tiếp, phân tích đối tượng giao tiếp: chủ động tổ chức cuộc gặp gỡ, thái độ, cách thức tạo ấn tượng trong giao tiếp

Tác giả Đào Thị Ái Thi (2008) trong luận án tiến sĩ về “Kỹ năng giao tiếp của

đội ngũ công chức hành chính trong tiến trình cải cách nền hành chính NN Việt Nam” tiến hành đánh giá thực trạng kỹ năng giao tiếp của đội ngũ chuyên viên, công

chức hành chính thông qua phương pháp bảng hỏi, phỏng vấn sâu kết hợp thu thập tài liệu, quan sát thực tiễn Tác giả phân tích kỹ năng giao tiếp trên phương diện khoa học hành vi theo 3 nhóm: Kỹ năng xã hội, kỹ năng nhóm, kỹ năng vận động Trên cơ sở kết quả đánh giá, tác giả Đào thị Ái Thi xây dựng giải pháp phát triển các

kỹ năng giao tiếp theo hướng tiếp cận trên

Tác giả Chu Tôn- Hoàng Quý (2000) ”Cách cư xử giữa thủ trưởng với nhân

viên”, Nxb Thanh Niên, Hà Nội [72], giới thiệu phương pháp nâng cao năng lực

giao tiếp của người lãnh đạo quản lý trong mối quan hệ với các nhân viên, năng lực tập hợp trí tuệ, khơi dậy tư duy và ưu thế của cấp dưới Trên cơ sở đó, tác giả phân biệt yêu cầu giao tiếp của người giám sát, người quản lý và người chỉ huy

Bài viết “Kỹ năng giao tiếp, ứng xử nhằm góp phần nâng cao hiệu quả giao

tiếp nội bộ của cơ quan” của TS Nguyễn Thị Hà, Nội san tháng 4,5,6/2015, Khoa

văn bản và CNHC, Học viện Hành chính Quốc gia [45] giới thiệu mối quan hệ giữa hiệu quả giao tiếp nội bộ với kỹ năng giao tiếp ứng xử, giới thiệu các phương pháp thực hiện và tổ chức nâng cao kỹ năng giao tiếp ứng xử của cán bộ cơ quan đứng từ góc độ lợi ích của tập thể

Các tài liệu giới thiệu một số phương pháp áp dụng trong đàm thoại như: Định

hướng chủ đề đàm thoại: trước hết để đối phương bắt đầu nói, để mở ra chủ đề nói

chuyện, tiến hành thuận lợi cuộc nói chuyện, nhưng lúc này cần tìm hiểu xem khi nào

mới là cơ hội quý báu đề chuyển chủ đề Phép hỏi và điều chỉnh đề tài nói chuyện: Cần

tìm hiểu đối tượng mình sẽ gặp gỡ, suy nghĩ những đề tài cần thiết, nên và có thể đề

cập, cố gắng mở rộng tìm kiếm thông tin Dẫn dắt cuộc đàm thoại: Khéo léo phụ họa là

phần đệm cho cuộc nói chuyện Phần phụ họa cần tổng hợp cả cử chỉ và lời nói để tăng hiệu quả phát ngôn

Trang 20

Các công trình nghiên cứu của Raymond de Saint Lauren (2004), Nghệ thuật

nói trước công chúng, (bản dịch tiếng Việt), Nxb Văn hóa- Thể thao, Hà Nội;

Phong Thiên (2007), Nghệ thuật giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày, NXB Thanh Hóa, Thanh Hóa; E.N Zareska ( 2002), Lý thuyết và thực tiễn kỹ năng nói Nxb

DELO giới thiệu nội dung, quy tắc và phương pháp thuyết trình: Thuyết trình hay còn gọi là diễn thuyết, là nói chuyện trước nhiều người về một vấn đề nào đó một cách có hệ thống

Các tài liệu về cơ bản đã giới thiệu phương pháp thực hiện kỹ năng giao tiếp trong một số tình huống cơ bản trong thực tế hoạt động công vụ Tuy nhiên còn rất nhiều các tình huống, loại hình giao tiếp khác trong việc ra quyết định, hướng dẫn, giải quyết xung đột, tranh chấp mang tính cá nhân và tập thể….đặc thù của hoạt động an ninh chưa được phân tích sâu, làm rõ

1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới hành vi giao tiếp

Tài liệu “Giao tiếp và Quan hệ công chúng”, tập bài giảng hệ cử nhân hành

chính Học viện Hành chính quốc gia (2011) [97] giới thiệu các yếu tố ảnh hưởng tới hành vi giao tiếp trong quản lý gồm: Các yếu tố bên trong tổ chức (lịch sử, mục tiêu phát triển, cơ cấu tổ chức,…); Các yếu tố bên ngoài tổ chức (môi trường kinh tế, xã hội, pháp lí, v.v.); Các yếu tố liên quan đến các bên tham gia giao tiếp (mức độ

thành thục trong thực thi, sự hiểu biết về nhiệm vụ cá nhân, khả năng phối hợp, ) Tác giả Đào Thị Ái Thi (2008) [105] trong luận án tiến sĩ “Kỹ năng giao tiếp

của đội ngũ công chức hành chính trong tiến trình cải cách nền hành chính nhà nước Việt Nam” giới thiệu mức độ ảnh hưởng và mối quan hệ ảnh hưởng của các yếu tố

khách quan và chủ quan: Con người với cảm xúc tư duy và hành động, với các yếu tố giáo dục, đào tạo, thể chế, tổ chức, vật chất, xã hội

1.3 Về văn hóa giao tiếp và tổ chức hoạt động giao tiếp công vụ

1.3.1 Về khái niệm, nội dung, cấu trúc của văn hóa công vụ

Tác giả Kenneth Kernaghan (1994), The emerging public service culture:

values, ethics and reforms, Canadian Public Administration, Volume 37, Issue 4,

pages 614 - 630, December 1994, quan niệm văn hoá công vụ là các giá trị, chuẩn mực đạo đức, định hướng, tầm nhìn của nền công vụ Yếu tố giá trị là thành tố quan trọng của văn hoá công vụ được đề cập đến, đồng thời, tác giả quan niệm các chuẩn mực đạo đức cũng là yếu tố của văn hoá công vụ Điều này có thể nói là hợp lý bởi

lẽ quan niệm giá trị và định hướng chuẩn mực đạo đức, chuẩn mực hành vi luôn có

sự tương thuộc với nhau

TS Trịnh Thanh Hà trong bài viết “Những vấn đề cần giải quyết trong xây

dựng văn hoá ứng xử công vụ”, Tạp chí Tổ chức nhà nước số tháng 9/2007 đề cập

đến khái niệm văn hoá công vụ và văn hoá ứng xử công vụ giới thiệu văn hoá ứng

xử công vụ được thể hiện thông qua thái độ tôn trọng pháp luật, phương pháp làm việc khoa học, thái độ ứng xử giữa công chức với công chức, với tổ chức, cá nhân lịch sự, ân cần, tôn trọng thông qua lời ăn tiếng nói, trang phục lịch sự, phù hợp

Trang 21

Tác giả Nguyễn Ngọc Châu (2013) trong “Văn hóa giao tiếp của cán bộ y tế

các bệnh viện trung ương trên địa bàn thành phố Hà Nội”, Luận văn thạc sĩ quản lý

hành chính công, Học viện Hành chính Quốc gia, giới thiệu khái niệm về văn hóa giao tiếp trong công sở trong mối tương quan với các loại văn hóa tổ chức, văn hóa công sở, giới thiệu hình thức và quy định trong thực hiện văn hóa giao tiếp cũng như xây dựng một số kinh nghiệm trên thế giới về văn hóa giao tiếp ở Ấn Độ, Trung Quốc, Malaysia

TS Huỳnh Văn Thới (2015) trong đề tài “Văn hóa công vụ ở Việt Nam hiện

nay”, Đề tài nghiên cứu khoa học thuộc chương trình trọng điểm cấp nhà nước,

Trong văn hóa công vụ, các yếu tố của văn hóa phi vật thể chiếm vai trò quan trọng như hệ giá trị và chuẩn mực, quy tắc ứng xử công vụ, truyền thống của cơ quan, niềm tin và lối sống, nếp sống trong đơn vị, các sinh hoạt tinh thần của công chức như hoạt động văn nghệ, thể thao, giải trí v.v

Văn hóa công vụ có chức năng định hướng nhận thức, giúp cá nhân có những định hướng đúng đắn trong cách ứng xử cũng như thái độ, từ đó góp phần định hướng ngay trong quá trình thực thi công vụ, để việc thực thi đạt kết quả tốt nhất, với chất lượng cao nhât

1.3.2 Phương pháp, công cụ đánh giá và xây dựng văn hóa giao tiếp trong

cơ quan, tổ chức

Về văn hóa giao tiếp công vụ, các tài liệu hướng tới trình bày đặc điểm, nguyên tắc giao tiếp phù hợp với tính chất, yêu cầu, mục tiêu của giao tiếp công vụ Đặc biệt những nội dung đặc điểm và nguyên tắc tuy có được phân tích theo tiêu chí thẩm mỹ, hành vi, mức độ ảnh hưởng Tuy nhiên, các tài liệu chưa xây dựng được hệ thống tiêu chí liêu quan đến yếu tố văn hóa trong giao tiếp công vụ cũng như chưa xây dựng được hệ thống tiêu chí văn hóa giao tiếp công vụ cho một ngành

cụ thể

Tác giả Nguyễn Ngọc Châu (2013) trong “Văn hóa giao tiếp của cán bộ y tế

các bệnh viện trung ương trên địa bàn thành phố Hà Nội”, Luận văn thạc sĩ quản lý

hành chính công, Học viện Hành chính Quốc gia, giới thiệu thực trạng triển khai thực hiện quy chế văn hóa công sở và quy tắc ứng xử của cán bộ y tế; tìm hiểu trong thực hiện công việc, trong ngôn ngữ hàng ngày, trong trang phục, trong phương pháp làm việc, từ đó xác định các tiêu chí đánh giá văn hóa qua tiêu chí về thái độ của cán bộ công chức viên chức; tiêu chí về năng lực chuyên môn

Tác giả Đào Thị Ái Thi (2008) trong luận án tiến sĩ về “Kỹ năng giao tiếp của

đội ngũ công chức hành chính trong tiến trình cải cách nền hành chính NN Việt Nam” đề xuất các giải pháp liên quan đến ứng dụng tiêu chuẩn ISO trong quản lý

giao tiếp hành chính cũng như xây dựng nội dung và phương pháp đào tạo kỹ năng hành chính cho công chức hành chính [105]

Tác giả Trịnh Thanh Hà (2009), “Xây dựng văn hóa ứng xử công vụ công chức

cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay”, luận án tiến sĩ quản lý hành

chính công, Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội [92] trích dẫn khái niệm của Vũ

