Mác và Ăng- ghen từng nói: “Sự kết hợp giữa trí dục và thể dục với lao động sản xuất không chỉ là phương tiện để nâng cao năng suất mà còn là phương thức cơ bản nhất để đào tạo ra những
Trang 1sự nghiệp đào tạo cho đất nước những con người có đầy đủ những phẩm chất vềđức, trí, thể, mĩ Mác và Ăng- ghen từng nói: “Sự kết hợp giữa trí dục và thể dục với lao động sản xuất không chỉ là phương tiện để nâng cao năng suất mà còn là phương thức cơ bản nhất để đào tạo ra những con người phát triển toàn diện”.
Bởi vậy, giáo dục thể chất cho học sinh ở tất cả các cấp học đặc biệt là học sinhphổ thông là một nhiệm vụ cần thiết không thể thiếu trong chương trình giáo dụcquốc gia Chương trình giáo dục thể chất trong các trường phổ thông là một hệthống các bộ môn thể dục thể thao rất đa dạng và phong phú Nhưng trong đóđiền kinh được xem là một bộ môn cơ bản nhất, dễ học, dễ phổ biến ở tất cả cácđối tượng học sinh, tham gia luyện tập Tập luyện điền kinh không chỉ có tácdụng nâng cao sức khoẻ mà nó còn là phương tiện để phát triển tất cả các tố chấtthể lực giúp con người phát triển toàn diện Chính vì vậy, mà điền kinh đượcxem là môn học chính trong chương trình giáo dục thể chất ở trường phổ thông
Điền kinh bao gồm nhiều môn thi đấu Trong đó, chạy nói chung và chạy
cự li 100m nói riêng, là môn học được tập luyện và thi đấu khá phổ biến và rộngrãi ở các trường phổ thông, các hội khoẻ Phù đổng từ trung ương đến địa
Trang 2phương Tuy nhiên thành tích chạy 100m của học sinh Việt Nam so với khu vực
và thế giới còn khá khiêm tốn Bởi vậy mà việc giảng dạy môn chạy cự li ngắncho học sinh trong nhiều năm qua đã được chú trọng song vẫn còn phải khắcphục khá nhiều khó khăn
Từ thời cổ xưa con người đã biết sử dụng chạy để đuổi bắt con vật haychạy trốn khi bị chúng tấn công Qua nhiều năm tháng, chạy trở thành môn thểthao hấp dẫn chinh phục thời gian trên những đoạn đường quy định, thể hiện khảnăng về sức nhanh, sức bền của con người.Chạy được tổ chức thi dấu theo nhiềunội dung khác nhau từ 60m, 80m, 100m cho đến 10.000m, 42195m(chạy ma ratông).Dựa theo đặc thù chuyên môn chạy được chia thành 3 nhóm cự ly: Ngắn,trung bình, dài Chạy cự ly ngắn gồn có 60m , 80m, 100m, 200m và 400m Cự
ly 60m, 80m, 100m chạy trên đường thẳng, 200m, 400m vừa chạy trên đườngthẳng , vừa chạy trên đường vòng Đặc điểm cự ly ngắn là cơ thể phải làm việcvới cường độ cực đại(tốc độ tối đa) trong thời gian ngắn, trong tình trạng nợ ô
xi Chạy còn có loại hình khác nữa như chạy tiếp sức, chạy vượt rào, chạy việt
dã v.v với nhiều cự ly khác nhau
Như chúng ta đã biết, trong học tập và thi đấu điền kinh nói chung vàchạy cự li ngắn nói riêng đòi hỏi sự căng thẳng thần kinh và nỗ lực cơ bắplớn.Thông qua đó mà tập luyện làm cho con người phát triển toàn diện hơn Tậpluyện chạy cự li ngắn (100m) có tác dụng rất lớn đến việc phát triển các tố chấtthể lực, đặc biệt là sức mạnh, sức nhanh Mà chạy 100m là một môn thi đấu, cóđặc điểm kỹ thuật trên từng cự li được chia thành 4 giai đoạn Đó là: + Giai đoạnxuất phát
+ Chạy lao sau xuất phát
+ Chạy giữa quãng
+ Chạy về đích
Trong đó giai đoạn chạy giữa quãng là giai đoạn có kỹ thuật hoàn chỉnhnhất, chiếm quãng đường và thời gian dài nhất Cho nên nó là giai đoạn quantrọng nhất quyết định đến thành tích Do đó trong giảng dạy áp dụng những bàitập bổ trợ nhằm nâng cao kỹ thuật chạy giữa quãng và cho học sinh tập luyện là
Trang 3cần thiết để nâng cao thành tích và làm phong phú thêm phương tiện giáo dụcthể chất trong trường phổ thông.
