Cùng với đó là việc xây dựng nhà thờ họ một cách bừa bãi, chạy theo văn hóa lai căng… do đó việc tìm hiểu cặn kẽ về lịch sử, văn hóa các dòng họ là cần thiết để gìn giữ những giá trị lịc
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI
LỊCH SỬ - VĂN HÓA DÕNG HỌ TRẦN DANH
Ở THÔN PHƯƠNG TRIỆN XÃ ĐẠI LAI HUYỆN GIA BÌNH TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI
LỊCH SỬ - VĂN HÓA DÕNG HỌ TRẦN DANH
Ở THÔN PHƯƠNG TRIỆN XÃ ĐẠI LAI HUYỆN GIA BÌNH TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số: 60.22.03.13
LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HÀ THỊ THU THỦY
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu này là của tôi, do chính tôi viết, nghiên cứu và hoàn thành, chƣa đƣợc công bố ở đâu trên bất kì tạp chí hay các công trình nghiên cứu cho bảo vệ một học vị nào Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã đƣợc ghi rõ nguồn gốc
Bắc Ninh, tháng 9 năm 2016
Tác giả
Nguyễn Thị Tuyết Mai
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới cô hướng dẫn:
PGS.TS Hà Thị Thu Thủy, các thầy cô giáo trong bộ môn Lịch sử
Việt Nam và Khoa Lịch sử, trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã động
viên, chỉ bảo, giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Tác giả xin trân trọng cảm ơn Trung tâm lưu trữ Quốc gia I Hà Nội, Thư
viện và Bảo tàng Tỉnh Bắc Ninh đã giúp đỡ tác giả trong quá trình thực hiện
luận văn
Cuối cùng, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới bạn bè, đồng
nghiệp và những người thân trong gia đình đã tạo điều kiện, giúp đỡ trong quá
trình học tập và hoàn thành luận văn
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Tuyết Mai
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Đối tượng, mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 6
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 7
5 Đóng góp khoa học của đề tài 9
6 Bố cục luận văn 10
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 12
1.1 Về vấn đề nghiên cứu 12
1.1.1 Khái niệm dòng họ 12
1.1.2 Một số dòng họ ở Bắc Ninh 13
1.2 Khái quát về xã Đại Lai 15
1.2.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 15
1.2.2 Lịch sử hành chính 17
1.2.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội 19
1.2.4 Truyền thống lịch sử - văn hóa 21
Tiểu kết chương 1 29
Chương 2 NGUỒN GỐC LỊCH SỬ VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DÒNG HỌ TRẦN DANH Ở THÔN PHƯƠNG TRIỆN XÃ ĐẠI LAI HUYỆN GIA BÌNH TỈNH BẮC NINH 30
2.1 Nguồn gốc dòng họ Trần Danh 30
2.2 Sự phát triển dòng họ Trần Danh 36
Tiểu kết chương 2 45
Chương 3 VĂN HOÁ DÕNG HỌ TRẦN DANH Ở THÔN PHƯƠNG TRIỆN XÃ ĐẠI LAI HUYỆN GIA BÌNH TỈNH BẮC NINH 46
3.1 Truyền thống hiếu học 46
Trang 63.2 Gia phong của dòng họ 48
3.3 Nhà thờ họ Trần Danh 55
3.4 Văn bia ghi gia phả họ Trần Danh 57
3.5 Giữ gìn và phát huy truyền thống của dòng họ 60
Tiểu kết chương 3 63
Chương 4 ĐÓNG GÓP CỦA DÕNG HỌ TRẦN DANH ĐỐI VỚI LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG VÀ LỊCH SỬ DÂN TỘC 64
4.1 Đối với địa phương 64
4.2 Đối với dân tộc 71
Tiểu kết chương 4 77
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 86
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, bên cạnh sức mạnh kinh tế thì sức mạnh văn hóa có vai trò không hề nhỏ để làm nên những chiến thắng hào hùng Văn hóa dân tộc luôn là sợi dây vô hình tạo nên sức mạnh Đại Việt Chúng ta đang sống trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, hội nhập thế giới để cùng phát triển, hướng tới một nền văn minh toàn diện Song chúng ta luôn biết rằng bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc kết hợp với tinh hoa văn hóa nhân loại được xem là nền tảng, là nhân tố điều tiết đích thực của sự phát triển Bởi vậy để xây dựng một xã hội công bằng, văn minh phải dựa trên cơ
sở trân trọng, bảo tồn di sản văn hóa dân tộc, mà trước hết là phải phát huy được truyền thống của gia đình, của dòng họ Chế độ chính trị xã hội thay đổi theo tiến trình phát triển của lịch sử, song tổ chức gia đình và dòng họ thì luôn trường tồn cùng non sông đất nước Mỗi dòng tộc, nhất là các dòng họ lớn, đều có truyền thống văn hóa, bản sắc riêng của mình Những nét riêng đó góp lại hình thành nên nền văn hóa dân tộc Nói cách khác, văn hóa của dòng họ chính là cơ sở nền tảng của truyền thống và bản sắc văn hóa quốc gia
Nghiên cứu về lịch sử - văn hóa của các dòng họ một mặt là động lực trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, mặt khác củng cố và khơi dậy
ý thức, lòng biết ơn và niềm tự hào về công đức cũng như những giá trị tinh thần, vật chất mà tổ tiên truyền lại Dòng họ là nơi lưu giữ, bảo tồn những di sản văn hóa của các thành viên trong dòng tộc gây dựng từ nhiều đời như: Gia phả, nhà thờ, sắc phong, câu đối, văn bia, sách truyện, nghề truyền thống… Trong dòng họ người trưởng họ giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức và chỉ đạo các hoạt động như cúng tế, giỗ tổ, mừng thọ
Người Việt Nam rất coi trọng dòng họ, là một trong những giá trị văn hóa hàng đầu của người Việt, là ý thức tìm về cội nguồn Dù ở bất cứ nơi đâu thì ý thức về tổ tiên, trước hết là tổ tiên dòng tộc vẫn là một trong những ý thức
Trang 8sâu sắc nhất Chính vì vậy mà ngày nay, đang hình thành một xu hướng, một trào lưu ghép nối gia phả, trùng tu tôn tạo từ đường của dòng họ… Đây là biểu hiện của ý nghĩa giá trị văn hóa cũng như đạo lý mang đậm tính nhân văn của dân tộc ta Tuy nhiên, trong chừng mực nào đó và ở vài nơi đôi khi cũng có những biểu hiện lệch lạc bản chất tốt đẹp của văn hóa dòng họ, đó là việc một
số gia đình lợi dụng một số hoạt động để trục lợi cho bản thân hoặc cho dòng
họ mình Cùng với đó là việc xây dựng nhà thờ họ một cách bừa bãi, chạy theo văn hóa lai căng… do đó việc tìm hiểu cặn kẽ về lịch sử, văn hóa các dòng họ
