1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

skkn dạy học văn bản nghị luận trung đại, ở trường THPT

23 216 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 306,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giới thiệu vài nét về chùm văn bản chính luận Trung đại, được học trong chương trình Ngữ Văn lớp 11 THPT...3 II.. Phương pháp tích hợp trong dạy học văn và ý nghĩa của nó trong việc dạy

Trang 1

MỤC LỤC

Trang A ĐẶT VẤN ĐỀ 2

I Lời mở đầu 2

II Thực trạng vấn đề nghiên cứu 2

1 Thực trạng của việc dạy văn bản nghị luận thời Trung đại, lớp 11, ở trường THPT hiện nay 2

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 3

3 Phương pháp nghiên cứu 3

4 Những đóng góp của đề tài 3

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I Giới thiệu vài nét về chùm văn bản chính luận Trung đại, được học trong chương trình Ngữ Văn lớp 11 THPT 3

II Phương pháp tích hợp trong dạy học văn và ý nghĩa của nó trong việc dạy chùm văn bản nghị luận Trung đại lớp 11 THPT 4

III Vận dụng phương pháp dạy học tích hợp cho từng bài: III.1 Chuẩn bị bài 5

III.2 Vận dụng trong từng bài học cụ thể: 1 Chiếu cầu hiền 5

2 Xin lập khoa luật 9

III.3 Khái quát vẻ đẹp của văn chính luận Trung đại 11

IV Kết quả thực nghiệm 12

C KẾT THÚC VẤN ĐỀ I Kết luận 14

II Một số kiến nghị 14

III Lời kết 14

Trang 2

A ĐẶT VẤN ĐỀ

I LỜI MỞ ĐẦU

- Dạy học tích hợp và khai thác văn bản dựa vào đặc trưng thể loại làphương pháp đồng thời là yêu cầu mang tính nguyên tắc của bộ môn NgữVăn trong nhà trường phổ thông Trong quá trình giảng dạy, bản thân tôi nhậnthấy tính ưu việt của phương pháp này trong hệ thống phương pháp dạy họcnói chung Thể hiện rõ ở thái độ, niềm say mê học tập của học sinh trong từngbài học Từ đó người học không chỉ được chiếm lĩnh những kiến thức trongbài, mà còn mở mang hiểu biết thêm nhiều loại tri thức khác có liên quan và

có kĩ năng đọc- hiểu các thể loại văn học các em được tiếp nhận từ đời sống

- Văn chính luận- một thể loại có vị trí quan trọng trong đời sống của nhânloại Đã có nhiều áng văn chính luận trở thành mẫu mực, bất hủ của từng dântộc và trên thế giới Có những tác phẩm đã gắn bó trực tiếp với đời sống chínhtrị, xã hội của các dân tộc ở nhiều thời điểm đặc biệt khác nhau

- Văn chính luận thời Trung đại, bên cạnh những đặc trưng có tính phổquát của thể loại như: tính lập luận chặt chẽ, dẫn chứng xác thực, giọng vănhùng hồn; kết hợp hài hoà giữa vẻ đẹp trí tuệ và vẻ đẹp tình cảm, các tácphẩm này còn mang tính văn-sử-triết bất phân Tính chất nguyên hợp này làmnên giá trị độc đáo văn chính luận thời Trung đại

Vì những lí do trên, dù gặp không ít khó khăn, tôi vẫn mạnh dạn nghiên cứu

đề tài, và vận dụng vào thực tế giảng dạy chùm bài văn chính luận Trung đại,

ở chương trình ngữ văn lớp 11,THPT

II THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1 Thực trạng của việc dạy học văn bản nghị luận Trung đại, ở trường

THPT hiện nay.

- Giảng dạy văn chính luận được giáo viên nhận định chung là ba K: khó,khô, khổ Cái khó ở đây là vận dụng phương pháp dạy học nào cho phù hợpvới từng văn bản; khô là bởi nó không mượt mà như các tác phẩm thơ hay,

Trang 3

những áng văn xuôi giàu chất trữ tình; khổ vì tìm ra những độc đáo, đặc sắctrong bút pháp và nghệ thuật lập luận của tác phẩm chính luận đó.

