GIẢI PHÁP VÀ MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ NHẰM SỬ DỤNG BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN ĐẤT VÀ RỪNG TRONG SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP CỦA CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC Ở TỈNH YÊN BÁI .... Mô hình phát triển kinh
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ HOA
SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN ĐẤT VÀ RỪNG
TRONG SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP
CỦA CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC Ở TỈNH YÊN BÁI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÍ
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 2
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ HOA
SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN ĐẤT VÀ RỪNG TRONG SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP
CỦA CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC Ở TỈNH YÊN BÁI
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực, chưa từng được công bố trong công trình của các tác giả khác
Tác giả
Nguyễn Thị Hoa
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Hồng, PGS.TS Dương Quỳnh Phương đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo, Ban Chủ nhiệm Khoa Địa lí, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, cùng các thầy cô giáo thuộc Bộ môn Địa lí kinh tế - xã hội và Nghiệp vụ sư phạm đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tác giả học tập, nghiên cứu trong thời gian thực hiện luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn các cơ quan, ban ngành tỉnh Yên Bái: Tỉnh ủy,
Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Yên Bái, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Yên Bái, Cục Thống kê tỉnh Yên Bái đã tạo điều kiện giúp đỡ và cung cấp cho tác giả những tư liệu hết sức cần thiết và quý báu để tác giả hoàn thành đề tài nghiên cứu
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân và bạn bè, đồng nghiệp, những người đã luôn động viên, khuyến khích tôi trong suốt
những năm qua để tôi có thể hoàn thành luận án này
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2019
Tác giả luận án
Nguyễn Thị Hoa
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ 2
3 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Quan điểm, phương pháp và quy trình nghiên cứu 4
5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 9
6 Các luận điểm bảo vệ 10
7 Những điểm mới của luận án 10
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 10
9 Cơ sở tài liệu và cấu trúc của luận án 11
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN ĐẤT VÀ RỪNG TRONG SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP CỦA CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC 13
1.1 Tổng quan các kết quả nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về sử dụng tài nguyên thiên nhiên trong phát triển nông, lâm nghiệp của cộng đồng các dân tộc 13
1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới 13
1.1.2 Những nghiên cứu trong nước 16
1.1.3 Những nghiên cứu ở tỉnh Yên Bái 19
1.2 Cơ sở lí luận 21
1.2.1 Tài nguyên thiên nhiên 21
1.2.2 Phát triển Nông nghiệp 26
1.2.3 Hiệu quả và tiêu chuẩn đánh giá việc sử dụng tài nguyên đất và rừng trong sản xuất nông, lâm nghiệp 30
1.2.4 Cộng đồng các dân tộc và kiến thức bản địa trong sản xuất nông, lâm nghiệp 32
1.3 Cơ sở thực tiễn 37
1.3.1 Khái quát về cộng đồng các dân tộc vùng Trung du và miền núi phía Bắc 37
Trang 6iv
1.3.2 Thực trạng phát triển nông, lâm nghiệp và những tác động của cộng
đồng các dân tộc khu vực Trung du và miền núi phía Bắc đến nguồn tài
nguyên đất và rừng 39
Tiểu kết chương 1 41
Chương 2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI SỰ PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP TỈNH YÊN BÁI 42
2.1 Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ 42
2.1.1 Vị trí địa lí 42
2.1.2 Phạm vi lãnh thổ 42
2.2 Các nhân tố tự nhiên 46
2.2.1 Địa hình 46
2.2.2 Tài nguyên đất 47
2.2.3 Khí hậu 50
2.2.4 Tài nguyên rừng 51
2.2.5 Tài nguyên nước 52
2.3 Các nhân tố kinh tế - xã hội 54
2.3.1 Dân cư và nguồn lao động 54
2.3.2 Cơ sở hạ tầng 56
2.3.3 Chính sách phát triển nông, lâm nghiệp 58
2.3.4 Thị trường 59
2.4 Cộng đồng các dân tộc ở tỉnh Yên Bái 59
2.4.1 Nguồn gốc và đặc điểm phân bố các dân tộc 59
2.4.2 Tập quán sản xuất và sinh hoạt của các dân tộc 60
Tiểu kết chương 2 66
Chương 3 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN ĐẤT VÀ RỪNG TRONG SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP CỦA CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC TỈNH YÊN BÁI 67
3.1 Thực trạng ngành nông, lâm nghiệp tỉnh Yên Bái 67
3.1.1 Sản xuất nông nghiệp 67
3.1.2 Ngành lâm nghiệp 68
3.2 Thực trạng sử dụng tài nguyên đất và rừng trong sản xuất nông, lâm nghiệp của cộng đồng các dân tộc tỉnh Yên Bái 69
3.2.1 Khái quát chung về thực trạng sử dụng tài nguyên đất và rừng ở tỉnh Yên Bái 69
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
v
3.2.2 Thực trạng sử dụng tài nguyên đất và rừng trong sản xuất nông, lâm
nghiệp của cộng đồng dân tộc theo các vùng 71
3.3 Đánh giá chung về việc sử dụng tài nguyên đất và rừng trong sản xuất nông nghiệp của cộng đồng các dân tộc 115
3.3.1 Hạn chế và cách khắc phục của cộng đồng các dân tộc trong việc sử dụng tài nguyên đất và rừng 115
3.3.2 Sự thích ứng của cộng đồng các dân tộc trong môi trường miền núi vùng cao 116
Tiểu kết chương 3 119
Chương 4 GIẢI PHÁP VÀ MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ NHẰM SỬ DỤNG BỀN VỮNG TÀI NGUYÊN ĐẤT VÀ RỪNG TRONG SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP CỦA CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC Ở TỈNH YÊN BÁI 120
4.1 Cơ sở của các giải pháp và mô hình phát triển kinh tế 120
4.1.1 Quan điểm 120
4.1.2 Mục tiêu 122
4.1.3 Định hướng 124
4.2 Một số giải pháp nhằm sử dụng tài nguyên đất và rừng bền vững trong sản xuất nông, lâm nghiệp của cộng đồng dân tộc tỉnh Yên Bái 129
4.2.1 Nhóm giải pháp chung 129
4.2.2 Giải pháp cụ thể 134
4.2.3 Giải pháp cụ thể ở từng địa bàn cư trú của các dân tộc 144
4.3 Mô hình phát triển kinh tế nhằm sử dụng bền vững tài nguyên đất và rừng trong sản xuất nông, lâm nghiệp của cộng đồng các dân tộc ở tỉnh Yên Bái 147
4.3.1 Mô hình canh tác ruộng bậc thang 147
4.3.2 Mô hình trồng cây theo băng 148
4.3.3 Mô hình canh tác nông - lâm kết hợp 149
4.3.4 Mô hình quản lí, sử dụng rừng dựa vào cộng đồng 149
Tiểu kết chương 4 153
KẾT LUẬN 154
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 156
TÀI LIỆU THAM KHẢO 157
PHỤ LỤC 165
Trang 8iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNH-HĐH Công nghiệp hóa - hiện đại hóa CN-XD Công nghiệp - xây dựng
ĐBKK Đặc biệt khó khăn ĐKTN Điều kiện tự nhiên
N-L-TS Nông - lâm - thủy sản
WTO Tổ chức thương mại thế giới VTĐL Vị trí địa lí
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Lựa chọn mẫu điều tra 7
Bảng 2.1 Thực trạng sử dụng đất đai của tỉnh Yên Bái phân theo loại hình sử dụng (Tính đến hết năm 2016) 49
Bảng 2.2 Dân số tỉnh Yên Bái giai đoạn 2005 - 2016 54
Bảng 2.3 Gia tăng dân số tự nhiên tỉnh Yên Bái giai đoạn 2005 - 2016 54
Bảng 3.1 Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chính ở vùng thấp 75
Bảng 3.2 Diện tích đất sản xuất nông nghiệp ở vùng thấp giai đoạn 2005 - 2016 76
Bảng 3.3 Biến động diện tích đất lâm nghiệp ở vùng thấp giai đoạn 2005 - 2016 79
Bảng 3.4 Giá trị sản xuất lâm nghiệp theo giá hiện hành của khu vực vùng thấp 81
Bảng 3.5 Diện tích, năng suất, sản lượng của một số loại cây trồng chính và thuỷ sản ở vùng thấp 82
Bảng 3.6 Hiệu quả kinh tế của một số loại hình sử dụng đất nông nghiệp ở vùng thấp (Tính cho 1 ha năm 2016) 85
Bảng 3.7 Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chính ở vùng giữa 90
Bảng 3.8 Biến động diện tích đất nông nghiệp ở vùng giữa giai đoạn 2005 - 2016 92
Bảng 3.9 Biến động diện tích đất lâm nghiệp ở vùng giữa giai đoạn 2005 - 2016 93
Bảng 3.10 Giá trị sản xuất lâm nghiệp theo giá hiện hành ở vùng giữa giai đoạn 2010-2016 95
Bảng 3.11 Diện tích, năng suất, sản lượng của một số loại cây trồng chính và thuỷ sản ở vùng giữa 96
Bảng 3.12 Hiệu quả kinh tế của một số loại hình sử dụng đất nông nghiệp ở vùng giữa (Tính cho 1 ha năm 2016) 97
Bảng 3.13 Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chính ở vùng cao 104
Bảng 3.14 Biến động diện tích đất sản xuất nông nghiệp ở vùng cao giai đoạn 2005 - 2016 105
Bảng 3.15 Biến động diện tích đất lâm nghiệp ở vùng cao giai đoạn 2005 - 2016 108
Bảng 3.16 Giá trị sản xuất lâm nghiệp theo giá hiện hành của khu vực vùng cao 109
Bảng 3.17 Diện tích, năng suất, sản lượng của một số loại cây trồng chính và thuỷ sản ở vùng cao 111
Trang 10vi
Bảng 3.18 Hiệu quả kinh tế của một số loại hình sử dụng đất nông nghiệp ở
vùng cao (Tính cho 1 ha năm 2016) 112
Bảng 4.1 Định hướng các chỉ số phát triển nông nghiệp tỉnh Yên Bái 123
Bảng 4.2 Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp 124
Bảng 4.3 Chỉ tiêu phát triển chăn nuôi đến 2030 125
Bảng 4.4 Quy hoạch chăn nuôi tập trung 126
Bảng 4.5 Cơ sở chế biến lâm sản trên địa bàn tỉnh năm 2020 và định hình đến năm 2030 127
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
vii
DANH MỤC HÌNH
Hình 1 Sơ đồ tóm tắt quy trình nghiên cứu 12 Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Yên Bái
Hình 2.2 Bản đồ phân tầng độ cao địa hình tỉnh Yên Bái
Hình 2.3 Bản đồ thổ nhưỡng tỉnh Yên Bái
Hình 2.4 Cơ cấu đất vùng của tỉnh Yên Bái phân theo loại hình sử dụng
năm 2016 49 Hình 2.5 Bản đồ phân bố dân cư và dân tộc tỉnh Yên Bái
Hình 3.1 Bản đồ hiện trạng sử dụng đất tỉnh Yên Bái
Hình 3.2 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp của tỉnh Yên Bái năm 2016 69 Hình 3.3 Bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng tỉnh Yên Bái
Hình 3.4 Lược đồ hiện trạng sử dụng đất nông, lâm nghiệp theo các vùng
của tỉnh Yên Bái
Hình 3.5 Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất lâm nghiệp qua các năm của