Trang 22

Dũng về văn hóa ứng xử: “Văn hóa ứng xử là hệ thống tinh tuyển những nếp ứng xử

và khuôn mẫu ứng xử, chuẩn mực ứng xử trong mối quan hệ ứng xử giữa con người

và các đối tượng khác nhau, thể hiện qua ngôn ngữ, hành vi, nếp sống, tâm sinh lý trong quá trình phát triển và hoàn thiện đời sống, đã được tiêu chuẩn hóa, trở thành chuẩn mực của nhóm xã hội, toàn bộ xã hội thừa nhận và làm theo… Văn hóa ứng

xử thường được thể hiện dưới dạng cụ thể của những vai trò xã hội, trong thể hiện những vị thế xã hội, nhiệm vụ xã hội, những nhiệm vụ khác nhau, không có ứng xử chung chung, chỉ có ứng xử thể hiện những ngôi người, tức là vai trò xã hội” Tác giả Trịnh Thanh Hà trong công trình trên cũng đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến văn hóa ứng xử công vụ như yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội, các yếu tố về tâm lý, yếu tố lịch sử nhằm xác định cơ sở phát sinh phát triển văn hóa ứng xử Từ góc độ lịch sử, quá trình phát triển của văn hóa ứng xử công vụ, tác giả giới thiệu đặc điểm văn hóa ứng xử công vụ, đề xuất tiêu chí cơ bản thực hiện văn hóa ứng xử công vụ, qua đó, tác giả tìm hiểu thực trạng văn hóa ứng xử công vụ để đưa ra giải pháp trên

cơ sở đảm bảo tính kế thừa, tính thời đại, hướng giải pháp về xây dựng tiêu chí văn hóa ứng xử, và giải pháp đào tạo cán bộ về văn hóa ứng xử

Các tài liệu về tổ chức, đánh giá hoạt động giao tiếp mới đưa ra các tiêu chí đánh giá chung, không đi sâu xem xét góc độ văn hóa giao tiếp của ngành, lĩnh vực cụ thể

1.3.3 Về hoạt động giao tiếp trong ngành, lĩnh vực cụ thể

Tài liệu của Học viện Hành Chính Quốc gia (2010), “Kỹ năng giao tiếp và chất

vấn của đại biểu hội đồng nhân dân”, tài liệu bồi dưỡng đại biểu Hội đồng nhân dân

và ủy ban nhân dân Hà Nội: Nội dung các tài liệu này giới thiệu bản chất, khái niệm giao tiếp, bản chất của giao tiếp công vụ, giới thiệu phương pháp, cách thức thực hiện kỹ năng giao tiếp, phương pháp tìm hiểu, phân tích đối tượng giao tiếp để lựa chọn cách thức giao tiếp thích hợp Đặc biệt, tài liệu này nhấn mạnh nội dung công tác chuẩn bị và quy trình thực hiện hoạt động thuyết trình, chất vấn

Về kỹ năng giao tiếp trong giảng dạy, các tác giả Trần Thị Tuyết Oanh (chủ biên), Phạm Khắc Chương, Phạm Viết Vượng, Nguyễn Văn Diện, Lê Tràng Định: Giáo dục học tập 2- NXB ĐHSP 2005 giới thiệu cụ thể cách thức phân tích đối tượng, phương thức nắm bắt tâm lý để lựa chọn phương thức giao tiếp trong môi trường sư phạm theo yêu cầu, mục đích đặt ra

Nghiên cứu kỹ năng giao tiếp trong các ngành đặc thù được nghiên cứu trong các luận văn thạc sĩ quản lý hành chính công như: Nguyễn Ngọc Châu

(2013) “Văn hóa giao tiếp của cán bộ y tế các bệnh viện trung ương trên địa bàn

thành phố Hà Nội” [89]; Đinh Thị Dung (2015) “Đánh giá thực hiện quy tắc ứng

xử tại bệnh viện tuyến trung ương trên địa bàn thành phố Hà Nội” [92]; Dương

Đại Thăng (2013), “Nâng cao văn hóa ứng xử trong ngành hàng hải” [104]…

Các tài liệu cũng giới thiệu nội dung kỹ năng và tiêu chí đánh giá kỹ năng giao tiếp cho từng lĩnh vực đặc thù

* Về văn hóa giao tiếp của lực lượng công an

Đề tài khoa học trọng điểm cấp bộ “Văn hóa ứng xử của Công an nhân dân

(CAND)”, Bộ Công an, GS.TS.Trần Đại Quang (chủ nhiệm đề tài) [85] đóng góp

cho phần lý luận về văn hóa ứng xử của lực lượng công an trên những phương diện:

Trang 23

Xác định vai trò của việc hoàn thiện văn hóa ứng xử trong lực lượng công an; giới thiệu điều kiện, bối cảnh, các yếu tố tác động đến việc thực hiện văn hóa ứng xử; phân tích cả yếu tố trong nước và yếu tố ngoài nước

Về mặt thực tiễn, đề tài tiến hành phân tích khảo sát thực trạng văn hóa ứng xử của CAND Việt Nam, qua đó chỉ ra chất lượng thực hiện văn hóa ứng xử có chiều hướng giảm sút ở một bộ phận nhỏ trên một số mặt công tác thực tiễn trên Đề tài tiến hành tổng kết, đánh giá thực trạng văn hóa giao tiếp ứng xử của CAND dưới góc độ khoa học Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, nhóm tác giả xây dựng các giải pháp tiếp tục nâng cao văn hóa ứng xử của CAND, đặc biệt là hình thành cơ sở lý luận và thực tiễn phục vụ Bộ Công an xây dựng “Bộ quy tắc ứng xử của CAND Việt Nam”

là một nhiệm vụ mang tính cấp thiết hiện nay Trên cơ sở phân tích làm rõ hạn chế, nguyên nhân, đề tài đã dự báo yếu tố tác động và đề xuất giải pháp phù hợp, lô gic,

có cơ sở khoa học

Như vậy, đề tài có những đóng góp, tạo những giá trị nhất định cho lý luận và thực tiễn về văn hóa ứng xử của lực lượng công an Tuy nhiên, đề tài mới chỉ giới hạn phần lý luận và giải pháp về văn hóa ứng xử, chưa đề cập đầy đủ đến những nội dung thực hiện các loại hình giao tiếp khác nhau cũng như chưa đi sâu vào nội dung

và kỹ năng giao tiếp công vụ theo các hình thức và trường hợp cụ thể như giao nội dung, phương pháp nhiệm vụ, báo cáo, phát biểu hội nghị, trả lời phỏng vấn, hoạt động thuyết trình, tổ chức tiếp khách, tiếp dân

Tài liệu “Kỹ năng giao tiếp và tạo ảnh hưởng” của lực lượng công an nhân dân

(giáo trình bồi dưỡng Kỹ năng hành chính dành cho cán bộ cấp vụ của Trường đại học An ninh nhân dân) năm 2014 [93] có giới thiệu các nội dung lý luận về khái niệm, nguyên tắc giao tiếp, cách thức tạo ảnh hưởng với người đối thoại, các kỹ năng nghe, nói, đọc, viết Tuy nhiên, tài liệu này cũng chưa xác định phần lý luận, những quy định, nguyên tắc, phương pháp đặc thù của lực lượng công an Tài liệu

Kỹ năng thuyết trình của lực lượng công an nhân dân [94] cũng giới thiệu các kỹ

năng cơ bản về thuyết trình, tuy nhiên, tài liệu cũng chưa làm rõ được các đặc điểm riêng biệt đặc thù của lực lượng công an trong áp dụng kỹ năng thuyết trình vào công việc cụ thể Các tài liệu này không đề cập đến thực trạng và các giải pháp đối với việc nâng cao, hoàn thiện văn hóa giao tiếp của lực lượng công an trong giai đoạn hiện nay

Tài liệu “Văn hóa ứng xử của người cảnh sát quản lí hành chính về trật tự, an

toàn xã hội” [25] của Cục Chính trị - Hậu cần Cảnh sát quản lý hành chính (2012),

đã phân tích vai trò của văn hóa ứng xử trong hoạt động của lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội; rút ra ba vấn đề cơ bản về việc hoàn thiện tư cách người chiến sĩ cảnh sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội đó

là tự phấn đấu rèn luyện để trở thành người cảnh sát có phong cách tốt, ứng xử có văn hóa; thân ái giúp đỡ đồng sự và kính trọng lễ phép với nhân dân Tài liệu cũng xây dựng những tình huống thường gặp trong giao tiếp, ứng xử của cán bộ, chiến sĩ cảnh sát quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội

Trang 24

Tài liệu “Kĩ năng giao tiếp của cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội”

[49] do PGS.TS Đinh Trọng Hoàn (chủ biên) (2010), đã khái quát những nhận thức chung về hoạt động giao tiếp của cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, trong

đó phân tích rõ tính chất hoạt động giao tiếp và đặc điểm hoạt động giao tiếp của cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Qua đó, tài liệu đã đưa ra những kĩ năng giao tiếp cần có của cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội như kĩ năng

sử dụng có hiệu quả các phương tiện ngôn ngữ, phi ngôn ngữ, kĩ năng tiếp xúc để thiết lập mối quan hệ giao tiếp, kĩ năng tự chủ cảm xúc và hành vi, kĩ năng thuyết phục đối tượng giao tiếp, v.v

* Bài viết về kinh nghiệm quốc tế về văn hóa giao tiếp của lực lượng công an

Các công trình tham luận của chuyên gia thuộc lực lượng cảnh sát Anh, Nhật, Pháp, Úc, Lào và Trung Quốc và Nga đã đóng góp những kinh nghiệm sâu sắc cho việc xây dựng văn hóa giao tiếp của lực lượng thông qua Hội thảo khoa học quốc tế

“Đảm bảo An ninh thông tin trong kỷ nguyên 4.0” ngày 15/11/2019, được tổ chức tại Học viện An ninh nhân dân, Hà Nội và Hội thảo khoa học: “Bố trí lực lượng chuyên trách đảm bảo an ninh, trật tự tại địa bàn nông thôn - Kinh nghiệm thế giới

và Việt Nam”, Học viện Cảnh sát nhân dân phối hợp với Cục pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp và Thường trực Ủy ban Quốc phòng - An ninh Quốc hội tổ chức Hội thảo Các bài tham luận khoa học của các đồng chí chuyên gia trong lực lượng công an của các nước Anh, Nhật, Pháp, Úc, Lào và Trung Quốc Các bài viết trên đã đề cập nhiều cách tiếp cận khoa học về thực trạng và giải pháp, bài học kinh nghiệm trong công tác bố trí lực lượng chuyên trách bảo đảm an ninh, trật tự tại địa bàn nông thôn trên thế giới và Việt Nam Các bài viết, trình bày của các tùy viên cảnh sát Đại sứ quán các nước: Anh, Nhật, Pháp, Trung Quốc, Nga; đã cho thấy rõ

sự cần thiết cả trên phương diện lý luận và thực tiễn phải bố trí lực chuyên trách bảo đảm an ninh, trật tự tại địa bàn nông thôn; đánh giá thực trạng công tác bố trí lực lượng chuyên trách đảm bảo an ninh, trật tự tại địa bàn nông thôn ở các xã trọng điểm, phức tạp về an ninh, trật tự hiện nay; phân tích các bài học kinh nghiệm rút ra trong công tác bố trí lực lượng chuyên trách bảo đảm an ninh, trật tự tại địa bàn nông thôn trên thế giới Các công trình nghiên cứu quốc tế nhấn mạnh việc xây dựng hình ảnh cảnh sát nhân dân lịch sự, thân thiện cũng như nhấn mạnh việc rèn luyện tác phong của chiến sĩ lực lượng, song chưa đưa ra các đề xuất cụ thể trong tổ chức, huấn luyện, xây dựng tiêu chí về văn hóa giao tiếp cũng như kiểm tra đánh giá hoạt động này của lực lượng