là cần thiết để gìn giữ những giá trị lịch sử, giá trị văn hóa của dân tộc
Bên cạnh yếu tố truyền thống, mỗi dòng tộc còn có những nét riêng.Một dòng họ có thể sống trong cùng một địa phương, cũng có thể phân tán ở nhiều nơi Do đó, nghiên cứu về lịch sử - văn hóa của một dòng họ ở một địa phương
cụ thể vừa có thể hiểu được những giá trị truyền thống cơ bản vừa có ý nghĩa nhận diện tính địa phương của dòng họ đó, làm phong phú bộ lịch sử địa phương
và góp phần nâng cao nhận thức về lịch sử dân tộc
Để củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, chúng ta cần nhận thức sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa các dòng họ Nhất là mối quan hệ giữa các danh nhân với gia đình, dòng họ và cộng đồng Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm, phát huy những mặt tích cực của dòng họ, hạn chế mặt tiêu cực và thắt chặt hơn nữa khối đại đoàn kết toàn dân
Đại Lai là vùng đất giàu truyền thống văn hóa, đấu tranh cách mạng Nơi đây có những dòng họ với lịch sử phát triển lâu đời, có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp dựng nước, giữ nước và sự đi lên của dân tộc Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và giao lưu văn hóa ngày càng mở rộng hiện nay thì vai trò của dòng họ đối với việc định hướng bản sắc văn hóa gia đình, dòng tộc là rất quan trọng Truyền thống dòng họ góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đi đôi với nỗ lực xây dựng và phát triển kinh
tế của đất nước Chính vì vậy, việc nghiên cứu về lịch sử dòng họ cũng như
Trang 9những đóng góp của dòng họ với đất nước là vấn đề rất cần thiết, vừa có ý nghĩa khoa học lẫn thực tiễn
Về khoa học, thông qua nghiên cứu về lịch sử - văn hóa dòng họ góp
phần hiểu biết sâu sắc hơn về đời sống văn hóa - kinh tế - xã hội của dòng họ
và của địa phương; hiểu được tầm quan trọng và vai trò của dòng họ đó trong việc lưu giữ và trao truyền các giá trị truyền thống; thấy được nét đặc trưng cũng như tính địa phương của một dòng họ
Về thực tiễn, nghiên cứu lịch sử - văn hóa dòng họ sẽ thấy được những
giá trị tích cực cũng như mặt hạn chế của một thiết chế dòng họ; kết quả nghiên cứu góp thêm cơ sở khoa học cho các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương trong việc hoạch định và triển khai có hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước tại địa phương, nhất là trong công cuộc xây dựng nông thôn mới hiện nay
Trên cơ sở ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn, tôi đã quyết định chọn đề
tài “Lịch sử -Văn hóa dòng họ Trần Danh ở thôn Phương Triện xã Đại Lai
huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh” làm đề tài luận văn thạc sỹ Lịch sử cho mình
Nhóm thứ nhất, đề cập đến dòng họ trong mối liên quan đến làng xã,
văn hóa làng, văn hóa Việt Nam, trong đó đáng chú ý là cuốn “Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ” của Trần Từ xuất bản năm 1984, cuốn sách
đã trình bày khá chi tiết bức tranh làng Việt nhìn ở nhiều góc độ khác nhau
Tác phẩm “Việt Nam văn hóa sử cương” của Đào Duy Anh (2003), là cuốn
Trang 10sách đã đưa ra những thông tin giá trị về dòng họ đặt trong mối tương quan với văn hóa Việt Nam, cuốn sách được chia làm 5 thiên: Thiên thứ nhất: Tự Luận; thiên thứ hai: Kinh Tế Sinh Hoạt; thiên thứ ba: Xã Hội Kinh Tế Sinh Hoạt; Thiên thứ tư: Tri Thức Sinh Hoạt; thiên thứ năm: Tổng Luận Ngoài ra còn nhiều tác phẩm khác
Nhóm thứ hai, gồm những công trình tập trung nghiên cứu về lịch sử các dòng họ người Việt Năm 1996, tổ chức UNESCO đã thành lập Câu lạc bộ UNESCO Thông tin các dòng họ Việt Nam, sự kiện đó đã được nhiều dòng họ
ở địa phương nhiệt liệt hưởng ứng Câu lạc bộ này đã đều đặn ra ấn phẩm “Cội
nguồn”, đặc biệt trong đó đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến nguồn gốc của các
dòng họ Lê Trung Hoa với cuốn “Họ và tên người Việt Nam” (2005) đã nêu
lên khá chi tiết về những dòng họ của Việt Nam và cách đặt tên, cũng như cách dùng biệt danh, danh hiệu để giữ bí mật của người Việt
Nhóm thứ ba, các công trình nghiên cứu về gia phả các dòng họ và văn
hóa dòng họ giai đoạn hiện nay Ngay từ năm 1956, Phạm Côn Sơn đã quan
tâm nghiên cứu về gia phả của tộc họ mình cũng như nhiều tộc họ khác trong đất nước, và từ năm 1994 trở đi nhiều công trình của ông đã được xuất bản và
giới thiệu, như: “Nề nếp gia phong”, “Gia lễ xưa và nay”, “Gia phả (biểu mẫu
và lược biên hướng dẫn)”, “Đạo nghĩa trong gia đình” Riêng cuốn “Tinh thần gia tộc: Gia sử và phả ngoại” tác giả Phạm Côn Sơn đã viết phần đầu
dành cho các gia đình, gia tộc ghi lại những đặc điểm truyền thống của tông tộc mình, phần hai hướng dẫn một số biểu mẫu cách ghi mang tính khoa học cao
Nguyễn Đức Dụ với cuốn “Gia phả khảo luận và thực hành” (1992),
ngoài việc trình bày một cách có căn cứ khoa học, lịch sử ra đời và phát triển của việc làm gia phả ở nước ta, tác giả còn có sự so sánh rất công phu Gia phả
Việt Nam và gia phả các nước “Quan hệ dòng họ ở châu thổ sông Hồng” của
Mai Văn Hai, Phan Đại Doãn (2000) đã khảo sát một số làng là làng Đào Xá và
Tứ Kỳ và đã bước đầu nêu bật mối quan hệ giữa các dòng họ ở khu vực đồng
Trang 11bằng sông Hồng Nguyễn Từ Chi trong cuốn “Góp phần nghiên cứu văn hóa và
tộc người” (2003) đã dành một phần nhỏ nghiên cứu về dòng họ và văn hóa các
dòng họ trên đất nước Việt Nam
Nhóm thứ tư, những công trình nghiên cứu về vùng đất, con người Gia Bình và những nhân vật nổi tiếng của dòng họ Trần Danh ở thôn Phương Triện,
xã Đại Lai, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh” Đầu tiên phải kể đến tác phẩm
Lược truyện các tác gia Việt Nam - tập1 (xuất bản năm 1972) ông Trần Văn
Giáp và các tác giả giới thiệu về cụ Trần Danh Án với rất nhiều tác phẩm về văn, sử và địa
“Lịch sử Đảng bộ xã Đại Lai từ 1930- 2002” do Ban chấp hành Đảng bộ