các vùng ở tỉnh Yên Bái 81 Hình 3.6 Lược đồ hiện trạng tài nguyên rừng theo các vùng tỉnh Yên Bái
Hình 3.7 Lược đồ hiện trạng sản xuất ngành lâm nghiệp theo các vùng của
tỉnh Yên Bái
Hình 3.8 Lược đồ hiện trạng phát triển và phân bố nông nghiệp theo các
vùng của tỉnh Yên Bái
Hình 3.9 Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất lâm nghiệp qua các năm của
các vùng ở tỉnh Yên Bái 95 Hình 3.10 Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất lâm nghiệp qua các năm của
các vùng ở tỉnh Yên Bái 109 Hình 3.11 Sơ đồ hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp của cộng đồng các dân
tộc tỉnh Yên Bái 118 Hình 4.1 Bản đồ định hướng không gian phân bố hoạt động sản xuất nông,
lâm nghiệp theo các vùng của tỉnh Yên Bái
Trang 121
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong công cuộc phát triển kinh tế của tất cả các quốc gia, việc khai thác nguồn tài nguyên là điều tất yếu, nhằm đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế nhiều nơi trên thế giới đã gây ra hậu quả suy thoái và cạn kiệt tài nguyên, đồng thời chất lượng môi trường sinh thái tiếp tục suy giảm Đặc biệt đối với cộng đồng các dân tộc sống chủ yếu dựa vào việc khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên, thì đây là một thách thức không nhỏ Vậy vấn đề đặt ra là cần phải giải quyết hài hoà giữa lợi ích KT-XH với khả năng khai thác tài nguyên thiên nhiên và nằm trong giới hạn cho phép của tự nhiên Để đạt được những mục tiêu này cần phải có những nghiên cứu mang tính tổng hợp về các điều kiện tự nhiên, đặc biệt là vấn đề sử dụng tài nguyên đất và rừng của cộng đồng các dân tộc trong hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp, từ đó xây dựng cơ sở khoa học cho việc sử dụng hợp lí tài nguyên đối với từng lãnh thổ sản xuất
Yên Bái là tỉnh có nguồn tài nguyên thiên nhiên khá đa dạng và phong phú của miền nhiệt đới gió mùa Vì vậy, Yên Bái có nhiều tiềm năng to lớn cho phát triển KT-XH Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế thì nhiều nguồn tài nguyên lại có nguy cơ bị cạn kiệt và suy thoái, điều này đã có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của của cộng đồng các dân tộc Bên cạnh đó, trên địa bàn tỉnh Yên Bái, các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Mông, Thái,… chiếm tỷ lệ khá lớn, hầu hết cư trú trên những địa bàn có điều kiện môi trường địa lí khó khăn, trình độ phát triển thấp Trong sinh kế lâu đời của mình, cộng đồng các dân tộc gắn bó mật thiết với tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là với tài nguyên đất và rừng, xong do trình độ dân trí chưa cao nên khả năng khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên nói chung, tài nguyên đất và rừng nói riêng phục vụ sản xuất còn hạn chế Sản xuất kém phát triển, hiệu quả kinh tế không cao, trong khi nguồn thu chính của đồng bào nơi đây phụ thuộc vào sản xuất nông, lâm nghiệp, vì vậy, nếu mối quan hệ giữa sự tăng trưởng kinh tế, gia tăng dân số với việc khai thác tài nguyên thiên nhiên không được giải quyết tốt thì đời sống của cộng đồng các dân tộc sẽ chậm được cải thiện và khó tránh khỏi nguy cơ cạn kiệt tài nguyên, khủng hoảng môi trường
Bên cạnh đó, Yên Bái là một tỉnh miền núi, có vị trí địa lí, vị thế địa chính trị, địa kinh tế qua trọng thuộc khu vực Trung du miền núi phía Bắc nước ta Đây là nơi
đã và đang có những hoạt động khá sôi động và cũng khá đa dạng của các ngành
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
2
một khu vực lãnh thổ miền núi có tính nhạy cảm cao, có những biến động mạnh mẽ,
rõ nét về mặt tự nhiên, tài nguyên trong những năm vừa qua Với vị trí chiến lược quan trọng của mình, trong chiến lược phát triển kinh tế chung của toàn khu TDMNPB, tỉnh Yên Bái đã xác định mục tiêu xây dựng chiến lược, quy hoạch thành một khu vực kinh tế phát triển, trong đó trọng tâm là phát triển hai ngành sản xuất truyền thống, có ý nghĩa quan trọng là các ngành sản xuất nông và lâm nghiệp Đây là một mục tiêu rất lớn, có ý nghĩa đối với địa phương ở giai đoạn hiện nay Tuy vậy để đạt được mục tiêu đề ra, rõ ràng có rất nhiều vấn đề, nhiều những nhiệm
vụ cần được quan tâm giải quyết, trong đó một trong những nhiệm vụ quan trọng,
có tính cấp thiết cần được làm ngay là đánh giá được một cách tổng thể tiềm năng
tự nhiên, KT-XH, rà soát thực trạng và dự báo được những biến động trong khai thác sử dụng tài nguyên, đề xuất được các mô hình sử dụng tài nguyên phù hợp làm
cơ sở đề xuất tổ chức không gian phát triển KT-XH của tỉnh nói chung và nhất là phát triển hai ngành sản xuất kinh tế mũi nhọn là nông nghiệp và lâm nghiệp của địa phương một cách hợp lí, bền vững
Chính vì vậy, sự lựa chọn đề tài của luận án ''Sử dụng tài nguyên đất và rừng
trong sản xuất nông, lâm nghiệp của cộng đồng các dân tộc ở tỉnh Yên Bái” để
làm rõ thực trạng sử dụng tài nguyên đất và rừng trong hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp của đồng bào các dân tộc tỉnh Yên Bái, trên cơ sở đó đề xuất được các định hướng, giải pháp sử dụng tài nguyên thiên nhiên hợp lý và phát triển bền vững nhằm góp phần thực hiện được các mục tiêu mà tỉnh đề ra
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu
Trên cơ sở nghiên cứu những vẫn đề lí luận và thực tiễn, luận án làm sáng tỏ được thực trạng sử dụng nguồn tài nguyên đất và rừng của cộng đồng các dân tộc ở tỉnh Yên Bái thông qua hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp Từ đó, đề xuất các giải pháp và mô hình phát triển kinh tế nhằm sử dụng có hiệu quả và bền vững nguồn tài nguyên đất và rừng trong sản xuất nông, lâm nghiệp của các dân tộc trên địa bàn tỉnh Yên Bái đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu trên, luận án đã thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Tổng quan cơ sở khoa học về sử dụng tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là tài nguyên đất và rừng trong sản xuất nông, nghiệp lâm nghiệp ở miền núi dưới góc độ Địa lí học
Trang 14- Đề xuất một số giải pháp và mô hình nhằm sử dụng có hiệu quả, bền vững tài nguyên đất và rừng trong sản xuất nông, lâm nghiệp của cộng đồng các dân tộc tại tỉnh Yên Bái
3 Phạm vi nghiên cứu
3.1 Nội dung nghiên cứu
- Luận án tập trung nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng, thực trạng nguồn tài nguyên đất và rừng Phân tích, đánh giá việc sử dụng tài nguyên đất và rừng của cộng đồng các dân tộc ở tỉnh Yên Bái thông qua hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp trên các
địa bàn vùng thấp, vùng giữa và vùng cao
- Trên cơ sở phân tích, đánh giá tài nguyên đất và rừng, việc sử dụng tài nguyên đất
và rừng của cộng đồng các dân tộc tỉnh Yên Bái, đề xuất một số giải pháp và mô hình nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong việc sử dụng tài nguyên đất và rừng theo hướng phát triển bền vững
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Dựa trên cơ sở nội dung nghiên cứu thì đề tài sẽ nghiên cứu tập trung vào 2 đối tượng: Việc sử dụng tài nguyên đất và rừng; Vấn đề phát triển nông, lâm nghiệp của
cộng đồng các dân tộc tỉnh Yên Bái
3.3 Không gian nghiên cứu
Thực hiện nghiên cứu trên toàn bộ tỉnh Yên Bái: Bao gồm 01 thành phố, 01 thị xã và 07 huyện Trong đó tập trung nghiên cứu sâu vào 03 huyện: Huyện Yên Bình (đại diện cho vùng thấp), huyện Văn Chấn (đại diện cho vùng giữa) và huyện
Mù Cang Chải (đại diện cho vùng cao)
3.4 Thời gian nghiên cứu
- Số liệu thứ cấp: Thu thập trong giai đoạn 2005 - 2016
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
4 Quan điểm, phương pháp và quy trình nghiên cứu
4.1 Quan điểm nghiên cứu
4.1.1 Quan điểm hệ thống
Mọi sự vật, hiện tượng đều có mối quan hệ biện chứng với nhau, tạo thành một thể thống nhất, hoàn chỉnh được gọi là một hệ thống Mỗi hệ thống lại có khả năng phân chia thành các hệ thống các cấp thấp hơn và chúng luôn vận động tác động tương hỗ lẫn nhau Các thành phần tạo nên cấu trúc bên trong của một hệ thống có mối quan hệ tương hỗ mật thiết với nhau Khi một thành phần nào đó thay đổi sẽ kéo theo sự thay đổi của các thành phần khác và có khi làm thay đổi cả hệ thống đó Tính hệ thống làm cách tiếp cận trở nên lôgic, thông suốt và sâu sắc Trong đề tài này, nghiên cứu việc sử dụng tài nguyên đất và rừng trong sản xuất nông, lâm nghiệp của cộng đồng các dân tộc ở tỉnh Yên Bái được đặt trong mối quan hệ giữa phát triển kinh tế của tỉnh và cả nước Khi nghiên cứu đất và rừng đặt trong mối quan hệ với phát triển kinh tế xã hội Các hệ thống có mối quan hệ tương tác, mật thiết với nhau Vì vậy cần phải tìm hiểu các mối quan hệ qua lại, các tác động ảnh hưởng giữa các yếu tố trong một hệ thống và giữa các hệ thống để đánh giá chính xác vấn đề nghiên cứu
4.1.2 Quan điểm tổng hợp
Trong nghiên cứu địa lí, quan điểm tổng hợp là một quan điểm chủ đạo, xuyên suốt trong cách nhìn nhận và đánh giá các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, KT-XH Bản chất của quan điểm này trong nghiên cứu lãnh thổ là nghiên cứu một đối tượng cần phải xem xét cả các đối tượng khác vì chúng có mối quan hệ chặt chẽ và tạo thành một thể thống nhất
Tỉnh Yên Bái là một thể tổng hợp bao gồm các yếu tố tự nhiên, KT-XH có mối quan hệ chặt chẽ, tác động ảnh hưởng và chi phối lẫn nhau Quan điểm tổng hợp thể lãnh thổ hiện rõ việc nghiên cứu việc sử dụng tài nguyên đất và rừng trong sản xuất nông, lâm nghiệp trong mối liên hệ tác động qua lại giữa các yếu tố tự nhiên và KT-XH
Trang 165
4.1.3 Quan điểm lãnh thổ
Mọi sự vật hiện tượng địa lí đều tồn tại và phát triển trong một không gian lãnh thổ nhất định Khi nghiên cứu phải tìm hiểu sự ảnh hưởng của lãnh thổ đến khía cạnh nghiên cứu, tìm ra các qui luật phát triển và đưa ra những định hướng tốt nhằm khai thác có hiệu quả những nguồn tài nguyên thiên nhiên trong sản xuất nông, lâm nghiệp Đặc biệt chú ý tới sự khác biệt lãnh thổ trong quá trình phát triển kinh tế Các khu vực khác nhau, kết hợp với sự phân hóa không gian, cũng như việc
tổ chức hợp lí quá trình sản xuất sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao
4.1.4 Quan điểm phát triển bền vững
Ngày nay, nghiên cứu sử dụng tài nguyên thiên nhiên cho phát triển kinh tế đều phải tuân thủ nguyên tắc phát triển bền vững Bền vững KT-XH, môi trường được thể hiện trong khai thác, sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên, mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất, có cách thức khai thác tốt nhất, đảm bảo nguồn tài nguyên cho thế hệ mai sau, đảm bảo cân bằng sinh thái và cải thiện môi trường tài nguyên Phát triển bền vững được coi là tiêu chí ưu tiên hàng đầu trong hoạt động nghiên cứu sử dụng tài nguyên đất và rừng cho các mục đích cụ thể
Quan điểm phát triển bền vững là cơ sở cho luận án định hướng trong phát triển các ngành kinh tế, kiến nghị khai thác tài nguyên, bố trí không gian ưu tiên phát triển các ngành sản xuất cho Yên Bái theo hướng sử dụng hợp lí tài nguyên đất
và rừng Khai thác và sử dụng tài nguyên của cộng đồng các dân tộc tỉnh Yên Bái phải nhằm mục đích mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất, chú trọng đến ổn định xã hội, nâng cao thu nhập, đảm bảo cuộc sống cho người dân và các vấn đề môi trường, hạn chế thấp nhất tác động xấu đến môi trường do các hoạt động sản xuất gây ra Đảm bảo một nền sản xuất được phát triển bền vững trên mọi khía cạnh
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp thu thập và xử lí tài liệu
Phương pháp thu thập và xử lí tài liệu là một phương pháp nghiên cứu truyền
thống rất quan trọng đối với đề tài luận án của tác giả Trong nghiên cứu luận án này, tác giả đã tiến hành theo các bước cụ thể sau:
- Xác định các số liệu, tài liệu cần thu thập có nội dung gắn liền với đề tài nghiên cứu Đó là các dạng thông tin, các nguồn tài liệu có liến quan đến cơ sở lí luận về sử dụng tài nguyên thiên nhiên trong phát triển nông, lâm nghiệp; về vấn đề phát triển nông, lâm nghiệp; về cộng đồng các dân tộc…Nguồn tài liệu sử dụng trong đề tài chủ yếu là các tài liệu viết, ngoài ra còn sử dụng thêm nguồn tranh ảnh,
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
6
- Thực hiện thu thập các danh mục tài liệu theo kế hoạch đã xây dựng
+ Tài liệu thứ cấp được thu thập từ các tài liệu chính thức của Bộ Tài nguyên
và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các viện nghiên cứu có liên quan, các Website chuyên ngành, các ấn phẩm khoa học cũng như các tổ chức
có liên quan tại tỉnh Yên Bái Cụ thể:
Đặc điểm về điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên: Thu thập các thông tin có tại Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Yên Bái; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Yên Bái; Văn phòng UBND tỉnh Yên Bái
Đặc điểm về tỉnh hình KT-XH: Thu thập số liệu tại Bộ kế hoạch và Đầu tư; Cục thống kê tỉnh Yên Bái; Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Yên Bái; Ban dân tộc tỉnh Yên Bái; Văn phòng UBND tỉnh Yên Bái
Số liệu về sử dụng đất và rừng: Số liệu được thu thập tại Tổng cục quản lý đất vùng; Tổng cục lâm nghiệp; Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Yên Bái; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Yên Bái và tại các phòng tài nguyên và môi trường của các huyện trong tỉnh
+ Các tài liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra nông hộ; khảo sát thực địa…
Các dữ liệu sau khi thu thập được rà soát, thẩm định tính thống nhất, chọn lọc và phân tích sao cho phù hợp với yêu cầu của luận án
4.2.2 Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp
Trên cơ sở những dữ liệu đã thu thập, bằng phương pháp phân tích, so sánh (để
so sánh các yếu tố định lượng hoặc định tính, các mối quan hệ không gian và thời gian giữa các ngành, các lĩnh vực kinh tế, đặc biệt là mối quan hệ về tự nhiên và nhân văn, so sánh phân tích các chỉ tiêu, các hoạt động kinh tế đã được lượng hóa
có cùng nội dung, tính chất tương tự để xác định mức độ biến động của các chỉ tiêu) tổng hợp để rút ra được những đánh giá về điều kiện và thực trạng sử dụng tài nguyên đất và rừng trong hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp của các dân tộc ở tỉnh Yên Bái
4.2.3 Phương pháp điều tra xã hội học
Điều tra xã hội học là một phương pháp nghiên cứu rất quan trọng và cần thiết vì nó tạo ra độ tin cậy, tính khoa học và giá trị thực tiễn mà nguồn tài liệu thứ cấp không mang lại được Căn cứ vào mục tiêu, đối tượng và thời gian nghiên cứu của luận án Tác giả lựa chọn hình thức điều tra, phiếu điều tra để điều tra các thông tin phục vụ cho luận án Hình thức tiến hành điều tra phiếu thông qua chọn mẫu ngẫu nhiên (chọn ngẫu nhiên một số đơn vị đại diện trong toàn bộ các đơn vị tổng
Trang 187
thể chung để điều tra, xong dùng kết quả điều tra đó suy ra đặc điểm của toàn tổng thể chung)
Chọn mẫu điều tra
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là vấn đề sử dụng tài nguyên đất và rừng của cộng đồng các dân tộc trong sản xuất nông, lâm nghiệp ở ba vùng: Vùng thấp, vùng giữa và vùng cao trên địa bàn tỉnh Yên Bái Để đạt được mục tiêu và nội dung nghiên cứu, đề tài lựa chọn đơn vị mẫu điều tra ở vùng thấp là chọn ngẫu nhiên các
hộ gia đình thuộc dân tộc Kinh của huyện Yên Bình; vùng giữa là các hộ gia đình dân tộc Dao của huyện Văn Chấn và vùng cao là các hộ gia đình dân tộc Mông của huyện Mù Cang Chải với tổng số 240 phiếu điều tra Mỗi huyện chọn từ 2 xã để điều tra với số phiếu tương đương nhau ở tất cả các huyện (80 phiếu/huyện)
Các hộ gia đình được chọn ngẫu nhiên để phỏng vấn, điều tra cần thỏa mãn điều kiện có thời gian định cư tại tỉnh Yên Bái và thời gian hoạt động nông nghiệp
từ 5 năm trở lên và đang canh tác ít nhất 2 kiểu sử dụng đất nông, lâm nghiệp chính
Bảng 1 Lựa chọn mẫu điều tra
1 Vùng thấp
- Huyện Yên Bình
+ Xã Thịnh Hưng + Xã Đại Minh
Nội dung điều tra
- Các đặc điểm cơ bản của hộ gia đình: Họ tên chủ hộ, dân tộc, tuổi và giới tính của chủ hộ, nhân khẩu, trình độ học vấn…
- Các thông tin về sử dụng tài nguyên đất nông nghiệp: Diện tích đất nông nghiệp, tình hình sử đất nông nghiệp, phương thức canh tác, mức độ đầu tư thâm canh, kiến thức bản địa, mức độ áp dụng khoa học - kỹ thuật trong sản xuất, mức độ tiếp cận vốn, thị trường…
- Các thông tin về trồng, quản lý và khai thác rừng: Diện tích rừng trồng, rừng quản lý, các sản phẩm khai thác từ rừng, kiến thức bản địa trong trồng và bảo vệ rừng, nguồn thu từ rừng…
- Các thông tin về hiệu quả sử dụng tài nguyên đất và rừng trong sản xuất nông, lâm nghiệp của cộng đồng các dân tộc:
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
8
Hiệu quả về xã hội: Dựa trên việc giải quyết nhu cầu lao động, mức độ chấp nhận của người sử dụng đất, mức độ phù hợp với chiến lược phát triển quy hoạch của địa phương và của ngành
Hiệu quả môi trường: Gồm các thông tin điều tra như nâng cao độ che phủ, giảm mức độ ô nhiễm đất, giảm xói mòn, thoái hóa…
4.2.4 Phương pháp bản đồ và hệ thông tin địa lí (GIS)
Bản đồ là phương tiện thể hiện các nội dung nghiên cứu của đề tài Để bản đồ
có tính chính xác và tính khoa học cao, trong luận án tác giả đã vận dụng các công
cụ, phần mềm của hệ thông tin địa lí để tích hợp, phân loại và chuẩn hóa những dữ liệu về tài nguyên đất và rừng thông qua các hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp
Hệ thống bản đồ trong luận án được xây dựng bằng phần mềm MapInfo và được quản lí trong cơ sở dữ liệu của GIS
4.2.5 Phương pháp chuyên gia
Phương pháp chuyên gia là phương pháp thu thập, xử lí những đánh giá, dự báo bằng cách tập hợp và hỏi ý kiến các chuyên gia giỏi thuộc lĩnh vực hẹp của khoa học kĩ thuật hoặc sản xuất, nhằm đưa ra được các kết luận, các kiến nghị, các quyết định có tính khoa học và giá trị thực tiễn cao
Trong quá trình thực hiện luận án, tác giả đã trực tiếp trao đổi, tham khảo ý kiến của nhiều nhà khoa học giỏi có liên quan đến nội dung của đề tài Có xin ý kiến của các chuyên gia thuộc Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Yên Bái, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Yên Bái, của các nhà quản lí các cấp thuộc tỉnh Yên Bái, chủ các dự án, các đề tài về tài nguyên thiên nhiên về phát triển nông, lâm nghiệp của tỉnh Yên Bái để học hỏi thêm phương pháp nghiên cứu, kế thừa các nguồn tài liệu… để thực hiện được các nhiệm vụ của đề tài dễ dàng hơn
4.2.6 Phương pháp dự báo
Phương pháp dự báo nhằm xác định hướng chiến lược và các mục tiêu, kịch bản phát triển trước mắt và lâu dài của đối tượng nghiên cứu địa lí kinh tế một cách
có cơ sở khoa học phù hợp với các điều kiện và xu thế phát triển của thời đại
Sử dụng phương pháp dự báo ta căn cứ vào số liệu thu thập, xử lí số liệu trong quá khứ và hiện tại từ đó xác định được hiệu quả cũng như xu thế của việc sử dụng tài nguyên đất và rừng vào trong các hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp của cộng đồng các dân tộc ở tỉnh Yên Bái
Trang 209
5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
5.1 Nhóm chỉ tiêu phản ánh tình hình sử dụng tài nguyên đất và rừng
- Diện tích và tỷ lệ diện tích đất, rừng đã sử dụng cho nông, lâm và ngư nghiệp trên tổng quỹ đất tự nhiên
- Diện tích và cơ cấu diện tích đất vùng phân bổ cho các lĩnh vực trong nội
bộ ngành nông, lâm và ngư nghiệp (đất SXNN, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất nông nghiệp khác)
Diện tích và tỷ lệ diện tích đất, rừng có khả năng phát triển nông, lâm và ngư nghiệp chưa được sử dụng
Hệ số sử dụng đất (hệ số lần trồng): là hệ số giữa tổng diện tích gieo trồng tính trên tổng diện tích canh tác trong một năm
Công thức này được sử dụng để tính hệ số quay vòng của đất, hệ số sử dụng ruộng đất càng lớn thì năng suất đất vùng sẽ càng cao
5.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh tế trong sử dụng tài đất và rừng trong hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp
Năng suất bình quân (AP): Là mức sản lượng thu được trong quá trình điều
tra đối với từng loại cây trồng cụ thể trên một đơn vị diện tích
Năng suất bình quân = Sản lượng
Diện tích gieo trồng