Các ấn phẩm tiêu của của tác giả nước ngoài có đề tài liên quan đến văn hóa

giao tiếp phải kể đến: ấn phẩm Ethics in Intercultural and International

Communication của tác giả Congden, Steven W.; Matveev, Alexei V.; Desplaces,

David E (2004); Cross-Cultural Communication and Multicultural Team

Performance: A German and American Comparison, tác giả Christopher Pollitt,

Geert Bouckaert (2004); Reflexive Communication in the Culturally Diverse

Trang 25

Workplace, tác giả Catherine Kano Kikoski, John F Kikoski (2005) Các công trình

có những đóng góp mới về việc kết nội các giá trị văn hóa với các biểu hiện của hoạt động giao tiếp như: Bằng cách xem xét các thách thức cụ thể ảnh hưởng đến hành vi đạo đức trong các tương tác liên văn hóa và quốc tế khác nhau, và bằng cách

đề xuất các mô hình hành vi tương tác, đối thoại cũng như các ví dụ, các tác giả tìm cách tạo ra một bầu không khí tham gia và thảo luận sẽ khiến các nhà nghiên cứu xem xét đạo đức trải qua cuộc sống của chính họ , cũng như bất kỳ kết quả thực hành đạo đức hoặc phi đạo đức.Khám phá mối quan hệ giữa văn hóa, giao tiếp và quản lý, nghiên cứu mới này trong quản lý giới thiệu và áp dụng lý thuyết 'Truyền thông phản xạ' và các microskills cần thiết để sử dụng nó trong các tình huống làm việc hàng ngày Tuy nhiên, điểm thiếu của các công trình này là chưa xây dựng một

hệ thống giá trị văn hóa trong hoạt động giao tiếp cũng như chưa chỉ ra được cách thức tổ chức quản lý, xây dựng văn hóa giao tiếp thống nhất, đồng bộ trong tổ chức Mặt khác, các công trình này cũng không đề cập đến văn hóa giao tiếp của lực lượng cụ thể

1.4 Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài của luận án

Về văn hóa giao tiếp công vụ, các tài liệu hướng tới trình bày đặc điểm, nguyên tắc giao tiếp phù hợp với tính chất, yêu cầu, mục tiêu của giao tiếp công vụ Đặc biệt những nội dung đặc điểm và nguyên tắc tuy có được phân tích theo tiêu chí thẩm mỹ, hành vi, mức độ ảnh hưởng Tuy nhiên, các tài liệu chưa xây dựng được hệ thống tiêu chí liêu quan đến yếu tố văn hóa trong giao tiếp công vụ cũng như chưa xây dựng được

hệ thống tiêu chí văn hóa giao tiếp công vụ cho một ngành cụ thể.Các công trình có những đóng góp, tạo những giá trị nhất định cho lý luận và thực tiễn về văn hóa ứng

xử của lực lượng công an Tuy nhiên, các công trình mới chỉ giới hạn phần lý luận

và giải pháp về văn hóa ứng xử, chưa đề cập đầy đủ đến những nội dung thực hiện các loại hình giao tiếp khác nhau cũng như chưa đi sâu vào nội dung và kỹ năng giao tiếp công vụ theo các hình thức và trường hợp cụ thể Mặt khác các công trình

về văn hóa ứng xử của lực lượng công an chưa cho thấy rõ giao tiếp của lực lựclượng công an như một nhiệm vụ có tính chiến lược trong đảm bảo hiệu quả hoạt động của lực lượng

Những nội dung nghiên cứu cần bỏ ngỏ:

Thứ nhất, lý luận về giao tiếp công vụ trong ngành lĩnh vực, cụ thể ở đây là

văn hóa giao tiếp công vụ lực lượng công an chưa được xây dựng và làm rõ, chưa có nghiên cứu cụ thể về tình huống, loại hình giao tiếp, văn hóa giao tiếp có tính đến đặc thù lực lượng công an nhằm làm cơ sở để sáng tạo và sử dụng trong thực tiễn giao tiếp công vụ, để thực thi các quan hệ về quyền lực nhà nước, nhằm làm tròn sứ mệnh của nền công vụ Ý nghĩa của việc thực hiện văn hóa giao tiếp của lực lượng công an trong giai đoạn mới chưa được khẳng định như một nhiệm vụ chiến lược

Do vậy nội dung và yêu cầu xây dựng văn hóa giao tiếp của lực lượng công an chưa được đặt ra như một vấn đề bức thiết, cần thực hiện bài bản

Trang 26

Thứ hai, các nhân tố tác động đến văn hoá giao tiếp của lực lượng công an có

được đề cập nhưng chưa được phân tích một cách hệ thống, làm cơ sở để luận giải

về những phương diện tích cực, những hạn chế của văn hoá giao tiếp công vụ của lực lượng công an

Thứ ba, thực trạng của văn hoá giao tiếp của lực lượng công an mới chỉ có

những nhận xét theo từng khía cạnh, chưa được đánh giá đầy đủ và hệ thống trên cơ

sở một nghiên cứu với cách tiếp cận liên ngành, kết hợp định lượng và định tính

Thứ tư, Chưa xây dựng được hệ thống tiêu chí đánh giá thống nhất, phát triển

văn hoá giao tiếp công vụ, chưa có giải pháp phát triển văn hoá giao tiếp của lực lượng công an với cách tiếp cận toàn diện, hệ thống

Qua tổng quan tình hình nghiên cứu và từ nhu cầu thực tiễn cho thấy, cần phải

có nghiên cứu toàn diện hơn về văn hoá giao tiếp của lực lượng công an, nhận diện sát thực nội dung, đặc điểm của văn hoá giao tiếp lực lượng công an, xác định rõ vai trò trong cách tiếp cận nhiều chiều cạnh, chỉ ra những nhân tố tác động đến văn hoá giao tiếp, nêu bật những giá trị tích cực, những yếu tố không phù hợp, đề xuất những giải pháp nhằm phát triển, hoàn thiện văn hoá giao tiếp của lực lượng công

an, xây dựng nền công vụ “chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, minh bạch, hiệu quả”1 đồng thời đảm bảo xứng đáng là lực lượng của dân, do dân, vì dân, lực lượng mẫu mực trong cả nước

1 Quyết định 1557/QĐ-TTg ngày 18/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đẩy mạnh chế độ công vụ, công chức”

Trang 27

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

VỀ VĂN HÓA GIAO TIẾP CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN

2.1 Lý luận về văn hóa giao tiếp

2.1.1 Lý luận về giao tiếp

2.1.1.1 Khái niệm giao tiếp

Trong quá trình sống và làm việc chung với mọi người, con người có rất nhiều nhu cầu cần phải được thỏa mãn Đó là nhu cầu trao đổi thông tin; thổ lộ tâm tư, tình cảm, suy nghĩ và mong muốn được người khác chia sẻ những niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống; muốn được người khác hợp tác và giúp đỡ, Tất cả những nhu cầu tâm lý xã hội đó chúng ta chỉ có thể được thỏa mãn thông qua hoạt động giao tiếp Giao tiếp của con người tồn tại dưới hai dạng bản năng và có ý thức Khi con người giao tiếp bằng bản năng, có thể dẫn tới những giao tiếp vô văn hóa Chỉ khi con người dùng ý thức để giao tiếp, khi đó giao tiếp của con người mới có văn hóa Khi nghiên cứu, tiếp cận về hoạt động giao tiếp của con người, cũng như nghiên cứu thuật ngữ văn hoá, các nhà nghiên cứu thường đưa ra nhiều quan điểm, cách hiểu khác nhau

Tác giả Ivan S Banki thì nhìn nhận: “Giao tiếp là một khái niệm khoa học, mang tính kĩ thuật của quá trình truyền tin, nhận tin và trao đổi thông tin khác nhau

và là sự nhận biết các tín hiệu giữa các cá nhân, tập thể và tổ chức của các thành viên trong cộng đồng” [109] Khái niệm này nhấn mạnh yếu tố kĩ thuật của quá trình giao tiếp, thông qua hoạt động truyền, nhận thông tin và nhận biết các tín hiệu giữa con người với nhau, chính vì thế chưa làm nổi bật được yếu tố tình cảm, cảm xúc và những kĩ năng mà con người sử dụng trong quá trình đó Khắc phục điều này, hai tác giả Saundra và Richard đã coi giao tiếp như một quá trình hoạt động: “Giao tiếp

là bất kì quá trình nào mà ở đó mọi người cùng chia sẻ thông tin, những ý tưởng, những cảm xúc Đó là quá trình không chỉ bao gồm nói và viết mà còn ngôn ngữ cơ thể, kiểu và phong cách cá nhân và bất kì cái gì làm tăng thêm ý nghĩa của thông điệp Quá trình trao đổi giữa con người với nhau là quá trình hoạt động” [111] Trong cuốn Từ điển tiếng Việt của GS Bùi Quang Tịnh và Bùi Thị Tuyết Khanh đưa ra khái niệm: “Giao tiếp là sự tiếp xúc với nhau” [71] Tuy nhiên, định nghĩa này lại chưa làm rõ được chủ thể, khách thể của giao tiếp cũng như cách thức

và hình thức cho sự tiếp xúc đó Còn Trần Trọng Thuỷ và Nguyễn Sinh Huy lại nhìn nhận giao tiếp như sau: “Giao tiếp của con người là một quá trình có chủ định hay không chủ định, có ý thức hay không có ý thức mà trong đó các cảm xúc và tư tưởng được biểu đạt trong các thông điệp bằng ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ” [105, sđd] Quan điểm này của các tác giả đã làm rõ bản chất của giao tiếp, đó là quá trình biểu đạt các thông điệp một cách có ý thức hay chủ đích của con người bằng ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ Định nghĩa này còn làm rõ được một đặc điểm quan trọng

là dù không có chủ định hay không có ý thức của con người thì quá trình giao tiếp