- Với chùm bài văn chính luận thời Trung đại lại càng khó hơn, bởi nó cótính chất nguyên hợp, như trên đã nói

2 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài:

b Nhiệm vụ:

- Đề tài giúp với giáo viên: Qua vận dụng tích hợp vào quá trình hướngdẫn học sinh đọc - hiểu trong giờ học, giáo viên phải nắm vững hệ thống trithức thể loại và biết vận dụng tích hợp những tri thức văn hoá, để người dạythực sự là kiến trúc sư, nhà thiết kế tài ba của giờ đọc - hiểu những văn bảnchính luận Trung đại, trong chương trình chuẩn, Ngữ Văn lớp 11- THPT

- Với học sinh: giúp các em có một cách tìm hiểu tác phẩm từ nhiều kiếnthức liên quan, mở rộng kiến thức Từ đó cảm thụ sâu sắc tác phẩm, tiếp thukiến thức một cách đầy đủ và hệ thống

Tên đ ề tài : Vận dụng phương pháp tích hợp để dạy chùm văn bản chính

luận Trung đại trong chương chình chuẩn Ngữ Văn lớp 11, trung học phổ thông.

3 Phương pháp nghiên cứu:

a Về lí thuyết: Qua nghiên cứu tài liệu có liên quan đến giảng dạy bài

Chiếu cầu hiền và Xin lập khoa luật.

- Thiết kế bài học Ngữ Văn lớp 11, tập 1- do Phan Trọng luận chủ biên

- Phân tích và bình giảng Ngữ văn lớp 11- do nguyễn Đăng mạnh chủ biên

- Các bài nghiên cứu về Chiếu cầu hiền và Xin lập khoa luật.

Trang 4

b Về thực tiễn:

- Dự giờ đồng nghiệp dạy cùng khối 11, các lớp học chương trình cơ bản

- Thực nghiệm đề tài vào giảng dạy chùm văn bản nghị luận Trung đại ởcác lớp 11 tôi trực tiếp đứng lớp-trường THPT Vĩnh Lộc

- Chọn hai lớp có năng lực tiếp thu bài tương đương nhau: một lớp có vậndụng triệt để phương pháp tích hợp trong giờ dạy, một lớp chỉ sử dụng chungchung, trong hệ thống phương pháp dạy học

4 Những đóng góp về lí luận và thực tiễn:

- Đối với giáo viên: Đề tài góp phần khẳng định hiệu quả của một trongnhững phương pháp dạy học mới đang được coi trọng, đặc biệt là chươngtrình thay sách giáo khoa của Bộ Giáo dục và Đào tạo, từ năm học 2006-

2007 Đây là một trong những yêu cầu của đổi mới phương pháp dạy học văn,góp phần phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh trong giờ học

- Đối với học sinh: Đề tài giúp người học: Nâng cao khả năng tiếp nhậnnhững tác phẩm văn học Trung đại được xem là rất khó tiếp thu Mở rộngkiến thức liên môn, có những hiểu biết không chỉ về văn học, mà còn về lịch

sử, về quan niệm triết học; trong mối quan hệ khăng khít với bài học

- Nằm ở phần cuối văn học Trung đại, hai bài học này có tính chất đặc thù của thể loại và tính chất tổng kết của chương trình văn học Trung đại, nêngiáo viên phải ý thức được nhiệm vụ kép của của phương pháp tích hợp trongbài học

Trang 5

II PHƯƠNG PHÁP TÍCH HỢP TRONG DẠY HỌC VĂN VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ TRONG VIỆC DẠY CHÙM VĂN BẢN CHÍNH LUẬN TRUNG ĐẠI Ở LỚP 11.

1 Vài nét về vấn đề tích hợp trong dạy học :

Trong tác phẩm Khoa học sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển các năng lực trong nhà trường, giáo sư Xaver Rogiers đã khẳng định:

Do nhu cầu xã hội, chúng ta cần phải hướng tới tích hợp trong dạy học

a Quan điểm dạy học tích hợp: Có nhiều quan điểm dạy học tích hợp,nhưng cơ bản vẫn theo các hướng sau:

- Quan điểm liên môn, trong đó chúng ta phối hợp đóng góp của nhiềumôn học để nghiên cứu và giải quyết một tình huống

