BẢNG KÍ HIỆU CÁC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN CĐ CMHS CNH, HĐH CSVC ĐH ĐKDT GD & ĐT GDHN GDLĐ GDPT GDTX GV GVBM GVCN HĐ HĐNK HS KHCN KTTH KT-XH QLGD QLNT SHHN SL/TS TB : Cao đẳng
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHẠM NGỌC THỤY
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TRÊN ĐỊA BÀN CỤM CÔNG NGHIỆP HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHẠM NGỌC THỤY
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TRÊN ĐỊA BÀN CỤM CÔNG NGHIỆP HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Tuyết Oanh
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Thị Tuyết Oanh
Các số liệu, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong các luận văn khác
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 3 năm 2016
Tác giả luận văn
Phạm Ngọc Thụy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo khoa Sau đại học, khoa Tâm lý giáo dục trường Đại học sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ và chỉ dẫn em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới cô giáo
PGS.TS Trần Thị Tuyết Oanh, người hướng dẫn khoa học, đã chu đáo, tận tình
hướng dẫn em thực hiện đề tài này
Tôi chân thành cảm ơn tới các đồng chí lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tạo Thái Bình, các đồng chí lãnh đạo và chuyên viên các phòng ban chuyên môn của Sở Giáo dục và Đào tạo Thái Bình, các đồng chí lãnh đạo, giáo viên, nhân viên và các em học sinh trường trung học phổ thông Thái Phúc, Thái Thụy, Thái Bình đã nhiệt tình giúp
đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài
Tôi xin dành lời cảm ơn chân thành tới người thân, đồng nghiệp và bạn bè đã động viên, khích lệ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành đề tài của mình
Xin trân trọng cảm ơn
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 3 năm 2016
Tác giả luận văn
Phạm Ngọc Thụy
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
BẢNG KÍ HIỆU CÁC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
8 Cấu trúc luận văn 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 5
1.1 Sơ lược tổng quan nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài 5
1.1.2 Ở Việt Nam 6
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 8
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục 8
1.2.2 Giáo dục 11
1.2.3 Hướng nghiệp 11
1.2.4 Giáo dục hướng nghiệp 13
1.2.5 Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp 14
1.3 Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trường trung học phổ thông 16
1.3.1 Đặc điểm của học sinh THPT 16
1.3.2 Mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung của hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT 17
1.3.3 Ý nghĩa của giáo dục hướng nghiệp ở trường phổ thông 21
Trang 61.3.4 Nguyên tắc và các con đường giáo dục hướng nghiệp 22
1.4 Quản lý hoạt động GDHN ở trường trung học phổ thông 24
1.4.1 Vị trí, vai trò của Hiệu trưởng trong quản lý giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông 24
1.4.2 Nội dung quản lý hoạt động GDHN của Hiệu trưởng ở trường phổ thông 26
1.5 Đặc điểm của hoạt động hướng nghiệp ở trường THPT trên địa bàn cụm công nghiệp 28
1.5.1 Đặc điểm kinh tế-xã hội, giáo dục của khu công nghiệp 28
1.5.2 Yêu cầu đặt ra đối với quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT trên địa bàn cụm công nghiệp 29
Kết luận chương 1 31
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GDHN CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG THPT TRÊN ĐỊA BÀN CỤM CÔNG NGHIỆP HUYỆN THÁI THỤY, THÁI BÌNH 32
2.1 Vài nét về tình hình kinh tế - xã hội và giáo dục của huyện Thái Thụy 32
2.1.1 Tình hình kinh tế- xã hội huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình hiện nay 32
2.1.2 Tình hình giáo dục ở các trường THPT trên địa bàn cụm công nghiệp huyện Thái Thụy 33
2.2 Thực trạng giáo dục hướng nghiệp và quản lý giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT trên địa bàn khu công nghiệp huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình 41
2.2.1 Khái quát về khảo sát thực trạng 41
2.2.2 Thực trạng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh tại trường THPT trên địa bàn khu công nghiệp huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình 42
2.2.3 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp tại trường THPT trên địa bàn khu công nghiệp huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình 53
2.3 Đánh giá chung về công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT trên địa bàn khu công nghiệp huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình 62
2.3.1 Mặt mạnh 62
2.3.2 Hạn chế 63
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 64
Kết luận chương 2 66
Trang 7Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP Ở TRƯỜNG THPT TRÊN ĐỊA BÀN KHU CÔNG NGHIỆP HUYỆN
THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH 67
3.1 Định hướng và nguyên tắc đề xuất biện pháp 67
3.1.1 Những định hướng 67
3.1.2 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 68
3.2 Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp của Hiệu trưởng trong trường THPT trên địa bàn khu công nghiệp huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình 70
3.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm cho giáo viên, học sinh, phụ huynh và các lực lượng xã hội về giáo dục hướng nghiệp cho học sinh 70
3.2.2 Biện pháp 2: Bồi dưỡng năng lực chuyên môn và nghiệp vụ giáo dục hướng nghiệp cho cán bộ giáo viên nhà trường 74
3.2.3 Biện pháp 3: Phối hợp giữa nhà trường - gia đình - xã hội tham gia giáo dục hướng nghiệp cho học sinh 75
3.2.4 Biện pháp 4: Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, kinh phí cho hoạt động tư vấn hướng nghiệp 77
3.2.5 Biện pháp 5: Tăng cường kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các hoạt động giáo dục hướng nghiệp thông qua việc xây dựng tiêu chí thi đua trong giáo viên nhà trường 78
3.2.6 Biện pháp 6 Tổ chức các hình thức giáo dục hướng nghiệp gắn với thực tế của địa phương có khu công nghiệp 81
3.2.7 Mối quan hệ giữa các biện pháp 83
3.3 Khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 84
3.3.1 Khái quát quá trình khảo sát 84
3.3.2 Kết quả khảo sát 85
Kết luận chương 3 87
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 88
1 Kết luận 88
2 Khuyến nghị 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91 PHỤ LỤC
Trang 8BẢNG KÍ HIỆU CÁC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CĐ CMHS CNH, HĐH CSVC
ĐH ĐKDT
GD & ĐT GDHN GDLĐ GDPT GDTX
GV GVBM GVCN
HĐ HĐNK
HS KHCN KTTH KT-XH QLGD QLNT SHHN SL/TS
TB
: Cao đẳng : Cha mẹ học sinh : Công nghiệp hoá, hiện đại hoá : Cơ sở vật chất
: Đại học : Đăng ký dự thi : Giáo dục và Đào tạo : Giáo dục hướng nghiệp : Giáo dục lao động : Giáo dục phổ thông : Giáo dục thường xuyên : Giáo viên
: Giáo viên bộ môn : Giáo viên chủ nhiệm : Hoạt động
: Hoạt động ngoại khóa : Học sinh
: Khoa học công nghệ : Kỹ thuật tổng hợp : Kinh tế - xã hội : Quản lý giáo dục : Quản lý nhà trường : Sinh hoạt hướng nghiệp : Số lượng/Tổng số : Trung bình
Trang 9TCN THCS THPT
TL
TN TNCS
TS TVHN UBND WTO
: Trung cấp nghề : Trung học cơ sở : Trung học phổ thông : Tỉ lệ
: Tốt nghiệp : Thanh niên cộng sản : Tiến sĩ
: Tư vấn hướng nghiệp : Uỷ ban nhân dân : Tổ chức thương mại thế giới
(World - Trade - Organization)
Trang 10DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1.a Thống kê hạnh kiểm của học sinh năm học 2014-2015 34
Bảng 2.1.b Thống kê học lực của học sinh năm học 2014-2015 34
Bảng 2.2 Bảng thống kê điểm chuẩn tuyển sinh lớp 10 trong 5 năm 35
Bảng 2.3 Bảng thống kê chất lượng giáo dục 3 năm học gần đây 35
Bảng 2.4 Cơ cấu đội ngũ biên chế có mặt tính đến 31/12/2015 37
Bảng 2.5 Bảng thống kê chất lượng đội ngũ năm học 2015-2016 39
Bảng 2.6 thống kê tỷ lệ thi ĐH, CĐ, TCCN năm học 20154-2015 40
Bảng 2.7: Các yếu tố ảnh hưởng đến việc chọn nghề của học sinh 45
Bảng 2.8: Đánh giá của học sinh về các hình thức tổ chức GDHN 47
Bảng 2.9: Nhận xét của học sinh về mức độ tham gia của đội ngũ thực hiện GDHN trong nhà trường 50
Bảng 2.10: Đánh giá của cán bộ, giáo viên về hiện trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ GDHN 52
Bảng 2.9: Nhận xét của học sinh về mức độ tham gia của đội ngũ thực hiện giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường 55
Bảng 2.12 Thực trạng phương pháp quản lý hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho học sinh 57
Bảng 2.13: Đánh giá của CB, GV về hoạt động kiểm tra công tác giáo dục hướng nghiệp của BGH nhà trường 59
Bảng 2.14: Đánh giá của giáo viên về quản lý công tác xã hội hóa GDHN 61
Bảng 3.1: Bảng biểu thể hiện mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp đưa ra trong đề tài 85