Trang 28

vẫn có thể diễn ra Tuy vậy, hai tác giả lại không chỉ rõ yếu tố nào được coi là phi ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp

Các khái niệm nêu trên, dù đầy đủ hay chưa đầy đủ, đều tiếp cận giao tiếp dựa trên các yếu tố:

Chủ thể và khách thể của giao tiếp là con người hay nhóm người;

Đối tượng của giao tiếp là các thông điệp được biểu hiện dưới dạng các thông tin, các tín hiệu, các ý tưởng, cảm xúc, tình cảm, hiểu biết, vốn sống, v.v.;

Bản chất của giao tiếp là một quá trình hoạt động hai chiều (truyền đạt và tiếp nhận) có chủ định, có ý thức hoặc không của chủ thể và khách thể giao tiếp;

Cách thức thực hiện giao tiếp là thông qua hệ thống tín hiệu ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ;

Mục tiêu của giao tiếp là thiết lập mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể giao tiếp nhằm củng cố mối quan hệ đó hoặc gia tăng ý nghĩa, giá trị của các thông điệp được truyền đạt và tiếp nhận

Giao tiếp là hoạt động xác lập và vận hành các mối quan hệ xã hội giữa người

và người, hoặc giữa người và các yếu tố xã hội nhằm thỏa mãn những nhu cầu nhất định Giao tiếp là quá trình hoạt động trao đổi thông tin giữa người nói và người nghe nhằm đạt mục đích nào đó Giao tiếp là sự truyền đạt điều muốn nói từ người này sang người khác để đối tượng có thể hiểu những thông điệp truyền đi

Thông thường giao tiếp trải qua 3 trạng thái2: [62]

(1) Trao đổi thông tin, tiếp xúc tâm lý

(2) Hiểu biết lẫn nhau

(3) Tác động ảnh hưởng lẫn nhau

Tương ứng với các yếu tố trên thì giao tiếp có 3 khía cạnh chính:

- Giao lưu: khía cạnh này gắn liền với việc tìm hiểu những đặc điểm đặc thù của quá trình trao đổi thông tin giữa hai bên giao tiếp với nhau, có tính đến cả mục đích, tâm thế và ý định của nhau Quá trình giao lưu sẽ làm giàu thêm về kiến thức, kinh nghiệm của những người tham gia giao tiếp

- Tác động qua lại giữa hai bên: Trong trường hợp này, ngôn ngữ thống nhất

và cùng hiểu biết tình huống, hoàn cảnh giao tiếp là điều kiện cần thiết bảo đảm sự tác động qua lại có hiệu quả Có nhiều kiểu tác động qua lại giữa con người với nhau; có thể là hợp tác hoặc có thể là cạnh tranh – tương ứng với chúng là sự đồng tình hay sự xung đột

- Tri giác: bao hàm quá trình hình thành hình ảnh về người khác, xác định được các phẩm chất tâm lý và đặc điểm hành vi của người đó (thông qua các biểu hiện bên ngoài) Trong khi tri giác người khác cần chú ý tới các hiện tượng như: ấn tượng ban đầu, hiệu ứng cái mới, sự điển hình hoá, v.v

Bởi vì con người là sự tổng hòa của các mối quan hệ xã hội Mà giao tiếp tức

là tiếp xúc, trao đổi bằng lời nói, cử chỉ, thái độ Những điều đó góp phần tạo lập

2 Dương Thị Kim Oanh (2009), Bài giảng môn học Tâm lí học đại cương, Đại học Bách khoa Hà Nội

Trang 29

các mối quan hệ tốt đẹp trong đời sống Giao tiếp là điều kiện tồn tại của xã hội loài người Không có giao tiếp không có tồn tại xã hội Giao tiếp là cơ chế bên trong của

sự tồn tại và phát triển của xã hội, nó đặc trưng cho tâm lý người Thông qua giao tiếp cá nhân gia nhập các mối quan hệ xã hội với các cá nhân khác trong các nhóm

xã hội và quan hệ với toàn xã hội Qua giao tiếp con người tiếp thu nền văn hóa xã hội

và biến thành cái riêng của mình, đồng thời cá nhân đóng góp vào sự phát triển nền văn hoá xã hội Qua giao tiếp con người nắm bắt được các chuẩn mực đạo đức của xã hội, các giá trị xã hội của người khác và bản thân, trên cơ sở đó tự điều chỉnh, điều khiển bản thân theo các chuẩn mực xã hội

Quan điểm triết học Mác Lênin cho rằng: “Con người là tổng hòa những mối quan hệ xã hội” Quan niệm này làm rõ hơn về tầm quan trọng lớn lao của giao tiếp Con người sẽ không thể là con người nếu không có môi trường sống với những mối quan hệ vô cùng đa dạng và phức tạp của nó Giao tiếp giữ vai trò quyết định trong việc xác định tư cách Người cho con người, để từ đó con người phát huy vai trò của mình, thúc đẩy xã hội phát triển

2.1.1.2 Chức năng của giao tiếp

Trong tâm lý học người ta chia các chức năng của giao tiếp ra thành 2 nhóm Thứ nhất, chức năng (thuần túy) xã hội và thứ hai là chức năng tâm lý xã hội3 [52]

- Về phương diện xã hội: giao tiếp thực hiện các chức năng sau

+ Chức năng thông tin, tổ chức: trong hoạt động chung, người này giao tiếp người kia để thông báo thông tin giúp cho hoạt động của tổ chức thực hiện một cách hiệu quả Ví dụ, lãnh đạo truyền mệnh lệnh cho nhân viên, nhân viên báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ của mình cho lãnh đạo

+ Chức năng phối hợp hành động: trong một tổ chức thường có nhiều bộ phận với các chức năng, nhiệm vụ khác nhau Các thành viên trong tổ chức cần phải giao tiếp với nhau để phối hợp hành động cho có hiệu quả

+ Chức năng điều khiển hành vi/ ảnh hưởng lẫn nhau: trong giao tiếp, người ta dùng những phương pháp tác động lẫn nhau như: ám thị, thuyết phục, áp lực nhóm, v.v để điều khiển người khác Bằng các hình thức giao tiếp khác nhau như: ra lệnh, thuyết phục, tạo dư luận, mà người lãnh đạo hướng hoạt động của nhân viên vào thực hiện mục đích chung của tổ chức Cũng thông qua các hình thức tác động lẫn nhau trong giao tiếp mà người lãnh đạo có thể thỏa thuận được với các đối tác về những hợp tác có lợi

+ Chức năng cảm xúc: giao tiếp không chỉ bộc lộ cảm xúc và tạo ra những ấn tượng cảm xúc giữa các chủ thể Trong những trường hợp cụ thể, con người thường

có những cảm xúc cần được bộc lộ và muốn được người khác chia sẻ sung sướng hay đau khổ, hy vọng hay thất vọng, niềm vui hay nỗi buồn, v.v Chỉ có trong giao tiếp con người mới tìm được sự đồng cảm, cảm thông và giải tỏa được cảm xúc của mình

3 Phạm Thúy Hương, Phạm Thị Bích Ngọc (2016), Giáo trình hành vi tổ chức, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân

Trang 30

+ Chức năng động viên, kích thích: trong quá trình giao tiếp con người không chỉ truyền thông tin cho nhau hay tác động điều khiển lẫn nhau mà còn tạo ra những cảm xúc kích thích hành động của họ Chức năng này có liên quan đến lĩnh vực cảm xúc của con người

Trong tổ chức, nhà quản lý nếu dùng những hình thức giao tiếp với nhân viên như: khen ngợi đúng lúc, động viên, có những lời nói và việc làm thể hiện sự quan tâm đến gia đình và bản thân họ sẽ làm cho nhân viên cảm động, hài lòng; từ đó kích thích họ làm việc tốt hơn

- Về phương diện tâm lý: giao tiếp thực hiện các chức năng sau:

+ Chức năng tạo mối quan hệ: đối với con người, trạng thái cô đơn, cô lập đối với mọi người xung quanh là một trong những trạng thái đáng sợ nhất Giao tiếp giúp con người tạo ra những mối quan hệ với mọi người

+ Chức năng cân bằng cảm xúc: những cảm xúc cần được bộc lộ hay muốn được người khác chia sẻ, nếu được bộc lộ hoặc chia sẻ đúng lúc, đúng cách sẽ khiến con người cân bằng được cảm xúc và ngược lại

+ Chức năng phát triển nhân cách: trong giao tiếp, con người lĩnh hội được kinh nghiệm xã hội, tâm hồn của con người trở nên phong phú, tri thức sâu sắc, tình cảm hình thành, củng cố và phát triển Thông qua giao tiếp thì những tiêu chuẩn đạo đức như tinh thần trách nhiệm, nghĩa vụ, tính nguyên tắc, lòng vị tha, tính trung thực, v.v không chỉ được thể hiện mà còn được hình thành trong mỗi người

Cũng thông qua giao tiếp, con người không những học hỏi được cách đánh giá hành vi và thái độ người khác mà còn nhận biết được chính mình để hoàn thiện các phẩm chất nhân cách của bản thân và không ngừng phấn đấu vươn lên để hướng tới

“Chân, thiện, mỹ”

Đặc biệt trong các tổ chức, nhờ giao tiếp với cấp dưới mà chủ thể lãnh đạo, quản lý hiểu được tâm tư, nguyện vọng, tình cảm ý chí, năng lực, thói quen của họ… từ đó lựa chọn bố trí sắp xếp, đề bạt, bổ nhiệm, phân công công việc phù hợp với từng người để sử dụng họ một cách tốt nhất nhằm nâng cao năng suất lao động của cá nhân và của cả tổ chức Thông qua giao tiếp với cấp dưới, chủ thể quản lý lãnh đạo thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, tiến hành xử lý thông tin và trên cơ sở đó đưa ra quyết định phù hợp với thực tiễn, đảm bảo tính khả thi cho các quyết định hành chính; xây dựng các mối quan hệ với tập thể, tạo sự gắn bó chặt chẽ giữa cấp trên và cấp dưới, góp phần hoàn thiện nhân cách, nâng cao uy tín, phong cách người lãnh đạo Đồng thời qua đó còn hình thành khả năng ứng xử trong công tác lãnh đạo, quản lý

Giao tiếp còn là một công cụ quan trọng cho phép các nhà quản lý tổ chức hoạt

động Giao tiếp là một cơ hội quan trọng để các nhà quản lý gây ảnh hưởng và thể hiện sự nổi trội của mình so với các cán bộ, công chức hay các nhà quản lý khác Giao tiếp là kỹ năng rất quan trọng trong cuộc sống của mỗi người nói chung và đặc biệt trong thực thi công vụ của cán bộ công chức