Giá trị sản xuất (GO): là toàn bộ giá trị của cải vật chất và dịch vụ được tạo ra
trong một thời kỳ (thường là một năm)
diện tích đất canh tác Trong nghiên cứu này, GO là toàn bộ sản phẩm thu được quy
ra tiền theo giá thị trường trên một hecta đất canh tác
Năng suất đất vùng = Giá trị sản xuất
Diện tích canh tác
R (lần) = Tổng diện tích gieo trồng/tổng diện tích canh tác
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
10
Tỷ suất thu nhập hỗn hợp theo công lao động (TMILĐ): là tỷ số thu nhập hỗn
hợp tính bình quân trên một đơn vị diện tích với số công lao động đầu tư cho một chu kỳ sản xuất
Công thức tính: TMILĐ = MI/công lao động
6 Các luận điểm bảo vệ
- Luận điểm 1: Sử dụng tài nguyên đất và rừng trong sản xuất nông, lâm
nghiệp của cộng đồng các dân tộc tỉnh Yên Bái bị quyết định bởi các điều kiện về tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên; các điều kiện về kinh tế - xã hội; đặc điểm cộng đồng các dân tộc tỉnh Yên Bái
- Luận điểm 2: Tiếp cận phương pháp phân tích, đánh giá hiện trạng tài
nguyên để đánh giá mức độ sử dụng tài nguyên đất và rừng trong sản xuất nông, lâm nghiệp của đồng bào dân tộc tỉnh Yên Bái Kết quả đánh giá tổng hợp là cơ sở
đề xuất cho định hướng sử dụng tài nguyên đất và rừng bền vững có hiệu quả trong sản xuất nông, lâm nghiệp trên địa bàn nghiên cứu
7 Những điểm mới của luận án
- Phân tích được các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng tài nguyên đất và rừng trong sản xuất nông, lâm nghiệp của cộng đồng các dân tộc trên địa bàn nghiên cứu
- Đánh giá được thực trạng sử dụng tài nguyên đất và rừng trong sản xuất nông, lâm nghiệp của cộng đồng các dân tộc tỉnh Yên Bái theo các vùng (vùng thấp, vùng giữa và vùng cao)
- Việc phân tích, đánh giá tài nguyên đất và rừng trong sản xuất nông, lâm nghiệp của cộng đồng các dân tộc tỉnh Yên Bái đã thiết lập được cơ sở khoa học tin cậy để định hướng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Yên Bái Trên cơ sở đó, đề xuất được một số giải pháp, mô hình nhằm sử dụng có hiệu quả và bền vững tài nguyên đất và rừng trong sản xuất nông, lâm nghiệp của cộng đồng các dân tộc trên địa bàn nghiên cứu
8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
8.1 Ý nghĩa khoa học
Kế thừa những tư tưởng, những thành tựu của các học giả tiêu biểu trong và ngoài nước, luận án sẽ làm phong phú thêm cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc phân tích, đánh giá tiềm năng tài nguyên thiên nhiên cho phát triển sản xuất Làm
Trang 229 Cơ sở tài liệu và cấu trúc của luận án
9.1 Cơ sở tài liệu
Ngoài những tài liệu, công trình nghiên cứu lí luận, thực tiễn trong và ngoài nước, trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ của luận án, tác giả đã sử dụng một số tài liệu sau:
- Cơ sở dữ liệu bản đồ nền và chuyên đề: bản đồ địa hình tỉnh Yên Bái tỷ lệ 1:50.000 và các bản đồ thành phần bao gồm bản đồ hiện trạng và quy hoạc rừng, thổ nhưỡng (tỷ lệ 1: 100.000 và 1: 50.000), hiện trạng sử dụng đất, bản đồ nông nghiệp tỉnh Yên Bái
- Các đề tài nghiên cứu, dự án, báo cáo khoa học về điều tra điều kiện tự nhiên, tài nguyên và môi trường, về KT-XH, sách Niên giám thống kê tỉnh Yên Bái trong giai đoạn 2005-2017
9.2 Cấu trúc luận án
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận án gồm 4 chương nội dung với tổng
số 155 trang Luận án đã có 34 bảng, hình và 11 bản đồ chuyên đề thể hiện kết quả nghiên cứu
Chương 1 Cơ sở khoa học về sử dụng tài nguyên đất và rừng trong sản xuất nông, lâm nghiệp của cộng đồng các dân tộc
Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp tỉnh Yên Bái
Chương 3 Thực trạng sử dụng tài nguyên đất và rừng trong sản xuất nông, lâm nghiệp của cộng đồng các dân tộc tỉnh Yên Bái
Chương 4 Giải pháp và mô hình phát triển kinh tế nhằm sử dụng bền vững tài nguyên đất và rừng trong sản xuất nông, lâm nghiệp của cộng đồng dân tộc tỉnh Yên Bái
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
12
Hình 1 Sơ đồ tóm tắt quy trình nội dung nghiên cứu
Tính cấp thiết, mục tiêu, nhiệm vụ, đối tượng, nội dung nghiên cứu Xác định cơ sở khoa học
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến SDTN đất, rừng trong SXNLN của cộng đồng các dân tộc tỉnh Yên Bái
VTĐL, ĐKTN, ĐKKT-XH
Đặc điểm cộng đồng các dân tộc
tỉnh Yên Bái
Thực trạng SDTN đất, rừng trong SXNLN của cộng đồng các dân tộc tỉnh Yên Bái
SDTN đất, rừng trong
SXNLN của cộng đồng các dân tộc ở vùng thấp
SDTN đất, rừng trong SXNLN của cộng đồng các dân tộc ở vùng giữa
SDTN đất, rừng trong SXNLN của cộng đồng các dân tộc ở vùng cao
Đánh giá chung về SDTN đất, rừng trong SXNLN
của cộng đồng các dân tộc
Mô hình phát triển kinh tế Định hướng phát triển
Giải pháp phát triển
Trang 2413
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN ĐẤT VÀ RỪNG
TRONG SẢN XUẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP CỦA CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC
1.1 Tổng quan các kết quả nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về sử dụng tài nguyên thiên nhiên trong phát triển nông, lâm nghiệp của cộng đồng các dân tộc
1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới
1.1.1.1 Về tài nguyên thiên nhiên
Vấn đề sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên trong hoạt động sản xuất, đặc biệt là trong hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp, đảm bảo cho sản xuất phát triển bền vững
đã được các nhà khoa học nghiên cứu từ lâu đời, trong đó nổi bật có các tác giả
Robert Goodland, George Ledec trong công trình nghiên cứu Neoclasical economics and Principles of sustainable Development, Elsevier B.V, USA-1987, đã nghiên cứu về chuyển đổi các mô hình KT-XH từ chủ yếu dựa vào việc khai thác và
sử dụng quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên sang mô hình kinh tế xã hội phát triển bền vững Theo ông phát triển KT-XH bền vững thì trước hết phải có các biện pháp tối ưu về khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên vì chỉ có như vậy mới vừa bảo đảm đáp ứng được sự phát triển hiện tại của xã hội loài người, lại
vừa tạo ra được cơ sở phát triển cho các thế hệ tương lai [104]
Theo Frank Ellis trong cuốn “Chính sách nông nghiệp trong các nước đang phát triển”, ông đã phân tích khá đầy đủ những mặt tích cực cũng như những mặt còn hạn chế trong chính sách phát triển nông nghiệp của các nước này Đặc biệt ông
đã tập trung phân tích khá sâu về những mặt còn hạn chế Theo Frank Ellis, do mong muốn phát triển và nhanh chóng nâng cao mức sống của người dân, nhất là đảm bảo tốt vấn đề an ninh lương thực và thực phẩm, các nước đang phát triển hay vấp phải sai lầm là khai thác một cách quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên và
sử dụng quá mức gấp nhiều lần cho phép các loại phân hoá học, các loại thuốc phòng trừ sâu bệnh và dịch bệnh, các loại hoá chất kích thích tăng trưởng cây trồng, các loại tăng trọng cho gia súc gia cần, cũng như bảo quản các loại nông sản đã sản xuất ra Hậu quả tất yếu là các nguồn tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt, môi trường sinh thái và môi trường sống của con người bị huỷ hoại.Từ thực tế đó, Frank Ellis khuyến nghị các nước đang phát triển nên nhanh chóng điều chỉnh lại chính sách phát triển nông nghiệp, trong đó quan trọng nhất là chính sách sử dụng hợp lí các tài nguyên nông nghiệp để phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững [25]
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
14
Đồng quan điểm với Frank Ellis, Ernst Lutz cũng đã đưa ra khuyến cáo với các quốc gia, nhất là đối với các quốc gia đang phát triển rằng: “Trong quá trình phát triển KT-XH ở khu vực nông thôn, phải đặc biệt coi trọng việc gắn kết hài hoà giữa phát triển sản xuất với gìn giữ và bảo vệ môi trường, nhất là môi trường đất, môi trường nước, môi trường không khí và môi trường rừng Các quốc gia chỉ có thể đạt được sự thành công trong phát triển KT-XH ở khu vực nông thôn khi và chỉ khi đi theo hướng phát triển bền vững” [108]
Liên quan đến vấn đề này, Sudhir Anand và Amartya Sen (1996) cũng đã khảng định rằng: Khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong hoạt động sản xuất, nhất là trong lĩnh vực sản xuất nông, lâm nghiệp là nền tảng cho phát triển bền vững và nâng cao chất lượng môi trường sống Để bảo đảm phát triển bền vững các NCS cũng đã đưa ra nhiều điều cần lưu
ý, trong đó đáng quan tâm là: Sử dụng hợp lý đất vùng, bảo về rừng và nguồn tài nguyên nước, tiết kiệm năng lượng và giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội [106] Hay theo, Mankin (1998) nói một cách khác, sự phát triển bền vững trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, chính là sự bảo tồn đất, nước, các nguồn động thực vật để không bị suy thoái môi trường, sử dụng kĩ thuận thích hợp, tạo sinh lợi về kinh tế và chấp nhận được về mặt xã hội và môi trường
1.1.1.2 Về phát triển nông nghiệp
Nền kinh tế của các nước trên thế giới đều đi lên từ nông nghiệp, hoặc nông nghiệp có vị trí đặc biệt đối với sự phát triển của một quốc gia nào đó, vì thế đã có không ít các công trình nghiên cứu nước ngoài liên quan đến luận án và các nghiên cứu này sẽ là những tài liệu bổ ích cho nghiên cứu của luận án và gợi mở những bài
học kinh nghiệm quý giá đối với Việt Nam Ngân hàng thế giới với tài liệu báo cáo
"Tăng cường nông nghiệp cho phát triển" [44] đã nêu bật nông nghiệp là công cụ
phát triển sống còn để đạt mục tiêu phát triển thiên niên kỷ Báo cáo có độ dài hơn
500 trang, nội dung thể hiện 3 vấn đề chính, đó là: Nông nghiệp có thể làm gì để góp phần vào phát triển; công cụ hữu hiệu trong việc sử dụng nông nghiệp vì sự phát triển là gì?; làm thế nào để thực hiện tốt nhất các chương trình nghị sự nông nghiệp vì sự phát triển Báo cáo này đã hướng dẫn cho các Chính phủ và cộng đồng quốc tế khi thiết kế và thực thi các chương trình nông nghiệp cho phát triển, những chương trình này có thể đổi cuộc sống cho hàng triệu người đói nghèo, cơ cực ở
nông thôn