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Biểu đồ thể hiện mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp 86
SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý 10
Sơ đồ 1.2 Các thành tố của quản lý HĐGDHN 14
Sơ đồ 1.3 Mối quan hệ của nội dung GDHN 19
Sơ đồ 1.4 Nội dung HĐ GDHN 20
Sơ đồ 1.5 Mối quan hệ giữa GDLĐ, GDHN, giáo dục KTTH 23
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong chỉ đạo hiện nay, Đảng ta đã xác định rõ vai trò và tầm quan trọng của công tác giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho công cuộc Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, điều đó được thể hiện cụ thể trong Nghị Quyết 29-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo nước nhà Quan điểm chỉ đạo có nêu: "Phát triển giáo dục
và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học "[24, tr.9] Nghị quyết đã nêu rõ mục tiêu của công cuộc đổi mới là:
"Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất,
năng lực công dân,phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, " [24, tr.10] Báo cáo chính trị tại Đại hội IX của Đảng cũng
nêu rõ: "Giáo dục đào tạo là một trong những động lực quan trọng, thúc đẩy dự phát
triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện phát huy nguồn lực con người-yếu tố cơ bản để tăng trưởng kinh tế, xã hội nhanh chóng và bền vững" [21, tr.9]
Trong chương trình giáo dục phổ thông hiện nay thì mục tiêu của "Giáo dục hướng nghiệp" là phát hiện và bồi dưỡng phẩm chất, nhân cách nghề nghiệp cho học sinh, giúp cho các em hiểu về mình, hiểu yêu cầu của nghề nghiệp trên cơ sở đó các
em có sự lựa chọn phù hợp cho bản thân trong việc chọn ngành, chọn nghề
Thái Thụy là một huyện ven biển thuộc tỉnh Thái Bình, dân số đông, vài năm
về trước điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn Mặc dù vậy, với vị trí chiến lược của mình: có cảng biển Diêm Điền, có lực lược lao động dồi dào vì thế đã được Đảng và nhà nước quan tâm đầu tư xây dựng nhiều dự án, nhà máy , xí nghiệp, trong đó tiêu biểu là nhà máy nhiệt điện Mỹ Lộc, nhà máy hóa chất Thái Thọ, xây dựng và phát triển cảng biển Diêm Điền
Nhờ có những dự án đó mà từ một miền quê nghèo, thuần nông, Thái Thụy
đã dần chuyển mình trở thành địa phương có nền kinh tế phát triển, đời sống
Trang 13người dân dần được cải thiện, cơ cấu nền kinh tế dịch chuyển dần từ chỗ tỉ trọng nông nghiệp còn cao trong những năm trước nay chỉ còn 33,6%, tỷ trọng công nghiệp, xây dựng là 32,8%/ và dịch vụ là 33,6%, (theo Nghị quyết ĐH Đảng bộ huyện nhiệm kỳ 2015-2020)
Kinh tế phát triển, dịch vụ ra đời tạo ra hàng nghìn việc làm Tuy vậy, do công tác hướng nghiệp còn nhiều bất cập nên lao động tại địa phương không đáp ứng được yêu cầu, một phần do không được đào tạo hoặc đào tạo không đúng chuyên ngành, còn lại phần lớn là do trình độ, năng lực sau khi đào tạo không đáp ứng được yêu cầu của công việc Chính vì lý do đó mà trong khi lao động tại quê hương thất nghiệp cao thì các nhà máy, xí nghiệp lại phải tuyển công nhân từ các địa phương khác, thậm trí nhiều công nhân được tuyển dụng từ nước ngoài Hàng nghìn lao động từ các nơi đổ
về tạo nên những biến động mạnh mẽ trong đời sống, từ đó dẫn đến việc gia tăng tỷ lệ lao động tại địa phương thất nghiệp, công ăn việc làm không ổn định, kinh tế địa phương phát triển không toàn diện, tình hình xã hội có những diễn biến phức tạp
Thực tế đó đã đòi hỏi nhà trường, các nhà quản lý giáo dục huyện Thái Thụy phải đẩy mạnh các hoạt động quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Có thể nói đây đang là vấn đề có tính cấp thiết khi một bộ phận không nhỏ học sinh không có định hướng và hiểu biết nghề nghiệp ở mức cần thiết, từ đó dẫn đến lựa chọn không đúng sở trường, không đáp ứng được nhu cầu của xã hội làm gia tăng tình trạng thất nghiệp
Để đánh giá đúng thực trạng, đề ra giải pháp phù hợp đang là vấn đề cấp thiết giúp nhà trường nâng cao hiệu quả của việc quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp
cho học sinh Đây cũng là lý do tôi chọn đề tài: "Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông trên địa bàn cụm công nghiệp huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình"
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cở sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT trên địa bàn cụm công nghiệp huyện TháiThụy, Thái Bình nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT, giúp học sinh chọn nghề phù hợp với bản thân và yêu cầu của xã hội
Trang 143 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông trên địa bàn cụm công nghiệp huyện Thái Thụy
4 Giả thuyết khoa học
Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh các trường THPT trên địa bàn cụm công nghiệp huyện Thái Thụy còn nhiều vấn đề bất cập, tỷ lệ học sinh hoàn thành cấp học phổ thông vẫn lúng túng trong lựa chọn nghề nghiệp, lựa chọn không đúng năng lực, sở trường khá phổ biến dẫn đến không đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đặt ra Nếu đề tài nghiên cứu tìm hiểu đúng nguyên nhân và đề ra giải pháp phù hợp, được áp dụng rộng rãi thì sẽ nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trường trung học phổ thông trên địa bàn cụm công nghiệp huyện Thái Thụy, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục hướng nghiệp cho học sinh khu vực này
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh
THPT
5.2 Khảo sát thực trạng quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trường
THPT trên địa bàn cụm công nghiệp huyện Thái Thụy
5.3 Đề xuất biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trường
THPT trên địa bàn cụm công nghiệp huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
Trang 157 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các vấn đề lý luận từ các tài liệu, văn bản, nghị quyết của Đảng, của Nhà nước, của Bộ Giáo dục và Đào tạo, của Sở Giáo dục và Đào tạo Thái Bình và các công trình khoa học có liên quan
7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến các cán bộ quản lý, giáo viên cũng như các cán bộ cong tác trong lĩnh vực hướng nghiệp, dạy nghề trên địa bàn cụm công nghiệp huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
7.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Thu thập các thông tin cần thiết bằng cách phát phiếu hỏi cho các đối tượng là cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh của các trường THPT trên địa bàn cụm công nghiệp huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
7.3 Nhóm phương pháp hỗ trợ
- Phương pháp thống kê toán học
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, xử lý số liệu
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung luận văn được thể hiện qua 3 chương sau:
Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học
sinh trung học phổ thông
Chương 2 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp của hiệu
trưởng trường THPT trên địa bàn cụm công nghiệp huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
Chương 3 Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường phổ
thông trên địa bàn khu công nghiệp huyện Thái Thụy, Thái Bình
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Sơ lược tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Các nhà nghiên cứu khoa học, sư phạm trên thế giới đã chỉ ra rằng: Lịch sử phát triển kinh tế - xã hội của các nước phát triển trên thế giới cho thấy, đầu tư phát triển giáo dục là con đường ngắn nhất để đi tới sự phát triển nền kinh tế - xã hội, sự phát triển về khoa học, công nghệ Trong đó, để đảm bảo cuộc sống, con người đã phát triển xã hội thông qua lao động sản xuất, dịch vụ ở nhiều ngành khác nhau, dưới
sự phân công lao động của xã hội để làm ra nhiều của cải, vật chất, tinh thần nhằm sản xuất ra một hay nhiều sản phẩm nào đó mà phải qua nhiều công đoạn, nhiều chi tiết, cần nhiều người thực hiện Có hai loại phân công lao động, thứ nhất là phân công lao động cá biệt, là chuyên môn hóa từng công đoạn của quá trình sản xuất trong từng công ty, xí nghiệp …; thứ hai là phân công lao động xã hội, là chuyên môn hóa từng ngành nghề trong xã hội để tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người Trong giáo dục, sự chuyên môn hóa giúp cho kết quả đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao hon, đồng thời phân chia nguồn nhân lực theo nhu cầu của thị trường lao động, phân bố hợp lý nguồn nhân lực cho tất cả các ngành nghề sẽ giúp xã hội giải quyết được nhu cầu việc làm của con người Chính vì vậy, GDHN đã được các nước quan tâm đặc biệt, coi đó là chìa khóa để giải quyết nhu cầu việc làm của con người Đã có nhiều nhà khoa học, nhà sư phạm nghiên cứu về mảng đề tài GDHN để xác định đúng ý nghĩa, lợi ích của GDHN mang lại cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Karl Marx đã khẳng định việc chọn nghề là một việc rất quan trọng trong cuộc