- Quan điểm xuyên môn, trong đó chúng ta tìm cách phát triển ở học sinhnhững kĩ năng xuyên môn Nghĩa là tích hợp ở một đơn vị kiến thức và kĩnăng mới, với những kiến thức và kĩ năng trước đó; những kiến thức và kĩnăng của các lớp trên, bậc học trên bao hàm kiến thức và kĩ năng lớp dưới,bậc học dưới; có thể áp dụng ở mọi lúc mọi nơi

b Những quan điểm trên được các nhà giáo dục Việt Nam gọi là tích hợptheo chiều ngang và theo chiều dọc

- Tích hợp theo chiều dọc(quan điểm xuyên môn) phối hợp nhiều kiếnthức, của nhiều lĩnh vực: khoa học, đời sống, theo nguyên tắc đồng tâm

- Tích hợp theo chiều ngang(quan điểm liên môn):thực chất là phối hợp

sự đóng góp của nhiều môn với nguyên tắc đồng quy

Ở đề tài này, khi vận dụng tích hợp trong dạy chùm văn bản chính luậnTrung đại lớp 11, chương trình chuẩn, tôi chú ý vào cả hai hình thức tích hợptheo chiều ngang và dọc

2 Vấn đề tích hợp trong giờ dạy văn bản chính luận thời Trung đại.

- Là hướng khai thác dựa vào những thông tin ngoài văn bản, liên văn bản Như: tiểu sử tác giả, ngữ cảnh sản sinh ra văn bản, để soi chiếu vào nộidung góp phần giải mã các lớp ý nghĩa tiềm ẩn của tác phẩm

+ Nếu người tiếp nhận không nắm vững ngữ cảnh sẽ không cắt nghĩa được

Trang 6

mạch ngầm của văn bản Nhất là những văn bản có sự gián cách về văn hoá tiếp nhận, với chất giáo huấn, ngôn chí, hết sức sâu sắc của loại hình vănhoá Trung đại

+ Soi chiếu vấn đề từ ngoài văn bản, kết hợp với góc nhìn bên trong văn bản

sẽ mang lại một hiệu ứng tổng hợp, toàn diện đối với thông điệp mà tác giảmuốn hướng tới người tiếp nhận

- Giáo viên hướng dẫn học sinh tiếp cận vấn đề trong tính liên thông, sẽtạo được phản xạ tâm lí tích cực đến người học, giúp các em có lối tư duy ánhchiếu vấn đề đặt ra trong tác phẩm với hơi thở, nhịp sống đương đại Học sinh

tự tìm thấy ý nghĩa hiện đại muôn thuở của những vấn đề mà nhà văn hướngtới

Cụ thể ở đây là:

+ Vai trò của hiền tài đối với vận mệnh dân tộc; cũng như những tố chất cần

có củ người lãnh đạo quốc gia, qua văn bản Chiếu cầu hiền.

+ Những yêu cầu về canh tân đất nước, đổi mới tư duy, tiếp nhận văn hoá

nước ngoài đối với vận hội đất nước, mà trích đoạn Xin lập khoa luật hướng

tới

- Khi vận dụng tốt phương pháp tích hợp: Học sinh sẽ có hứng thú học tập

và các tác phẩm không bị đóng băng trong lớp sương nghệ thuật Trung đại

Từ đây tính thời sự của của vấn đề được học sinh tự đánh thức, tránh được lốidạy học theo kiểu áp đặt một chiều, từ phía người thầy Tiến xa hơn nhậnthức, là học sinh sẽ có kĩ năng đọc đúng thể loại và phương pháp tạo lập văndụng một cách linh hoạt

- Có được tính chất kép của phương pháp dạy học tích hợp đối với nhữngvăn bản chính luận thời trung đại, ở chương trình ngữ văn lớp 11, là dựa trên

cơ sở kết cấu, vị trí của chùm bài trong bố cục chương trình Văn bản Chiếu cầu hiền và trích đoạn Xin lập khoa luật được học trong các tiết liên tiếp ở

cuối phần văn học Trung đại, do đó sau hai bài học này giáo viên cần phảigiúp học sinh khái quát lại vẻ đẹp của văn chính luận thời Trung đại

Trang 7

III VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH HỢP CHO TỪNG BÀI

III.1 CHUẨN BỊ BÀI:

Công tác chuẩn bị rất quan trọng Cho nên trước khi đi vào đọc-hiểu hai vănbản này, giáo viên cần xây dựng hệ thống câu hỏi cho học sinh chuẩn bị bài ởnhà, gồm phần sau:

a Nội dung tìm hiểu thứ nhất:

- Qua sách báo, em hãy tìm hiểu những nội dung có liên quan đến cuộc đờivua Quang Trung; tác giả Ngô Thì Nhậm; tác giả Nguyễn Trường Tộ Danhphận, vị thế của mỗi người Bối cảnh lịch sử, xã hội có tác động như thế nàotới nội dung và cách thức lập luận của các văn bản trên?