Peter Oakley et al trong công trình nghiên cứu Projects with People: The Practice of Participation in Rural Development Geneva: International Labour
Trang 2615
Office, 1991, đã nêu rõ: muốn phát triển KT-XH nông thôn nhanh, theo hướng hiện đại, con đường đúng nhất là phải phát triển theo hướng bền vững Trong đó, nghiên cứu cho rằng việc để người nông dân tham gia vào thực thi, cũng như kiểm tra, giám sát các chương trình, dự án Phát triển nông thôn là yếu tố cực kỳ quan trọng cho sự phát triển bền vững của khu vực này [95]
1.1.1.3 Về cộng đồng các dân tộc với việc sử dụng TNTN
Trong khoảng 20 năm trở lại đây, kiến thức bản địa được các nhà nghiên cứu tập trung chú ý Qua việc phân tích những thành tựu và thất bại của nhiều dự án phát triển nông thôn và miền núi tại châu Á, châu Phi và châu Mỹ La tinh họ nhận thấy rằng: Các kỹ thuật truyền thống có khả năng thích ứng cao với điều kiện môi trường
tự nhiên cũng như tập quán xã hội, nên việc kết hợp kiến thức bản địa với kỹ thuật hiện đại là phương pháp tốt nhất để ứng dựng khoa học kỹ thuật mới vào nông thôn
và miền núi Đối với các dân tộc sống ở khu vực miền núi thì cuộc sống của họ gắn
bó chặt chẽ với các nguồn tài nguyên thiên nhiên nơi cư trú (đặc biệt là tài nguyên rừng, đất và khí hậu), nên việc sử dụng những kiến thức bản địa để bảo vệ và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên được các tộc người rất coi trọng - và đó cũng là hướng nghiên cứu mà các nhà khoa học, trong đó có khoa học Địa lí rất quan tâm nghiên cứu trong những năm gần đây
Trong các dự án phát triển nông nghiệp nông thôn O.D Atteh (1992) đã “coi KTBĐ là chìa khóa cho sự phát triển cấp địa phương” [55] Ngân hàng thế giới là một trong các tổ chức quốc tế đã tích cực ủng hộ các chương trình nghiên cứu KTBĐ nhằm tăng tính hiệu quả cho các dự án phát triển nông thôn Hiện nay, trên thế giới có khoảng trên 3000 chuyên gia tại khoảng 126 nước hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu KTBĐ Một mạng lưới quốc tế nghiên cứu và sử dụng và sử dụng KTBĐ đã được thành lập năm 1987 thông qua Trung tâm nghiên cứu KTBĐ phục
vụ phát triển nông nghiệp (CIKARD) tại Đại học Iowa State, Hoa Kỳ [109]
Ngoài mục đích làm tăng tính hiệu quả trong phát triển nông nghiệp và nông thôn, quản lí bền vững TNTN và BVMT, nhiều quốc gia còn chú trọng khai thác dạng tài nguyên này để phục vụ mục đích thương mại, mang lại hiệu quả kinh tế cao, như trong lĩnh vực y học cổ truyền hay mỹ phẩm
Năm 1998, tổ chức Ngân hàng thế giới (World Bank) đã thiết lập chương trình
“Tri thức bản địa cho sự phát triển” nhằm mục đích học tập từ các hệ thống tri thức địa phương phục vụ phát triển tại các cộng đồng đó và từ đó mở rộng tính ứng dụng
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
16
1.1.2 Những nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, những vấn đề về tài nguyên, môi trường đã được nghiên cứu trong vài thập kỷ gần đây, nhất là từ năm 1986 Việt Nam chuyển sang một giai đoạn đổi mới toàn diện đất nước Hàng loạt các công trình cả về lý thuyết và thực tiễn nghiên cứu về vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên; về phát triển nông nghiệp; về cộng đồng các dân tộc trong hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp, đặc biệt là dân tộc vùng miền núi đã được công bố
1.1.2.1 Về tài nguyên thiên nhiên
Vấn đề quản lí sử dụng tài nguyên thiên nhiên được nghiên cứu khá chi tiết trong các công trình nghiên cứu của Lê Đức An, Uông Đình Khanh [1], Nguyễn Viết Thịnh, Đỗ Thị Minh Đức [72], Trần Công Tấu [64], Nguyễn Văn Đạt [23] Nhờ kết quả nghiên cứu cơ bản về cơ sở địa lí, nhiều vấn đề về thổ nhưỡng, về tài nguyên rừng, tài nguyên nước đã được kiến nghị trong nhiều tác phẩm của các nhà địa lí Việt Nam như Lê Bá Thảo [69], Vũ Tự Lập [40] Những khái niệm cơ bản, cách quản lí sử dụng về các nguồn tài nguyên như khí hậu, đất vùng, sinh vật, đã được diễn giải sâu sắc và toàn diện tại các ấn phẩm của nhiều học giả như: Alaev E
B [4], Trần Công Tấu [64], Báo cáo về PCI Việt Nam năm 2015, Báo cáo về Quản
lí tài nguyên đất và rừng của Nhóm các nhà tài trợ quốc tế cho Việt Nam
Việc sử dụng và quản lí các nguồn tài nguyên cũng đã được phân tích sâu sắc và với nhiều kiến nghị thiết thực của Đào Châu Thu [79], Lê Thông [76], Thái Văn Trừng [74], Trần Công Tấu [64] Xu hướng nghiên cứu cụ thể thiết thực ngày càng thu hút nhiều nghiên cứu của các nhà nghiên cứu thông qua các luận văn tiến sĩ, thạc
sĩ địa lí
1.1.2.2 Về phát triển nông nghiệp
Giáo trình kinh tế nông nghiệp của Nguyễn Thế Nhã, Vũ Đình Thắng - NXB
Thống Kê (2002) và Kinh tế nông nghiệp của Phạm Đình Vân, Đỗ Thị Kim Chung,
NXB Nông Nghiệp (2008) Hai giáo trình này đã đề cập đến những vấn đề cơ bản của sản xuất nông nghiệp như: Đặc điểm và các nhân tố tác động đến sự phát triển
và phân bố nông nghiệp; lý thuyết kinh tế trong nông nghiệp; các vấn đề phát triển nông nghiệp bền vững Đây là những cơ sở lý luận quan trọng trong quá trình nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng phát triển và phân bố kinh tế nông nghiệp tỉnh Yên Bái
Địa lý kinh tế - xã hội đại cương của PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên),
GS.TS Nguyễn Viết Thịnh, GS.TS Lê Thông - NXB ĐHSP Hà Nội (2005); Giáo
Trang 2817
trình địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam của GS.TS Nguyễn Viết Thịnh, GS.TS Đỗ Thị
Minh Đức - NXB Giáo dục (2003); Giáo trình Địa lí kinh tế xã hội Việt Nam (phần 1) của TS Dương Quỳnh Phương - NXB Giáo Dục (2011); Địa lý kinh tế - xã hội Việt
Nam của GS.TS Lê Thông (chủ biên), Nguyễn Văn Phú, Nguyễn Minh Tuệ, Lê Mỹ
Dung - NXB Đại học Sư Phạm (2012); Địa lí các vùng kinh tế Việt Nam của PGS.TS
Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên) Các nghiên cứu trên của các tác giả đã đề cập đến sự phân bố địa lí của sản xuất nông nghiệp; vai trò, các điều kiện và đặc điểm phát triển của nó ở các nước, các vùng khác nhau trên thế giới và ở Việt Nam; các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp nói chung và thực trạng tổ chức lãnh thổ nông nghiệp ở Việt Nam Đó là những cơ sở quan trọng cho việc nghiên cứu địa lí nông nghiệp vào một lãnh thổ cụ thể, đồng thời giúp tác giả đưa ra được những phân tích, nhận định quan trọng trong quá trình nghiên cứu thực trạng phát triển nông nghiệp tỉnh Yên Bái
Tổ chức lãnh thổ nông nghiệp Việt Nam của Đặng Văn Phan - NXB Giáo dục,
2008 Tác giả đã đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn của tổ chức lãnh thổ nông nghiệp: khái niệm, các nhân tố, các hình thức tổ chức lãnh thổ nông nghiệp chung và thực trạng tổ chức lãnh thổ nông nghiệp ở Việt Nam Đây là cơ sở quan trọng cho tác giả trong việc nghiên cứu thực trạng tổ chức lãnh thổ nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái
Trên địa bàn vùng miền núi phía Bắc, cũng đã có một số công trình nghiên cứu
về lĩnh vực trên, tiêu biểu là: "Những khó khăn trong công cuộc phát triển miền núi ở
Việt Nam", (N Jamieson, Tenry Rambo, L.T Cúc) "Sự phát triển hệ thống nông nghiệp miền núi phía Bắc”, Đào Thế Tuấn Trần Đức Viên: "Nông nghiệp bền vững, lối đi cho tương lai" và "Hệ canh tác vùng cao nông nghiệp miền núi" Dương Quỳnh
Phương, “Tác động của cộng đồng các dân tộc đến nguồn tài nguyên thiên nhiên của
vùng Trung du và miền núi phía Bắc” (Đề tài KH và CN cấp Bộ, 2010)
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: "Kết nối sản xuất của hộ nông dân đối
với thị trường khu vực Trung du miền núi Đông Bắc” do TS Đỗ Quang Giám,
trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội làm chủ nhiệm Đề tài đã tập trung nghiên cứu thực trạng sản xuất và tiêu thụ một số nông sản chủ yếu của 3 tỉnh vùng Trung du miền núi Đông Bắc là: Bắc Giang, Tuyên Quang và Lạng Sơn [28]
1.1.2.3 Về cộng đồng các dân tộc với việc sử dụng TNTN
Tác giả Hoàng Xuân Tý (1998) với công trình nghiên cứu: "Kiến thức bản địa
của đồng bào vùng cao trong nông nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên", đã cung
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
18
nguyên thiên nhiên dựa trên nguồn tri thức bản địa Đó là những kiến thức về trồng trọt, chăn nuôi, những kiến thức về quản lí rừng và tài nguyên cộng đồng… của nhiều dân tộc khác nhau Cụ thể, ở phần thứ hai của cuốn sách Tác giả Hoàng Xuân Tý đã trình bày nhiều bài viết về tri thức bản địa của một số dân tộc với những nội dung khác
nhau như: Bảo vệ nương rẫy và tài nguyên rừng qua luật tục người M'nông;Các giải
pháp canh tác đất dốc của đồng bào Thái đen ở Sơn La; Phân loại đất của người
Cơ Tu (vùng Nam Đông, Thừa Thiên Huế); Bộ giống cây lương thực và rau rừng của người Chil ở Lâm Đồng; Các giống lúa của các dân tộc Mông, Thái đen; Cách phân loại ruộng nương truyền thống của đồng bào dân tộc Thái ở Sơn La,… Như
vậy, tác giả Hoàng xuân Tý đã có những đóng góp quan trọng trong nghiên cứu lí luận cũng như nghiên cứu thực tiễn về cộng đồng các dân tộc trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên thông qua tri thức bản địa
Tác giả Lê Trọng Cúc cũng có khá nhiều bài viết chuyên sâu về lĩnh vực này, Hệ
sinh thái nông nghiệp trung du miền Bắc Việt Nam [10]; Mối quan hệ giữa kiến thức bản địa, văn hóa và môi trường ở vùng núi Việt Nam[65]; Vai trò của tri thức địa phương đối với phát triển bền vững vùng cao, trong Nông nghiệp trên đất dốc - những thách thức và tiềm năng [11]; Đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên [14];
Phải khảng định rằng đây là một tập hợp những nghiên cứu có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến cộng đồng các dân tộc trong việc quản lí, sử dụng tài nguyên thiên nhiên vào hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp Trong đó, tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của tri thức bản địa đối với sự phát triển bền vững trong sản xuất của đồng bào dân tộc vùng cao như: tri thức bản địa về canh tác trên đất dốc, tri thức bản địa về hệ sinh thái nông nghiệp vùng cao; tri thức bản địa về quản lí tài nguyên thiên nhiên…
Tác giả Vương Xuân Tình (1998) với công trình nghiên cứu:"Tập quán bảo vệ
rừng và nguồn tài nguyên với việc xây dựng qui ước làng bản hiện nay của hai dân tộc Tày - Nùng ", trong nghiên cứu này đã tìm hiểu những qui ước về bảo vệ rừng và tài
nguyên thiên nhiên, những qui ước đó không những được nhắc nhở chung trong toàn
cộng đồng mà còn được khảng định trong nghi lễ cúng thổ thần của làng
Bên cạnh đó, còn có các công trình như: "Vấn đề quản lý, sử dụng, bảo vệ môi
trường tài nguyên thiên nhiên của các dân tộc thiểu số Việt Nam" của Hoàng Hữu Bình
(2003); "Truyền thống sở hữu và sử dụng đất vùng của các dân tộc thiểu số Việt Nam"
của Vương Xuân Tình và Bùi Minh Đạo,
PGS.TS Lê Du Phong, PTS Hoàng Văn Hoa: “Phát triển KT-XH các vùng dân
tộc và miền núi theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, NXB Chính trị Quốc gia,
Trang 3019
Hà Nội 1998 Công trình nghiên cứu này đã tập trung phân tích thực trạng phát triển KTXH và môi trường của các vùng miền núi và dân tộc ở Việt Nam, đặc biệt là những khó khăn, bất cập, ảnh hưởng đến sự phát triển nhanh và bền vững (nhất là vùng miền núi phía Bắc) Trên cơ sở đó công trình nghiên cứu đã đề xuất một hệ thống các giải pháp đồng bộ nhằm giúp các vùng này tháo gỡ khó khăn để phát triển nhanh và theo hướng bền vững trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá [49]
1.1.3 Những nghiên cứu ở tỉnh Yên Bái
Nhằm khai thác những lợi thế về tự nhiên và KT-XH phục vụ mục đích phát triển lâu dài của tỉnh thì UBND tỉnh Yên Bái đã xây dựng nhiều kế hoạch, quy hoạch:
Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH tỉnh Yên Bái đến năm 2010 và tầm nhìn
đến năm 2020 đã định hướng quy hoạch địa phương theo hướng khai thác thế mạnh
lâm nghiệp của tỉnh miền núi, đồng thời mở rộng và tăng diện tích cây hoa màu, lương thực trong điều kiện quỹ đất nông nghiệp hạn chế của 2 vùng kinh tế chính
mà ranh giới tự nhiên là thung lũng sông Hồng; tiếp theo quy hoạch tổng thể là các
quy hoạch kinh tế ngành của UBND tỉnh Yên Bái, Quy hoạch tổng thể phát triển
ngành nông nghiệp tỉnh Yên Bái giai đoạn 2006 - 2020, Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kì đầu (2011 - 2015) tỉnh Yên Bái; Quy hoạch phát triển 3 loại rừng tỉnh Yên Bái giai đoạn 2011 - 2020; Quy hoạch trồng lúa nước tỉnh Yên Bái giai đoạn 2010 - 2015 và định hướng đến năm 2020, các quy
hoạch này là yếu tố đầu vào quan trọng cho nội dung phân tích và đánh giá sử dụng tài nguyên đất và rừng để của cộng đồng các dân tộc để phục vụ cho mục đích thực tiễn của tỉnh Yên Bái
Bên cạnh các quy hoạch của UBND tỉnh còn có nhiều công trình nghiên cứu rất có giá trị là cơ sở thực tiễn phục vụ cho việc phát triển KT-XH của địa phương:
Yên Bái một thế kỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân; Lương Văn Phượng
(1996) đã nghiên cứu “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành và lãnh thổ ở Yên
Bái”, luận án đã thể hiện rõ thực trạng kinh tế và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của
Yên Bái trong thập kỉ 90 Nguyễn Đình Giang (2006) đã nghiên cứu “Cảnh quan
rừng trong sự biến đổi và diễn thế nhân tác các cảnh quan tự nhiên - nhân sinh ở Yên Bái”, thực chất là phân tích biến động hiện trạng sử dụng đất tỉnh Yên Bái giai
đoạn 1995 - 2005, trong đó nhấn mạnh vai trò nhân tác của con người trong việc
tăng diện tích rừng trồng phục vụ mục đích phòng hộ và phát triển sản xuất; Yên
Bái: Đất và người trên hành trình phát triển, thuộc dự án Gương mặt Việt Nam
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
20
gần đây có một số đề tài được thực hiện do nhu cầu thực tiễn của địa phương: “Điều
tra, đánh giá tài nguyên đất nông nghiệp làm căn cứ khoa học để đề xuất cây trồng hợp lí cho huyện Văn Yên, Trấn Yên và Yên Bình tỉnh Yên Bái”, công trình thực
hiện do viện thổ nhưỡng nông hóa, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn tiến
hành điều tra (2005); Đề tài “Nghiên cứu tiềm năng và hạn chế về đất vùng làm cơ
sở đề xuất các giải pháp tác động nhằm ổn định, nâng cao năng suất và chất lượng chè tỉnh Yên Bái” do UBND tỉnh Yên Bái phối hợp với Bộ Nông nghiệp và phát
triển nông thôn thực hiện (2009); Xác lập luận cứ khoa học nhằm lựa chọn giải
pháp phát triển kinh tế rừng trồng tỉnh Yên Bái đến năm 2020 do UBND tỉnh Yên
Bái phối hợp với Viện khoa học Nông, lâm nghiệp miền núi phía Bắc thực hiện
(2009); “Nghiên cứu sử dụng hợp lí tài nguyên đất phục vụ phát triển chè Shan
tuyết gắn với du lịch sinh thái ở huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái”, kết quả nghiên cứu
đã phân hạng và đánh giá mức độ thích hợp đất vùng đối với cây chè vùng đất dốc
và sử dụng hợp lí tài nguyên đất dốc để phát triển chè Shan tuyết gắn với du lịch
sinh thái ở huyện Văn Chấn tỉnh Yên Bái; Công trình nghiên cứu: "Giải pháp nâng
cao hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp tại Yên Bái giai đoạn 2012 - 2020", Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, Đại học Thái Nguyên Công trình nghiên cứu cho
thấy hiện trạng sử dụng tài nguyên đất ở tỉnh Yên Bái còn nhiều hạn chế, chưa mang lại hiệu quả sử dụng đất cao Luận án đã đề xuất một số giải pháp về sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh để nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, giúp người dân người dân sử dụng đất nông nghiệp hiệu quả, nâng cao chất lượng cuộc sống [3]
Nghiên cứu về cộng đồng các dân tộc tỉnh Yên Bái cũng có một số công trình
tiêu biểu Cuốn sách “Yên Bái nơi hội tụ của đồng bào dân tộc” (1996), Nxb Văn
hóa Dân tộc của tác giả Hà Lâm Kỳ đã có những nghiên cứu về những nét đặc trưng
cơ bản của các dân tộc Yên Bái, trong đó có nói đến đồng bào dân tộc Dao Cuốn
sách “Tỉnh Yên Bái một thế kỷ (1900 - 2000)” do Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và
Ủy ban nhân dân tỉnh Yên Bái biên soạn dưới dạng thông sử đã thể hiện khá rõ nét
và toàn diện về con người và lịch sử Yên Bái, trong đó có giới thiệu những nét cơ bản về dân tộc Dao ở tỉnh Yên Bái Nghiên cứu về địa bàn cư trú, các nhóm người Dao, nét văn hóa, phong tục tập quán, hoạt động kinh tế ở Yên Bái còn có trong các
báo cáo, tài liệu như “Lịch sử Đảng bộ Yên Bái”, Địa chí Yên Bái cùng các bài báo trong trang báo điện tử Yên Bái (baoyenbai.com.vn) Bài viết “Tri thức bản
địa của người Dao ở Yên Bái” (2009), Tạp chí Văn hóa văn nghệ, số 300 của tác
giả Lê Thanh Hòa đã đề cập tới địa bàn cư trú và những tri thức dân gian của người
Trang 3221
Dao trong hoạt động canh tác nông - lâm nghiệp, trong việc sử dụng và giữ gìn nguồn nước cùng một số nghi lễ, tín ngưỡng liên quan đến các hoạt động sản xuất của người Dao
Như vậy, mỗi công trình xuất phát từ những cách tiếp cận và yêu cầu thực tiễn khác nhau, tuy nhiên khi nghiên cứu về địa lí học mà cụ thể là nghiên cứu về sử dụng tài nguyên đất và rừng của cộng đồng các dân tộc tỉnh Yên Bái thông qua hoạt động sản xuât nông, lâm nghiệp nói chung còn chưa có công trình nổi bật, chuyên biệt theo hướng này Trong các nghiên cứu nói trên, cũng nhận thấy bộc lộ những vấn đề cần làm rõ Đó là: (i) Việc nghiên cứu sử dụng về nguồn tài nguyên đất và rừng mới chỉ dừng lại ở các con số thống kê, chưa đi sâu đánh giá, phân tích những biến động đó, nó có ảnh hưởng như thế nào đến môi trường sinh thái cũng như quá trình phát triển KT-XH ở cả hai mặt tích cực và tiêu cực (ii) Nội dung quản lí sử dụng, qui hoạch sử dụng tài nguyên đất và rừng trong sản xuất nông, lâm nghiệp vẫn mới chỉ phác họa nên nhưng nét lớn, chưa có những chỉ dẫn cụ thể, thiết thực
Mô hình sử sụng, quản lí còn chung chung, khái quát, khó vận dụng trong thực tiễn miền núi; (ii) Vấn đề quản lí, sử dụng đất và rừng chưa gắn với động lực tăng trưởng kinh tế, thức đẩy năng lực cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường; (iv) Nhiều vấn đề bức thiết liên quan tới quản lí, sử dụng đất và rừng thường là nguyên nhân dẫn tới sự phức tạp trong nhiều quan hệ xã hội trong cộng đồng, giữa người dân với nhà nước, các doanh nghiệp
“Tài nguyên thiên nhiên đó là các thành phần của tự nhiên mà ở trình độ nhất định của sự phát triển lực lượng sản xuất chúng được sử dụng hoặc có thể sử dụng làm phương tiện sản xuất (đối tượng lao động và tư liêu lao động) và đối tượng tiêu dùng’’ [54] Tài nguyên thiên nhiên là tất cả những gì có trong tự nhiên (chính là ĐKTN) được con người khai thác, sử dụng để phục vụ hoạt động sản xuất, thỏa mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của mình [32] Theo D.L.Armand, “Tài nguyên thiên nhiên là các nhân tố tự nhiên được sử dụng vào phát triển kinh tế làm phương
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
22
Như vậy, tài nguyên thiên nhiên là nguồn của cải vật chất nguyên khai được hình thành và tồn tại trong tự nhiên mà con người có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu trong cuộc sống, hay được hiểu như là nguồn vật chất hữu ích có sẵn trong
tự nhiên để cung cấp cho nhu cầu KT-XH loài người và sinh vật
1.2.1.2 Phân loại tài nguyên thiên
Có nhiều cách phân loại tài nguyên thiên nhiên, dưới đây là nhóm 3 cách phân loại tài nguyên thiên nhiên khác phổ biến Trong mỗi nhóm cách lại có các kiểu phân loại khác nhau
- Phân loại tài nguyên thiên nhiên với mục đích quản lí:
+ Theo các thuộc tính tự nhiên của chúng thì tài nguyên thiên nhiên được phân biệt thành tài nguyên nước, tài nguyên đất, tài nguyên thực vật, tài nguyên động vật, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên khí hậu
+ Theo tính chất khai thác, tài nguyên thiên nhiên được phân biệt thành tài nguyên khai thác tiêu hao (extractive) và không tiêu hao (non-extractive)
+ Theo tính chất sử dụng, tài nguyên thiên nhiên được phân biệt thành tài nguyên khai thác và tài nguyên dự trữ
+ Theo bản chất tồn tại, tài nguyên thiên nhiên được phân biệt thành tài nguyên tái tạo (renewable) và tài nguyên không tái tạo (non-renewable)
- Phân loại tài nguyên thiên nhiên với mục đích đánh giá kinh tế tài nguyên
Đối với khoáng sản, đánh giá kinh tế tài nguyên không phức tạp dưới dạng hàng hóa dựa vào các chỉ tiêu công nghiệp của quặng, quy mô mỏ và điều kiện khai thác…, giá trị của một hệ sinh thái (rạn san hô, cỏ biển, rừng ngập mặn) hay tài nguyên địa hệ chứa đựng cả tài nguyên sinh vật và phi sinh vật (trừ khoáng sản) được đánh giá dưới dạng hàng hóa và dịch vụ
Giá trị kinh tế tài nguyên của một hệ được coi là giá trị kinh tế toàn phần gồm hai nhóm: giá trị sử dụng và giá trị không sử dụng Giá trị sử dụng gồm hai kiểu: giá trị sử dụng trực tiếp và giá trị sử dụng gián tiếp
- Phân loại tài nguyên với mục đích kiểm kê, đánh giá tiềm năng
+ Tài nguyên sinh vật: Đa dạng sinh học (đa dạng hệ sinh thái, nguồn gen và nguồn gốc khu hệ) và tiềm năng nguồn lợi khu hệ (tổng nguồn lợi sinh vật có giá trị cho phép con người khai thác phù hợp với khả năng tái tạo và duy trì tính bền vững của tài nguyên)
+ Tài nguyên phi sinh vật: khoáng sản (kim loại, phi kim loại, vật liệu xây dựng, đá quý, nước khoáng…), tài nguyên nước (nước ngầm, nước trên mặt), tiềm năng phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng,…
Trang 3423
Trong 3 nhóm cách phân loại tài nguyên trên thì nhóm cách phân loại tài nguyên với mục đích quản lí là phổ biến hơn cả Trong nhóm cách đó, kiểu phân loại tài nguyên thường được sử dụng nhất lại là kiểu phân loại theo tính chất khai thác, tức là theo tính có thể bị hao kiệt (tiêu hao-extractive) của tài nguyên thiên nhiên trong quá trình sử dụng
1.2.1.3 Vai trò của tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên thiên nhiên là một yếu tố quan trọng của môi trường đối với hoạt động kinh tế Khi loài người mới bắt đầu được hình thành thì sự tiến hóa của giới tự nhiên đã chuẩn bị sẵn sàng những nguồn tài nguyên cần thiết để xã hội loài người sinh thành, phát triển Sự thay đổi phương thức sản xuất cũng chính là sự thay đổi trong cách thức tác động vào tự nhiên, như vậy tài nguyên thiên nhiên chính là đối tượng ban đầu của quá trình sản xuất, hay có thể nói tài nguyên thiên nhiên là cơ sở
tự nhiên của quá trình sản xuất [54]
Tài nguyên thiên nhiên là nguồn của cải vô cùng quý giá và không thể thiếu đối với sự phát triển của xã hội loài người Thực chất của quá trình sản xuất là quá trình khai thác và sử dụng các loại tài nguyên Trong thời kỳ xa xưa khi con người còn tồn tại trong nền kinh tế tự nhiên, con người chỉ biết sử dụng những sản phẩm
có sẵn trọng tự nhiên, chủ yếu là các động vật hoang dại trên cạn và dưới nước để làm nguồn thức ăn Dần dần khi con người biết làm nông nghiệp, thì đất và nước trở thành nguồn tài nguyên quan trọng Sự ra đời của các ngành công nghiệp dẫn đến việc khai thác mạnh mẽ các tài nguyên khoáng sản
1.2.1.4 Quản lí tài nguyên thiên nhiên
Trong quá trình phát triển kinh tế con người có thể tác động quá mức tới tài nguyên thiên nhiên, làm cho nguồn tài nguyên thiên nhiên bị suy thoái và cạn kiệt, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển bèn vững KT-XH của các thế hệ tương lai Vì vậy, quản lý tài nguyên thiên nhiên là việc làm hết sức có ý nghĩa, cụ thể là quản lý các nguồn lực tự nhiên như đất, nước, thực vật, động vật, khoáng sản
Quản lý tài nguyên thiên nhiên hoạch định ra các kế hoạch, đưa ra cụ thể các phương hướng chiến lược với các biện pháp quy hoạch phù hợp nhất, cùng với đó là các chế tài nghiêm khắc giúp cho công việc quản lí, khai thác, sử dụng và tái tạo tài nguyên thiên nhiên được diễn ra một cách hợp lý, đúng đắn nhằm đưa về lợi ích tối ưu cho quốc gia và toàn cầu, đồng thời phải hạn chế tối đa mức độ ô nhiễm đến môi trường trong việc sử dụng tài nguyên
Quản lý tài nguyên thiên nhiên còn tập trung đặc biệt vào sự hiểu biết các tài
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
24
của các tài nguyên đó Mỗi loại tài nguyên, lại có hình thức và giải pháp quản lý khác nhau:
1.2.1.5 Đặc điểm của tài nguyên đất và rừng
a Đặc điểm tài nguyên đất
- Đất vùng là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế
Nếu như các tư liệu sản xuất khác sau một thời gian sử dụng sẽ bị hỏng hóc hoặc hao mòn thì đối với tài nguyên đất vùng lại ngược lại Tài nguyên đất vùng nếu có biện pháp sử dụng khoa học, hợp lý sẽ lại càng tốt hơn Đặc điểm này có được là do đặc tính phì nhiêu của đất vùng Căn cứ vào các mục đích khác nhau mà
độ phì nhiêu được chia thành nhiều loại khác nhau Như vậy, nét đặc biệt của loại tư liệu sản xuất này chính là sự khác biệt so với các tư liệu sản xuất khác trong quá trình sử dụng
Từ đặc điểm này cho thấy trong hoạt động sản xuất nông nghiệp cần phải
“quản lý đất vùng một cách chặt chẽ, theo quy định của Luật đất vùng; đất vùng
phải được phân loại một cách chính xác; sản xuất nông nghiệp phải bố trí một cách hợp lý; tăng năng suất đất vùng, giữ gìn và bảo vệ tài nguyên đất bằng cách thực hiện chế độ canh tác thích hợp” [16]
- Diện tích đất là có hạn
Diện tích đất là có hạn do giới hạn của từng nông trại, từng hộ nông dân, từng vùng và phạm vi lãnh thổ của từng quốc gia Sự giới hạn của diện tích đất nông nghiệp được thể hiện ở sự giới hạn của hoạt động khai hoang, ở khả năng tăng vụ trong từng hoàn cảnh cụ thể Dân số tăng nhanh nhu cầu đất thổ cư lớn, cộng với quá trình công nghiệp hóa - đô thị hóa nên đòi hỏi nhu cầu ngày càng cao về đất vùng Điều này đã làm cho quỹ đất nông nghiệp vốn đã có hạn thì lại ngày càng bị khan hiếm Vì vậy, khả năng duy trì và mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp đã bị đặc điểm này chi phối
“Diện tích đất vùng là có hạn không có nghĩa là mức cung về đất vùng trên thị trường là cố định Mặc dù quỹ đất vùng là có hạn nhưng đường cung về đất vùng trên thị trường vẫn là một đường dốc lên thể hiện mối quan hệ cùng chiều giữa giá đất và lượng cung về đất” [16]
- Vị trí đất vùng là cố định
Chúng ta có thể di chuyển các tư liệu sản xuất khác từ vị trí này sang vị trí kia nhưng đối với đất vùng lại không thay đổi được Chúng ta chỉ có thể sản xuất trên những nơi đất vùng đã có sẵn Đặc điểm này đã quy định những tính chất hóa - lý -
Trang 36- Đất vùng là sản phẩm của tự nhiên
Con người đã được tự nhiên ban tặng cho một sản phẩm quý giá là đất vùng Song, để thỏa mãn mong muốn của mình, thông hoạt động sản xuất độ phì nhiêu và giá trị của đất vùng đã bị con người làm thay đổi Đất vùng xuất hiện và tồn tại ngoài ý muốn chủ quan của con người và thuộc sở hữu chung của toàn xã hội Tuy nhiên, Luật
đất vùng cũng khảng định: “quyền sử dụng đất nông nghiệp sẽ thuộc người sản xuất
Nông dân có quyền sử dụng, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp và thuê mướn đất” [37]
b Đặc điểm của tài nguyên rừng
- Dạng đặc trưng và tiêu biểu nhất của tất cả các hệ sinh thái trên cạn là tài nguyên
rừng, đồng thời cũng là đối tượng bị con người tác động sớm nhất và mạnh nhất [15]
- Sự hình thành các thảm thực vật tự nhiên với vùng địa lí và điều kiện khí hậu có
liên quan chặt chẽ đến việc hình thành các kiểu rừng Khí hậu, đất vùng và độ ẩm sẽ
xác định thành phần cấu trúc và tiềm năng phát triển của thảm thực vật rừng từ đó quy
định kiểu rừng Các kiểu thảm thực vật rừng quan trọng trên thế giới là [15]
Dựa vào chức năng cơ bản mà thực chất là dựa vào tính chất và mục đích sử
dụng, rừng được chia thành 3 loại chính như sau:
Rừng phòng hộ có chức năng điều hòa khí hậu, hạn chế thiên tai, bảo vệ nguồn
nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, bảo vệ môi trường Rừng phòng hộ lại được chia thành 3 loại là rừng phòng hộ chắn sóng ven biển, rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng
phòng hộ chống cát bay
Rừng đặc dụng có chức năng đặc biệt như bảo tồn thiên nhiên, bảo tồn nguồn
gen động thực vật rừng, mẫu chuẩn hệ sinh thái, phục vụ cho các công tác nghiên cứu khoa học, phát triển du lịch sinh thái, bảo vệ di tích lịch sử, cảnh quan văn hóa Rừng đặc dụng bao gồm các khu bảo tồn thiên nhiên, các vườn quốc gia, các khu
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
26
Rừng sản xuất bao gồm các loại rừng sử dụng để sản xuất kinh doanh gỗ, lâm
đặc sản rừng, động vật rừng và kết hợp bảo vệ môi trường
1.2.2 Phát triển Nông nghiệp
1.2.2.1 Khái niệm
Theo từ điển Tiếng Việt: Nông nghiệp “là ngành sản xuất vật chất chủ yếu của
xã hội, có nhiệm vụ cung cấp sản phẩm ngành trồng trọt và chăn nuôi” [48]
Theo từ điển kinh tế học: “Nông nghiệp là quá trình sản xuất lương thực, thực phẩm, thức ăn gia súc, tơ sợi và những sản phẩm mong muốn khác bởi trồng trọt
những cây trồng chính và chăn nuôi đàn gia súc” [45]
Một định nghĩa khác: “Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực, thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp Nông nghiệp là một ngành lớn bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng còn bao gồm cả lâm
nghiệp và thủy sản” [110]
Trên cơ sở phân tích các khái niệm nông nghiệp ở trên, nông nghiệp có thể
được hiểu: Theo nghĩa hẹp: “Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, bao gồm các ngành trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản” Còn theo nghĩa
rộng: “Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, bao gồm các
ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản”
Về mặt tổng quát, phát triển nông nghiệp bền vững giống như phát triển kinh
tế bền vững, tức là trong quá trình phát triển cũng phải bảo đảm tốt ba trụ cột: bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội và bền vững về môi trường Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên hợp quốc (FAO) năm 1992 đã đưa ra khái niệm về
phát triển nông nghiệp bền vững như sau: “Phát triển nông nghiệp bền vững là sự
quản lý và bảo tồn sự thay đổi về tổ chức và kỹ thuật nhằm đảm bảo thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người cho cả hiện tại và mai sau Sự phát triển như vậy của nền nông nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản) sẽ đảm bảo không tổn hại đến môi trường, không giảm cấp tài nguyên, sẽ phù hợp về kỹ thuật
và công nghệ, có hiệu quả về kinh tế và được chấp nhận về phương diện xã hội.”