2.1.1.3 Phân biệt giao tiếp và ứng xử

Trang 31

Theo Từ điển Tiếng Việt của GS Bùi Quang Tịnh và Bùi Thị Tuyết Khanh (2000) [71] thì: “Ứng” là đáp lại một tác động; “Xử” là dùng thái độ, hành động để làm hiện lên kết quả của một thái độ, hành vi khác, dựa trên sự phân định rõ mức độ đúng sai của thái độ, hành vi đó

Trong bản thảo kinh tế triết học 1844, Các Mác đã viết: “Bất cứ quan hệ nào của con người đối với bản thân mình đều chỉ được thực hiện, thể hiện trong quan hệ của con người đối với người khác” [70, sđd] Trong trường hợp này, nói về bản chất

xã hội, người ta dùng từ “xử” như “đối nhân xử thế”, “phép cư xử”

Trong quá trình nghiên cứu cũng đã có nhiều tác giả đưa ra khái niệm về ứng

xử Tiếp cận với khái niệm ứng xử, không thể không nhắc đến nhà sư phạm người Nga Usinxki Ông khẳng định4:” Sự khéo léo ứng xử về sư phạm mà nếu không có

nó thì các nhà giáo dục dù học giỏi đến mức nào cũng không bao giờ trở thành nhà thực hành giáo dục tốt, về bản chất, không phải cái gì khác ngoài sự ứng xử Tác giả

Lê Thị Bừng (2001) trong cuốn Tâm lý học ứng xử đã nêu lên khái niệm về ứng xử như sau: “Ứng xử là sự phản ứng của con người đối với sự tác động của người khác đến mình trong một tình huống cụ thể nhất định Nó thể hiện ở chỗ con người không chủ động giao tiếp mà chủ động trong sự phản ứng có lựa chọn, có tính toán, thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng tùy thuộc vào tri thức, kinh nghiệm của mỗi người nhằm đạt được kết quả giao tiếp cao nhất” [34] Nhà nghiên cứu văn hóa Trần Thúy Anh (2004) cũng đã từng đưa ra nhận định về ứng xử: “Ứng xử là triết lý sống của cả một cộng đồng, là quan niệm sống, quan niệm lý giải cuộc đời

Nó cũng trở thành lối sống, nếp sống, lối hành động của cộng đồng Bởi vậy nó quy định các mối quan hệ giữa con người với con người” [32] Như vậy, ứng xử là cách biểu hiện của giao tiếp thông qua thái độ, hành vi, cử chỉ và ngôn ngữ lời nói trong mối quan hệ với mọi người, với môi trường xung quanh Mỗi một cá nhân sẽ có cách ứng xử khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm tính cách, quan điểm và nguyên tắc của mỗi người

Giao tiếp là hoạt động giao lưu, tiếp xúc giữa con người với con người Trong quá trình đó, các bên tham gia tạo ra hoặc chia sẻ thông tin, cảm xúc với nhau nhằm đạt được mục đích giao tiếp

Ứng xử là cách thức con người lựa chọn để đối xử với nhau trong giao tiếp sao cho phù hợp và hiệu quả; là phản ứng của con người khi nhận được cách đối xử của người khác trong những tình huống, hoàn cảnh cụ thể

Ứng xử là một biểu hiện của giao tiếp, là sự phản ứng của con người trước sự tác động của người khác với mình trong một tình huống nhất định được thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng của con người nhằm đạt kết quả tốt trong mối quan hệ giữa con người với nhau Xét trên bình diện nhân cách thì bản chất của ứng

xử chính là những đặc điểm tính cách của cá nhân được thể hiện qua thái độ, hành

vi, cử chỉ và cách nói năng của cá nhân với những người xung quanh

Ví dụ: Nhiều người dân nơi khác khi đến thành phố Đà Nẵng, nếu vi phạm luật giao thông như đi ngược chiều, đỗ xe không đúng nơi quy định, v.v thường chỉ bị

4 https://www.slideshare.net/nguyenphuoc1993/ng-x-trong-s-phm-v-cc-tnh-hung

Trang 32

cảnh sát giao thông nhắc nhở và sau đó được hướng dẫn rất tận tình Từ đó người vi phạm sẽ tự cảm thấy có lỗi và sẽ tự nâng cao ý thức khi tham gia giao thông hơn Qua thực tế này cho thấy cả cảnh sát giao thông Đà Nẵng và người dân đều đã lựa chọn cách ứng xử phù hợp và điều đó mang lại hiệu quả cho công tác quản lý về an toàn giao thông

Trong ứng xử người ta chú ý đến nội dung tâm lý hơn nội dung công việc Giao tiếp được sử dụng để đạt được một mục đích nào đó trong công việc như kinh

tế, văn hóa, giáo dục Trong ứng xử người ta quan tâm các ý của cá nhân Cái tình, cái ý phối hợp qua nội dung giao tiếp Như vậy, thước đo của giao tiếp là hiệu quả của công việc; còn thước đo của ứng xử là thái độ của cá nhân và những “thuật” biểu hiện qua hành vi giao tiếp

Trong giao tiếp, người ta quan tâm các ý thức của một quá trình tiếp xúc, nhưng trong ứng xử người ta quan tâm tới cả cái ý thức và vô thức Ứng xử thường mang tính chất tình huống, còn giao tiếp là cả một quá trình Do vậy, khái niệm giao tiếp rộng hơn ứng xử Ứng xử là những phản ứng hành vi của con người nảy sinh trong quá trình giao tiếp

Hoạt động giao tiếp được đề cập tới trong phạm vi luận án này là giao tiếp công vụ Giao tiếp trong hoạt động công vụ là hoạt động giao tiếp đặc biệt vì nó gắn với yếu tố công quyền, được cán bộ, công chức thiết lập trong quá trình thực thi công vụ nhằm mục tiêu thực thi quyền lực nhà nước và phục vụ khách hàng của nhà nước Vì thế, hoạt động giao tiếp này mang những đặc trưng quan trọng như sau:

- Có tính định hướng: Mọi nghi thức, hành vi giao tiếp đề phải hướng tới và trên cơ sở thực hịên chức năng, nhiệm vụ

- Công khai: Giao tiếp công vụ mang tính công khai theo cũng nội dung và phương thức quy định nhằm đảm bảo tính dân chủ, hợp pháp trong hoạt động quản

lý hành chính, đồng thời, giao tiếp phải tuân theo những quy định của pháp luật về giữ gìn bí mật quốc gia

- Tính liên tục: Tính thường xuyên liên tục thể hiện tính liên tục trong phục

vụ và đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của nhân dân

- Tính thứ bậc: Tính thứ bậc thể hiện ngay trong cách xưng hô giữa cấp trên với cấp dưới với các chức danh, chức vụ do pháp luật quy định Tính thứ bậc còn thể hiện trong trình tự làm việc, chức năng nhiệm vụ của từng người Như vậy, giao tiếp công vụ có tính tổ chức rất cao, cán bộ công chức với tư cách là bên tham gia giao tiếp có sử dụng quyền lực công Các cá nhân hay các phòng ban chỉ thực hiện giao tiếp trong phạm vi của mình theo chức năng nhiệm vụ được giao

- Tính chuẩn mực: Tính chuẩn mực trước hết được thể hiện ở các văn bản quy phạm pháp luật quy định các chuẩn mực giao tiếp công vụ của cán bộ công chức Các hành vi giao tiếp cần đảm bảo tính văn minh, lịch sự

- Tính tương tác: Tương tác là điều kiện để hoạt động công vụ đạt hiệu quả cao, thông qua tương tác là sợi dây kết nối nhà nước với nhân dân, tổ chức và trong

Trang 33

nội bộ các tổ chức với nhau Quá trình tương tác là trong giao tiếp là đặc điểm quan trọng, không thể thiếu trong giao tiếp công vụ

- Đa dạng về hình thức thể hiện: Các hình thức thể hiện trong giao tiếp công

vụ như trực tiếp, gián tiếp, giao tiếp bằng ngôn từ và phi ngôn từ, giao tiếp bằng văn bản, bằng khẩu ngữ, trong nội bộ tổ chức bên ngoài…

- Văn bản là công cụ chính thức và quan trọng nhất: Sản phẩm của hoạt động công vụ là các văn bản hành chính nhà nước Văn bản giúp cố định hoá thông tin, truyền thông tin một cách nhanh chóng, chính xác và kinh tế, lưu giữ thông tin được lâu dài

- Được sử dụng phương thức truyền thông rộng rãi: So với các loại giao tiếp khác trong xã hội thì giao tiếp công vụ là loại giao tiếp được thực hiện thông qua nhiều phương tiện truyền thông như báo chí, đài truyền thanh, truyền hình… với tần suất cao hơn hẳn

- Tính phức tạp: Tính phức tạp là một trong những đặc tính hàng đầu giúp phân biệt quá trình giao tiếp công vụ với quá trình này ở các tổ chức, bối cảnh khác Các hành vi giao tiếp cụ thể như báo cáo, chỉ thị hay trao đổi, thảo luận luôn trực tiếp hoặc ẩn chứa các thông tin kèm theo về vị thế quyền lực của các bên giao tiếp Tính hiệu quả: Tính hiệu quả trong giao tiếp công vụ được thể hiện ở hiệu quả làm việc trong tổ chức, mối quan hệ giữa các thành viên trong tổ chức với nhân dân

2.1.2 Khái niệm văn hóa giao tiếp

2.1.2.1 Khái niệm, chức năng của văn hóa

Trong lịch sử phát triển của nhân loại, có nhiều cách hiểu khác nhau về văn hóa, mỗi quan niệm đều chứa đựng, phản ánh một cách nhìn nhận, đánh giá khác nhau Văn hóa là sản phẩm của con người; là hệ quả của sự tiến hóa nhân loại Nhờ

có văn hóa mà con người trở nên độc đáo trong thế giới sinh vật và khác biệt so với những con vật khác trong thế giới động vật Tuy nhiên, để hiểu về khái niệm văn hóa đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau, do đó có những định nghĩa khác nhau

về Văn hóa

Năm 1952, A.L Kroeber và Kluckhohn xuất bản cuốn sách chuyên bàn về các định nghĩa văn hóa nhan đề: Văn hóa – tổng luận phê phán các quan niệm và định nghĩa (Culture: a critical review of concepts and definitions) [86, sđd], trong đó các tác giả đã trích lục khoảng 160 định nghĩa về văn hóa do các nhà khoa học đưa ra ở nhiều nước khác nhau Trong lần xuất bản thứ hai của cuốn sách này, số định nghĩa văn hoá

đã tăng lên đến trên 200 Điều này cho thấy, khái niệm “Văn hóa” rất phức tạp

F Boas định nghĩa “Văn hóa là tổng thể các phản ứng tinh thần, thể chất và

những hoạt động định hình nên hành vi của cá nhân cấu thành nên một nhóm người vừa có tính tập thể vừa có tính cá nhân trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên của họ, với những nhóm người khác, với những thành viên trong nhóm và của chính các thành viên này với nhau” [37, sđd] Theo định nghĩa này, mối quan hệ giữa cá

nhân, tập thể và môi trường là quan trọng trong việc hình thành văn hóa của con người Một định nghĩa khác về văn hóa mà A.L Kroeber và Kluckhohn đưa ra là