Tuy nhiên ở nước ta, việc áp dụng các phương tiện, phương pháp tậpluyện tiên tiến trong giảng dạy và huấn luyện còn hạn chế Bởi nhiều nguyênnhân: cơ sở vật chất, trình độ chuyên môn và khả năng sáng tạo của giáo viên cho nên hình thức, phương pháp giảng dạy của giáo viên cũng như cách lĩnh hộicủa học sinh chưa đa dạng và phong phú, dẫn đến tinh thần học tập của học sinhchưa tự giác tích cực làm chất lượng giáo dục thể chất ở trường phổ thông kém
Để góp phần vào việc giải quyết các tồn tại trên vấn đề đặt ra là phảinghiên cứu đưa ra một số bài tập bổ trợ sao cho phù hợp với điều kiện thực tếnhằm nâng cao thành tích môn chạy 100m trong chương trình giảng dạy ở cáctrường phổ thông
Xuất phát từ mục đích trên, chúng tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài ” Ứ ng dụng một số bài tập bổ trợ nhằm nâng cao kỹ thuật giai đoạn giữa quãng của môn chạy 100m cho nam học sinh khối 11 trường THPT Cẩm Thuỷ I ,Thanh
- Thông qua quá trình điều tra sư phạm, áp dụng các bài tập bổ trợ vào đốitượng nghiên cứu và với kết quả của đề tài này, chúng tôi mong được đóng gópvào sự nghiệp khoa học, làm phong phú thêm phương tiện giáo dục thể chất giúpcho quá trình giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh đạt kết quả cao
II TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU:
1 Cơ sở lý luận và cơ sở sinh lý của tố chất sức mạnh tốc độ:
1.1 Cơ sở lý luận:
Trang 4* Sức mạnh tốc độ: Được thực hiện ở những hoạt động nhanh và khắc
phục trọng tải Trong đó lực và tốc độ có mối tương quan tỷ lệ nghịch với nhau
Sức mạnh của con người trong hoạt động thể dục, thể thao phụ thuộc vàonhiều yếu tố khác nhau
+ Cấu trúc của cơ (thiết diện sinh lý của sợi cơ)
+ Nguồn năng lượng yếm khí
+ Quá trình điều hoà thần kinh cơ
Về quá trình điều hoà thần kinh: có hai trường hợp tuỳ vào cường độ kíchthích, khi cường độ kích thích nhỏ của sợi cơ làm việc theo chế độ luân phiên,tức là số lần lặp lại tăng lên thì số lần hoạt động luân phiên của các sợi cơ thamgia hoạt động
Dựa vào cơ sở khoa học vừa nêu ra mà chúng ta định hướng cho việc hìnhthành nội dung các bài tập sức mạnh tốc độ như sau:
Sử dụng các bài tập có trọng lượng nhỏ yêu cầu tốc độ nhanh liên tục Đốivới độ tuổi học sinh trung học phổ thông đặc điểm giới tính càng rõ nét nêncường độ và khối lượng tập luyện phải được phân biệt rõ ràng giữa nam và nữ
Để phát triển sức nhanh tốc độ (tần số động tác) người ta sử dụng các bàitập phát huy được tốc độ tối đa các bài tập có chu kỳ Phương pháp sử dụngngắn chủ yếu vẫn là phương pháp lặp lại, tăng và biến đôỉ cự li Cần lựa chọnsao cho tốc độ không giảm đi vào giai đoạn cuối của bài tập
ở lứa tuổi THPT việc phát triển tốc độ và sức mạnh tốc độ đã phổ biến,bên cạnh đó còn sử dụng đến sức bền, mềm dẻo và sự khéo léo, chúng cũng ảnhhưởng rất nhiều đến môn chạy nói chung và chạy cự li ngắn nói riêng Vì vậy sự
Trang 5kết hợp hài hoà giữa các tố chất kể trên với kỹ thuật tác động là một vấn đề cơbản để nâng cao thành tích
* Cơ sở sinh lý để phát triển sức nhanh tốc độ:
+ Tăng cường độ linh hoạt và tốc độ dẫn chuyền của hưng phấn ở trungương thần kinh và bộ máy vận động