sống của mỗi con người: “Nếu ta chọn nghề trong đó ta có thể làm việc được nhiều
hơn cho nhân loại thì ta sẽ không còng lưng dưới gánh nặng của nó, bởi vì đó là sự
hy sinh cho mọi người, khi đó ta tìm thấy một niềm vui không phải là tội nghiệp, thiển cận, ích kỷ, mà hạnh phúc của chúng ta sẽ thuộc về hàng triệu người, những việc làm của chúng ta sẽ sống một cuộc sống âm thầm nhưng mãi có hiệu quả và trên thi hài của chúng ta sẽ giữ những giọt nước mắt nóng bỏng của những con người cao quý ”
Trang 17Chức năng của GD& ĐT không chỉ là chuyển giao tri thức của nhân loại từ thế
hệ này sang thế hệ khác, mà còn đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước Nguồn nhân lực ngày nay được hiểu là “nhân cách - sức lao động” hay còn hiểu là con người đủ các yếu tố: Hành vi cộng thêm với Bàn tay, trái tim, trí tuệ Để đạt đuợc điều đó thì GD&ĐT không thể thiếu quá trình GDHN Vào những năm đầu của thế kỉ XX các nhà nước như Mỹ, Anh, Pháp, Đức và Liên xô đã thành lập các nhóm công tác hướng nghiệp, thông qua các câu hỏi trắc nghiệm, họ đã tư vấn cho thanh niên ở đó chọn được những nghề thích hợp với khả năng của bản thân và các nghề đang có nhu cầu tuyển dụng trong xã hội
Trên thế giới, năm 1849 lần đầu tiên tại Pháp, người ta xuất bản quyển sách
“Hướng dẫn chọn nghề” ngay lập tức được đông đảo độc giả đón đọc, cho ta thấy
GDHN là một vấn đề không thể thiếu khi xã hội ngày càng phát triển
Vào những năm đầu thập niên thứ hai của thế kỷ XX, V.I.Lenin đã yêu cầu các
cơ sở giáo dục toàn Liên bang Xô Viết cho học sinh phổ thông làm quen với lao động, khoa học kỹ thuật tại các nhà máy, xí nghiệp Quan điểm của V.I.Lenin đã được nhà khoa học Crupxkaia làm sáng tỏ bằng thực tiễn trong bài viết “Chọn nghề” năm 1929 Crupxkaia đã chỉ rõ ý nghĩa quan trọng, sự cần thiết của GDHN trong việc giúp thanh niên xác định được phương hướng chọn nghề có hiệu quả, phù hợp điều kiện và năng lực của bản thân
1.1.2 Ở Việt Nam
Giáo dục hướng nghiệp ở nước ta được nghiên cứu và phát triển từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX Quyết định 126/CP, ngày 13/9/1981 về "Công tác hướng nghiệp cho học sinh phổ thông và việc sử dụng hợp lý học sinh cấp phổ thông tốt nghiệp ra trường" của chính phủ đã tạo hành lang pháp lý cho sự phát triển của công tác hướng nghiệp, nhất là học sinh phổ thông
So với các nước trên thế giới, GDHN ở Việt Nam còn mới mẻ nhất là GDHN cho học sinh THPT Nó mới mẻ cả về lý thuyết lẫn hoạt động thực tiễn Tuy nhiên để chuẩn bị cho CNH-HĐH đất nước, ngày 13/9/1981 Chính phủ đã ký quyết định số 126/CP: “Về công tác huớng nghiệp trong trưng trung học phổ thông và việc sử dụng hợp lý học sinh cấp phổ thông tốt nghiệp ra trường” Năm 2001 nghị quyết số 40 của
Trang 18Quốc hội khóa X, chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, các văn kiện đại hội Đảng lại một lần nữa nhấn mạnh đến việc GDHN cho học sinh trung học phổ thông (THPT) nhưng vẫn chưa được các cấp lãnh đạo quan tâm đúng mức vì họ chưa thấy rõ được tầm quan trọng của GDHN Vì thế GDHN ở nước ta còn nhiều hạn chế cho nên chỉ thị số 2737/CT - Bộ GD& ĐT về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục mầm non, giáo dục trung học, giáo dục thường xuyên và giáo dục chuyên nghiệp năm học 2012 - 2013
lại một lần nữa nhắc nhở các sở GD& ĐT: “Triển khai thực hiện chỉ thị số 10-CT-TW
ngày 05/12/2011 của Bộ chính trị về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, củng cố kết quả phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở, tăng cường phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và xóa mù chữ cho người lớn ” [10, tr.10]; “ Tiếp tục thực hiện
mở rộng quy mô; đa dạng hóa các ngành nghề đào tạo, các hình thức đào tạo, các hệ đào tạo và các loại hình trường trung cấp chuyên nghiệp; Đẩy mạnh công tác truyền thông; thực hiện các giải pháp phân luồng để tăng tỉ lệ học sinh sau trung học cơ sở vào học trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề Tăng cường các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo, chú trọng quy hoạch và phát triển nhân lực trong các cơ sở giáo dục trung cấp chuyên nghiệp Triển khai thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của Chiến luợc phát triển Dạy nghề giai đoạn 2011 - 2020 …”[10, tr.11]
Những vấn đề GDHN ở trường THPT đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nghiên cứu và đề cập tới ở nhiều góc độ khác nhau như: Phạm Tất Dong [17], Nguyễn Văn Hộ [27, 28], Trần Khánh Đức [25], Hà Thế Truyền [51, 52], Đặng Danh Ánh [1, 2], Nguyễn Viết Sự [47, 48], Nguyễn Đức Trí [50], Nguyễn Bá Minh [40], Nguyễn Văn Lê
- Hà Thế Truyền - Bùi Văn Quân [37], Nguyễn Trọng Bảo [6], Phạm Huy Thụ [53], Đặng Thị Thanh Huyền [29] Nhìn chung các công trình của các tác giả đều tập trung vào nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động hướng nghiệp với mục đích, ý nghĩa, nội dung, hình thức tổ chức hướng nghiệp cho học sinh phổ thông
Theo tác giả Nguyễn Trọng Bảo: “Vấn đề GDHN vừa là một vấn đề cơ bản,
vừa là một vấn đề cấp bách của nhà trường phổ thông ngày nay” và để làm tốt thì
“GDHN phải được quán triệt trong mọi hoạt động của nhà trường Đó không chỉ là nhiệm vụ của riêng nhà trường, của ngành giáo dục, mà là nhiệm vụ của tất cả các cấp, các ngành, các cơ sở sản xuất và của toàn xã hội”[6, tr.13, 35]
Trang 19Theo tác giả Phạm Huy Thụ:“Công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông yêu
cầu cao về sự phù hợp nghề của con người, luôn luôn tính đến sự phát triển nhân cách
và sự tiến bộ nghề nghiệp của người lao động Tinh thần nhân đạo được quán triệt trong nội dung hướng dẫn chọn nghề, trong tư vấn nghề nghiệp…Mặt khác công tác hướng nghiệp lại phải bảo đảm quyền bình đẳng chọn nghề của mỗi trẻ em” [53, tr.9]
Có thể nói, GDHN đã trở thành vấn đề xã hội mang tính cấp thiết nhưng các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông ở trong nước cũng như ở nước ngoài còn ít, chưa đi sâu nghiên cứu chi tiết từng vấn đề Tuy vậy các công trình đó rất có giá trị về mặt phương pháp luận và cơ
sở lý luận giúp ích cho việc thực hiện đề tài này
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục
Có nhiều khái niệm về quản lý, tùy thuộc vào cách tiếp cận khác nhau nên ta xem xét khái niệm của một số tác giả
Tác giả Đặng Quốc Bảo đưa ra khái niệm: "Quản lý là quá trình tác động gây
ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung"[3, tr.17]
Theo Paul Hersay và Blanc Hard: "Quản lý là quá trình cùng làm việc thông
qua các cá nhân, các nhóm cũng như các nguồn lực khác để hình thành các mục đích
tổ chức"[43, tr.12]
Từ các khái niệm trên, ta thấy, quá trình tác động của chủ thể lên khách thể nhằm hướng khách thể đến các mục đích mà chủ thể đã định hướng thông qua các biện pháp, cách thức phù hợp với quy luật vận động, phát triển của ý thức, của vật chất, của xã hội Vậy ta có thể hiểu quản lý như sau: Quản lý là sự tác động hợp với quy luật của chủ thể quản lý, để điều khiển, hướng dẫn các hành vi, hoạt động của họ, nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức
Trang 20* Chức năng quản lý:
Chức năng quản lý là một dạng hoạt động quản lý chuyên biệt, thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện một mục tiêu nhất định Khái niệm chức năng quản lý gắn liền với sự xuất hiện, phân công và hợp tác lao động trong quá trình sản xuất, nó gồm bốn chức năng: kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá
1) Chức năng hoạch định (lập kế hoạch): Là chức năng quan trọng nhất trong các chức năng quản lý, bởi vì nó gắn liền với việc lựa chọn chương trình hành động trong tương lai của tổ chức Xét về bản chất, hoạch định là một hoạt động chủ quan,
có ý thức, có tổ chức của con người trên cơ sở nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan nhằm xác định mục tiêu, phương án, bước đi, trình tự, cách thức tiến hành trong hoạt động của một tổ chức
2) Chức năng tổ chức: Là hoạt động quản lý nhằm thiết lập một hệ thống các
vị trí cho mỗi cá nhân và bộ phận sao cho các cá nhân và bộ phận đó có thể phối hợp với nhau một cách tốt nhất để thực hiện mục tiêu chiến lược của tổ chức
3) Chức năng chỉ đạo: Là quá trình tập hợp, liên kết các thành viên trong tổ chức; theo sát hoạt động của bộ máy, hướng dẫn, điều chỉnh công việc nhịp nhàng; động viên, khuyến khích, khen thưởng người lao động nhằm đạt mục tiêu của tổ chức
4) Chức năng kiểm tra: Là quá trình theo dõi, giám sát, đo lường, đánh giá diễn biến và kết quả đạt được của các hoạt động, đồng thời tiến hành các biện pháp sửa chữa, uốn nắn, khắc phục những sai lệch cần thiết Đó cũng là quá trình tự điều chỉnh của tổ chức