Trang 34

“Văn hóa là những mô hình hành động minh thị và ám thị được truyền đạt dựa trên những biểu trưng, là những yếu tố đặc trưng của từng nhóm người… Hệ thống văn hóa vừa là kết quả hành vi vừa trở thành nguyên nhân tạo điều kiện cho hành vi tiếp theo” [37, sđd]

Ở Việt Nam, văn hóa cũng được định nghĩa rất khác nhau Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, khái niệm văn hoá được hiểu theo cả ba nghĩa rộng, hẹp và rất hẹp: Theo nghĩa rộng, Hồ Chí Minh cho rằng văn hoá là toàn bộ những giá trị vật

chất và tinh thần do loài người sáng tạo ra “Văn hoá là sự tổng hợp của mọi

phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [40, sđd] Theo

nghĩa hẹp, văn hoá là những giá trị tinh thần Người viết: Trong công cuộc kiến thiết nước nhà, có bốn vấn đề cần chú ý đến, cũng phải coi là quan trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá Nhưng văn hoá là một kiến trúc thượng tầng [58] Theo nghĩa rất hẹp, văn hoá đơn giản chỉ là trình độ học vấn của con người được đánh giá bằng trình độ học vấn phổ thông, thể hiện ở việc Hồ Chí Minh yêu cầu mọi người “phải đi học văn hóa”, “xóa mù chữ”

Đặc biệt, năm 1943 Hồ Chí Minh viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của

cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoại hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [40, sđd] Đây có thể coi là định nghĩa văn

hóa của Hồ Chí Minh Trong định nghĩa này, Hồ Chí Minh cho chúng ta hiểu được:

- Văn hóa là những sáng tạo và phát minh của con người

- Nguồn gốc của văn hóa là lẽ sinh tồn của con người

- Văn hóa là mục đích và động lực của cuộc sống, nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn

- Cấu trúc của văn hóa: ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, luật pháp, khoa học, tôn giáo, văn học - nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng

- Văn hóa là tổng hợp mọi phương thức sinh hoạt (ứng xử, giao tiếp)

Định nghĩa văn hóa của Hồ Chí Minh có nhiều điểm gần giống với quan niệm hiện đại của UNESCO về văn hóa theo các khía cạnh: phức thể, tổng thể nhiều mặt: nét riêng biệt, đặc trưng riêng về tinh thần và vật chất, khắc họa nên bản sắc; nghệ thuật, văn chương, và những quyền cơ bản của con người, hệ thống giá trị: cách ứng

xử và sự giao tiếp Theo UNESCO, văn hóa được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và

nghĩa hẹp Theo nghĩa rộng thì “Văn hóa là một phức hệ - tổng hợp các đặc trưng

diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả lối sống, những quyền cơ bản của con người,

Trang 35

những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng…”; còn hiểu theo nghĩa hẹp

thì “Văn hóa là tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu) chi phối cách ứng xử và

giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng đó có đặc thù riêng” [57]

Trần Ngọc Thêm (1991) đã định nghĩa văn hóa như sau: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị (vật chất và tinh thần, tĩnh và động, vật thể và phi vật thể…)

do con người sáng tạo ra và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình Cách định nghĩa này bao quát nhiều cách tiếp cận khác nhau, cách hiểu khác nhau về văn hóa, mà còn có thể cho phép ta nhận diện được một hiện tượng văn hóa và phân biệt nó với những hiện tượng khác không phải là văn hóa – từ những hiện tượng phi giá trị, những giá trị tự nhiên thiên tạo, cho đến những giá trị nhân tạo chưa có tính lịch sử [66]

Với cách hiểu này cùng với những định nghĩa đã nêu thì văn hóa chính là nấc thang đưa con người vượt lên trên những loài động vật khác; và văn hóa là sản phẩm do con người tạo ra trong quá trình lao động nhằm mục đích sinh tồn

Các cách tiếp cận nói trên đều chỉ ra một số đặc điểm chung của văn hoá như sau:

- Văn hoá là một thuộc tính riêng có của con người Và nếu xét từ góc độ biểu hiện của trình độ tiến hoá, của nền văn minh mà con người đã và đang xây dựng, thì văn hoá có thể coi là một thành tựu vĩ đại của thế giới loài người

- Văn hoá không phải là một sản phẩm được con người sản xuất ra từ các vật liệu

vô cơ hay hữu cơ, dù có thể hình thức biểu hiện của nó là các sản phẩm đó, mà đó là sự thừa nhận, công nhận, sự sáng tạo của con người, do lịch sử tiến hoá của con người tạo nên Và vì thế, văn hoá của bất kì quốc gia, dân tộc, cộng đồng, tổ chức nào cũng mang đậm những giá trị lịch sử của quốc gia, dân tộc, cộng đồng, tổ chức đó, do những con người trong cộng đồng quốc gia, dân tộc đó tạo nên

- Giá trị của văn hoá không hoàn toàn có tính bất biến Có những giá trị văn hoá tồn tại lâu dài, làm nên bản sắc, nét đặc trưng của quốc gia, dân tộc, tổ chức; song cũng có những giá trị văn hoá thay đổi theo sự thay đổi của hệ thống chính trị, của nền kinh tế - xã hội, của các mối quan hệ giữa con người với con người

- Các giá trị văn hoá do con người sáng tạo ra nhằm làm cho cuộc sống của con

người tốt đẹp hơn

Đặc trưng thứ nhất của văn hóa là tính hệ thống [67] Đặc trưng này cần để phân biệt hệ thống với tập hợp; nó giúp phát hiện những mối liên hệ mật thiết giữa các hiện tượng, sự kiện thuộc một nền văn hóa, phát hiện các đặc trưng, những quy luật hình thành và phát triển của nó.Vì có tính hệ thống mà văn hóa, với tư cách là một thực thể bao trùm mọi hoạt động của xã hội, thực hiện được chức năng tổ chức

xã hội Văn hóa là cơ sở làm tăng độ ổn định của xã hội, cung cấp cho xã hội mọi phương tiện cần thiết để ứng phó với môi trường tự nhiên và xã hội của mình Vì thế, văn hóa chính là nền tảng của xã hội

Đặc trưng thứ hai của văn hóa là tính giá trị [67] Văn hóa theo nghĩa đen nghĩa là "trở thành đẹp, thành có giá trị", đặc trưng này cần để phân biệt giá trị với phi giá trị Nó là thước đo mức độ nhân bản của xã hội và con người Các giá trị văn

Trang 36

hóa, theo mục đích có thể chia thành giá trị vật chất (phục vụ cho nhu cầu vật chất)

và giá trị tinh thần (phục vụ cho nhu cầu tinh thần); theo ý nghĩa có thể chia thành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức và giá trị thẩm mĩ; theo thời gian có thể phân biệt các giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời Sự phân biệt các giá trị theo thời gian cho phép

ta có được cái nhìn biện chứng khách quan trong việc đánh giá tính giá trị của sự vật, hiện tượng; tránh được nhưng xu hướng cực đoan - phủ nhận sạch trơn hoặc tán dương hết lời

Đặc trưng thứ ba của văn hóa là tính nhân sinh [67] Tính nhân sinh cho phép phân biệt văn hóa như một hiện tượng xã hội (do con người sáng tạo, nhân tạo) với các giá trị tự nhiên (thiên tạo) Văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người

Sự tác động của con người vào tự nhiên có thể mang tính vật chất (như việc luyện quặng, đẽo gỗ ) hoặc tinh thần (như việc đặt tên, truyền thuyết cho các cảnh quan thiên nhiên) Do mang tính nhân sinh, văn hóa trở thành sợi dây nối liền con người với con người, nó thực hiện chức năng giao tiếp và có tác dụng liên kết họ lại với nhau Nếu ngôn ngữ là hình thức của giao tiếp thì văn hóa là nội dung của nó

Đặc trưng thứ tư của văn hóa là tính lịch sử [67] Nó cho phép phân biệt văn hóa - như sản phẩm của một quá trình và được tích lũy qua nhiều thế hệ, với văn minh - như sản phẩm cuối cùng, chỉ ra trình độ phát triển của từng giai đoạn Tính lịch sử tạo cho văn hóa tính bề dày một chiều sâu, nó buộc văn hóa thường xuyên tự điều chỉnh, tiến hành phân loại và phân bố lại các giá trị Tính lịch sử được duy trì bằng truyền thống văn hóa, đó là những giá trị tương đối ổn định (những kinh nghiệm tập thể) được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và thời gian, được đúc kết thành những khuôn mẫu xã hội và cố định hóa dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ, luật pháp, dư luận, v.v

Chức năng của văn hóa

Thứ nhất, văn hóa có chức năng tổ chức [67] Xã hội loài người được tổ chức theo những cách thức đặc biệt thành những tổ nhóm, hội đoàn, đô thị, làng xã, quốc gia, v.v., mà giới động vật chưa hề biết tới – đó là nhờ văn hóa Làng xã, quốc gia,

đô thị… của mỗi dân tộc lại cũng khác nhau – điều đó cũng do sự chi phối của văn hóa Chính tính hệ thống của văn hóa là cơ sở cho chức năng này

Thứ hai, văn hóa có chức năng điều chỉnh [67] Mọi sinh vật đều có khả năng thích nghi với môi trường xung quanh bằng cách tự biến đổi mình sao cho phù hợp với tự nhiên qua cơ chế di truyền và chọn lọc tự nhiên Tính giá trị là cơ sở cho chức năng điều chỉnh của văn hóa Nhờ có chức năng điều chỉnh, văn hóa trở thành mục tiêu và động lực của sự phát triển trong xã hội loài người

Thứ ba, văn hóa có chức năng giao tiếp [67] Văn hóa tạo ra những điều kiện và phương tiện (như ngôn ngữ và các hệ thống ký hiệu) cho sự giao tiếp ấy, văn hóa là môi trường giao tiếp của con người Đến lượt mình, văn hóa cũng là sản phẩm của giao tiếp: các sản phẩm của văn hóa có thể được tạo ra bằng hoạt động của các cá nhân riêng rẽ, nhưng văn hóa thì chỉ là sản phẩm của hoạt động xã hội Tính nhân sinh là cơ sở cho chức năng giao tiếp của văn hóa

Trang 37

Thứ tư, văn hóa có chức năng giáo dục [67] Văn hóa thực hiện chức năng giáo dục không chỉ bằng những giá trị đã ổn định (truyền thống), mà còn bằng cả những giá trị đang hình thành Các giá trị đã ổn định và những giá trị đang hình thành tạo thành một hệ thống chuẩn mực mà con người hướng tới Nhờ nó mà văn hóa đóng vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách ở con người, trồng người (dưỡng dục nhân cách), tạo nên nền tảng tinh thần của xã hội Văn hóa đưa con người gia nhập vào cộng đồng xã hội; bởi vậy mà có người gọi chức năng này của văn hóa là chức năng xã hội hóa