Như vậy, bền vững về nông nghiệp được nhìn nhận đó là việc duy trì và phát triển một nền nông nghiệp hàng hóa có giá trị kinh tế và chất lượng cao, có hiệu quả và phù hợp với những đặc trưng riêng của mỗi vùng trên phạm vi cả nước Trong quá
Trang 3827
trình phát triển nông nghiệp đảm bảo sự lan tỏa tích cực tới các khía cạnh về xã hội
và môi trường ở khu vực nông thôn
1.2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp
a Nhóm nhân tố điều kiện tự nhiên
Sự phát triển của sản xuất nông, lâm nghiệp luôn chịu ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc của nhóm nhân tố tự nhiên
- Yếu tố thổ nhưỡng: Thổ nhưỡng có ảnh hưởng quyết định đến cơ cấu cây trồng và năng suất mùa vụ Mỗi loại đất đều có những đặc tính lí, hóa, sinh riêng biệt trong khi đó mỗi loại giống cây trồng cũng lại thích hợp với những loại đất cụ thể Do vậy yếu tố thổ nhưỡng quyết định rất lớn đến hiệu quả sản xuất nông, lâm nghiệp và mang tính chất quyết định để bố trí và lựa chọn giống cây trồng Độ phì của đất là tiêu chí quan trọng cho sản lượng cao hay thấp; độ dày tầng đất và tính chất đất có ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển của cây trồng
- Điều kiện khí hậu: Khí hậu ảnh hưởng đến phân bố, sinh trưởng và phát triển của cây trồng, cây rừng và thực vật thủy sinh Lượng mưa nhiều hay ít, bốc hơi mạnh hay yếu có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ nhiệt độ và độ ẩm của đất cũng như khả năng đảm bảo cung cấp nước cho sự sinh trưởng, phát triển của động thực vật hầu hết lượng nước được sử dụng cho nông, lâm nghiệp là nước mặt với nguồn cung cấp chính là nước mưa hàng năm, do đó tùy theo lượng mưa hàng năm, khả năng cung cấp, khai thác nước cho một vùng cụ thể để xác định hệ thống cây trồng thích hợp (Trần Đức Hạnh và cs, 1997)
- Yếu tố địa hình: Địa hình có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển sản xuất của ngành nông, lâm nghiệp Sự sai khác giữa địa hình, địa mạo, độ cao so với mực nước biển, độ dốc và hướng dốc, sự bào mòn mặt đất và mức độ xói mòn thường dẫn đến sự khác nhau về đất vùng và khí hậu giữa các vùng Từ đó ảnh hưởng đến phương thức sản xuất, phân bố của các ngành nông, lâm nghiệp
- Yếu tố thủy văn: Yếu tố thủy văn được đặc trưng bởi hệ thống sông, ngòi ao hồ,… với các chế độ thủy văn cụ thể như lưu lượng nước, tốc độ dòng chảy, chế độ thủy triều,… sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng cung cấp nước cho các yêu cầu sử dụng trong sản xuất nông, lâm nghiệp
Nhìn chung, đặc thù của các nhân tố tự nhiên mang tính khu vực sẽ tạo nên những vùng sinh thái đặc thù cùng hệ thống cây trồng nông, lâm nghiệp đặc trưng
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
28
chịu sự chi phối rất lớn của điều kiện tự nhiên về mức độ thích nghi của cơ cấu cây trồng, khi đã lựa chọn được cơ cấu cây trồng phù hợp thì việc mở rộng diện tích canh tác cho hệ thống cây trồng đó sẽ ảnh hưởng tới hệ sinh thái, mà cụ thể là tài nguyên rừng
b Nhóm nhân tố điều kiện KT-XH
Nhóm nhân tố điều kiện KT-XH như chế độ xã hội, dân cư và nguồn lao động, khoa học kĩ thuật, trình độ quản lý, sử dụng lao động, khả năng ứng dụng khoa học
kĩ thuật trong sản xuất, thị trường, chính sách,… Điều kiện KT-XH giữ vai trò quyết định trong quá trình phát triển sản xuất của ngành nông, lâm nghiệp Điều kiện tự nhiên cho phép xác định khả năng thích ứng về phương thức sản xuất, còn sản xuất như thế nào được quyết định bởi sự năng động của con người và các điều kiện cơ sở vật chất KT-XH hiện có
Trong cùng một vùng, với các điều kiện tự nhiên tương tự nhau thì sự phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp thường có sự khác biệt không lớn, về cơ bản có thể giống nhau Nhưng với điều kiện KT-XH khác nhau dẫn đến tình trạng có nơi hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp được đầu tư thích đáng sẽ mang lại hiệu quả KT-
XH cao và ngược lại, những nơi không được đầu tư, hoặc đầu tư thấp thì hiệu quả kinh tế rất thấp Trong trường hợp điều kiện tự nhiên có nhiều lợi thế nhưng điều kiện KT-XH, khoa học kĩ thuật lại hạn chế thì ưu thế tài nguyên cũng khó trở thành sức sản xuất hiện thực Ngược lại, khi điều kiện kinh tế, khoa học kĩ thuật được ứng dụng vào sản xuất thì hoạt động sản xuất sẽ mang lại hiệu quả cao, đồng thời còn góp phần cải tạo điều kiện môi trường tự nhiên được tốt hơn, biến điều kiện tự nhiên bất lợi thành điều kiện có lợi cho phát triển KT-XH Thực tế cũng chứng minh, trình độ phát triển KT-XH khác nhau dẫn đến trình độ trong các hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp cũng khác nhau Kinh tế càng phát triển thì hiệu quả sản xuất càng cao và ngược lại
Nhóm các nhân tố KT-XH bao gồm: kết cấu hạ tầng; cơ sở vật chất kỹ thuật;
hệ thống chính sách của Nhà nước; phương thức canh tác của người nông dân; sự phát triển của hệ thống thị trường; sự phân bố của dân cư; trình độ dân trí của người dân; di dân tự do…
1.2.2.3 Nông lâm kết hợp
Định nghĩa về nông lâm kết hợp đã được thừa nhận rộng rãi hiện nay trên thế
giới là: “Nông lâm kết hợp bao gồm các hệ canh tác và sử dụng đất khác nhau; trong
Trang 4029
đó các loài cây thân gỗ sống lâu năm (bao gồm cả cây bụi thân gỗ, các loài cây trong
họ dừa và họ tre, nứa) được trồng kết hợp với các loài cây nông nghiệp hoặc vật nuôi trên cùng một đơn vị diện tích đất canh tác, đã được quy hoạch trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi hoặc thủy sản Chúng được kết hợp với nhau hợp lý trong không gian, hoặc theo trình tự về thời gian Giữa chúng luôn có tác động lẫn nhau cả về phương diện sinh thái, kinh tế theo hướng có lợi” (King 1979); Lundgren
và Raintree (1983); Hurley (1983); Nair (1989); Chun - Lai (1991) [7]
Nông lâm kết hợp hay nông, lâm nghiệp là một hệ thống quản lý sử dụng đất, trong đó cây hàng năm, cây bụi, cây thân thảo được trồng xung quanh hoặc xen giữa các cây trồng lâu năm, cũng có thể kết hợp đồng cỏ hoặc chăn nuôi Sự kết hợp này có thể tiến hành đồng thời hoặc kế tiếp theo không gian, thời gian để tạo ra đa dạng hơn, năng suất hơn, lợi nhuận hơn, sinh thái và bền vững các hệ thống sử dụng đất [110] Như vậy, phương thức sản xuất nông lâm kết hợp phải được thực hiện trên các cơ sở khoa học của bản thân nó, biểu hiện qua trình độ thiết kế, điều chế các hệ canh tác nông lâm kết hợp trên một địa bàn sản xuất cụ thể
Trong thực tế, nông lâm kết hợp là một bộ phận quan trọng trong phát triển nông nghiệp, nông thôn miền núi Đặc biệt là phù hợp với canh tác trên đất dốc bền vững và bảo vệ môi trường sinh thái Trong khi đó, Việt Nam lại là một nước có đồi núi chiếm tới 3/4 diện tích lãnh thổ đất liền, vì vậy phát triển nông lâm kết hợp là rất cần thiết trong canh tác nông nghiệp bền vững ở nước ta
Các nhà nghiên cứu về nông lâm kết hợp trên thế giới đã chia nông lâm kết hợp ra thành một số kiểu hệ thống chính và những kiểu hệ thống này đã và đang được áp dụng trong các mô hình canh tác nông lâm kết hợp ở miền núi Việt Nam
- Hệ thống nông - lâm: cây trồng gồm cả cây gỗ, cây bụi và các cây thân thảo (những cây nông nghiệp, công nghiệp và cây lâm nghiệp)
- Hệ thống lâm - súc: Cây gỗ, đồng cỏ và chăn thả gia súc dưới tán các cây gỗ
- Hệ thống nông - lâm - súc: Gồm cây nông nghiệp, cây lâm nghiệp, kết hợp với đồng cỏ chăn nuôi gia súc
Các hệ thống nông lâm kết hợp đặc biệt: Nuôi ong với cây rừng kết hợp với cây ăn quả, nuôi trồng thuỷ sản ở các vùng ngập mặn…
Từ những kiểu hệ thống nông lâm kết hợp chính này mà hình thành nên nhiều kiểu nông lâm kết hợp khác nhau, mỗi hộ nông dân có sản xuất đa thành phần trong