Chủ thể quản lý thực hiện các chức năng trên liên tục, đan xen, bổ sung cho nhau, phối hợp với nhau tạo thành một quy trình quản lý Người quản lý muốn thực hiện các chức năng quản lý thì cần phải có thông tin Do đó, trong quá trình quản lý, thông tin đóng một vai trò hết sức quan trọng, nó tạo nên mối liên kết giữa chủ thể và khách thể quản lý Thông tin là bước khởi đầu của quản lý, không có thông tin thì người quản lý không thể lập được kế hoạch Thông tin có vai trò đặc biệt quan trọng,
nó có thể coi là một chức năng của quản lý, thiếu thông tin thì không thể thực hiện được bất cứ chức năng nào của quản lý
Trang 21Ta có thể hình dung vai trò của thông tin bằng hệ thống sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý
Để tìm hiểu quản lý giáo dục là gì, ta nhìn nhận từ quan điểm của các nhà khoa học đã nghiên cứu từ trước về khái niệm quản lý giáo dục
Theo P.V Khuđôminxki(nhà lý luận thời Xô Viết): "QLGD là tác động có hệ
thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến các khâu của hệ thống (từ Bộ đến trường) nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục Cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, đảm bảo sự phát triển toàn diện và hài hòa cho họ" [45, tr.50]
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: "QLGD theo nghĩa tổng quan là điều hành, phối
hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn cho thế hệ trẻ mà cho mọi người Cho nên QLGD được hiểu
là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân" [3, tr.31]
Từ những quan niệm trên, chúng ta có thể khái quát rằng: QLGD là sự điều hành, phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ nói riêng và cho mọi người theo yêu cầu phát triển xã hội Trong hệ thống giáo dục, con người giữ vai trò chủ đạo, trung tâm của mọi hoạt động Con người vừa
là chủ thể, vừa là khách thể quản lý, mọi hoạt động giáo dục và QLGD đều hướng vào đào tạo nhân cách cho người học, bởi vậy con người là nhân tố quan trọng nhất trong QLGD
Lập
kế hoạch
Tổ chức thực hiện
Chỉ đạo thực hiện Kiểm tra
Thông tin quản lý
Trang 22Về mặt phạm vi, khái niệm giáo dục bao hàm nhiều cấp độ khác nhau:
- Ở cấp độ rộng nhất, giáo dục được hiểu đó là quá trình xã hội hóa con người Quá trình xã hội hóa con người là quá trình hình thành nhân cách dưới ảnh hưởng của tác động chủ quan và khách quan, có ý thức và không có ý thức của cuộc sống, của toàn xã hội đối với các cá nhân
- Ở cấp độ thứ hai, giáo dục có thể hiểu là giáo dục xã hội, đó là hoạt động có mục đích của xã hội, với nhiều lực lượng giáo dục, tác động có hệ thống, có kế hoạch đến con người để hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách
- Ở cấp độ thứ ba, giáo dục được hiểu là quá trình sư phạm Quá trình sư phạm
là quá trình tác động có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của các nhà sư phạm trong nhà trường tới học sinh nhằm giúp học sinh nhận thức, phát triển trí tuệ và hình thành những phẩm chất nhân cách Ở cấp độ này, giáo dục bao gồm Quá trình dạy học và Quá trình giáo dục theo nghĩa hẹp
- Ở cấp độ thứ tư, giáo dục được hiểu là quá trình bồi dưỡng để hình thành những phẩm chất đạo đức cụ thể, thông qua tổ chức cuộc sống, hoạt động và giao lưu
1.2.3 Hướng nghiệp
Theo từng cách tiếp cận khác nhau, người ta đưa ra các khái niệm khác nhau
về hướng nghiệp, ta xem xét một số khái niệm cơ bản sau:
- Về phương diện giáo dục: Hướng nghiệp như một hệ thống tác động giúp thế
hệ trẻ có cơ sở khoa học trong việc chọn nghề, hệ thống này điều chỉnh sự lựa chọn nghề của học sinh cho phù hợp với những yêu cầu của sự phận công lao động xã hội,
có tính đến hứng thú và năng lực của từng cá nhân
- Về phương diện tâm lý học: Hướng nghiệp được coi như một quá trình chuẩn
bị tâm lý cho thế hệ trẻ sẵn sàng đi vào hoạt động nghề nghiệp Sự sẵn sàng tâm lý đó chính là tâm thế lao động - một trạng thái tâm lý tích cực trước hoạt động lao động,
để họ yêu thích nghề nghiệp, gắn bó với nghề nghiệp mà mình đã lựa chọn, đảm bảo thích ứng năng lực của bản thân
Trang 23- Về phương diện kinh tế học: Hướng nghiệp được hiểu là hệ thống những biện pháp dẫn dắt tổ chức thanh, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp, nhằm sử dụng hợp lý tiềm năng lao động trẻ tuổi của đất nước Hướng nghiệp góp phần tích cực vào quá trình phấn đấu, nâng cao năng suất lao động xã hội nhằm tạo ra nhiều của cải hơn cho xã hội, sao cho sản phẩm đó mang lại nhiều lợi ích về mặt giá trị
- Về phương diện lao động: Hướng nghiệp là hình thức giám định lao động có tính chuẩn đoán Đó là quá trình xác lập sự phù hợp nghề của từng người cụ thể, trên
cơ sở xác định sự tương ứng giữa những đặc điểm tâm-sinh lý của người học với những yêu cầu của một nghề nào đó, đối với người lao động
Về phương diện của trường phổ thông: Hướng nghiệp vừa là hoạt động dạy của thầy, vừa là hoạt động học của trò Như vậy có nghĩa là trong công tác hướng nghiệp, giáo viên là người tổ chức, người hướng dẫn, còn học sinh là người chủ động tham gia vào hoạt động để tiếp cận với hệ thống nghề nghiệp Kết quả cuối cùng của quá trình hướng nghiệp là sự lự quyết định của học sinh trong việc lựa chọn nghề nghiệp cho tương lai Như vậy, hướng nghiệp là quá trình hướng dẫn chọn nghề, quá trình chuẩn bị cho thế hệ trẻ đi vào lao động sản xuất trong xã hội
Hướng nghiệp là một hệ thống biện pháp tác động của gia đình, nhà trường và
xã hội, trong đó nhà trường đóng vai trò chủ đạo nhằm hướng dẫn và chuẩn bị cho thế
hệ trẻ sẵn sàng đi vào lao động ở các ngành nghề tại những nơi xã hội đang cần phát triển, đồng thời lại phù hợp với hứng thú, năng lực cá nhân
Theo tài liệu hướng nghiệp của Australia thì "GDHN liên quan đến sự phát
triển kiến thức, kỹ năng và thái độ thông qua một chương trình hoạch định sẵn và sẽ giúp học sinh có quyết định về sự lựa chọn nghề trong trường học sau khi tốt nghiệp, giúp học sinh làm việc có hiệu quả hơn" [dẫn theo 37, tr.23]
Ngoài ra, nhiều khái niệm về hướng nghiệp khác nhau được đưa ra: Hướng nghiệp cho học sinh phổ thông là bước khởi đầu quan trọng trong quá trình phát triển nguồn nhân lực Trên bình diện cá nhân, hướng nghiệp là hệ thống các biện pháp dựa trên cơ sở tâm lý học, sinh lý học, giáo dục học, xã hội học và nhiều khoa học khác
để giúp học sinh chọn nghề phù hợp với nhu cầu của xã hội, đồng thời thỏa mãn tối
đa nguyện vọng, thích hợp với năng lực, sở trường và điều kiện tâm lý, sinh lý cá nhân dể họ có thể phát triển tới đỉnh cao trong nghề nghiệp, cống hiến thật nhiều cho
xã hội cũng như tạo lập được cuộc sống tốt đẹp cho bản thân
Trang 24Trên bình diện vĩ mô, hướng nghiệp góp phần phân bố hợp lý và sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn nhân lực, vốn quý của đất nước để phục cụ cho việc phát triển kinh tế, xã hội, mang lại phồn vinh cho đất nước
Như vậy, thực chất HĐ GDHN trong trường phổ thông là nhằm thực hiện nhiệm vụ hình thành nhân cách nghề nghiệp cho học sinh, trên cơ sở điều chỉnh động
cơ hứng thú nghề nghiệp, chuẩn bị cho học sinh có ý thức chọn nghề đảm bảo năng suất và hiệu quả lao động cao, mang lại nhiều lợi ích cho cá nhân và xã hội Từ đó tư vấn giúp học sinh chọn nghề thích hợp
1.2.4 Giáo dục hướng nghiệp
Có nhiều nhiều khái niệm về giáo dục hướng nghiệp, tuy vậy các khái niệm về
cơ bản đều xác định đều xác định giáo dục hướng nghiệp là một hệ thống các biện pháp giáo dục nhằm chuẩn bị cho học sinh ngay từ khi còn học ở trường phổ thông cần sớm có ý thức lựa chọn ngành nghề phù hợp với năng lực, sở thích cá nhân và nhu cầu của xã hội
Theo tác giả Đặng Danh Ánh, giáo dục hướng nghiệp là một hoạt động của tập thể sư phạm, của các cán bộ, cơ quan, nhà máy khác nhau, được tiến hành với mục đích giúp học sinh chọn nghề đúng đắn với năng lực, thể lực và tâm lý của cá nhân với nhu cầu kinh tế xã hội Giáo dục hướng nghiệp là một bộ phận cấu thành quá trình giáo dục - học tập trong nhà trường
Theo tác giả Phạm Viết Vượng, giáo dục hướng nghiệp là một hoạt động định hướng nghề nghiệp của các nhà sư phạm cho học sinh, nhằm giúp học sinh chọn một nghề phù hợp với hứng thú năng lực cá nhân và yêu cầu xã hội
Giáo dục hướng nghiệp là hệ thống các biện pháp giáo dục của nhà trường, gia đình và xã hội nhằm chuẩn bị cho thế hệ trẻ tư tưởng, tâm lý, tri thức, kỹ năng để họ
có thể sẵn sàng đi vào ngành nghề, vào lao động sản xuất và cuộc sống Giáo dục hướng nghiệp góp phần phát huy năng lực, sở trường của từng người, đồng thời góp phần điều chỉnh nguyện vọng của cá nhân sao cho phù hợp với nhu cầu phân công lao động trong xã hội Có thể nói ngắn gọn, giáo dục hướng nghiệp là hướng dẫn cho học sinh ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường sớm có ý thức về một nghề mà sau này các em chọn
Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông với mục đích chủ yếu là phát hiện, bồi dưỡng tiềm năng sáng tạo của cá nhân, giúp họ hiểu mình và
Trang 25thành phần kinh tế đang cần nhân lực, trên cơ sở đó đảm bảo sự phù hợp nghề của mỗi cá nhân Đây là công việc của tập thể sư phạm nhà trường, nhằm giúp học sinh lựa chọn nghề một cách có ý thức trên cơ sở hiểu biết về sự phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội, về các hoạt động Thông qua giáo dục hướng nghiệp góp phần giáo dục thái độ lao động và ý thức đúng đắn với nghề nghiệp, cho học sinh làm quen với một
số nghề phổ biến trong xã hội và các nghề truyền thống của địa phương; tìm hiểu năng khiếu, khuynh hướng nghề nghiệp của từng học sinh để khuyến khích, hướng dẫn và bồi dưỡng khả năng nghề nghiệp thích hợp nhất, động viên học sinh đi vào những nghề, những nơi đang cần
1.2.5 Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp
Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp là một nội dung của quản lý trường học, là hệ thống những tác động sư phạm có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông
Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp gồm các thành tố cơ bản sau:
Sơ đồ 1.2 Các thành tố của quản lý HĐGDHN
Mục tiêu chung của GDHN là chuẩn bị cho thế hệ trẻ tư tưởng, tâm lý, tri thức, kỹ năng để học có thể sẵn sàng đi vào ngành nghề, vào lao động sản xuất và cuộc sống; góp phần phát huy năng lực, sở trường của từng người, đồng thời góp
MỤC TIÊU HĐGDHN
Trang 26phần điều chỉnh nguyện vọng của cá nhân sao cho phù hợp với nhu cầu phân công lao động xã hội
Chủ thể quản lý giáo dục hướng nghiệp là một cá nhân hay nhóm người được giao quyền hạn quản lý và chịu trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, sử dụng một cách hợp
lý và hiệu quả các nguồn lực cho công tác giáo dục hướng nghiệp tại địa bàn, đơn vị đang quản lý Trong quản lý các hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường phổ thông, chủ thể quản lý là Ban giám hiệu nhà trường Trên cơ sở quyền hạn, trách nhiệm và năng lực của mình, chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các phương pháp và công cụ nhất định thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý để đạt được mục tiêu GDHN
Đối tượng quản lý giáo dục hướng nghiệp là tất cả những người thực hiện và nhận nhiệm vụ hướng nghiệp, bao gồm: các giáo viên làm nhiệm vụ giáo dục hướng nghiệp; đối thượng học sinh trường THPT; các tổ chức đoàn thể xã hội (như Hội cha
mẹ học sinh, hội liên hiệp thanh niên, các doanh nghiệp, đoàn thanh niên ) Đối tượng quản lý còn bao gồm các hình thức tổ chức giáo dục hướng nghiệp, ngân sách,
cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục hướng nghiệp và hệ thống thông tin cho giáo dục hướng nghiệp
Công cụ quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp là những phương tiện mà cán bộ quản lý giáo dục hướng nghiệp sử dụng trong quá trình quản lý nhằm định hướng, dẫn dắt, khích lệ và phối hợp hoạt động của các tác nhân hướng nghiệp và học sinh trong việc thực hiện mục tiêu GDHN Công cụ chủ yếu để quản lý các hoạt động GDHN là các quy định của nhà nước và của Bộ Giáo dục về GDHN, là các cơ chế chính sách cho GDHN
Phương pháp quản lý GDHN là cách thức tác động bằng những phương tiện khác nhau của cán bộ quản lý GDHN đến hệ thống bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý Phương pháp quản lý bao gồm việc lựa chọn công cụ, phương tiện quản
lý và lựa chọn cách thức tác động của cán bộ quản lý GDHN tới đối tượng quản lý
Từ các khái niệm cơ bản về quản lý, về hướng nghiệp, chúng ta nhận thấy rằng hoạt động quản lý giáo dục hướng nghiệp bao hàm những nội dung của quản lý gồm: Lập kế hoạch, HĐGDHN, chỉ đạo thực hiện HĐ GDHN, Tổ chức thực hiện HĐ
Trang 27GDHN và kiểm tra thông qua hệ thống thông tin bằng các văn bản chỉ đạo, nội dung chương trình, phương pháp tiến hành, đối tượng quản lý, cơ sở vật chất Như vậy, nó đầy đủ các thành tố cấu thành hoạt động độc lập và mang mục tiêu riêng của hoạt động đó Từ đó ta có thể đưa ra khái niệm về hoạt động quản lý GDHN như sau: Biện pháp quản lý HĐ GDHN là cách thức tiến hành của chủ thể quản lý có kế hoạch, có mục tiêu, có nội dung tác động lên khách thể quản lý nhằm hướng các lực lượng tham gia hoạt động hướng nghiệp vào hướng dẫn, chuẩn bị cho thế hệ trẻ những tri thức hiểu biết về nghề trước khi lựa chọn nghề nào đó phù hợp với năng lực, điều kiện bản thân Mục tiêu của HĐ GDHN chính là tư vấn, giúp đỡ học sinh lựa chọn nghè phù hợp với năng lực, sở trường, điều kiện của bản thân và nhu cầu của xã hội để người học có thể phát huy nghề
1.3 Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trường trung học phổ thông
1.3.1 Đặc điểm của học sinh THPT
Đối với học sinh THPT ở lứa tuổi từ 15 - 17 tuổi: Trong độ tuổi này hoạt động học tập có định hướng nghề nghiệp để chuẩn bị bước vào đời là hoạt động chủ đạo Hoạt động học tập của học sinh đòi hỏi cao về tính năng động, tính độc lập gắn với
xu hướng chọn nghề Học sinh ở lứa tuổi này đa ý thức được vị trí, vai trò của mình, định hướng về nghề nghiệp tương lai cho bản thân Vì vậy rất nhiều học sinh học lệch, các em chỉ quan tâm tới các môn mà liên quan đến khối thi của mình đã chọn,
do đó giáo viên cần phải giúp các em hiểu được ý nghĩa và chức năng giáo dục toàn diện, phải đảm bảo kiến thức chung của học sinh trung học phổ thông
Học sinh THPT là lứa tuổi mang tính tập thể nhất, quan hệ với bàn bè cùng tuổi chiếm vị trí hơn hẳn với bố mẹ và người thân, thường hướng vào bạn bè hơn là hướng vào cha mẹ Nhưng ảnh hưởng của bố mẹ tới nghề nghiệp của các em là rất lớn, cho nên các thầy cô giáo cần tác động tích cực vào gia đình để định hướng nghề nghiệp cho các em Các thầy cô giáo cần quan tâm giáo dục học sinh nhận thức về thế giới nghề nghiệp, nhu cầu nguồn nhân lực của địa phương, của đất nước và nhu cầu xuất khẩu lao động
Trang 281.3.2 Mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung của hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT
1.3.2.1 Mục tiêu giáo dục hướng nghiệp ở trường phổ thông
- Có thêm những hiểu biết cơ bản về đặc điểm, yêu cầu của những ngành nghề, góp phần đưa ra những quyết định lựa chọn chính xác và tối ưu nhất cho nghề nghiệp của mình trong tương lai
- Có hứng thú và định hướng đúng đắn trong việc lựa chọn nghề cho bản thân
- Chủ động, tự tin trong việc đưa ra quyết định lựa chọn nghề nghiệp cho bản thân
- Yêu thích và thoả mãn với quyết định của mình khi lụa chọn nghề nghiệp
1.3.2.2 Nhiệm vụ giáo dục hướng nghiệp ở trường phổ thông
Theo chỉ thị số 33/2003/CT - BGD & ĐT thì GDHN có nhiệm vụ:
- Giáo dục thái độ và ý thức đúng đắn với nghề nghiệp
- Tổ chức cho học sinh học tập, làm quen với một số nghề phổ biến trong xã hội và các nghề truyền thống của địa phương
Trang 29- Tìm hiểu năng khiếu, khuynh hướng nghề nghiệp của từng học sinh để khuyến khích, hướng dẫn, bồi dưỡng khả năng nghề nghiệp thích hợp nhất
- Động viên hướng dẫn học sinh đi vào những nghề, những noi đang cần lao động trẻ tuổi có văn hóa
- Ngoài ra nhiệm vụ của GDHN là phải làm cho học sinh có thể thích ứng với
sự dịch chuyển của cơ cấu ngành nghề và cơ cấu lao động trong xã hội và địa phương, nâng cao hiểu biết về an toàn lao động Song song đó, còn rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp, thao tác kỹ thuật, kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng tính toán và khả năng vận dụng kỹ thuật vào thực tiễn cho học sinh
1.3.2.3 Nội dung của hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT
Muốn làm tốt nhiệm vụ hướng nghiệp thì nhà trường phổ thông phải làm tốt ba nội dung của HĐ GDHN sau đây:
- Định hướng nghề nghiệp là nhằm cung cấp cho học sinh những thông tin về tình hình phát triển kinh tế của đất nước, của địa phương, về nhu cầu sử dụng lao động, về thế giới nghề nghiệp, về hoạt động của những ngành nghề cơ bản, nghề chủ yếu và những yêu cầu của nghề đối với người lao động Qua đó giúp học sinh đánh giá bản thân và lựa chọn nghề một cách có chủ định
- Tư vấn hướng nghiệp là hệ thống những biện pháp tâm lý - giáo dục để đánh giá toàn bộ những phẩm chất, năng lực thể chất và tinh thần của thanh thiếu niên, đối chiếu những yêu cầu do nghề đặt ra đối với người lao động, có cân nhắc đến nhu cầu nhân lực của các thành phần kinh tế nhằm xác định nghề phù hợp Trên cơ sở đó cho học sinh những lời khuyên có căn cứ khoa học, loại bỏ những trường hợp may rủi, thiếu chín chắn trong khi chọn nghề Có hai loại tư vấn:
+ Tư vấn sơ bộ: Giáo viên chủ nhiệm hoặc giáo viên bộ môn đóng vai trò “nhà
tư vấn”, từ những hiểu biết về yêu cầu của một số ngành nghề ở một số trường học địa phương, về nhu cầu nhân lực và về năng lực của học sinh từ đó cho học sinh những lời khuyên nên học gì? Ở đâu?