+ Tăng cường phối hợp giữa các sợi cơ và các cơ, nâng cao tốc độ thảlỏng
Bởi vậy để phát triển sức nhanh tốc độ cần phải áp dụng các bài tập cótrong lượng nhỏ, tốc độ tần số cao thời gian ngắn Ngoài ra còn sử dụng phươngpháp lặp lại và biến đổi thì sẽ cải thiện được tốc độ của người tập
2 Nguyên lý kỹ thuật của môn chạy:
Theo cơ học một vật chuyển động tịnh tiến hợp với mặt phẳng nằm ngangthì quãng đường (S) được tính theo công thức:
S = V.t (1)Trong đó S: là quảng đường (cự li) đơn vị tính bằng (m)
V: là vận tốc chuyển động đơn vị tính bằng (m/s)t: là thời gian chuyển động của vật tính bằng (s)
Từ công thức này áp dụng vào thực tế có chu kỳ, trong đó thành tích củachạy được tính bằng thời gian (s) hoạt động trên một cự li nhất định, cho nên từ(1) ta có:
t = V S (2)
Từ (2) ta thấy (t) và (s) luôn có mối tương quan tỷ lệ thuận với nhau, còn(t) và (V) thì luôn có mối tương quan tỷ lệ nghịch với nhau mà trong chay (t)càng nhỏ thì thành tích càng tốt, vì vậy để có thành tích tối ưu trong chạy thì tốc
Trang 6L: Là độ dài bước chạy
Từ (3) ta thấy, nếu vận tốc cùng với tần số và độ dài bước chạy có mốitương quan tỷ lệ thuận với nhau, tần số và độ dài bước chạy càng lớn thì tốc độcàng lớn từ đó sẽ rút ngắn được thời gian chạy làm cho thành tích được nângcao Cho nên trong huấn luyện và giảng dạy môn chạy cần phải lựa chọn các bàitập bổ trợ nhằm nâng cao phát triển tần số và độ dài bước chạy, có vậy mới đemlại thành tích tối ưu, cho nên sử dụng phương pháp tập luyện lập lại, các bài tập
có chu kỳ tốc độ cao thời gian và cự li ngắn, chú ý thực hiện tăng lên về số lần
và giảm thời gian
3 Đặc điểm sinh lý của lứa tuối học sinh THPT:
Lứa tuổi học sinh THPT là lứa tuổi đầu thanh niên là thời đạt được sựtrưởng thành về mặt thể lực, nhưng sự phát triển cơ thể còn kém so với sự pháttrỉen cơ thể của người lớn, có nghĩa ở lứa tuổi này cơ thể các em đang phát triểnmạnh, khả năng hoạt động của các cơ quan và các bộ phận cơ thể được nâng cao
cụ thể là:
* Hệ vận động:
- Hệ xương: ở lứa tuổi này cơ thể các em phát triển một các đột ngột về
chiều dài, chiều dày, hàm lượng các chất hữu cơ trong xương giảm do hàmlượng Magic, Photpho, Canxi trong xương tăng Quá trình cốt hoá xương ở các
bộ phận chưa hoàn tất Chỉ xuất hiện sự cốt hoá ở một số bộ phận như mặt (cốtxương sống) Các tổ chức sụn được thay thế bằng mô xương nên cùng với sựphát triển chiều dài của xương cột sống không giảm trái lại tăng lên có xuhướng cong vẹo Vì vậy mà trong quá trình giảng dạy cần tránh cho học sinh tậpluyện với dụng cụ có trọng lượng quá nặng và các hoạt động gây chấn động quámạnh
- Hệ cơ: Ở lứa tuổi này cơ của các em phát triển với tốc độ nhanh để đi
đến hoàn thiện, nhưng phát triển không đều và chậm hơn so với hệ xương Cơ tophát triển nhanh hơn cơ nhỏ, cơ chi phát triển nhanh hơn cơ dưới, khối lượng cơtăng lên rất nhanh, đàn tích cơ tăng không đều, chủ yếu là nhỏ và dài Do vậy
Trang 7khi cơ hoạt động chóng dẫn đến mệt mỏi Vì vậy khi tập luyện giáo viên giảngdạy cần chú ý phát triển cơ bắp cho các em.