Ngoài bốn chức năng cơ bản trên, còn có thể nói đến các chức năng khác của văn hóa như chức năng nhận thức, chức năng thẩm mỹ, chức năng giải trí, v.v., song chúng đều chỉ là những chức năng bộ phận hoặc phái sinh từ bốn chức năng cơ bản đã nêu (ví dụ chức năng thẩm mỹ và chức năng giải trí chỉ có ở thành tố nghệ thuật là một bộ phận của văn hoá; chức năng nhận thức hàm chứa trong chức năng giáo dục)

2.1.2.2 Văn hóa giao tiếp

Văn hóa giao tiếp là một bộ phận trong tổng thể văn hóa nhằm chỉ quan hệ giao tiếp có văn hóa của mỗi người trong xã hội (giao tiếp một cách lịch sự, thái độ thân thiện, cởi mở, chân thành, thể hiện sự tôn trọng nhau), là tổ hợp của các thành tố: lời nói, cử chỉ, hành vi, thái độ, cách ứng xử… Văn hóa giao tiếp là những hành

vi ứng xử được con người lựa chọn khi giao tiếp với nhau, sao cho vừa đạt được mục đích giao tiếp ở một mức độ nhất định, vừa mang lại sự hài lòng cho các bên, phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện cụ thể

Đối với các vi phạm của người dân ở nơi khác đến Đà Nẵng do không thuộc đường, cảnh sát giao thông thường lựa chọn biện pháp nhắc nhở và hướng dẫn bằng thái độ mềm mỏng thay cho xử phạt đã khiến người dân cảm kích, hơn thế họ còn ghi nhớ tình huống này để không có những vi phạm lần sau Đây là ví dụ cho thấy

cả hai bên trong giao tiếp đã lựa chọn cách đối xử phù hợp và đem lại sự hài lòng cho cả hai Tuy nhiên cũng với lỗi như vậy, ở nhiều nơi cảnh sát giao thông lại quát mắng, tìm cách để bắt bẻ, thậm chí có thái độ vòi vĩnh người vi phạm sẽ khiến người vi phạm có thái độ bất hợp tác, coi thường cảnh sát giao thông, tiếp tục vi phạm nếu có điều kiện Đây chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng coi thường pháp luật và cảnh sát giao thông của một bộ phận không nhỏ người dân hiện nay Nói tới giao tiếp của con người là nói đến các quan hệ xã hội mà ở đó con người vừa là chủ thể, vừa là khách thể; nói tới các tổ chức mà con người tồn tại trong đó với

tư cách thành viên Vì thế, thuật ngữ giao tiếp được tiếp cận trong đề tài này là giao tiếp trong tổ chức Bất kì tổ chức nào được hình thành cũng đều dựa trên sáu yếu tố

cơ bản, đó là: hệ thống thủ tục, kĩ thuật điều hành, nguồn nhân lực và các nguồn lực khác, cách thức tổ chức bộ máy, phương hướng, chiến lược phát triển và mục tiêu mà

tổ chức cần đạt được Nền tảng để sáu yếu tố đó kết hợp có hiệu quả với nhau, giúp tổ chức hoàn thành được mục tiêu để tồn tại và phát triển chính là quá trình giao tiếp Do vậy, văn hoá giao tiếp ở đây cũng sẽ được nhìn nhận từ góc độ một tổ chức cụ thể

Sự kết hợp cách hiểu hai thuật ngữ văn hoá và giao tiếp trên đây dẫn tới cách nhìn nhận về văn hoá giao tiếp như sau:

Trang 38

Thứ nhất, văn hoá là những giá trị tốt đẹp, có tác động, ảnh hưởng tới tư duy, cách hành động, ứng xử của mỗi thành viên tổ chức; đồng thời, chính nó giúp tạo dựng hình ảnh, “thương hiệu” đẹp cho các thành viên của tổ chức;

Thứ hai, yếu tố văn hoá trong thuật ngữ văn hoá giao tiếp được nhìn nhận dưới góc độ tính từ Vì thế, văn hoá giao tiếp được hiểu là những cách thức, những tiêu chí, những chuẩn mực trong giao tiếp của các thành viên trong tổ chức phù hợp với nền tảng văn hoá của tổ chức và của quốc gia, dân tộc mà tổ chức tồn tại;

Thứ ba, bản thân quá trình giao tiếp của các thành viên trong tổ chức đã mang những giá trị văn hoá nhất định, được đặc trưng bởi những giá trị lịch sử của tổ chức

đó và của quốc gia, dân tộc

Qua những phân tích trên đây có thể đi tới nhận định: Văn hóa giao tiếp là một

bộ phận của văn hóa, góp phần tạo nên cái hay, cái đẹp trong mối quan hệ giữa con người với con người Văn hóa giao tiếp giúp xây dựng và củng cố các mối quan hệ

xã hội ngày càng bền chặt; thúc đẩy các hoạt động khác, tạo tiền đề thuận lợi cho những hoạt động đó diễn ra đạt hiệu quả Thông qua giao tiếp, văn hóa lan tỏa từ người này sang người khác, chuẩn mực giá trị cũng theo đó mà lan rộng, thấm sâu vào đời sống xã hội, làm cho xã hội trở thành xã hội văn hóa Các hoạt động sống của con người nhờ đó cũng trở nên tốt đẹp hơn, mang ý nghĩa nhân văn cao cả hơn Văn hóa ứng xử là tập hợp những nét đẹp, thể hiện qua các thái độ, hành động phân xử, đối ứng với một thái độ, hành vi khác Văn hóa ứng xử là hệ thống thái độ ứng xử, khuôn mẫu, kỹ năng ứng xử của cá nhân và cộng đồng người trong mối quan

hệ với môi trường thiên nhiên, xã hội và bản thân, dựa trên những chuẩn mực xã hội nhằm bảo tồn, phát triển cuộc sống của cá nhân và cộng đồng người hướng đến cái đúng cái đẹp Văn hóa ứng xử đóng vai trò rất quan trọng trong mọi mối quan hệ của con người Nó thể hiện hành vi, cử chỉ, thái độ, ngôn ngữ, nhân cách, đạo đức của cá nhân trong xã hội Với mỗi một mối quan hệ hay một môi trường, văn hóa ứng xử lại đóng vai trò khác nhau nhưng luôn tuân theo những quan niệm, những giá trị chung phù hợp với hành vi, lối sống chuẩn mực của người việt

Trong tổ chức, văn hóa ứng xử là một trong những nhân tố góp phần tạo nên hình ảnh tổ chức, được thể hiện thông qua cách ứng xử giữa cấp trên và cấp dưới, giữa đồng nghiệp với nhau, có ảnh hưởng lớn tới hiệu quả công việc và thành công của tổ chức Do đó, văn hóa ứng xử là một phần của văn hóa tổ chức, có vai trò xây dựng, củng cố các mối quan hệ trong tổ chức, phát triển văn hóa tổ chức Trong gia đình, ứng xử văn hóa chính là nét đẹp lâu đời, một nét đẹp truyền thống của dân tộc Việt Nam: sự hoà thuận, chung thuỷ, tình nghĩa, lòng yêu thương và hy sinh cho con cái, tôn trọng và hiếu đễ với cha mẹ, anh em Nhiều gia đình luôn biết cách tạo dựng, giữ gìn những nét văn hóa ứng xử ấy tạo nên nề nếp gia phong

Hành vi ứng xử văn hóa là những biểu hiện hoạt động bên ngoài của con người, được thể hiện ở lối sống, nếp sống, suy nghĩ và cách ứng xử của con người đối với bản thân, với những người chung quanh, trong công việc và môi trường hoạt động hằng ngày Tuy nhiên hành vi ứng xử văn hóa của mỗi cá nhân là khác nhau,

nó được hình thành qua quá trình học tập, rèn luyện và trưởng thành của mỗi cá

Trang 39

nhân trong xã hội Hành vi ứng xử văn hóa được coi là các giá trị văn hóa, đạo đức, thẩm mỹ của mỗi cá nhân được thể hiện thông qua thái độ, hành vi, cử chỉ, lời nói của mỗi cá nhân đó Nó được biểu hiện trong mối quan hệ với những người xung quanh, trong học tập, công tác, với bạn bè cùng trang lứa và thậm chí ngay cả với chính bản thân họ

Từ những nội dung về văn hóa công vụ trong trong đề tài “Văn hóa công vụ ở Việt Nam hiện nay”, Đề tài nghiên cứu khoa học thuộc chương trình trọng điểm cấp nhà nước của TS Huỳnh Văn Thới (2015), có thể thấy, trong quá trình thi hành công vụ, cán bộ, công chức phải tuân thủ những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực đặc biệt để điều chỉnh mối quan hệ giữa họ với nhau và với nhân dân, khách hàng - những đối tượng mà họ phải phục vụ Điều đặc biệt là những nguyên tắc, chuẩn mực này ngoài việc bao gồm hệ thống những quy phạm xã hội thông thường, thì còn có những quy định được thể chế hoá, được nhà nước thừa nhận và buộc mọi đối tượng cán bộ, công chức phải tuân theo Tổng hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực

đó hình thành nên văn hóa công vụ

Các quốc gia tiến bộ đều mong muốn có được một nền công vụ chuyên nghiệp, trong sạch, dân chủ, khách quan đảm bảo bộ máy nhà nước hoạt động hiệu lực, hiệu quả nhằm phục vụ người dân ngày một tốt hơn [35] Văn hóa công vụ, do đó, được xem là một hệ thống những giá trị, cách ứng xử, biểu tượng, chuẩn mực được hình thành trong quá trình xây dựng và phát triển công vụ, có khả năng lưu truyền và có tác động tới tâm lý, hành vi của người thực thi công vụ [35] Xem xét cấu trúc của văn hóa công vụ với tư cách là hệ thống các giá trị thì nó là kết quả tổng hợp của các yếu tố sau:

+ Tri thức và sự hiểu biết công vụ: Sự hiểu biết công vụ không chỉ biểu hiện ở trình độ học vấn công vụ mà còn ở trình độ kinh nghiệm, sự từng trải, sự nhạy bén, mẫn cảm

+ Niềm tin công vụ: Niềm tin chính là mẫu số chung của sự ổn định chính trị,

ổn định trong hoạt động công vụ

+ Các truyền thống hoạt động công vụ: Cơ sở lịch sử xã hội của văn hóa công

vụ được hình thành từ những nhân tố như: truyền thống, các giá trị đạo đức đã được các thế hệ trước tạo ra trong quá trình lịch sử, địa chính trị, đạo đức, thẩm mỹ, tôn giáo