+ Tư vấn chuyên sâu: Tiến hành trên cơ sở khoa học, đảm bảo độ chính xác cao nhờ vào các máy móc hiện đại Điều kiện để có loại tư vấn chuyên sâu đòi hỏi phải có đội ngũ chuyên gia tư được đào tạo có tay nghề cao như các nhà tâm lý, các nhà giáo dục học, các bác sĩ …
Trang 30- Tuyển chọn nghề là giai đoạn cuối cùng của quá trình hướng nghiệp Dựa trên những nội dung trên, xuất phát từ những đặc điểm, yêu cầu của nghề để tuyển người phù hợp vào học hay vào làm việc
Ba nội dung này có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau Quy trình ba nội dung được biểu diễn bằng sơ đồ 1.3 sau:
Sơ đồ 1.3 Mối quan hệ của nội dung GDHN
Ba nội dung định hướng nghề, tuyển chọn nghề, tư vấn nghề ta lại có thêm
ba nội dung khác tạo thành sáu thành tố trong nội dung GDHN cho học sinh Bản chất của quá trình GDHN là xem xét các yếu tố liên quan ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phát triển của một nghề nghiệp Yếu tố liên quan trong quá trình này là đặc điểm, yêu cầu của nghề: Điều kiện về năng lực cá nhân, truyền thống gia đình, hoàn cảnh kinh tế gia đình, điều kiện của địa phương hay quốc gia; Thị trường lao động nhu nguồn cung và cầu về nguồn nhân lực; Môi trường đào tạo
kỹ năng thực hành và hướng phát triển nghề Trong quá trình chọn nghề thì bất
cứ học sinh nào cung hướng đến câu hỏi là học nghề đó để làm gì ? khả năng phát triển nghề đến đâu? học nghề đó ở đâu? Các nội dung đó được biểu diễn bằng sơ đồ 1.4 dưới đây của Platônôp
Định hướng nghề nghiệp
Tư vấn
Trang 31Đặc điểm Định hướng chọn nghề
yêu cầu, hệ thống Thị trường lao động nghề cần phát triển
Tư vấn nghề Phẩm chất, Tuyển chọn nghề
năng lực, hoàn cảnh cá nhân
Sơ đồ 1.4 Nội dung HĐ GDHN
Theo quy định của Bộ GD& ĐT thì nội dung HĐ GDHN ở trường THPT gồm
các chủ đề được bố trí vào từng khối lớp như sau:
10
1 Lựa chọn nghề nghiệp tương lai (3 tiết)
2 Năng lực bản thân và truyền thống gia đình (3 tiết)
3 Tìm hiểu nghề dạy học (3 tiết)
4 Giới tính và nghề nghiệp (3 tiết)
5 Tìm hiểu một số nghề về Nông - Lâm - Ngư nghiệp (3 tiết)
6 Tìm hiểu một số nghề thuộc ngành Y, Dược ( 3 tiết)
7 Tham quan một số đơn vị sản xuất công hoặc nông nghiệp (3 tiết)
8 Tìm hiểu một số nghề thuộc ngành xây dựng (3 tiết)
9 Nghề tương lai của tôi (3 tiết)
11
1 Tìm hiểu một số nghề thuộc ngành Giao thông - Địa chất (3 tiết)
2 Tìm hiểu một số nghề thuộc linh vực kinh doanh, dịch vụ (3 tiết)
3 Tìm hiểu một số nghề thuộc linh vực An ninh - Quốc phòng (3 tiết)
4 Tìm hiểu một số nghề thuộc ngành năng lượng, bưu chính viễn thông,công nghệ thông
tin (3 tiết)
5 Giao lưu với những điển hình về sản xuất, kinh doanh giỏi, những gương vượt khó … theo
chủ đề làm gì sau khi tốt nghiệp THPT (3 tiết)
6 Nghề nghiệp với nhu cầu của thị trường lao động ( 3 tiết)
7 Thảo luận: Tôi muốn đạt được ước mo của mình (3 tiết)
8 Tham quan một số trường đại học (hoặc cao đẳng), TCCN, dạy nghề tại địa phương (6 tiết)
12
1 Định hướng phát triển kinh tế của đất nước, của địa phương (3 tiết)
2 Thảo luận: Những điều kiện để thành đạt trong nghề (3 tiết)
3 Tìm hiểu hệ thống trường TCCN và đào tạonghề của trung ương và địa phương (3 tiết)
4 Tìm hiểu hệ thống đào tạo đại học và cao đẳng (3 tiết)
5 Thảo luận: Thanh niên lập thân, lập nghiệp ( 3 tiết)
6 Tư vấn nghề ( 3 tiết)
7 Hướng dẫn học sinh chọn nghề cụ thể để làm hồ sơ tuyển sinh (3 tiết)
8 Tham quan hoặc tổ chức HĐ văn hóa theo chủ đề HN (6 tiết)
1
2
3
Trang 321.3.3 Ý nghĩa của giáo dục hướng nghiệp ở trường phổ thông
1.3.4.1 Ý nghĩa giáo dục
GDHN là một bộ phận cơ hữu của giáo dục phổ thông (GDPT) Nó có khả năng điều chỉnh động cơ chọn nghề và hứng thú nghề nghiệp của học sinh theo nhu cầu lao động và sự phân công lao động của xã hội, của địa phương, góp phần cụ thể hóa mục tiêu đào tạo của trường THPT
GDHN trong trường THPT không dừng ở chỗ giáo dục học sinh ý thức lao động chung chung mà phải hướng các em đi vào một nghề cụ thể hoặc biết tự tạo việc làm phù hợp với khả năng và nhu cầu của xã hội, có thể thích ứng việc làm trong mọi điều kiện và cũng có thể thay đổi việc làm khi cần thiết
1.3.4.2 Ý nghĩa kinh tế
GDHN hướng vào sử dụng hợp lý tiềm năng lao động trẻ để từ đó nâng cao năng suất lao động, giúp họ biết phát huy khả năng của mình, có lòng yêu nghề và tạo hứng thú trong nghề nghiệp; nhất là trong giai đoạn chạy đua giữa các nước về khoa học kỹ thuật, số lượng và chất lượng thông tin Trong cuộc chạy đua này phần thắng
sẽ thuộc về quốc gia nào làm tốt việc đào tạo đội ngũ lao động lành nghề có tri thức, đội ngũ khoa học kỹ thuật có trình độ cao, điều đó cũng có ý nghĩa là quốc gia đó làm tốt công tác GDHN Vì thế khi nói đến GDHN là nói đến tác dụng của nó đối với sự phát triển kinh tế của đất nước
1.3.4.3 Ý nghĩa xã hội
GDHN góp phần không nhỏ vào việc phân luồng học sinh, tạo tiền đề cho việc tạo ra cơ cấu lao động mới, không những có kiến thức khoa học, có óc sáng tạo mà còn có những kiến thức cơ bản về kỹ thuật sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, những thói quen lao động, để xây dựng sự nghiệp CNH - HĐH đất nước, thực hiện chiến lược xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, với mục tiêu làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
GDHN ở trường phổ thông nhằm mục đích đưa học sinh vào các ngành nghề
mà xã hội và địa phương cần, giúp các em chọn được một nghề, để được làm việc, được cống hiến cho xã hội, để nuôi sống bản thân và giúp đỡ gia đình, hạn chế việc lãng phí nguồn nhân lực có sức khỏe, có trình độ học vấn
Trang 33Vì vậy nếu làm tốt công việc GDHN sẽ có thể định hướng cho thế hệ trẻ đi vào cuộc sống lao động một cách có chủ định, hợp khả năng, không lãng phí, có hiệu quả kinh tế cao, góp phần ổn định xã hội, tạo nên một nếp sống lao động bình thường, lành mạnh, kinh tế bền vững
1.3.4 Nguyên tắc và các con đường giáo dục hướng nghiệp
1.3.4.1 Nguyên tắc đảm bảo tính giáo dục
Đảm bảo tính giáo dục là nguyên tắc cao nhất của GDHN trong trường THPT,
nó đòi hỏi GDHN trong trường phổ thông phải vừa góp phần hình thành nhân cách toàn diện cho học sinh vừa tiến hành đồng bộ với các mặt giáo dục khác nhằm đảm bảo giáo dục toàn diện
GDHN trong trường THPT có nhiệm vụ trang bị cho học sinh những hiểu biết
về thế giới nghề nghiệp, yêu cầu của nghề… và hình thành năng lực nghề nghiệp, nhận thức, tư duy sáng tạo, bồi dưỡng trau dồi tình cảm nghề nghiệp, tăng cường khả năng cảm thụ thẩm mỹ đối với hoạt động lao động kỹ thuật Một trong những đặc điểm của GDHN ở trường THPT là học sinh được tiếp thu các khái niệm tri thức về nghề, mặt khác bước đầu được tham gia vào quá trình lao động sản xuất trực tiếp của
xã hội Đảm bảo tính giáo dục trong GDHN còn có nghĩa là phải tránh các tư tưởng lệch lạc xảy ra trong trường học, tư tưởng cường điệu hóa hay coi nhẹ một mặt nào
đó trong quá trình giáo dục
1.3.4.2 Nguyên tắc đảm bảo tính giáo dục kỹ thuật tổng hợp trong GDHN
Trong quá trình giáo dục ở trường THPT thì giáo dục lao động (GDLĐ), giáo dục kĩ thuật tổng hợp (KTTH) và GDHN là ba quá trình giáo dục riêng biệt song chúng có mối quan hệ khăng khít với nhau, cùng nhau thực hiện mục tiêu chung là đào tạo con người lao động mới