* Hệ thần kinh:
Ở lứa tuổi này hệ thống thần kinh trung ương đã khá hoàn thiện, hoạtđộng phân tích trên võ não về tri giác có định hướng sâu sắc hơn Khả năngnhận hiểu cấu trúc động tác và tái hiện chính xác hoạt động vận động được nângcao Ở lứa tuổi này học sinh không chỉ học các phần động tác vận động đơn lẻnhư trước mà chủ yếu là từng bước hoàn thiện ghép những phần đã học trướcthành các liên hợp động tác tương đối hoàn chỉnh, ở điều kiện khác nhau, phùhợp với đặc điểm của từng học sinh Vì vậy khi giảng dạy cần phải thay đổinhiều hình thức tập luyện, vận dụng các hình thức trò chơi thi đấu để hoàn thànhtốt những bài tập đề ra
* Hệ hô hấp:
Ở lứa tuổi này, phổi các em phát triển mạnh nhưng chưa đều, khung ngựccòn nhỏ, hẹp nên các em thở nhanh và lâu không có sự ổn định của dung tíchsống, không khí, đó chính là nguyên nhân làm cho tần số hô hấp của các emtăng cao khi hoạt động và gây nên hiện tượng thiếu ôxi, dẫn đến mệt mỏi
* Hệ tuần hoàn:
Ở lứa tuổi này, hệ tuần hoàn đang trên đà phát triển để kịp thời phát triểntoàn thân, tim lớn hơn, khả năng co bóp của cơ tim phát triển mạnh, do đó nângcao khá rõ lưu lượng máu/phút Mạch lúc bình thường chậm hơn (tiết kiệmhơn), nhưng khi vận động căng thì tần số nhanh hơn Phản ứng của tim đối vớicác lượng vận động thể lực đã khá chính xác, tim trở nên hoạt động dẻo dai hơn
Từ những đặc điểm tâm sinh lý mà ta lựa chọn một số các bài tập trên cănbản khối lượng cường độ, vận động sao cho phù hợp với lứa tuổi học sinh trunghọc phổ thông, đặc biệt khi áp dụng các bài tập căn cứ vào tình hình tiếp thu kỹthuật và đặc điểm thể lực phù hợp với tâm sinh lý học sinh để cho quá trìnhgiảng đạy dạt kết quả cao, giúp cho các em học sinh trở thành những con ngườiphát triển toàn diện cả về thể chất lẫn tinh thần Đồng thời nâng cao kết quả họctập, lôi cuốn các em hăng say tập luyện và thi đấu ở trường phổ thông
Trang 8B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
I NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để nghiên cứu đề tài này các nhiệm vụ sau được đặt ra:
1.1 Nhiệm vụ 1:
Xác định các chỉ số biểu thị ban đầu về các tố chất vận động (sức nhanh,sức mạnh, sức mạnh tốc độ…) và thành tích chạy 100m của nam học sinhtrường THPT Cẩm Thuỷ 1
1.2 Nhiệm vụ 2:
Ứng dụng một số bài tập bổ trợ nhằm nâng cao kỹ thuật giai đoạn “giữaquãng” của môn chạy 100m cho nam học sinh khối 11 để rút ra kết luận
2 Phương pháp nghiên cứu:
Để giải quyết các nhiệm vụ trên, các phương pháp sau được đặt ra
2.1 Phương pháp đọc tài liệu tham khảo:
Trong quá trình giải quyết đề tài này, chúng tôi đã sử dụng những tài liệuchuyên môn có liên quan đến đề tài để nghiên cứu cơ sở lý luận cũng như thamkhảo một số chỉ số về thể chất như sau:
- Sách giáo khoa lý luận và phương pháp giáo dục thể chất
- Sách giáo khoa sinh lý học thể dục thể thao
- Học và tiếp thu chuyên đề thay sách
- Dự các tiết dạy mẫu giáo viên giỏi
- Giáo trình giảng dạy điền kinh
- Một số luật điền kinh
2.2 Phương pháp dùng bài thử:
Để xác định sự biểu hiện về các tổ chức sức nhanh, sức mạnh, sức mạnhtốc độ của nam học sinh trường THPT Cẩm Thuỷ 1 Chúng tôi dùng các bài thửsau:
Trang 92.2.1 Đo thành tích chạy tốc độ 30m trước và sau thực nhiệm (biểu hiện sức mạnh):
Tư thế chuẩn bị: Đối tượng ở tư thế xuất phát cao
Cách thực hiện: Đối tượng chạy với tốc độ tối đa
Cách đo: Tính thời gian từ lúc xuất phát đến thời điểm chạm đích (đơn
Cách đo: Tính số lần thực hiện động tác trong vòng 30 giây
2.2.3 Bật xa tại chỗ bằng hai chân (biểu hiện sức mạnh của hai chân):
Tư thế chuẩn bị: Hai chân đứng chụm vào nhau hoặc là hai chân đứngrộng bằng vai, tay để tự nhiên
Tư thế chuẩn bị: Đối tượng chạy xuất phát thấp
Thực hiện: Chạy với tốc độ tối đa
Trang 10 Cách đo: Tính thời gian từ lúc xuất phát đến khi chạm đích (đơn vị tínhbằng giây)