+ Những lý tưởng cao đẹp mà con người phấn đấu đạt tới trong hoạt động công vụ: Những lý tưởng cao đẹp vừa đóng vai trò là động lực kích thích hoạt động chính trị vừa đóng vai trò là xung lực nội tại để hoàn thiện tư chất của chủ thể chính trị vươn tới những giá trị chân, thiện, mỹ trong hoạt động chính trị

+ Chuẩn mực công vụ: Chuẩn mực công vụ là hệ thống nguyên tắc, các quy định mang tính pháp lý của tổ chức mà mọi công chức phải tuân thủ và hành động nhằm thực hiện lý tưởng chính trị và giá trị văn hóa công vụ

+ Phương thức tổ chức và quản lý nhà nước để biến những giá trị công vụ đã được thiết lập thành niềm tin, động cơ, nhu cầu, thói quen công vụ: Đây chính là

Trang 40

quá trình thực hành văn hóa công vụ trong hoạt động của chủ thể Chỉ trên cơ sở này mới tạo cho văn hóa công vụ sự ổn định vững chắc Vì vậy, đây cũng là tiêu chí để đánh giá trình độ trưởng thành về văn hóa công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức

Từ các phân tích trên đây có thể thấy, văn hóa công vụ và văn hóa giao tiếp có mối quan hệ biện chứng: giao tiếp có văn hóa trong công vụ là cơ sở để xây dựng văn hóa công vụ; một nền công vụ có văn hóa chính là nền tảng bảo đảm cho các giao tiếp trong đó có văn hóa

Tiếp thu quan điểm từ của các tác giả từ công trình nghiên cứu về văn hóa công vụ, có thể xem xét yếu tố cấu thành văn hóa giao tiếp từ góc độ sau:

Các yếu tố cấu thành văn hóa giao tiếp:

Các yếu tố cấu thành văn hóa công vụ phải gắn liền với những khía cạnh khác nhau của nó, có 3 phương diện cơ bản:

- Phương diện thứ nhất: Cấu trúc của văn hóa giao tiếp với tư cách là hệ

thống các giá trị

Với ý nghĩa đó, văn hóa công vụ là kết quả tổng hợp của các yếu tố: tri thức và

sự hiểu biết công vụ; niềm tin ; các truyền thống hoạt động công vụ; những lý tưởng cao đẹp mà con người phấn đấu đạt tới trong hoạt động ; chuẩn mực công vụ; phương thức tổ chức và quản lý nhà nước để biến những giá trị giao tiếp đã được thiết lập thành niềm tin, động cơ, nhu cầu, thói quen

- Phương diện thứ hai: Cấu trúc của văn hóa giao tiếp với tư cách là sản

phẩm hoạt động của các chủ thể

Chủ thể của văn hóa giao tiếp là con người - đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước Chính trong thực tiễn công vụ, các chủ thể tạo cho mình hệ thống các giá trị văn hóa giao tiếp, tạo nên đặc trưng, văn hóa giao tiếp của mình Văn hóa cá nhân thường được nhìn nhận, đánh giá qua những yếu tố như: trình độ hiểu biết của mỗi

cá nhân với tư cách là cán bộ, công chức nhà nước Trình độ đó được biểu hiện ở ý thức, thái độ, lập trường quan điểm, trách nhiệm trong công việc; thái độ đối với những sai trái trong công tác… Văn hóa tổ chức do văn hóa của cá nhân hợp thành Chuẩn mực ứng xử thể hiện ở: cách thức giao tiếp trong nội bộ và với bên ngoài Đối với bên trong như: quan hệ nhân sự (đặc biệt là giữa lãnh đạo với nhau và với cấp dưới), cách ứng xử với những yếu tố, những người mới, cách đối mặt với thất bại của

tổ chức và cá nhân; thái độ đối với rủi ro, số lượng, độ phức tạp và tần suất của các tin đồn trong đời sống làm việc; đối với bên ngoài: sự nhận diện và nêu vấn đề, sự xác định vai trò các bên liên quan…; các nghi thức, nghi lễ

- Phương diện thứ ba: Cấu trúc văn hóa giao tiếp theo cấp độ thẩm thấu giá

trị văn hóa vào hoạt động giao tiếp công vụ

Nhiều ý kiến thống nhất cho rằng văn hóa công vụ có 3 lớp:

- Lớp ngoài cùng - các yếu tố thực thể hữu hình liên quan đến công sở, nghi thức, lễ tân, những hành vi giao tiếp, ứng xử của cán bộ, công chức

- Lớp giữa - các yếu tố về giá trị thể hiện, các chuẩn mực: Các quy định, nguyên tắc, chuẩn mực, qua thời gian áp dụng dần trở thành thông lệ, thành quy tắc ứng xử

Ngày đăng: 24/02/2021, 17:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Bộ Công an (2012), Thông tư số 52/2012/TT-BCA ngày 10/8/2012 quy định tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục xét và công nhận “Đơn vị văn hóa, gương mẫu chấp hành điều lệnh Công an nhân dân” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đơn vị văn hóa, gương mẫu chấp hành điều lệnh Công an nhân dân
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2012
13. Bộ Công an (2016), Kế hoạch số 31/KH-BCA-X11 ngày 18/02/2016 sơ kết 5 năm thực hiện Thông tư số 52/2012/TT-BCA quy định tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục xét công nhận “Đơn vị văn hóa, gương mẫu chấp hành điều lệnh CAND” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đơn vị văn hóa, gương mẫu chấp hành điều lệnh CAND
Tác giả: Bộ Công an
Năm: 2016
22. Công an thành phố Hà Nội, Hướng dẫn số 1538/HD-CAHN-PX15 để hướng dẫn áp dụng tiêu chuẩn , trình tự, thủ tục xét và công nhận “Đơn vị văn hóa, gương mẫu chấp hành điều lệnh Công an nhân dân” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đơn vị văn hóa, gương mẫu chấp hành điều lệnh Công an nhân dân
25. Cục Chính trị - Hậu cần Cảnh sát Quản lí hành chính (2012), Văn hóa ứng xử của người cảnh sát quản lí hành chính về trật tự, an toàn xã hội, Nhà xuất bản Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa ứng xử của người cảnh sát quản lí hành chính về trật tự, an toàn xã hội
Tác giả: Cục Chính trị - Hậu cần Cảnh sát Quản lí hành chính
Nhà XB: Nhà xuất bản Công an nhân dân
Năm: 2012
29. Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân, Hướng dẫn số 7754/HD- X11-X15 quy định về định tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục xét và công nhận “Đơn vị văn hóa, gương mẫu chấp hành điều lệnh Công an nhân dân” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đơn vị văn hóa, gương mẫu chấp hành điều lệnh Công an nhân dân
32. Trần Thúy Anh, (2004), Ứng xử văn hóa trong du lịch, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng xử văn hóa trong du lịch
Tác giả: Trần Thúy Anh
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2004
33. Lê Thị Trúc Anh (2011), Đổi mới nhận thức về giao tiếp hành chính của cán bộ công chức nhìn từ vai trò của Nhà nước, Tạp chí Phát triển nhân lực, số 5(26)-2011, tr57-62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới nhận thức về giao tiếp hành chính của cán bộ công chức nhìn từ vai trò của Nhà nước
Tác giả: Lê Thị Trúc Anh
Năm: 2011
36. Nguyễn Đức Từ Chi (2003), Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người, Nxb Chính trị Quốc gia, tr. 565, 570 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần nghiên cứu văn hóa và tộc người
Tác giả: Nguyễn Đức Từ Chi
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
37. Vũ Minh Chi (2004), Nhân học văn hóa – con người với thiên nhiên, xã hội và thế giới siêu nhiên, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân học văn hóa – con người với thiên nhiên, xã hội và thế giới siêu nhiên
Tác giả: Vũ Minh Chi
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
38. Phạm Đức Dương (2002), Từ văn hoá đến văn hoá học, Viện Văn học và Nxb Văn hoá – thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ văn hoá đến văn hoá học
Tác giả: Phạm Đức Dương
Nhà XB: Nxb Văn hoá – thông tin
Năm: 2002
39. Nguyễn Trọng Điều, Đinh Văn Tiến (đồng chủ biên, 2002), Giao tiếp ứng xử trong hành chính, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp ứng xử trong hành chính
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
41. Nguyễn Đức (2007), “Đạo đức thân dân là văn hoá chính trị”, Người đại biểu Nhân dân, www.nguoidaibieu.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức thân dân là văn hoá chính trị
Tác giả: Nguyễn Đức
Năm: 2007
42. PGS.TS. Phạm Duy Đức (2009), Phát triển văn hoá Việt Nam trong thời kỳ đổi mới hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển văn hoá Việt Nam trong thời kỳ đổi mới hiện nay
Tác giả: PGS.TS. Phạm Duy Đức
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
43. PGS.TS. Nguyễn Duy Gia (1994), Nâng cao quyền lực - năng lực - hiệu quả quản lý nhà nước. Nâng cao hiệu lực pháp luật. Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao quyền lực - năng lực - hiệu quả quản lý nhà nước. Nâng cao hiệu lực pháp luật
Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Duy Gia
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 1994
44. Mai Hữu Khuê (1997), Kĩ năng giao tiếp trong hành chính, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kĩ năng giao tiếp trong hành chính
Tác giả: Mai Hữu Khuê
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 1997
45. Nguyễn Thị Hà (2015), Kỹ năng giao tiếp, ứng xử nhằm góp phần nâng cao hiệu quả giao tiếp nội bộ của cơ quan , Nội san tháng 4,5,6 /2015, Khoa Văn bản và CNHC Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng giao tiếp, ứng xử nhằm góp phần nâng cao hiệu quả giao tiếp nội bộ của cơ quan
Tác giả: Nguyễn Thị Hà
Năm: 2015
46. Tô Tử Hạ (2003), Từ điển hành chính, Nxb Lao động – Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển hành chính
Tác giả: Tô Tử Hạ
Nhà XB: Nxb Lao động – Xã hội
Năm: 2003
47. Tô Tử Hạ (1998), Công chức và vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ công chức hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công chức và vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ công chức hiện nay
Tác giả: Tô Tử Hạ
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
48. Phạm Trung Hòa, Nâng cao văn hóa ứng xử trong giao tiếp của Cảnh sát giao thông đáp ứng yêu cầu đảm bảo trật tự an toàn giao thông, Tạp chí Cảnh sát nhân dân, http://www.canhsatnhandan.vn/Home/MagazineStory?ID=43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao văn hóa ứng xử trong giao tiếp của Cảnh sát giao thông đáp ứng yêu cầu đảm bảo trật tự an toàn giao thông
35. Ngô Thành Can, http://isos.gov.vn/Thongtinchitiet/tabid/84/ArticleId/1054/language/vi-VN/Nh-ng-d-c-di-m-va-gia-tr-c-b-n-c-a-van-hoa-cong-v.aspx Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w