Mục tiêu chính của GDLĐ là giáo dục quan điểm, thái độ lao động, đạo đức tác phong của người lao động mới, trang bị cho học sinh một số tri thức và kỹ năng lao động cơ bản, nhằm chuẩn bị ý thức sắn sẵng đi vào cuộc sống lao động
GDLĐ trong trường phổ thông phải tuân theo tinh thần KTTH, trong đó nội dung chính là trang bị cho học sinh những nguyên lí cơ bản chung nhất của quá trình sản xuất, đồng thời rèn luyện cho học sinh sử dụng và điều khiển được công cụ sản xuất cơ bản của một số ngành nghề chính
Trang 34Giáo dục KTTH có mục đích góp phần đào tạo con người phát triển toàn diện, có khả năng lao động sáng tạo và có tiềm lực để chuyển đổi nghề khi kỹ thuật và quy trình công nghệ đổi mới Mối quan hệ giữa ba quá trình này được thể hiện bằng sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.5 Mối quan hệ giữa GDLĐ, GDHN, giáo dục KTTH
Do vậy GDLĐ, giáo dục KTTH, GDHN tuy không đồng nhất với nhau nhung đều có chung mục tiêu là đào tạo con người mới không những sẵn sàng lao động mà còn có khoa học và đạt kết quả cao Và mối quan hệ này được biểu đạt bằng sơ đồ 1.7 Chính vì vậy GDHN phải tiến hành trên tinh thần giáo dục toàn diện, GDLĐ và KTTH
1.3.4.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống và đồng bộ trong GDHN
Nguyên tắc này đòi hỏi quá trình GDHN phải được tiến hành sao cho quá trình tiếp thu các tri thức và kỹ năng nghề nghiệp của các ngành nghề khác nhau của học sinh, phải diễn ra nghiêm ngặt, phù hợp với các ngành nghề khác nhau, phù hợp với logic khoa học của linh vực nghề nghiệp tương ứng, cũng như phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi và nhận thức của học sinh
Nguyên tắc này đòi hỏi GDHN trong trường phổ thông phải tiến hành bằng nhiều con đường khác nhau và phải huy động được sự tham gia đóng góp của nhiều lực lượng như: Gia đình, nhà trường và xã hội
Đào tạo con người lao động mới
GDLĐ
Trang 35Trên cơ sở của nguyên tắc này, quá trình linh hội tri thức về nghề nghiệp của học sinh mới diễn ra một cách có ý thức, học sinh mới có khả năng vận dụng linh hoạt, có hiệu quả các tri thức đã học vào quá trình lao động thực tiễn
1.3.4.4 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn của quá trình GDHN
Đảm bảo thực tiễn là nguyên tắc cơ bản cần quán triệt trong GDHN Mục đích cao nhất và cuối cùng của toàn bộ hệ thống giáo dục là đảm bảo cho giáo dục phục vụ tốt nhất các yêu cầu của thực tiễn và trở thành động lực cơ bản thúc đẩy thực tiễn phát triển
Để nâng cao hiệu quả của GDHN trong giai đoạn hiện nay, ngoài việc đảm bảo các nguyên tắc trên của GDHN, ta còn phải quán triệt các yêu cầu sau đây:
- GDHN góp phần điều chỉnh việc chọn nghề cho thanh thiếu niên theo hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế
- GDHN phải tác động giáo dục ý thức chính trị và lý tưởng nghề nghiệp
- GDHN gắn với làm chủ công nghệ mới
- GDHN chuẩn bị con người năng động thích ứng với thị trường
1.3.4.5 Các con đường giáo dục hướng nghiệp
Để đạt được mục đích trên, HĐ GDHN trong trường phổ thông được thực hiện qua bốn con đường:
- Hướng nghiệp qua dạy học các môn văn hóa
- Hướng nghiệp qua dạy kỹ thuật công nghệ và dạy nghề phổ thông
- Hướng nghiệp qua các buổi sinh hoạt hướng nghiệp (SHHN)
- Hướng nghiệp qua các hoạt động ngoại khóa (HĐNK) nhu hoạt động thăm quan các cơ sở sản xuất, các trường đại học, cao đẳng, trung cấp nghề
1.4 Quản lý hoạt động GDHN ở trường trung học phổ thông
1.4.1 Vị trí, vai trò của Hiệu trưởng trong quản lý giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông
Nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng được quy định cụ thể trong Luật Giáo dục năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) và Điều lệ trường trung học cơ sở, trường THPT và trường THPT có nhiều cấp học kèm theo Thông tư số 12/2011/TT - BGD&ĐT ngày 28/3/2011 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT
Trang 36Điều 54 Luật Giáo dục quy định:
“Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của nhà
trường, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận Hiệu trưởng các trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân phải được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý trường học” [39, tr.37]
Quyền hạn của Hiệu trưởng như sau:
a, Xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường;
b, Thực hiện các quyết nghị của hội đồng trường được quy định tại khoản 2 điều 20 của Điều lệ này;
c, Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học;
d, Quản lý giáo viên, nhân viên; quản lý chuyên môn; thực hiện công tác khen thưởng kỷ luật đối với giáo viên, nhân viên theo quy định của Nhà nước; quản lý hồ
sơ tuyển dụng giáo viên, nhân viên;
đ, Quản lý học sinh và các hoạt động của học sinh do nhà trường tổ chức; xét duyệt kết quả đánh giá, xếp loại học sinh, ký xác nhận hoàn thành chương trình tiểu học vào học bạ học sinh tiểu học (nếu có) của nhà trường phổ thông có nhiều cấp học
và quyết định khen thưởng, kỷ luật học sinh theo quy định của Bộ GD&ĐT;
e, Quản lý tài chính, tài sản của nhà trường;
g, Thực hiện các chế độ chính sách của Nhà trường đối với giáo viên, nhân viên, học sinh; tổ chức thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường; thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục của nhà trường
h, Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ và hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật;
i, Chịu trách nhiệm trước cấp trên về toàn bộ các nhiệm vụ được quy định trong khoản 1 điều này
Như vậy, để quản lý tốt hoạt động GDHN trong nhà trường, Hiệu trưởng cần phải nắm vững và vận dụng tốt nhiệm vụ và quyền hạn của mình đã được quy định trong Luật Giáo dục và Điều lệ trường trung học cơ sở (THCS), trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học Hiệu trưởng là người quản lý toàn diện nhà trường và chịu trách nhiệm trước các cơ quan quản lý nhà nước về GD&ĐT Trong
Trang 37hoạt động quản lý nhà trường thì GDHN là một trong những hoạt động cơ bản và đã được quy định cụ thể theo các tiêu chí nêu trên
1.4.2 Nội dung quản lý hoạt động GDHN của Hiệu trưởng ở trường phổ thông
Nội dung quản lý hoạt động GDHN của Hiệu trưởng trường THPT bao gồm:
1.4.2.1 Quản lý tư tưởng nhận thức, công tác tuyên truyền về ý nghĩa GDHN
Nhận thức có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tổ chức thực hiện một công việc, nội dung nào đó, nếu nhận thức đúng sẽ có hành động đúng Để thực hiện tốt công tác quản lý GDHN thì người Hiệu trưởng cần phải thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền về vai trò ý nghĩa của công tác GDHN đến tất cả các đối tượng khách thể, đội ngũ lãnh đạo Kết quả chưa cao trong công tác GDHN hiện nay cũng bởi từ vấn đề nhận thức Do vậy thông tin tuyên truyền tác động lên nhận thức sẽ tạo tiền đề để thực hiện các nội dung khác của GDHN được thực hiện tốt hơn
1.4.2.2 Xây dựng kế hoạch thực hiện nội dung, chương trình hoạt động GDHN
Chương trình GDHN được quy định cụ thể từng tiết học, chủ đề GDHN Hiệu trưởng có nghĩa vụ quản lý giáo viên, học sinh thực hiện đúng phân phối chương trình đã quy định Nội dung quản lý chương trình GDHN là các giờ lên lớp của giáo viên, thông qua sổ báo giảng, sổ ghi đầu bài, giáo án của giáo viên, kế hoạch, tiến trình giảng dạy của giáo viên