2.3 Những bài tập bổ trợ phát triển kỹ thuật.
2.3.1 Đi bước nhỏ tại chỗ:
* Mục đích: Nâng cao khả năng thả lỏng của cổ chân, giảm lực trống
trước khi chạy
* Định lượng: Thực hiện từ 2 đến 3 lần, mỗi lần từ 15’’ đến 20’’, thời
- Đạp sau chân thẳng, nâng trọng tâm cơ thể lên cao góc độ đạp sau lớn
- Lăng sau không hất gót, chủ yếu nâng đùi lên cao ra trước thân trênthẳng tự nhiên, cẳng chân thả lỏng
Yêu cầu: Thực hiện với tần số nhanh tối đa
Trang 11* Định lượng: Thực hiện từ 3 – 4 lần/buổi mỗi lần từ 15’’ đến 20’’ thời
* Biện pháp thực hiện:
+ Tư thế chuẩn bị: Đứng ở tư thế xuất phát cao
+ Yêu cầu thực hiện: (các giai đoạn kỹ thuật)
- Lăng trước: Đùi nâng cao gần như chạy, cổ chân thả lỏng góc độ giữađùi và cẳng chân bằng 900
- Chống trước: Tiếp xúc đất bằng 1/2 bàn chân phía trên, nhanh chóngmiết về sau
- Đạp sau: Nhanh chóng duỗi hết các khớp từ hông đến cổ chân nhất trívới hướng chạy, góc độ đạp sau khoảng 450
- Lăng sau: Khi kết thúc động tác đạp sau chân đạp duỗi thẳng rồi nhanhchống gập khớp gối đưa ra trước không hất gối theo hướng ra trước, thân trênngả về trước từ 750 – 800, mắt nhìn về trước
Yêu cầu khi thực hiện: Tay đánh tự nhiên chân nọ tay kia và tăng độ dàibước chạy
* Định lượng: Thực hiện bài tập từ 4 – 5 lần x 20m Thời gian nghỉ giữa
các lần thực hiện từ 1 – 2 phút
2.3.4 Tại chỗ thực hiện động tác đánh tay:
* Mục đích: Tăng cường phát triển tần số, bổ trợ cho kỹ thuật giảm lực
cản của không khí
* Yêu cầu thực hiện: Tay đánh từ sau ra trước lên cao theo trục dọc của
trọng tâm cơ thể, trọng tâm cơ thể nhập nho theo nhịp đánh tay, tốc độ đánh taynhanh dần đều và đạt tới tấn số tối đa
Trang 12* Định lượng: Thực hiện từ 4 – 5 lần/buổi, mỗi lần từ 10 – 15 giây Thời
gian nghỉ giữa các lần là 1 phút
2.3.5 Chạy nâng cao đùi di chuyển 20m:
* Mục đích: Tăng cường và phát triển tần số.
* Yêu cầu thực hiện: Thực hiện với tần số tối đa, bước chạy ngắn, đùi
nâng cao, tay đánh tự nhiên
* Định lượng: Thực hiện từ 2 – 3 lần x 20m/buổi Thời gian nghỉ giữa các
Thực hiện từ 4-5 lần/buổi Thời gian nghỉ từcác lần là 1- 1,5 phút
Thực hiện từ 4-5 lần/buổi Thời gian nghỉ từcác lần là 1- 2 phút.3
Bảng 2: Tiến trình tập luyện các bài tập bổ trợ: