1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

skkn một số BIỆN PHÁP gợi HỨNG THÚ cảm THỤ THƠ CHO học SINH lớp 11

24 206 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 0,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VAI TRÒ CỦA VIỆC KHƠI GỢI HỨNG CẢM THỤ THƠ CHO HỌC SINH: Trước hết phải khẳng định rằng hứng thú có vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động của con người nói chung và trong học tập

Trang 1

TRƯỜNG THPT LƯU HOÀNG

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP GỢI HỨNG THÚ CẢM THỤ THƠ CHO HỌC SINH

LỚP 11

Lĩnh vực / Môn: Ngữ văn

Cấp học: THPT

Tên tác giả: Nguyễn Văn Huyên

Đơn vị công tác: TRƯỜNG THPT LƯU HOÀNG

Chức vụ:

NĂM HỌC 2019 – 2020

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỘT: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI. 1

a Khảo sát thực trạng. 1

b Đi tìm nguyên nhân. 2

2.THỜI GIAN, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU. 2

3 PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH. 3

PHẦN HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 3

I.KHÁI NIỆM “HỨNG THÚ”, HỨNG THÚ HỌC TẬP. 3

II VAI TRÒ CỦA VIỆC KHƠI GỢI HỨNG CẢM THỤ THƠ CHO HỌC SINH: 4

III MỘT SỐ VƯỚNG MẮC TRONG QUÁ TRÌNH HỌC THƠ CỦA HỌC SINH: 4

IV MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHƠI GỢI HỨNG THÚ CHO HỌC SINH CẢM THỤ THƠ. 5

1.BƯỚC 1: CHUẨN BỊ, THIẾT KẾ GIÁO ÁN: 5

a Xác định mức độ kiến thức phải đạt chuẩn kiến thức kĩ năng. 5

2 BƯỚC 2: HOẠT ĐỘNG LÊN LỚP: 9

a Lồng ghép những mẩu chuyện ngắn liên quan đến tác giả hoặc tác phẩm để dẫn dắt vào nội dung bài học 9

b Gợi hứng thú từ bản chất môn Ngữ văn. 10

c.Tổ chức trò chơi, hoạt động nhóm trong tiết học. 11

d.Tổ chức những cuộc thi dịch những bài thơ chữ Hán trong sách giáo khoa. 12

e.Giảng bài theo cách hài hước. 13

f Dạy học tích hợp (liên môn, tích hợp dọc, tích hợp ngang). 13

g.Hoạt độn củng cố mỗi phần, củng cố bài học bằng sơ đồ tư duy. 13

PHẦN BA: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 14

1.KẾT LUẬN. 14

a.Kết quả khảo sát sau khi thực hiện đề tài. 14

b.So sánh kết quả trước và sau khi áp dụng đề tài ta thấy: 14

2.KHUYẾN NGHỊ: 15

Trang 3

Phiếu số 1:

1.Em có hứng thú học môn Ngữ văn không? Lí do?

2.Trong bộ môn Ngữ văn em thích học phần nào hơn các phần còn lại?

a) Thơ ca b) Tiểu thuyết, truyện ngắn c) Tiếng Việt d) Ý kiến khác

Phiếu số 2:

Cho ngữ liệu sau

“Vẳng nghe tiếng ếch bên tai

Giật mình lại tưởng tiếng ai gọi đò”

(Trần Tế Xương- Sông Lấp)

a.Biện pháp nghệ thuật nổi bật nhất là gì?

b Từ, cụm nào quan trọng nhất để xác định được biện pháp đó?

Kết quả: về số liệu phiếu số 1

KẾT QUẢ CÂU SỐ 1 KẾT QUẢ CÂU SỐ 2

Có hứng

thú

không hứng thú Bình thường

Thơ ca Tiểu

thuyết,TN

ý kiến khác

11A1 15/39 hs 8/39 hs 16/39 hs 15/39 hs 5/39hs 19/39hs 11A5 5/32 hs 24/32 hs 3/32 hs 5/32 hs 10/32hs 17/32hs

Câu số 1: Lí do: Trong 32 em không hứng thú có đến 20 nêu lí do là học Văn

khó chọn trường thi Đại học, sau này khó kiếm việc làm 11 em trả lời: vì em thích học môn Toán hơn 01 em trả lời không hứng thú vì học không hiểu bài

Câu số 2-Lí do: Trong 36 em ý kiến khác đa số đều nêu rằng mình thích học các

tiết như: Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn, Luyện tập phỏng vấn và Trả lời PV và các tiết học mang tính hoạt động cao, lượng kiến thức ít

+ Trong 15 hs thích tiểu thuyết, truyện ngắn thì 7 em nêu lí do đại ý cho rằng thơ ca “sến”, “ủy mị” Một số còn lại cho rằng thơ khó hiểu, khó học Nhất là thơ chữ Hán

Trang 4

Kết quả khảo sát phiếu số 2 được tổng hợp như sau:

Lớp Kết quả

11A1 (39 HS) Thực nghiệm

11A5 (32 HS) Đối chứng

Nêu đúng biện pháp nghệ thuật 15 7

Đúng biện pháp NT nhưng sai từ 4 6

Nêu từ, cụm từ đúng nhưng sai BPNT 14 11

KẾT LUẬN: Qua khảo sát cho thấy rất nhiều học sinh không mặn mà, hứng thú

với việc học tập bộ môn Ngữ văn nói chung và thơ ca nói riêng Khả năng cảm thụ từ ngữ chưa tốt, chưa nắm vững các biện pháp nghệ thuật

b Đi tìm nguyên nhân

Nguyên nhân nào đã dẫn đến tình trạng trên Theo tôi thì có một số nguyên nhân, nhưng ở đây chỉ xin đề cập đến mấy nguyên nhân mà theo tôi là chủ yếu:

+ Thứ nhất: Đa phần các em chưa hiểu đúng bản chất của môn Ngữ văn Các em mới chỉ nhìn môn Văn dưới góc độ xã hội, kinh tế như học môn gì để

có cơ hội tìm việc làm Điều này đúng, nhưng thế là chưa nhận thức đầy đủ Vì muốn làm gì thì làm, trước hết các em phải LÀM NGƯỜI đã Đó là mong muốn lớn nhất của bố mẹ và của xã hội Mà đặc điểm lớn nhất để phân biệt con người với muôn loài là TÂM HỒN, TÌNH CẢM và những RUNG ĐỘNG THẨM MỸ Đây chính là mục đích bồi dưỡng của môn Ngữ văn

số giáo viên vẫn còn thói quen dạy học truyền thụ kiến thức một chiều, chưa chú trọng đến việc tiếp thu, vận dụng kiến thức của học sinh

Với những giờ học như thế, yếu tố hứng thú của học sinh chưa được kích thích

để trỗi dậy Giờ học tác phẩm văn chương vì thế vẫn chưa thu hút được sự chú ý của người học…

+Thứ ba: Thói quen học tập thụ động của học sinh Hoặc bắt nguồn từ

nhiều vấn đề xã hội khác như nhịp sống thời hiện đại thời 4.0 với nhiều cám dỗ tuổi trẻ như game, facebook….thu hút sự chú ý của các em

Đó là những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên

2.THỜI GIAN, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU

a Thời gian

- Thời gian nghiên cứu lý thuyết, sưu tầm tài liệu từ tháng 9/2018-2/2020

- Thời gian thực nghiệm đối chứng: 8/2019-2/2020

Trang 5

b Đối tượng nghiên cứu

- Học sinh các lớp 11A1, 11A5 trường tôi công tác

c Phạm vi nghiên cứu

- Đề tài này chỉ giới hạn trong phạm vi giảng dạy, hướng dẫn học sinh cảm thụ các tác phẩm thơ ca lớp 11 Chứ không bàn sang các lĩnh văn xuôi, tiểu thuyết, truyện ngắn…

3 PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH

Chúng tôi thực hiện các phương pháp sau:

+ Phương pháp thức nghiệm, đối chứng

+ Phân tích văn bản, so sánh văn bản, nghiên cứu lý thuyết

PHẦN HAI: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I.KHÁI NIỆM “HỨNG THÚ”, HỨNG THÚ HỌC TẬP

Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn thì: “Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân với đối tượng nào đó, vừa có ý nghĩa với cuộc sống, vừa có khả năng đem

lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động” [ Dẫn theo Nguyễn

Quang Uẩn- Giáo trình tâm lý học đại cương, NXB ĐHSP 2007 tr 204) Nói

như vậy có nghĩa là:

❖ Về bản chất tâm lí thì hứng thú là khả năng đem lại khoái cảm cho con

người, thể hiện ở sự chú ý tới đối tượng, khao khát đi sâu nhận thức đối tượng, sự thích thú được thỏa mãn với đối tượng

có nghĩa là hứng thú phải gắn với hoạt động học tập của cá nhân từng học

sinh, tức là không phải sự thụ động mà có thể có hứng thú được Bản chất của vấn đề là phải tổ chức hoạt động học tập và lôi cuốn các em vào những hoạt động đó

NHƯ VẬY: Trên cơ sở khái niệm “hứng thú” của tác giả Nguyễn Quang Uẩn

(Giáo trình Tâm lý học đại cương- đã dẫn ở trên) thì “hứng thú cảm thụ tác

phẩm thơ” được hiểu như sau: Hứng thú cảm thụ tác phẩm thơ là thái độ đặc

biệt của cá nhân đối với tác phẩm thơ ca, nó có khả năng đem lại khoái cảm cho

cá nhân trong quá trình khám phá vẻ đẹp thẩm mỹ, giá trị nhân văn… của bài thơ hoặc đoạn thơ Theo quan niệm này, khi con người có hứng thú với hoạt động cảm thụ tác phẩm thơ thì họ sẽ có cảm giác thoải mái, say mê khi tiến hành khám phá đối tượng nghiên cứu, làm cho đối tượng sớm bộc lộ bản chất, đem lại kết quả cao trong học tập Ngược lại, nếu không có hứng thú sẽ làm mất

đi động cơ học tập, kết quả học tập sẽ không cao, thậm chí xuất hiện cảm xúc

tiêu cực

Trang 6

II VAI TRÒ CỦA VIỆC KHƠI GỢI HỨNG CẢM THỤ THƠ CHO HỌC SINH:

Trước hết phải khẳng định rằng hứng thú có vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động của con người nói chung và trong học tập nói riêng Cùng với tự giác, hứng thú làm nên tính tích cực nhận thức, giúp học sinh học tập bộ môn Ngữ văn nói chung, cảm thụ thơ ca nói riêng đạt kết quả cao, có khả năng tìm tòi, sáng tạo Vì vậy, tạo hứng thú học tập cho học sinh trong học tập bộ môn Ngữ văn nói chung, cảm thụ thơ ca nói riêng có ý nghĩa trên cả ba mặt kiến thức, kĩ năng và thái độ:

- Về mặt kiến thức: tạo hứng thú học tập trong bộ môn Ngữ văn nói

chung, cảm thụ thơ ca nói riêng giúp giáo viên có thể dễ dàng thực hiện tốt nhiệm vụ bồi dưỡng tri thức Ngữ văn và thơ ca cho học sinh Khi có hứng thú, học sinh sẽ học tập tự giác, tích cực, chủ động, do đó, những kiến thức được lĩnh hội các em sẽ nhớ lâu; những vẻ đẹp nhân văn, giá trị thẩm mỹ các em sẽ “biết”,

“hiểu” và “vận dụng” linh hoạt trong việc giải quyết các vấn đề của cuộc sống Góp phần hình thành nhân cách học sinh

- Về mặt kĩ năng: tạo hứng thú học tập học tập bộ môn Ngữ văn nói

chung, cảm thụ thơ ca nói riêng cho học sinh là một trong những cơ sở giúp học sinh phát triển các năng lực nhận thức, đặc biệt là năng lực tư duy độc lập, tích cực, ., năng lực vận dụng kiến thức để hiểu biết, giải quyết các tình huống

trong cuộc sống

- Về mặt thái độ: tạo hứng thú học tập học tập bộ môn Ngữ văn nói

chung, cảm thụ thơ ca nói riêng góp phần vào việc giáo dục tư tưởng, đạo đức, tình cảm cho học sinh, hướng các em đến các giá trị chân, thiện, mĩ của cuộc sống Để tạo hứng thú học tập cho học sinh, giáo viên cần sử dụng kết hợp nhiều phương pháp và phương tiện dạy học tác động đến xúc cảm của học sinh, khiến các em muốn tiếp tục khám phá thêm những điều chưa biết

NHƯ VẬY:

Việc tạo hứng thú học tập có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong dạy học bộ

môn Ngữ văn nói chung, cảm thụ thơ ca nói riêng Nó góp phần phát triển toàn diện nhân cách học sinh, nâng cao hiệu quả bài học bộ môn Ngữ văn ở trong nhà trường phổ thông hiện nay

III MỘT SỐ VƯỚNG MẮC TRONG QUÁ TRÌNH HỌC THƠ CỦA HỌC SINH:

Sau khi tìm hiểu, chúng ta thường thấy trong quá trình học thơ, học sinh thường gặp phải những khó khăn, vướng mắc sau đây :

1 Đối với thơ luật – thơ trung đại :

-Một là: các em không nắm vững luật thơ, không hiểu rõ các biện pháp nghệ

thuật đặc trưng của thơ cổ điển, không nắm được các điển tích, điển cố Vì vậy khi ghi chép và kiềm tra, các em chỉ tái hiện máy móc lời giảng của các thầy cô, gần như các em không có rung động cảm xúc thực sự của riêng cá nhân mình

Trang 7

-Hai là: những trường hợp học thơ có phần dịch nghĩa từ nguyên văn chữ Hán ,

các em thiếu sự đối chiếu giữa phần dịch nghĩa với bản dịch thơ, vì thế cho nên

có khi cách hiểu của học sinh thoát ly khá xa ý trong văn bản gốc Phần lớn mới chỉ cảm thụ vào nội dung, ít khai thác nghệ thuật Từ đó, một số em nhớ chữ này thành chữ khác, hiểu bài thơ không đúng, thậm chí rất buồn cười Chẳng hạn,

khi được kiểm tra bài Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão, nhiều em đọc và viết câu

“Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu” (Thẹn khi nghe người đời kể chuyện Vũ

hầu) thành “Tu thích nhân gian thuyết Vũ hầu” hay “… thiết Vũ hầu”

2 Thơ hiện đại :

Xét về mặt đại thể thì đa phần các em cảm thụ phần thơ hiện đại dễ hơn thơ trung đại vì ngôn ngữ thơ gần gũi, dễ hiểu Tuy nhiên không phải là không

có vướng mắc Có một loại bệnh hay gặp trong cảm thụ thơ của học sinh là cảm nhận chủ quan tùy tiện, “tán” một cách vô căn cứ Xuất hiện những bài viết của học sinh hiểu sai chi tiết trong văn bản thơ ca rồi trên cơ sở hiểu sai lại bình giảng say sưa không phải là ít Thậm chí hiện tượng chính trị hóa, dung tục hóa,

có cách hiểu khiên cưỡng về một chi tiết, một ý thơ, câu thơ hay bài thơ cũng thường gặp ở một bộ phận học sinh Ở một mặt khác thì việc sử dụng sách tham khảo, sách làm văn mẫu cũng tạo cho các em thói quen ỷ lại, chép sách, không chú trọng tìm hiểu nội dung nghệ thuật của tác phẩm, hiện tượng này cũng khá nhiều Một số em có năng lực diễn đạt thì tình trạng hiểu nghĩa bề mặt, không đầu tư tìm hiểu những lớp nghĩa ẩn dụ, tượng trưng trong tác phẩm vẫn còn tồn tại Chẳng hạn, bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, một số em mới chỉ dừng lại ở mối quan hệ Hoàng Cúc – Hàn Mạc Tử mà không đi sâu khai thác vẻ đẹp

không gian Vỹ Dạ, tâm sự Hàn Mạc Tử gửi gắm trong từng khổ thơ

IV MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHƠI GỢI HỨNG THÚ CHO HỌC SINH CẢM THỤ THƠ

1.BƯỚC 1: CHUẨN BỊ, THIẾT KẾ GIÁO ÁN:

a Xác định mức độ kiến thức phải đạt chuẩn kiến thức kĩ năng

Chuẩn kiến thức, kỹ năng trong chương trình giáo dục được quy định tại Khoản 1 Điều 7 Nghị định 75/2006/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Giáo dục như sau:

Chuẩn kiến thức, kỹ năng trong chương trình giáo dục là mức tối thiểu về kiến thức, kỹ năng mà người học phải đạt được sau khi kết thúc một chương trình giáo dục Chuẩn kiến thức, kỹ năng trong chương trình giáo dục là căn cứ chủ yếu để biên soạn sách giáo khoa, giáo trình, đánh giá kết quả học tập của người học Khi chuẩn bị kế hoạch giảng dạy nhất thiết cần căn cứ vào chuẩn kiến thức

kĩ năng

a1) Phải căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng để lựa chọn những kiến thức

cơ bản, vừa sức học sinh

Trong hoạt động dạy học , việc lựa chọn nội dung dạy học có ý nghĩa rất quan trọng nhằm đạt được mục tiêu của bài học Một bài học đảm bảo được tất

cả các yếu tố như tính khoa học, tính giáo dục, tính lí luận… nhưng không phù hợp với nhận thức của học sinh thì học sinh không tiếp thu được (nếu khó quá)

Trang 8

hoặc sinh tư tưởng nhàm chán (nếu quá dễ) Việc giáo viên xác định mức độ kiến thức phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh chính là làm thế nào để trong cùng một lớp học, với việc tổ chức các hoạt động học tập của giáo viên, tất

cả học sinh đều thu lượm được kiến thức cần thiết cho bản thân mình Người giáo viên phải biết lựa chọn những kiến thức không được quá khó nhưng cũng không được đơn giản hóa kiến thức, bởi lẽ kiến thức vượt quá tầm nhận thức của học sinh sẽ khiến các em nản chí nhưng nếu dễ quá sẽ khiến các em nhàm chán, thậm chí nảy sinh tư tưởng coi thường, chủ quan Trong quá trình dạy học cần tránh sự quá tải đối với lĩnh hội kiến thức của các em Tuy là bộ môn Ngữ văn nhưng bài giảng cần trình bày nội dung ngắn gọn, súc tích, cụ thể, dễ hiểu, không rườm rà; không đưa những khái niệm, thuật ngữ, tên gọi khó, phải mất thời gian giải thích và làm cho việc lĩnh hội kiến thức của học sinh gặp khó khăn Khi soạn bài phải lựa chọn trong sách giáo khoa đâu là kiến thức phù hợp với học sinh của mình, biết họ đã có cái gì và đang cần cái gì để có sự lựa chọn nội dung dạy học phù hợp; để việc học tập đối với các em là niềm thích thú, sự say mê chứ không phải là sự bắt buộc, gò ép hay gánh nặng quá sức

Ví dụ Khi dạy bài “Vội vàng”, tôi căn cứ vào chuẩn kiến thức kĩ năng,

xác định kết quả cần đạt của tiết học về mặt kiến thức

- Cảm nhận được niềm khát khao sống mãnh liệt, sống hết mình với quan niệm về thời gian, tuổi trẻ, hạnh phúc của Xuân Diệu được thể hiện qua tác phẩm

- Thấy được sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa mạch cảm xúc, mạch luận lí chặt chẽ cùng những sáng tạo mới lạ trong hình thức nghệ thuật thể hiện của tác phẩm Sự khẳng định, đề cao cái tôi cá nhân

Ở đây khái niệm “Cái tôi cá nhân” là gì đã được dạy và kiểm tra ở những bài

học trước đó, tức là cái các em đã có Vì vậy tôi không dạy lại ở bài này mà đi

vào chứng minh biểu hiện “Cái tôi cá nhân” của Xuân Diệu ở bài này

a2) Nắm chắc trình độ nhận thức và điểm mạnh, điểm yếu trong tư duy của từng học sinh trong lớp giảng dạy

Ở những vùng miền khác nhau, Học sinh có phông nền về văn hóa, kiến thức, mức độ nhận thức không giống nhau chẳng hạn như học sinh ở thành thị

sẽ được tiếp cận nhiều nguồn thông tin thì quá trình lĩnh hội tri thức sẽ nhanh và thuận lợi hơn các em ở vùng sâu, vùng xa, điều kiện kinh tế còn nhiều khó khăn Mặt khác, mỗi học sinh là một cá thể có sở trường, sở đoản khác nhau, ham mê hứng thú từng môn học, từng bài học khác nhau

Lý luận dạy học hiện đại chú trọng vào dạy học phát triển năng lực học sinh Mà dạy học phân hóa lại là một khâu vô cùng thiết yếu, quan trọng trong dạy học phát triển năng lực học sinh Để làm tốt việc này người giáo viên cần hiểu rõ về dạy học phân hóa; nâng cao năng lực hiểu đối tượng giáo dục (cần hiểu rõ điểm mạnh và điểm yếu của từng học sinh) Giáo viên phải rèn luyện năng lực thiết kế công cụ dạy học (hệ thống câu hỏi, phiếu bài tập, bài kiểm tra

Trang 9

phù hợp với từng đối tượng học sinh và thể hiện được sự phân hóa), đặc biệt giúp học sinh được rèn luyện năng lực sáng tạo (sáng tạo trong cách học, sáng tạo trong lựa chọn phương pháp, công cụ, trong hoạt động chiếm lĩnh tri thức…)

Bởi vậy, trong hoạt động dạy học, Việc giáo viên hiểu rõ đối tượng học sinh để lựa chọn nội dung, hình thức và phương pháp dạy học phù hợp là bước

vô cùng quan trọng, quyết định thành bại của hoạt động dạy học

a3) Cung cấp những câu hỏi trước để học sinh tìm hiểu ở nhà

Với bài thơ Vội vàng tôi cung cấp các câu hỏi sau:

*)Với phần tiểu dẫn:

vận dụng cao

Nêu những nét chính về

tác giả Xuân Diệu

Xuân Diệu là người như thế nào?

Bài thơ giúp em hiểu thêm gì về tác giả?

Nêu xuất xứ của bài thơ – Trình bày những hiểu

biết của em về tập thơ?

Tập thơ đó có vị trí như thế nào trong đời thơ Xuân Diệu

Nhan đề của bài thơ là

Đọc và xác định thể thơ? Em hiểu thế nào về thể

– Cảm hứng chủ đạo của nhân vật trữ tình trong bài thơ là gì?

Em có nhận xét gì về tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ?

1 Tình yêu cuộc sống tha thiết:

– Mở đầu bài thơ, tác

Nghệ thuật đó có tác dụng gì?

Có gì mới trong cách sử dụng nghệ thuật của tác giả?

– Hãy cho biết tâm trạng của tác giả qua đoạn thơ trên?

Trang 10

– Quan niệm về thời gian của người xưa và Xuân Diệu có gì khác?

Xuân Diệu là gì qua đoạn thơ đó?

3.Lời giục giã cuống quýt vội vàng để tận hưởng tuổi xuân của mình

– Đọc đoạn thơ 3 – Cảm nhận được sự trôi

chảy của thời gian, Xuân Diệu đã làm gì để níu giữ thời gian?

– Hãy nhận xét về đặc điểm của hình ảnh, ngôn

từ, nhịp điệu trong đoạn thơ mới?

–Giáo dục KNS: Trình

bày những ấn tượng sâu đậm của cá nhân về hồn thơ Xuân Diệu ?

thể hiện quan niệm sống đẹp của một tâm hồn khao khát sống hay chỉ

là lối sống tiêu cực gấp gấp

thuật của bài thơ?

– Hãy rút ra ý nghĩa của văn bản ?

Trang 11

2 BƯỚC 2: HOẠT ĐỘNG LÊN LỚP:

a Lồng ghép những mẩu chuyện ngắn liên quan đến tác giả hoặc tác phẩm

để dẫn dắt vào nội dung bài học

Hoạt động này nhằm mục đích là tạo tâm thế học tập cho học sinh, giúp các em ý thức được nhiệm vụ học tập, hứng thú với học bài mới Đây cũng là một phương pháp rất hiệu quả để thay đổi “khẩu vị” bài giảng, khơi gợi hứng thú học tập cho học sinh Tại sao học sinh thường rất thích nghe kể chuyện? Đơn giản vì điều đó làm giải tỏa những căng thẳng trong quá trình học tập Khi đó học sinh được tưởng tượng theo những gì giáo viên kể thay vì nhìn chằm chằm vào sách, vào vở hay chiếc bảng đen, những thứ đôi khi dễ khiến chúng nhàm chán Tuy nhiên vấn đề là phải kể gì và phải kể như thế nào? Điều này phụ thuộc vào cách linh hoạt của mỗi giáo viên khi lồng ghép chuyện kể vào bài giảng của mình Nội dung mẩu chuyện và ngữ điệu trầm bổng trong lời kể sẽ kích thích trí tưởng tượng, sự háo hức chờ mong của học trò Trong thực tế chúng ta thấy học sinh rất thích nghe kể chuyện mặc dù các em đã đọc sách và có rất nhiều câu chuyện để đọc Điều này thể hiện rõ khi các em chăm chú nghe từng lời kể, quan sát cử chỉ hành động của giáo viên Cách giới thiệu bằng chính lời kể của giáo viên về một tác phẩm chuẩn bị học để tăng sự tập trung, ngạc nhiên như một khúc dạo đầu đầy cảm hứng, như một chiếc đà lăn cho một quãng đường dài, đây là cách giới thiệu sáng tạo bằng chính nội dung cơ bản của tác phẩm dưới

lời kể sáng tạo của giáo viên

Trước khi vào nội dung chính của bài học, tôi thường dùng mẩu chuyện ngắn để giới thiệu về nội dung bài học mới để dẫn dắt, tạo tâm thế tiếp nhận bài học và kích thích sự hứng khởi của học sinh Chẳng hạn khi dạy bài “Vội vàng”

tôi dẫn dắt vào bài bằng mẩu chuyện về nhà thơ Xuân Diệu của tác giả Phạm Khải (có đăng trên báo CAND)

Không tiếc thuốc lá, chỉ tiếc thời gian

Những lần đến thăm Xuân Diệu, nhà thơ Trần Ninh Hồ thường để ý thấy ông hay rút từ một bao thuốc lá nguyên khi thì một điếu, lúc thì hai điếu, đặt lên chiếc đĩa trước mặt khách (mà ít khi là cả bao) Dường như đoán được ý nghĩ của nhà thơ trẻ (không ngờ một nhà thơ lớn mà lại ki đến vậy), khi tiễn Trần Ninh Hồ ra cổng, Xuân Diệu ấn bao thuốc vào túi anh, nói nhỏ:

- Anh cho em bao thuốc về mà hút

Rồi ông phân giải:

- Anh là người rất quý thời giờ Thời giờ nó cũng như tấm vải vậy Để nguyên mấy mét thì may được sơ mi, áo dài, mà cũng ngần ấy vải, đem cắt nhỏ ra thì chỉ may được mùi soa Sở dĩ anh không đặt cả bao thuốc ra đấy vì đó là chủ ý của anh Một điếu có nghĩa là khách chỉ nên ngồi 5 phút thôi Mà hai điếu thì có nghĩa là 10 phút Anh đặt cả bao ra đấy, nhỡ có người sẵn thuốc ngồi dai thì sao Thuốc thì anh không thiếu, nhưng anh thiếu thời gian Bây giờ anh đã sắp đến cái tuổi "cổ lai hy" rồi còn gì

Trang 12

Lời dẫn: Ở trong thơ Xuân Diệu ta thường gặp những lời “giục giã”, “vội

vàng”, “Mau với chứ, vội vàng lên với chứ…” “mau đi thôi, mùa chưa ngả chiều hôm ” Trong thi phẩm “Vội vàng” các em sẽ gặp lại một tâm trạng tiếc nuối

thời gian của một người yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt nhưng lại nhận ra thời gian luôn chảy trôi, thời gian không đợi ai bao giờ…

b Gợi hứng thú từ bản chất môn Ngữ văn

Muốn nói gì thì nói, điều quan trọng nhất để khơi gợi hứng thú học bộ môn Ngữ văn cho học sinh thì điều quan trọng nhất là phải bắt nguồn từ bản chất của môn Ngữ văn Muốn học sinh hứng thú học, giáo viên Ngữ văn trước hết phải có năng lực đọc hiểu ngôn từ, phát hiện và lí giải tín hiệu thẩm mĩ, phân tích hình tượng nghệ thuật trong văn bản tác phẩm cần dạy; Bản thân người dạy phải thường xuyên rèn luyện, phát triển, nâng cao năng lực cảm thụ tác phẩm thành kĩ năng cảm thụ văn chương Nếu kĩ năng cảm thụ văn học tốt sẽ giúp người dạy khai thác và truyền tải được đầy đủ nội dung bài học, tổ chức hiệu quả cho học sinh chiếm lĩnh nội dung và nghệ thuật của văn bản, đánh thức cảm xúc của học sinh về những tâm trạng, trạng thái cảm xúc, về cuộc sống, về số phận con người thông qua hình tượng nghệ thuật

Tuy nhiên, công việc này đòi hỏi không chỉ có năng lực sư phạm, kiến thức chuyên môn mà còn đòi hỏi người giáo viên phải tự nâng cao năng lực cảm thụ, bình giá tác phẩm Trong các kỹ năng phân tích, bình giảng luôn đòi hỏi phải phát hiện cái hay, cái đẹp gây hứng thú cho học sinh, giúp các em yêu

thích môn Văn hơn

Bản thân tên bộ môn: Ngữ văn đã cho thấy sự bao hàm:

-Phần Ngữ: là phần ngôn ngữ, học văn tức là “học ăn học nói, học gói học mở”

Chính vì vậy giáo viên phải giúp học sinh thấy được nét hay, đẹp, hấp dẫn về mặt ngôn ngữ của tác Phẩm văn học, qua đó trau dồi kỹ năng sử dụng ngôn ngữ cho học sinh Học sinh phải hiểu được tại sao tác giả sử dụng từ này mà không

sử dụng từ kia Sự khác nhau giữa các từ là gì mặc dù nét khác biệt thường rất

tinh tế Ví dụ tại sao đầu bài “Vội vàng” tác giả dùng từ: “Tôi” (Tối muốn tắt nắng đi) nhưng cuối bài thơ đó lại dùng từ “Ta” (Ta muốn ôm )

-Phần Văn: tức là Văn học, Làm văn Tiết học Ngữ văn phải cho các em thấy

được học văn là học làm người Văn học và Sinh học cùng là những bộ môn khoa học nghiên cứu về con người, nhưng Điểm khác nhau giữa chúng là nếu môn Sinh học nghiên cứu về con người ở phương diện thể xác, giải phẫu sinh lý

cơ thể con người thì Văn học lại nghiên cứu con người ở phần tâm hồn tính cách Mỗi bài thơ là một mảnh ghép tâm trạng khác nhau của con người vì thế khi học về thơ giúp cho học sinh hiểu rõ hơn tâm trạng của những người xung quanh để biết yêu thương đồng cảm biết sẻ chia, biết quan tâm đúng cách Biết cảm thụ, trận trọng cái đẹp (thẩm mĩ)

b1 Gợi hứng thú từ lời giảng bình của giáo viên

Người giáo viên với lời giảng, bình của mình chính là cầu nối giữa học sinh và bài thơ Nghệ thuật bình thơ là nghệ thuật gợi mở khéo léo mà sâu xa phải có ý

Ngày đăng: 24/02/2021, 17:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w