Về chương trình GDHN ở bậc THPT được chia cụ thể là mỗi khối, lớp có 27 tiết học với 9 chủ đề được tiến hành rải đều trong 9 tháng của năm học Mỗi chủ đề được tiến hành trong 3 tiết (1 buổi học); riêng khối 11 có 8 chủ đề tiến hành trong 27 tiết, chủ đề thứ 8 tiến hành 6 tiết (2 buổi);
Về phương pháp hoạt động GDHN thì khi giới thiệu về một nghề hay nhóm nghề, giáo viên không tham vọng đi sâu vào ngành nghề mà chỉ giới thiệu sơ lược
về đối tượng, nội dung trong công việc, công cụ, điều kiện lao động, những chống chỉ định y học đối với người lao động Từ đó giúp học sinh lập ra bản mô tả nghề
mà mình chọn Mặt khác, khi giới thiệu về các trường đào tạo nghề, giáo viên chỉ nên giới thiệu chỉ dẫn nguồn thông tin về các trường để các em tự tìm hiểu Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần dùng nhiều nguồn tư liệu, tranh ảnh mô tả nghề nghiệp để gây hứng thú cho học sinh, giúp học sinh tự phát triển ra các nghề
Trang 38GDHN với tư cách là buổi hoạt động tập thể, trong đó sự hướng dẫn của giáo viên, tạo cho học sinh đóng vai trò chủ động trao đổi, phát hiện thế giới nghề thông qua các hình thức sân khấu hóa Đối với một số chủ đề của lớp 11 và 12, giáo viên nên
tổ chức cho học sinh tham quan một số trường đại học, cao đẳng, trung cấp đóng trên địa phương, tổ chức giao lưu với các trường để các em có điều kiện tìm hiểu sâu hơn Một số chủ đề về ngành nghề, giáo viên tổ chức cho học sinh tham quan các đơn vị sản xuất, nhà máy, xí nghiệp theo ngành nghề, mời các chuyên gia về ngành nghề đến giao lưu, trao đổi với các em học sinh vừa gây hứng thú, vừa tạo được thông tin chất lượng sâu về nghề
1.4.2.3 Tổ chức, chỉ đạo hoạt động GDHN
Trong các chức năng của quản lý thì chức năng chỉ đạo, tổ chức thực hiện là chức năng cơ bản Do vậy, để thực hiện tốt nhiệm vụ của người Hiệu trưởng trong công tác GDHN, Hiệu trưởng là người có nhiệm vụ tổ chức thực hiện nội dung, chương trình mà kế hoạch đã đặt ra Trong tổ chức, chỉ đạo cần có sự phối hợp nhịp nhàng, ăn ý giữa những người quản lý với người thực hiện công tác GDHN, đây chính là giai đoạn tạo nên hiệu quả của GDHN
1.4.2.4 Quản lý các hình thức GDHN trong nhà trường
Để hoạt động GDHN ở trường THPT đạt hiệu quả, ta phải quản lý tốt các hình thức hướng nghiệp Cụ thể là: Hướng nghiệp qua các bộ phận văn hóa, qua GDLĐ, dạy nghề phổ thông, qua hoạt động ngoại khóa,… Như vậy qua các hình thức hướng nghiệp khác nhau, sự phát triển về năng khiếu và sự phân hóa năng lực sẽ diễn ra rất mạnh Vì qua các hình thức hướng nghiệp khác nhau, học sinh sẽ được cọ sát với nghề nghiệp, hiểu rõ nghề nghiệp
1.4.2.5 Quản lý cơ sở vật chất và các trang thiết bị phục vụ hoạt động GDHN
Đối với bất cứ một hoạt động giáo dục nào thì trang thiết bị, cơ sở vật chất là một trong những thành tố quan trọng nhất để tạo sự thành công của chất lượng giáo dục Trong hoạt động GDHN cũng không nằm ngoài quy tắc ấy, muốn hoạt động GDHN hiệu quả, chất lượng thì việc xây dựng trang thiết bị là cơ bản, tránh tình trạng học chay, đọc chép Hiệu trưởng cần quản lý tốt các trang thiết bị, cơ sở vật chất như phòng học, tranh ảnh, modum về nghề, trang âm phục vụ cho các buổi giao lưu… Để
Trang 39trang thiết bị, cơ sở vật chất luôn đáp ứng được yêu cầu giáo dục, Hiệu trưởng cần phân công cụ thể để bộ phận thí nghiệm, thư viện có trách nhiệm quản lý, bảo quản tránh làm hư hỏng, mất trang thiết bị, đồ dùng dạy học tự làm
1.4.2.6 Quản lý các nguồn lực tham gia và xã hội hóa hoạt động GDHN
Nói đến quản lý các nguồn lực, chúng ta không thể không nói đến việc quản lý nguồn nhân lực tham gia vào quá trình giáo dục Lực lượng quan trọng nhất là quản
lý đội ngũ giáo viên trực tiếp giảng dạy, nhân viên phục vụ Ngoài ra còn các lực lượng xã hội khác tham gia vào quá trình GDHN như Đoàn thanh niên, Ban đại diện cha mẹ học sinh (CMHS) và các chuyên gia được mời tham gia GDHN…
Nhà trường phải chủ động phối hợp với Ban đại diện CMHS, các tổ chức và cá nhân nhằm:
- Thống nhất quan điểm, nội dung, phương pháp giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội
- Huy động mọi lực lượng của cộng đồng chăm lo cho sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập và môi trường giáo dục lành mạnh, góp phần xây dựng cơ sở vật chất nhà trường
1.4.2.7 Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch và kết quả của GDHN
Công tác kiểm tra, đánh giá là chức năng cuối cùng của quản lý Hiệu trưởng muốn biết hiệu quả trong việc thực hiện các nội dung, kế hoạch, tiến độ thực hiện các
kế hoạch đó thì phải thực hiện chức năng kiểm tra đánh giá Trong quản lý GDHN, người Hiệu trưởng phải kiểm tra việc thực hiện kế hoạch, nội dung, phương pháp thực hiện GDHN của khách thể quản lý, kiểm tra cơ sở vật chất để từ đó điều chỉnh các kế hoạch của Hiệu trưởng hay có các quyết định kịp thời tác động lên các đối tượng quản lý
1.5 Đặc điểm của hoạt động hướng nghiệp ở trường THPT trên địa bàn cụm công nghiệp
1.5.1 Đặc điểm kinh tế-xã hội, giáo dục của khu công nghiệp
Hiện nay trên cả nước có rất nhiều khu công nghiệp được mở ra nhằm đưa đất nược phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà Đảng đã khởi xướng và lãnh đạo thực hiện
Trang 40Các khu công nghiệp là khu tập trung chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất nông nghiệp, có ranh giới địa lý xác định Khu công nghiệp là nơi tập trung nguồn lực để phát triển công nghiệp Các nguồn lực này đóng góp vào phát triển cơ cấu ngành nghề theo sự cho phép đầu tư của chính phủ
Các khu công nghiệp là nơi thu hút các lực lượng lao động ở nhiều trình độ khác nhau, từ lao động phổ thông đến những lao động được đào tạo bài bản, có tay nghề và trình độ cao Mỗi khu công nghiệp tạo công ăn việc làm cho hàng triệu sao động trên địa bàn
Về vấn đề kinh tế: Khu công nghiệp sẽ giúp phát triển kinh tế địa phương mạnh mẽ, thu nhập của người dân được tăng cao, đời sống vật chất ngày càng được cải thiện Đồng thời với sự phát triển của khu công nghiệp thì các ngành nghề, dịch
vụ cũng phát triển theo Việc làm trong các khu công nghiệp về cơ bản luôn ổn định, tạo điều kiện để người dân dễ dàng ổn định và phát triển kinh tế nếu lao động đáp ứng được yêu cầu của khu công nghiệp
Về vấn đề xã hội: Khu công nghiệp cũng góp phần nâng cao nhận thức, văn hóa của người dân Công việc ổn định giúp giảm bớt tai tệ nạn xã hội nếu lao động trong khu công nghiệp là người địa phương Với công việc và thu nhập ổn định sẽ giúp khu công nghiệp thu hút sự quan tâm của xã hội, người dân sẽ gắn bó với khu công nghiệp, qua đó nâng cao nhận thức của người dân trong việc giữ gìn an ninh trật
tự, bảo vệ môi trường và nguồn tài nguyên thiên nhiên
Về vấn đề giáo dục: Khu công nghiệp phát triển góp phần thuận lợi cho phát triển giáo dục địa phương, điều kiện kinh tế phát triển sẽ giúp giáo dục phát triển Tuy vậy một thực tế có thể xảy ra là nếu lao động không đáp ứng được yêu cầu của khu công nghiệp, không có công ăn việc làm thì sẽ là nguy cơ tiềm ẩn của các vấn đề tai tệ nạn xã hội, tỷ lệ học sinh đến lớp cao nhưng tỷ lệ ra trường chọn đúng ngành nghề, đúng yêu cầu của xã hội thì vẫn thấp
1.5.2 Yêu cầu đặt ra đối với quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT trên địa bàn cụm công nghiệp
- Những đặc điểm của khu công nghiệp cũng góp phần định hướng cho công tác giáo dục hướng nghiệp cho học sinh, phân luồng sau trung học cơ sở và trung học