- Em hiểu như thế nào về tính chất văn-sử-triết bất phân của văn học trung

đại? Tính chất đó được biểu hiện như thế nào trong văn bản Chiếu cầu hiền

và trích đoạn Xin lập khoa luật ?

b Nội dung thứ hai:

- Em hãy cho biết chương trình THCS và THPT đã học những văn bảnnào thuộc thể loại văn bản chính luận thời Trung đại? Hãy lập bảng thống kê

hệ thống các chủ đề của từng văn bản và chỉ ra những nét độc đáo về nghệthuật của các văn bản đó

- Sau khi học xong hai văn bản Chiếu cầu hiền và trích đoạn Xin lập khoa luật , nêu nhận xét chung về văn nghị luận thời Trung đại.

III.2 VẬN DỤNG TRONG TỪNG BÀI HỌC CỤ THỂ

1 BÀI: CHIẾU CẦU HIỀN : (Ngô Thì Nhậm)

a Sau khi giới thiệu và ghi tên bài học lên bảng, giáo viên gọi một

học sinh đọc phần tiểu dẫn.

- Giáo viên ghi mục này lên bảng, rồi nêu câu hỏi tìm hiểu: Phần tiểu dẫn đãcung cấp những nội dung thông tin gì về tác giả Ngô Thì Nhậm?

Những nội dung đó giúp em được điều gì khi tìm hiểu văn bản?

- Qua sự chuẩn bị ở nhà, kết hợp với phần tiểu dẫn, học sinh có thể dễdàng có được những kiến giải ban đầu:

Trang 8

+ Ngô Thì Nhậm xuất thân trong một giađình có nhiều đời đỗ đạt và làm quan to ởtriều đình Lê-Trịnh Dòng họ Ngô ở làng TảThanh Oai là một dòng họ lớn có 15 nhàvăn, nhà thơ nổi tiếng đương thời Bản thânông là một cựu thần của nhà Lê, nhưng nay

đã ra cộng tác đắc lực cho triều Tây Sơn.Trong khi một số trí thức Bắc Hà quay lưnghoặc chống lại tân triều, ngay cả người nhàcủa ông cũng bất hợp tác với vua QuangTrung chỉ vì cố chấp và tư tưởng trung quân lỗi thời Thì việc Ngô ThìNhậm bước qua lời nguyền lịch sử-lời nguyền “trung thần bất sự nhị quân”của Nho giáo đã thể hiện một tầm nhìn quảng đại, một thái độ linh hoạt, mềmdẻo trong ứng xử của nhà văn

+ Từ một văn thần của triều đình nhà Lê, nayđược hoàng đế Quang Trung hết mực tin dùng,giao trọng trách lớn, điều đó có sức thuyết phụcrất lớn đối với những ai còn hoài nghi tấm lòngthành của vị vua Tây Sơn Những ai còn mang

tư tưởng bảo thủ, cố chấp sẽ dễ tìm thấy lốithoát cho tâm lí mặc cảm vốn có trong conngười nhà Nho Lựa chọn Ngô Thì Nhậm chắp

bút soạn Chiếu cầu hiền, Nguyễn Huệ quả có tầm nhìn xa trông rộng!

b Phương pháp tích hợp còn được vận dụng thường xuyên trong quá

trình giáo viên hướng dần học sinh đọc-hiểu văn bản.

- Do đối tượng hướng tới của văn bản chủ yếu là giới trí thức Bắc Hà, nên

trong quá trình lập luận trần tình, Ngô Thì Nhậm gặp phải không ít điều hếtsức nhạy cảm Lúc này một mặt ông phải trổ hết tài năng của một nhà chính

Ngô Thì Nhậm

Vua Quang Trung

Trang 9

luận trong cuộc hùng biện Điều ông không lúc nào được quên là: mình đangnói bằng tư tưởng của hoàng đế Quang Trung - người đang đứng trên bục caocủa chiến thắng, song trong mắt không ít trí thức Bắc Hà lại là kẻ thù của cựutriều! Sự mếch lòng và tâm thế dò xét, đề phòng là tâm lí thường xuyên ở giớinhiều chữ này Do đó trong văn bản, giọng văn một mặt vừa phải thể hiệnquyền uy của một vị hoàng đế, mặt khác phải thật mềm mỏng, chân thànhmới hầu mong mục đích cầu hiền mang lại kết quả như mong muốn.

- Khi gợi những biến cố những biến cố những sự kiện đã qua cũng nhưthực trạng cách hành xử của giới trí thức Bắc Hà, Ngô Thì Nhậm đã dùngcách nói uyển ngữ, cách nói hình ảnh với nhiều điển tích, làm cho câu chuyện

có tầm khái quát, tránh được những đụng chạm rất dễ xảy ra, đồng thời lạidiễn đạt được điều cần nói một cách tế nhị và rất hiệu quả trong việc thu phụcnhân tâm của đối tượng vô cùng “khó chiều” như thế Đặc biệt cách nói nhưthế mang đến một thông điệp cho giới trí thức đương thời , rằng: vị vua áo vải

cờ đào này đâu phải là một tên võ biền chẳng hiểu gì thư, lễ, nghĩa như ai đó

đã từng đánh giá và có thành kiến về ông!

+ Gọi tên đúng những đối tượng bất hợp tác hoặc hợp tác một cách giữ kẽ,cầm chừng; hoặc phí đời bằng cách tìm đến cái chết để thể hiện thứ đạo lí ngutrung, bằng những hình ảnh “ gõ mõ canh cửa”, “ ra biển vào sông”, “chếtđuối trên cạn”, quả là một lối diễn đạt hết sức tinh tế

+ Giọng văn vừa có cảm thông, vừa có khiển trách; vừa khuyên bảo, vừangăn ngừa hết sức hợp lí

- Cùng với hệ thống tri thức ngoài văn bản, như: bối cảnh thời đại, vị thếcủa mỗi bên đối thoại và đặc điểm tâm lí cũng như lối giao tiếp có tính lễ nghiđặc biệt của thời đại, đã chi phối cách viết của bài chiếu Vấn đề viết cho ai?Viết để làm gì? Đã chi phối một cách sâu sắc đến nội dung(viết cái gì?) vàhình thức biểu hiện(viết như thế nào?) là rất rõ

+ Ở phần mở đầu tập trung luận về người tài và chức năng của họ:

Trang 10

-> Người hiền tài được tác giả ví như “ngôi sao sáng trên trời cao”, chức năng được xác định là “làm sứ giả cho thiên tử” Tại sao không ví người hiền

với đối tượng nào khác? Đó là do đã được tác giả ý thức rõ về sự tôn vinh vàtrân trọng rất mực đối với hiền tài Nhưng trong mạch lập luận của mình, Ngô

Thì Nhậm nói đến nhiều ngôi sao, là để dẫn chúng ta đến với một ngôi sao chính: Bắc Thần(Bắc Đẩu) Bắc Thần trước hết là ngôi sao có vị trí đặc biệt

trên bầu trời- không ai là không biết Quan trọng hơn, Bắc Thần còn là hìnhảnh tượng trưng cho hoàng đế trong hình dung của đức Khổng Tử Mọi ngôisao trên bầu trời đều hướng về Bắc Đẩu, vậy thì sao-hiền tài không chầu vềsao Bắc Thần-thiên tử thì còn chầu về đâu nữa? Đó thực là một lẽ tất yếu: đạongười, luật trời phải tương hợp, phải thuận theo, không thể khác được Từ một

sự so sánh tưởng như ngẫu hứng, mang nặng tình cảm, tác giả đi đến một kếtluận nghiêm túc và hết sức lô gích

-> Như vậy ngay từ những câu đầu tác giả đã vận dụng sách Luận ngữ một

cách khéo léo, thuyết phục được đối tượng về lí và về tâm linh Chính lời của

Khổng Tử được dẫn ra ngay từ đầu đã tạo nên tính chính danh cho Chiếu cầu hiền Đối với các nhà nho xưa lời Khổng Tử là chân lí, nào ai đá không nghe

theo!

+ Trọng điểm của phần thứ hai trong Chiếu cầu hiền là làm rõ tâm nguyện

của vua Quang Trung; mong có hiền tài ra giúp vua trị nước:

-> Đầu tiên tác giả nói đến sự trốn tránh việc đời của kẻ sĩ thời rối ren đoạn

văn chứa đựng nhiều tầng ý Một mặt là sự cảm thông, nhưng bề sâu là sự

trách cứ Lời lẽ trình bày trong đoạn văn khá tế nhị: vì nó đụng chạm tới

chuyện nhạy cảm: thái độ bất hợp tác của các sĩ phu Bắc Hà Chuyện đókhông thể không nhắc lại, song nhắc với thái độ như thế nào? Những gì biểu

lộ trong đoạn văn cho thấy nhà vua áo vải cờ đào này rất đại lượng, có tác

dụng làm mờ đi bớt đi tính “khó chịu” của các sự việc đã xảy ra , khiến

người đọc Chiếu cầu hiền bớt đi mặc cảm với tân vương Phải nói rằng Ngô

Thì Nhậm đã thực hiện được một sự “hoà giải” khéo léo, trên cơ sở hiểu lòng

Trang 11

ông vua tri kỉ.Và cũng từ đó mà tác gỉả khơi được mạch văn chảy tới những

lời bộc lộ thiết tha “ Nay trẫm đang ghé chiếu lắng nghe ngày đêm mong mỏi,

nhưng những người học rộng tài cao chưa thấy ai tìm đến Hay trẫm ít đức không đáng để phò tá chăng? Hay đang thời đổ nát chưa thể ra phụng sự vương hầu chăng?”

-> Đi sâu vào tình thế lịch sử trước mắt và sự cấp thiết của việc cầu hiền, lờivăn từ mềm mỏng, tế nhị chuyển sang bộc trực, thẳng thắn Toát lên từ đây lànỗi lo lắng của quân vương, đối với vận nước khi thấy bộn bề những việc cấp

bách cần phải xử lí, sắp đặt: “kỉ cương nơi triều chính còn nhiều khiếm

khuyết, công việc ngoài biên cương còn phải lo toan Dân còn mệt nhọc chưa lại sức” Ở đâu, với ai, việc cầu hiền có thể chỉ là một thủ đoạn nhằm thu

phục nhân tâm, còn ở đây hoàn toàn không phải thế Chúng ta dường như cảmnhận được nhịp tim đập nhanh hơn, hơi thở nồng nàn của một con người cụthể đang hành động, kiên quyết hành động vì một hoài bão lớn, đang hết sức

cần một lực lượng giúp rập, phò tá; qua nhịp điệu của lời văn “một cái cột

không thể đỡ nổi một căn nhà lớn, mưu lược một người không thể dựng nghiệp trị bình.( ) trên dải đất văn hiến rộng lớn như thế này há trong đó lại không có lấy một con người tài danh nào ra phò giúp cho chính quyền buổi đầu của trẫm hay sao? Sự cao giọng trong câu hỏi vừa trích, còn phản ánh

cái gì khác ngoài nỗi sốt ruột rất thật, niềm tin tưởng nhiệt thành vào “trữlượng” hiền tài của đất nước? Đúng là giọng của một con người đầy cá tínhkhông chịu lùi bước trước những trở ngại trên con đường gây dựng nghiệp

lớn- Nguyễn Huệ Chắc chắn khi chắp bút viết những câu này, tác giả Chiếu cầu hiền đang trong trạng thái thăng hoa Ngô Thì Nhậm nói dùm ước

nguyện của quân vương hay chính nỗi lòng mình? Quả thật khó phân biệt! Cóthể nói ở đây có sự cộng hưởng khát vọng giữa hai con người và giữa hai conngười ấy với cả dân tộc trong thời đại bấy giờ!

+ Phần thứ ba, cũng là phần cuối của “tờ” chiếu nói rõ: chính sách cầu hiềncủa vua Quang Trung:

Ngày đăng: 24/02/2021, 17:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w