xã Đại Lai biên soạn 2003 cũng là một tác phẩm đề cập đến toàn bộ vị trí địa
lý, truyền thống lịch sử, cách mạng và phong trào đấu tranh anh dũng của nhân dân Đại Lai trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ Trong truyền thống đấu tranh đó có sự đóng góp rất lớn của con cháu họ Trần Danh Tác phẩm cũng đề cập đến công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế- xã hội của nhân dân Đại Lai từ khi đất nước lập lại hòa bình đến nay Qua đó, ta thấy được những đóng góp của họ Trần Danh trong quá trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Tiếp đó ngày 05/10/2009 mộ và nhà thờ các vị Tiến sĩ họ Trần đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh cấp Bằng xếp hạng là di tích Lịch sử - Văn hóa theo quyết định số 1489/QĐ-UBND Và đến ngày 28/01/2015 di tích được Bộ văn hóa thể thao du lịch đã ra quyết định số 224/QĐ- BVHTTDL công nhận là Di tích Quốc gia Dòng họ Trần Danh từ sau sự kiện này càng được nhiều người biết tới
Về tài liệu của họ Trần Danh ở Phương Triện - xã Đại Lai, năm 1996 ông Trần Dực và Trần Khánh - người rất tâm huyết với dòng họ đã dịch từ quyển
gia phả bằng chữ Hán sang tiếng việt và biên soạn thành cuốn “Gia phả họ:
Trần Bảo Triện” Đây là tư liệu quan trọng của dòng họ để tìm hiểu về lịch sử
Trang 12cũng như truyền thống văn hóa của dòng họ Trần Danh ở Phương Triện Đại Lai trong suốt chiều dài lịch sử
Tất cả những bài viết đó ít nhiều đề cập đến một số thành viên của dòng
họ Trần Danh, tuy nhiên còn mang tính sơ lược, riêng lẻ, chưa đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về lịch sử - văn hóa dòng họ Trần Danh
ở thôn Phương Triện, xã Đại Lai, huyện Gia Bình, Bắc Ninh Với những đóng góp của dòng họ cho quê hương, đất nước đã đặt ra cho chúng tôi nhiệm vụ nghiên cứu sâu hơn, toàn diện hơn về lịch sử - văn hóa dòng họ này Đây cũng
là một việc làm nhỏ góp phần giữ gìn và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc
3 Đối tượng, mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nguồn gốc và lịch sử phát triển của dòng họ, văn hóa truyền thống của dòng họ Trần Danh ở thôn Phương Triện, xã Đại Lai, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh cũng như những đóng góp của dòng họ này đối với lịch
sử địa phương và lịch sử dân tộc
3.2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu vị trí địa lí, đặc điểm tự nhiên và KT-XH của xã thôn Phương Triện, xã Đại Lai huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh và lịch sử văn hóa dòng họ Trần Danh, đề tài đi sâu nghiên cứu những đóng góp về kinh tế, chính trị, văn hóa của dòng họ Trần Danh với quê hương, đất nước trong lịch
sử cũng như trong thời kỳ hội nhập hiện nay
3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ nguồn gốc và quá trình phát triển của dòng họ Trần Danh ở thôn Phương Triện, xã Đại Lai, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh
- Làm rõ truyền thống văn hóa của dòng họ qua những di sản văn hóa của dòng họ
- Đánh giá vai trò của dòng họ qua những đóng góp của dòng họ Trần Danh ở địa phương và đối với lịch sử dân tộc qua các thời kỳ, trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội
Trang 133.4 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Thôn Phương Triện, xã Đại Lai, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh
- Phạm vi thời gian: Từ nguồn gốc hình thành cho đến nay
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nguồn tài liệu
- Tư liệu thành văn: Các luận văn, luận án, sách tham khảo, đặc biệt là sách chuyên khảo viết về lịch sử dòng họ, gia phả dòng họ đã được các tác giả công bố xuất bản
- Tài liệu lưu trữ: Các Văn kiện của Đảng, các chỉ thị, Nghị quyết; các bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước liên quan tới nội dung nghiên cứu của đề tài
- Tài liệu điền dã: Hệ thống các tài liệu gồm Hồ sơ di tích, thần phả đình
Tổ, văn bia, câu đối, sắc phong trong đền thờ của dòng họ được tác giả thu thập
được trong quá trình thực địa tại thôn Phương Triện, xã Đại Lai, huyện Gia
Bình, tỉnh Bắc Ninh
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp lịch sử: Tác giả vận dụng phương pháp này để để tìm hiểu
nguồn gốc lịch sử hình thành và phát triển của dòng họ Trần Danh Thông qua các nguồn tư liệu, tác giả làm rõ được giá trị văn hóa cũng như giá trị lịch sử của dòng họ trong lịch sử văn hóa nước nhà Từ đó đánh giá một cách khách quan những đóng góp to lớn về kinh tế, văn hóa của dòng họ đối với lịch sử quê hương và lịch sử dân tộc Đặc biệt, thông qua công tác xử lý tư liệu, tác giả làm rõ được truyền thống hiếu học từ đời xưa truyền lại trong dòng họ Là một nét đẹp trong văn hóa dòng họ nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung
Phương pháp logic: Trên cơ sở khái quát về điều kiện tự nhiên,lịch sử văn hóa truyền thống của mảnh đất và con người nơi đây, tác giả đã làm rõ
Trang 14được ý nghĩa to lớn của những truyền thống trong dòng họ nhất là truyền thống hiếu học Để hình thành nên truyền thống tốt đẹp đó là cả một quá trình từ khi mới hình thành của dòng họ Từ đời thứ nhất Cụ Tổ đã là dòng dõi Hoàng tộc nhà Trần, là người làm quan thanh liêm, yêu nước Những đời con cháu kế tiếp
về sau luôn có sự đóng góp cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Đây cũng chính là lý do mà dòng họ Trần Danh xứng đáng được vinh danh và đề cao không chỉ thời trước mà trong cả xã hội hiện đại ngày nay Các thế hệ con cháu hôm nay và mai sau, không chỉ là người trong dòng tộc mà đối với cả người Việt Nam cũng luôn thể hiện lòng biết ơn sâu sắc
ng: Quá trình hình thành, phát triển của
dòng họ Trần Danh đã có những đóng góp to lớn trong lịch sử văn hóa quê hương nói riêng và dân tộc nói chung Để làm rõ được điều đó, tác giả cần đánh giá khách quan, căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội của từng thời kỳ Ở đây tác giả chú ý tới gia phong, tinh thần hiếu học, sự đóng góp trong lĩnh vực kinh tế, văn hóa của dòng họ Trần Danh cho quê hương đất nước Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu để giúp các thế hệ con cháu mai sau được học tập nhiều hơn Đồng thời cũng sẽ là những tấm gương sáng trong công cuộc rèn đức luyện tài cho cộng đồng xã hội
Trang 15Phương pháp điền dã dân tộc học: được vận dụng trong quá trình đi khảo
sát thực tế ở địa phương, với các kỹ năng quan sát, phỏng vấn người cao tuổi và trưởng tộc của dòng họ tại địa bàn nghiên cứu Trên sơ sở đó, tác giả có so sánh, giám định tư liệu để có được những căn cứ khoa học nghiên cứu vấn đề
Phương pháp chuyên gia: Khi nghiên cứu đề tài, tác giả tiến hành tham
khảo ý kiến của các chuyên gia, các nhà khoa học trong lĩnh vực văn hóa, dòng
họ, lãnh đạo các phòng, ban của Sở Văn hóa, Ban tuyên giáo của huyện, của tỉnh… Từ đó, đưa ra những kết luận, nhận định xác thực cho đề tài
5 Đóng góp khoa học của đề tài
Luận văn “Lịch sử - Văn hóa dòng họ Trần Danh ở thôn Phương Triện
xã Đại Lai huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh” là một công trình khảo cứu cung
cấp cho người đọc bức tranh toàn cảnh về nguồn gốc, lịch sử phát triển của dòng họ Trần Danh trong lịch sử dân tộc Đặc biệt, văn hóa truyền thống của dòng họ với nề nếp gia phong tốt đẹp, là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ noi theo Vì thế, tác giả mong muốn luận văn này có những đóng góp như sau:
Thứ nhất, những người trong dòng họ hiểu rõ cội nguồn gia tộc mình với những truyền thống nhân văn cao quý, sẽ noi theo gương sáng của ngươi xưa
mà nhận biết trách nhiệm, xây dựng lý tưởng cho mình Đó là truyền thống đạo
lí “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” tốt đẹp của dân tộc ta
Thứ hai, những người ngoại tộc biết đến dòng họ Trần Danh cũng cảm nhận được sức lan tỏa của văn hóa dòng họ Trần Danh, từ đó hăng hái xây dựng gia phong riêng cho mình
Thứ ba, luận văn làm rõ văn hóa gia tộc trong di sản văn hóa Việt, góp phần thực hiện chiến lược con người trong thế kỷ XXI, làm nền tảng cơ sở để xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
Thứ tư, luận văn còn là một nguồn tư liệu về lịch sử địa phương để giáo dục thế hệ trẻ những truyền thống gia phong tốt đẹp của dân tộc mình Qua đó thế hệ trẻ ý thức gìn giữ, phát huy truyền thống đó và coi nó là một hành trang trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ quê hương đất nước
Trang 166 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung của luận văn được bố cục thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu
Chương 2: Nguồn gốc và lịch sử dòng họ Trần Danh ở thôn Phương
Triện xã Đại Lai huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh
Chương 3: Văn hóa dòng họ Trần Danh ở thôn Phương Triện xã Đại Lai
huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh
Chương 4: Đóng góp của dòng họ Trần Danh đối với lịch sử địa phương và
lịch sử dân tộc
Trang 17BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH XÃ ĐẠI LAI
Nguồn: Phòng địa chính xã Đại Lai
Trang 18Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1 Về vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Khái niệm dòng họ
Dòng họ là toàn thể nói chung những người cùng huyết thống làm thành các thế hệ nối tiếp nhau Dòng họ là một hiện tượng lịch sử - xã hội đặc biệt mang tính phổ quát của nhân loại Ý thức về dòng họ là dấu hiệu quan trọng đánh dấu bước phát triển của xã hội loài người từ mông muội đến văn minh Dòng họ có từ trước khi xã hội phân chia thành giai cấp và một khi Nhà nước
đã tiêu vong, thì dòng họ với tư cách là sự liên tục giữa cha và con cháu vẫn tồn tại
Nói về dòng họ, người Trung Hoa từ thời cổ đại đã có hai từ khác nhau
là "Tính" và "Thị" "Tính" là ký hiệu nói rõ một gia tộc đã sản sinh ra một con người nào đó Bộ từ điển cổ nhất tương đối hoàn chỉnh là "Thuyết văn giải tự" hoàn thành vào năm 1000 sau Công nguyên giải thích về chữ "Tính" như sau: " Nhân sinh dĩ vi tính, tòng nữ sinh" (Thời cổ đại xa xưa, loài người đã trải qua chế độ thị tộc mẫu hệ, trong đó chế độ hôn nhân là ngoại tộc quần hôn Cả một tốp những người nam cùng lứa tuổi của thị tộc A được đưa đến thị tộc B làm chồng của cả một tốp người nữ cùng lứa Con đẻ ra tất nhiên không biết bố, mà chỉ sống với mẹ Đó chính là nguyên nhân việc tạo ra chữ "Tính" bằng cách ghép chữ "Nữ" với chữ "Sinh")
Rất nhiều họ thời cổ đại ghi lại trong "Thuyết văn giải tự" đều viết với bộ
Nữ như họ Khương được chú thích là họ của Thần Nông, đẻ ra ở Khương Thủy Họ Cơ được chú thích là họ của Hoàng Đế, đẻ ra Cơ Thủy Họ Diêu được chú thích là họ của Ngu Thuấn, đẻ ra ở Diêu Khư và nhiều họ khác như
họ Cất, họ Vân, họ Hào, họ Doanh Đó là những minh chứng cho thấy "Tính" (họ) khởi nguồn từ xã hội mẫu hệ
Trang 19Nói rằng "họ" là sản phẩm của xã hội mẫu hệ không có nghĩa là tất cả các "họ" đều có từ xã hội thị tộc mẫu hệ, xã hội phát triển thì "họ" cũng phát triển Sau khi xã hội phụ hệ thay thế cho xã hội mẫu hệ, con cháu sinh sôi ngày một đông, một thị tộc chia thành nhiều chi, thì thường thường các con cháu có thể phân hóa thành nhiều họ
Nếu như "Tính" bắt nguồn từ xã hội mẫu hệ thì "Thị" lại là sản phẩm của xã hội phụ hệ Nhân loại từ bầy người nguyên thủy sang xã hội mẫu hệ là một bước phát triển lớn khiến chất lượng nhân khẩu được nâng cao đáng kể
Từ xã hội mâu hệ phát triển sang xã hội phụ hệ, chế độ hôn nhân càng chặt chẽ hơn, con cháu ngày một sinh sôi nhiều hơn, sau khi những thế hệ con cháu độc lập thành những chi phái riêng, mỗi chi phái có ký hiệu riêng của minh, đó là "Thị" Sau khi ra đời xã hội có giai cấp, thì "Thị" chẳng những là
ký hiệu phân nhánh của "Tính", mà còn là tiêu chí khu biệt địa vị thân phận của người đàn ông
Ý thức về dòng họ gắn liền với ý thức về tổ tông, theo sự nghiên cứu của các học giả về văn tự giáp cốt thì chữ "Tổ" thoạt đầu không cò bọ "Thị", viết tựa như "Thả" sau này Còn trong kim văn sơ kỳ thi là chữ tượng hình, cái hình của bộ phận sinh dục nam tính, tượng trưng cho khái niệm tổ tiên, gắn liền ý thức sùng bái vai trò trọng yếu của người bố trong việc duy trì huyết thống của gia tộc, cùng dòng họ
1.1.2 Một số dòng họ ở Bắc Ninh
Dòng họ là nơi bảo tồn những di sản văn hóa của các thành viên trong
họ Việc tìm hiểu về văn hóa các dòng họ, một mặt góp phần vào sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá, mặt khác góp phần củng cố và khơi dậy ý thức, biết
ơn và tự hào của con cháu về công đức tổ tiên để lại.Trong quá trình tồn tại và phát triển, mối liên kết giữa con người và cộng đồng được xây dựng thành những quy phạm gia phong, lệ tục, khoán ước của gia đình, dòng họ, hương ước, phong tục của làng xã, phản ánh cuộc sống cộng đồng có quy củ và tổ
Trang 20chức cao Nhờ đó, các giá trị chuẩn mực văn hóa vật chất và tinh thần của gia đình, dòng họ làng xã được xây dựng, bảo tồn và phát triển, đồng thời tạo nên nội lực mạnh mẽ để tiếp thu tinh hoa văn hóa ngoại nhập Bởi vậy mà từ xa xưa
ở miền quê Kinh Bắc, nhiều gia đình, dòng họ, làng xã được nhà nước phong kiến và xã hội suy tôn là “Mỹ tục khả phong”, “Địa linh nhân kiệt”, “Gia phong văn hiến”… và ngày nay con cháu vẫn kế tục và phát huy những giá trị tốt đẹp của dòng họ
Dòng họ Nguyễn Đức là gia tộc lớn ở Quế Ổ - Chi Lăng - Quế Võ - Bắc Ninh từ đầu thế kỷ XV và liên tục từ đó đến nay đã hơn 600 năm Theo trường
kỳ lịch sử, đây là thời kỳ độc lập tự chủ, hội tụ nhiều bậc anh hùng, hào kiệt, văn tài võ lược; Cũng đúng thời kỳ này dòng họ Nguyễn Đức đã nổi tiếng võ công lừng lẫy mà dấu thơm muôn thuở còn truyền Tại nhà thờ Nguyễn Đức
Đại Tổ đường còn lưu lại đôi câu đối “Thế thụ quân ân: Vương, công hầu, bá,
tử/ Thiên xương Nguyễn Đức: Phú, quý, thọ, khang, ninh” (Đời đời nhận ơn
vua, được ban các tước: Vương, công hầu, bá, tử/ Trời phú cho họ Nguyễn Đức được: Phú, quý, thọ, khang, ninh) Sách “Địa phương chí Bắc Ninh qua tư liệu Hán Nôm” của Viện KHXH Việt Nam; sách “Lê Quý kỷ sự” Lê Quý Đôn viết:
“Thời Lê Trung hưng ở thôn Quế Ổ có một dòng họ To và Mạnh nhất Kinh Bắc, đó là dòng họ Nguyễn Đức có đến 8 đời nối nhau làm tướng phò vua giúp nước với 18 Quận công,… Trong Nguyễn Đức tộc phả ghi:… chỉ nói những người có khoa danh, ở đời có tiếng tăm mới kể: 18 Quận Công, 3 Đại Vương, 76 tước hầu, 3 tạo sỹ, 4 vị lấy công chúa, trúng vũ cử 2 ông, thi văn trúng hương cử
4 ông…” Đặc biệt dòng họ đã có đóng góp rất ý nghĩa cho quê hương Tập thơ
“Loa hồ bách vịnh” của Phó bảng Nguyễn Đức Lâm, người làng Phù Lưu ngày nay đã phần nào nói lên cảnh đẹp nơi đây Nhờ đó mà những nét đặc trưng của làng chợ Phù Lưu được truyền trong dân gian để đến nay người ta vẫn nhớ đến
“Phù Lưu” một “làng” nổi tiếng với nghề buôn bán nhưng lại luôn gắn bó đoàn
kết với nhau Trong trang 23 sách Văn hiến Kinh Bắc có ghi [40]:
Trang 21“Phù lưu - Trùng Quán hai dân
Cùng nhau hiệp ước tình thân muôn đời
Dẫu trước sau cơ trời vận hội Vẫn đinh ninh không đổi lời giao”
Dòng họ Nguyễn Xuân bắt đầu hình thành từ cuối thế kỷ XIV Theo bản tộc phả cổ còn lưu ở từ đường xóm Phù Chẩn thì cụ Cao tổ đời đầu của dòng
họ sống vào khoảng năm 1370, đời vua Trần Nghệ Tông, tại xóm Phù Chẩn, huyện Đông Ngàn, trấn Kinh Bắc (nay là xóm Phù Chẩn, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh) Tính đến thời điểm năm 2009, dòng họ đó có đến đời thứ 22 và chia thành 18 chi nhánh, tập trung ở Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên Đây cũng
là một dòng họ có truyền thống khoa cử Gia phả ghi lại: đời thứ 4, thứ 5, 6, 8, 9,10 đều có người đỗ đạt và làm quan trong triều Sau này ở thời hiện đại cũng
có nhiều người có danh vọng (Thứ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Vọng là người thuộc họ Nguyễn Xuân - đời thứ 19)
Dòng họ Ngô ở Vọng Nguyệt, Tam Giang, Yên Phong là một dòng họ khoa bảng ở đất Kinh Bắc Dòng họ đã có 5 đời đỗ tiến sĩ Ngay từ đời cụ tổ thứ nhất là cụ bà Chu Thị Bột đã là một người ăn ở hiền lành tốt bụng, luôn phát thóc gạo cho mọi người nên còn gọi với tên là Thí Thóc Con cháu ngày nay có hai nhánh lớn ở Nghệ An và ở Yên Phong Bắc Ninh Dù hai nơi xa về khoảng cách nhưng sự gắn bó lại bền chặt gần gũi Con cháu cả hai nơi đều làm tốt việc hương khói nhằm tỏ lòng biết ơn và kính trọng tổ tiên mình đã để lại phúc cho con cháu ngày nay Nhà thời họ Ngô ở Nghệ An được công nhân là di tích cấp quốc gia còn ở Quế Võ được công nhận là di tích cấp tỉnh
1.2 Khái quát về xã Đại Lai
1.2.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Đại Lai là một trong 13 xã, thị trấn của huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, nằm ở phía Bắc, Đông Bắc huyện Gia Bình, phía Tây giáp xã Xong Giang,
Trang 22Đông giáp xã Thái Bảo, Nam giáp xã Nhân Thắng, phía Bắc giáp Sông Đuống, bên kia là xã Đào Viên (huyện Quế Võ) Vốn là vùng đất cổ, được hình thành
từ sớm nên Đại Lai có một vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử văn hoá Việt Nam nói chung và văn hiến Kinh Bắc nói riêng Ngay từ rất sớm, làng Trung Thành xã Đại Lai có lò gốm “lò này có từ thế kỷ II sau Công Nguyên, vào loại sớm nhất Kinh Bắc Các vật dụng của đoàn thợ với 16 kiểu dáng, có men và không men ” “Đồ gốm của di chỉ này có nhiều nét gần gũi với Lãng Ngâm (Hà Bắc); Đường Cổ, Nam Chinh (Hà Tây); Chùa Thông (Hà Nội) Hiện vật thu được gồm: 1 bàn niêu và 1 đôi xe chỉ như vậy có thể xếp di chỉ Đại Lai vào giai đoạn Đông Sơn muộn của thời đại đồng thau - sắt sớm Việt Nam” (Qua nghiên cứu khảo cổ học và tài liệu Dư địa chí Hà Bắc do Sở Văn Hóa - Thông
tin xuất bản năm 1982) [6, tr 10].
Xã có diện tích đất tự nhiên là 815 ha, trong đó đất canh tác là 446 ha, dân
số là 7871 người, mật độ dân cư 966 người/km2
(số liệu tháng 9 năm 1999)
Là một xã nằm liền kề bên dòng sông Đuống (sông Thiên Đức) thuộc đồng bằng Bắc Bộ Xã có 4 thôn, nằm trải dài ven đê sông Đuống, đất đai ở đây khá bằng phẳng, nó được bồi tụ bởi hai con sông là Sông Lai (sông cổ ngày xưa, nay chỉ còn dấu tích) và sông Thiên Đức (sông Đuống ngày nay) Do đó đất đai rất màu mỡ, có đê ngăn nước, vùng đất bãi trồng màu, thuận tiện cho phát triển nền kinh tế nông nghiệp khá toàn diện cả trồng trọt và chăn nuôi
Địa hình trong vùng tương đối bằng phẳng, hệ thống giao thông, thuỷ lợi thuận tiện, có đường đê, đường thuỷ sông Đuống chạy dọc theo chiều dài của
xã nên thuận lợi cho việc giao lưu phát triển kinh tế, xã hội của địa phương Hầu hết diện tích đất trong xã đều có độ dốc nhỏ hơn 30 xuôi từ Tây Bắc xuống Đông Nam
Khí hậu nhiệt độ trung bình cả năm là 23,3oC, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất là 29oC tập trung vào tháng 7 đến tháng 8, nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là 15,8oC tập trung vào tháng 1; lượng mưa trung bình 1.400 đến
Trang 231.500 mm, tập trung từ tháng 5 đến tháng 10 chiếm 80% lượng mưa trong năm;
độ ẩm trung bình là 78%
Về thủy văn: xã Đại Lai có một con kênh giữa chảy qua, tạo điều kiện cung cấp nước cho nhu cầu sản xuất nông nghiệp Bên cạnh đó, hệ thống đường thủy xuôi dòng sông Đuống có nhiều bến bãi rất thuận tiện cho giao thông vận chuyển than củi, lương thực, thực phẩm từ Đại Lai, Gia Bình đi ngược về xuôi Tuy nhiên, xã cũng là nơi trũng, có thể úng ngập cục bộ, do nước của các địa phương khác đổ về
Với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi đã tạo điều kiện cho quá trình tụ cư và sinh sống của nhiều dòng họ từ thủa sơ khai Trải qua bao biến cố lịch sử, nhân dân xã Đại Lai luôn luôn kiên cường trong đấu tranh, cần cù và sáng tạo trong lao động, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Người dân nơi đây liên tục đương đầu gánh chịu rất nhiều khó khăn do hậu quả lũ lụt gây ra Điều kiện tự nhiên ấy đã tạo nên sức mạnh của sự đoàn kết, ý chí kiên cường bất khuất của người dân trải trường kỳ trong đấu tranh lao động sản xuất
1.2.2 Lịch sử hành chính
Theo các nguồn tài liệu cổ sử và khảo cổ học tại các xã Thái Bảo, Đại Lai, Lãng Ngâm chúng ta biết được rằng, vùng đất Gia Bình thời Hùng Vương
đã có người Việt tụ cư ở đó Thời các vua Hùng chia nước Văn Lang thành 15
bộ, Gia Bình nằm trong bộ Vũ Ninh Thời Thục Phán - An Dương Vương thì vùng đất Gia Bình ngày nay thuộc bộ lạc An Định Thời thuộc Tần (214 - 209 TCN) Bắc Ninh (trong đó có vùng đất Gia Bình) thuộc Tượng Quận Thời Triệu Đà (208 - 207 TCN) Bắc Ninh thuộc quận Giao Chỉ Như vậy đất Gia Bình khi đó cũng thuộc quận Giao Chỉ Thời thuộc Hán (210 TCN - 40) đất Gia Bình gọi là huyện An Định Thời thuộc Đường (TK VIII) đất Gia Bình là địa phận của hai huyện An Bình và Nam Định
Trang 24Trải qua các đời Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê sáp nhập hai huyện An Bình và Nam Định thành huyện An Định thuộc lộ Bắc Giang Thời thuộc Minh (1414 -
1427 ) huyện An Định thuộc châu Gia Lâm và thuộc phủ Bắc Giang Đầu thời
Lê Quang Thuận (1460 - 1469) huyện An Định được đổi là huyện Gia Định và trực thuộc phủ Thuận An Đời Gia Long (1802 - 1819) huyện lị huyện Gia Định đóng ở xã Bảo Khám Năm Minh Mệnh thứ nhất (1820) huyện Gia Định đổi tên là huyện Gia Bình Từ đầu thời Nguyễn đến năm 1884: huyện Gia
Bình có 8 tổng 68 xã thôn phường sở [43, tr 219] Khi đó tổng Đại Lai có 14
xã phường: Đại Lai xã; Nhân Hữu xã gồm 4 thôn Cầu (làng Ngụ Ngoài), Đào (làng Ngụ Trong), Đoàn, Lê (làng Lời); Gia Phú xã; Bồng Trì xã (làng Đìa); Phương Độ xã; Phùng Xá xã (làng Bùng); Huề Đông xã; Bảo Triện xã; Ngô Cường xã (làng Ngò); Hương Triện xã; Địch Trung xã; Cẩm Xá xã (làng
Vối); Ngọc Triện xã; Bái Giang phường
Thời Pháp thuộc từ năm 1884 - 1945: huyện Gia Bình có 8 tổng và 66 xã
thôn [42, tr 231] Lúc này tổng Đại Lai có 11 xã phường, trong đó xã Phương
Triện gồm 2 thôn Cống (làng Triện Quang) và thôn Trung Thời kỳ kháng chiến chống Pháp 1945 - 1954: các xã Đại Lai, Địch Trung, Huề Đông của tổng Đại Lai hợp thành xã Thái Lai gồm 3 thôn: Đại Lai, Địch Trung, Huề Đông Sang đến thời kỳ kháng chiến chống Pháp 1945 - 1954: các xã Đại Lai, Địch Trung, Huề Đông của tổng Đại Lai hợp thành xã Thái Lai gồm 3 thôn: Đại Lai, Địch Trung, Huề Đông Xã Phương Triện, xã Ngọc Triện của tổng Đại Lai hợp thành xã Bảo Triện gồm 2 thôn Phương Triện và thôn Ngọc Triện Thời kỳ
1963 - 1996: năm 1971 xã Tân Lập đổi thành xã Đại Lai Thời kỳ 1997 - 2009:
xã Đại Lai có 4 thôn: thôn Đại Lai, thôn Huề Đông, thôn Phương Triện và thôn Trung Thành Trải qua các thời kỳ lịch sử, đơn vị hành chính xã Đại Lai đã có nhiều thay đổi Ngày nay xã vẫn gồm 4 thôn: Phương Triện, Huề Đông, Trung
Thành và Đại Lai
Trang 251.2.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Kết cấu kinh tế truyền thống của các làng xã Đại Lai là sự kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp, trong đó, nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng nhất
Về nông nghiệp: Trong khoảng 20 năm từ đổi mới đến nay, tổng diện tích gieo trồng hàng năm là 885ha, năng suất bình quân 60 tạ/ ha/vụ Tổng sản lượng lương thực quy thóc 4.320 tấn; lương thực bình quân đầu người 520
kg/năm; thu nhập bình quân 3.500 nghìn đồng/người/năm (2005) [6, tr 146]
Như vậy nhờ tinh thần cần cù, chịu khó của người dân Đại Lai, năng suất và sản lượng lúa qua từng năm không ngừng tăng trưởng vượt bậc Thu nhập từ nghề nông chiếm gần 50% tổng thu nhập của toàn xã
Bên cạnh các cây lương thực, hoa màu, phong trào trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ cũng có bước phát triển Mỗi năm xã trồng gần 13 nghìn cây các loại, nhiều vườn cây ăn quả đã cho thu hoạch 3 - 5 triệu đồng/ năm Phong trào trồng cây môi sinh, cây bóng mát ở những nơi công sở, khu di tích lịch sử và dọc các tuyến đường liên xã, trong thôn được đẩy mạnh
Ngoài nông nghiệp, dân các làng còn có một số nghề thủ công Tận dụng thời gian nông nhàn, người nông dân đã phát huy tính cần cù, khéo léo và sáng tạo của mình để làm ra những sản phẩm thủ công phong phú và đa dạng Đó là nghề làm quang tre có từ lâu đời ở Phương Triện, được bán khắp vùng sang các tỉnh bạn như Quảng Ninh, Hải Phòng Bên cạnh đó còn một số nghề như nghề đan nia, nghề làm đó tôm
Về thương nghiệp: Với vị trí thuận lợi nằm sát sông Đuống, thuyền bè đi lại thuận tiện, có bến đò ngang nên thương nghiệp ở đây phát triển sớm Chợ Đại Lai được ra đời, là chợ lớn nhất của xã Chợ họp hàng ngày vào cả hai buổi sáng và chiều nhưng đông đúc nhất là vào những ngày chợ phiên Chợ họp mỗi tháng 12 phiên vào các ngày 2, 5, 7, 10 Ngày chợ phiên, người mua người bán tấp nập, họp ra cả đường cái, kéo dài hàng cây số Chợ bán các loại: bánh kẹo,
Trang 26bia, nước ngọt, các loại đồ nhựa, hàng tạp phẩm… phía ngoài chợ có một vài hàng thịt, hoa quả, rau, dưa, hàng ăn…
Đại Lai là một xã nhỏ nhưng dân cư đông đúc, bao gồm rất nhiều dòng
họ Tính đến tháng 10-2004, kể cả khối cán bộ, viên chức đóng trên đất địa phương, dân cư Đại Lai là 14.241 người với 3.702 hộ, trung bình mỗi hộ có 4,16 nhân khẩu Cư dân sống trên đất Đại Lai đều là người Kinh, sống tập trung thành những làng lớn nằm kề nhau Họ sống bằng nhiều nghề nhưng chủ yếu làm nông nghiệp nên bản tính rất chất phác, cần kiệm
Xuất phát từ truyền thống canh tác nông nghiệp lâu đời đã bồi đắp cho cư dân Đại Lai đức tính cần cù chăm chỉ, chịu thương chịu khó bởi nghề nông phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố thời tiết Vì vậy, bản thân những cá thể phải đoàn kết với nhau để chống lại sức mạnh vô hình của tự nhiên Đức tính đoàn kết trong cộng đồng ấy được manh nha từ sự đoàn kết trong mỗi gia đình và trong dòng
họ Ban đầu họ đến từ nhiều vùng quê khác nhau cùng làm ăn và sinh sống trên mảnh đất Đại Lai Trải qua quá trình phát triển đã tạo ra những dòng họ có bề dày lịch sử và văn hóa Theo điều tra, có khoảng 40 dòng họ về đây tụ họp sinh sống Từ lâu đời, các dòng họ đã đùm bọc nhau, không phân biệt nguồn gốc, gắn
bó với xóm làng, dòng sông, đồng ruộng và quê hương
Cư dân ở đây cũng sớm biết kết hợp làm nông nghiệp với các ngành khác như: chài lưới, mộc, cơ khí, buôn bán, dịch vụ Ngoài ra, những nông sản làm
ra được họ đem đi buôn bán ở các chợ trong vùng và các khu vực lân cận Xuất phát từ nền kinh tế nông nghiệp kết hợp với kinh tế thủ công nghiệp đã hun đúc
cư dân nơi đây thành những con người cần cù, chịu khó, khéo léo, bản lĩnh và sẵn sàng đương đầu với mọi khó khăn thử thách
Cư dân Đại Lai cũng rất coi trọng tình huyết thống, vai trò của các chi phái, dòng tộc Việc thờ cúng tổ tiên, ông bà, cha mẹ là một phong tục tốt đẹp được duy trì từ bao đời nay Các dòng họ như Trần Danh, Đoàn Xuân, Đoàn Văn, Phạm Văn, Lê Hữu, Phan, Bùi dù đến sớm hay muộn đều cùng nhau xây
Trang 27dựng tình đoàn kết, thắm đượm tình làng nghĩa xóm, một lòng một dạ xây dựng
và bảo về quê hương ngày càng giàu đẹp
1.2.4 Truyền thống lịch sử - văn hóa
1.2.4.1 Truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm
Đại Lai là miền quê có truyền thống yêu nước nồng nàn Trải qua bao thế
hệ, người Đại Lai luôn có tinh thần đấu tranh, đóng góp sức người sức của vào cuộc đấu tranh chung để bảo vệ độc lập dân tộc
Từ khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam(1858), nhân dân ta từ Nam chí Bắc đã liên tiếp nổi dậy cầm vũ khí chống bọn cướp nước và bán nước nhưng cuối cùng các cuộc khởi nghĩa ấy đều thất bại Giai cấp phong kiến đại biểu là triều đình nhà Nguyễn đã đầu hàng thực dân Pháp Việt Nam từ xã hội phong kiến đã trở thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến Dưới sự thống trị của thực dân Pháp, nhân dân Đại Lai bị áp bức, bóc lột đến tận xương tủy Phát huy truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm của cha ông, nhân dân Đại Lai cùng nhân dân cả nước tích cực tham gia phong trào kháng chiến chống Pháp
do các sĩ phu yêu nước lãnh đạo trong phong trào cần Vương, khởi nghĩa Yên Thế Tại Gia Bình, Lang Tài có khởi nghĩa của Đề Vang đã thu hút hàng nghìn người tham gia…
Ngày 3 - 2 - 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời - một bước ngoặt lớn trong phong trào cách mạng Việt Nam Từ đây, dưới ánh sáng lãnh đạo của Đảng, nhân dân Đại Lai đã tích cực cùng nhân dân cả nước tham gia các cao trào cách mạng: 1930 - 1931, 1936 - 1939, 1939 - 1945
Cuối năm 1944, cơ sở cách mạng ở Đại Lai ngày càng phát triển, là chỗ dựa tin cậy của Đảng, nhân dân Đại Lai kiên cường, bất khuất đấu tranh, đóng góp xứng đáng cho cách mạng Trong thời gian này đồng chí Dương Văn Chiểu
và đồng chí Nguyễn Đức Thắng đã tuyên truyền giác ngộ cho một số thanh niên trong vùng như: Phương Triện, Ngọc Triện, Huề Đông, Địch Trung được giác ngộ và thành lập lực lượng tự vệ bán vũ trang, học tập điều lệ và 10 chính
Trang 28sách của Việt Minh Nhân dân Đại Lai đã kiên cường, bất khuất đấu tranh, đóng góp xứng đáng cho cách mạng Cùng với nhiệm vụ xây dựng, phát triển các cơ sở cách mạng, các đồng chí trong đội công tác ở Đại Lai còn kết hợp với các tổ chức quần chúng ngày đêm bố trí mạng lưới canh gác trên các ngả đường ra vào trong làng xóm, theo dõi bọn hào lý địa phương
Sang tháng 8 - 1945, khi cuộc chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc, thời cơ của cách mạng đã xuất hiện Trước tình hình đó, từ ngày
13 - 15 tháng 8 năm 1945, Hội nghị Toàn quốc của Đảng được họp ở Tân Trào (Tuyên Quang), quyết định thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc và ra Quân lệnh số 1, phát lệnh tổng khởi nghĩa trong cả nước Hưởng ứng lệnh tổng khởi nghĩa, sáng 20 - 8 - 1945 hàng trăm tự vê và quần chúng cách mạng các làng Đại Lai, Trung Thành, Phương Triện, Huề Đông gương cao cờ, biểu ngữ, sẵn sàng vũ khí trong tay là giáo mác, gậy gộc, nai nịt gọn gàng dầm dập đổ về tập trung tại Khoái Khê (Nhân Thắng) phối hợp cùng các xã trong huyện tiến về huyện lỵ Gia Bình (phố Nghĩa Thắng, Đông Cứu ngày nay) Trước đông đảo quần chúng, đồng chí Nguyễn Đức Thắng thay mặt Việt Minh tuyên bố xóa bỏ chính quyền tay sai phát xít Nhật, thành lập ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời huyện Gia Bình Sau đó 15 ngày, ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời huyện
chính thức làm việc do đồng chí Nguyễn Đăng Ngược làm chủ tịch [6, tr 30]
Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công thì thực dân Pháp quay lại xâm lược nước ta Đêm ngày 19 -12 - 1946, tiếng súng kháng chiến toàn quốc
đã bùng nổ tại Thủ đô Hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Đảng
và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Đại Lai đã tích cực chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết cho cuộc chiến đấu bảo vệ tổ quốc, bảo vệ quê hương Do tích cực, chủ động đối phó với địch nên trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chi bộ Đảng đã
tổ chức, lãng đạo nhân dân Đại Lai anh dũng chiến đấu, đẩy lùi các trận càn, lùng sục của thực dân Pháp cũng như tổ chức đánh và phục kích tiêu diệt rất
Trang 29nhiều tên địch Trong cuộc chiến đấu quyết liệt với thực dân Pháp, phát huy truyền thống bất khuất, kiên cường, nhiều đồng chí đã không quản hy sinh, gian khổ, kiên cường bám trụ, giữ đất giành dân, củng cố cơ sở, nhiều người được đứng trong hàng ngũ của Đảng Đầu năm 1950, xã có 81 đồng chí đảng viên do đồng chí Trần Danh Khánh làm bí thư chi bộ Sự hy sinh anh dũng và quyết tâm bảo vệ quê hương của cán bộ, đảng viên và nhân dân Đại Lai đã từng bước đẩy lùi các cuộc tấn công quân sự và âm mưu bình định, chiếm đóng lâu dài của thực dân Pháp đối với Đại Lai Không chỉ trực tiếp kháng chiến chống Pháp tại quê hương mà nhân dân Đại Lai còn tích cực góp phần tham gia cuộc kháng chiến chung của dân tộc Số người gia nhập quân đội trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp là 112 người, trong đó 36 người anh dũng hy sinh tại các chiến trường, số dân công phục vụ các chiến dịch là 175 người Những đóng góp to lớn về sức người, sức của cho tiền tuyến của nhân dân Đại Lai đã góp phần làm nên một
“Chiến thắng Điện Biên chấn động địa cầu”
Chín năm kháng chiến cùng dân tộc, Chi bộ Đảng, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân Đại Lai từng bước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, chiến đấu dũng cảm với kẻ thù để giải phóng quê hương và góp phần vào chiến thắng chung của cả dân tộc Với những đóng góp to lớn trong cuộc kháng chiến chống Pháp, thôn Phương Triện đã vinh dự được Đảng và Nhà
nước phong tặng: Huân chương Kháng chiến hạng ba [6, tr 63]
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, nhân dân Đại Lai cùng nhân dân toàn miền Bắc thực hiện nhiệm vụ chính trị mới Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng bộ và nhân dân Đại Lai đã phấn đấu vượt qua mọi khó khăn, thử thách, từng bước khôi phục, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thật của chủ nghĩa xã hội và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa tiến hành hợp tác hóa nông nghiệp… Trong bối cảnh “tất
cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng giặc Mỹ xâm lược”, việc phát triển phong trào hợp tác hóa nông nghiệp với hình thức làm ăn tập thể đã phát huy
Trang 30tích cực trong việc huy động sức người, sức của cho tiền tuyến và thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội, góp phần quan trọng vào sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Cùng với nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong những năm 1965-
1975, Đảng bộ và nhân dân Đại Lai tích cực chiến đấu bảo vệ quê hương Phát huy truyền thống yêu nước, ý chí kiên cường bất khuất trong cuộc kháng chiến chống Pháp, trong những năm chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, Đảng bộ xã Đại Lai lãnh đạo nhân dân kiên trì bám đất, bám làng, chiến đấu quả cảm đẩy lùi các cuộc tấn công bằng không quân của kẻ thù Không chỉ trực tiếp chiến đấu bắn rơi máy bay Mỹ, nhân dân Đại Lai còn tích cực chi viện cho tiền tuyến với tinh thần “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” Từ năm 1965 - 1975 toàn xã đã có 495 thanh niên vào bộ đội lên đường vào Nam chiến đấu Bên cạnh nhiệm vụ chiến đấu, phục vụ chiến đấu, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ xã, nhân dân Đại Lai gia sức tăng gia sản xuất, từng bước phát triển kinh tế, xây dựng đời sống văn hóa mới, phát triển công tác giáo dục, y tế
Sau ngày thống nhất đất nước, Đại Lai cùng cả nước bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội và đạt được những thành tựu lớn về kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế Đó là tiền đề quan trọng để Đại Lai cùng cả nước vững bước tiến vào thời kỳ đổi mới đất nước
1.2.4.2 Truyền thống văn hoá
Truyền thống khoa bảng
Làm rạng rỡ cho quê hương là những danh nhân thời nào cũng có Nơi đây xuất hiện nhiều tướng tài phò vua giúp nước Nhưng bên cạnh các danh tướng cũng xuất hiện nhiều vị tài cao, học rộng, có người sau khi đỗ đạt làm quan tới chức Thượng thư trong triều đình Qua các khoa thi dưới các triều đại phong kiến, xã Đại Lai có nhiều người đỗ tiến sĩ, tú tài Riêng thôn Trung Thành có 10 người, có phó tướng quân đời nhà Trần Thôn Phương Triện có 7 tiến sĩ, trong đó 1 thám hoa Phạm Khiêm Ích; 3 hoàng giáp Phạm Công Thiện,
Trang 31Trần Danh Ninh, Trần Danh Án; 3 tiến sĩ Trần Phụ Dực, Trần Danh Lâm, Nguyễn Công Tạo Thôn Đại Lai có cụ Nguyễn Doãn Khâm, đậu tiến sĩ năm
1559, làm đến chức Thượng Thư [6, tr 20]
Những vị đỗ đại khoa của vùng đất Đại Lai đều được ghi danh ở Văn Miếu Bắc Ninh Văn Miếu là di tích có giá trị tiêu biểu nhất phản ánh truyền thống hiếu học và khoa cử vẻ vang của vùng Bắc Ninh - Kinh Bắc Công trình này được xây dựng từ thời Lê, là nơi lưu danh của hơn 600 vị Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa,… trong tổng số 3000 vị đại khoa của cả nước
Câu nói truyền miệng của người Bắc Ninh: “Một giỏ ông Đồ, một bồ
ông Cống, một đống ông Nghè, một bè Tiến sỹ, một bị Trạng nguyên, một thuyền Bảng nhãn” thật chẳng ngoa chút nào
Các lễ hội truyền thống:
Lễ hội là nét đẹp văn hóa truyền thống, biểu hiện tính giáo dục cao về truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc, về truyền thống đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam Đại Lai là vùng đất có con người quần
tụ từ rất lâu đời nên ngay rất sớm, con người đã có những lễ hội đặc sắc, thế hiện tình yêu quê hương, xóm làng và đời sống tinh thần phong phú của nhân dân Đại Lai
Đại Lai có tục lên Lão đối với các cụ 50 tuổi, tục nhập Hương ẩm vào ngày 10 - 2 và ngày 10 - 8, hàng năm ở Đại Lai thường vào sổ nhập hương ẩm cho trẻ là con trai vào các kỳ mồng mười tháng Hai, mồng mười tháng Tám là ngày xuân tịch và thu tịch cũng như ngày cúng xôi mới của làng vào khoảng tháng Mười âm lịch hàng năm Khi một đứa trẻ ra đời, vào những ngày trên bố
mẹ sắm cơi trầu, chai rượu ra đình làng làm xin lễ “nhập hương ẩm” còn gọi là vào làng
Một nét đẹp nữa trong đời sống tâm linh của người dân Đại Lai thời xưa
là tục lễ hội được tổ chức hàng năm Vào ngày rằm các làng đều tổ chức lễ tế tại đình làng Trong buổi tế đó, ông đám phải lo liệu cả, Ông đám là ông già
Trang 32được các cụ cắt lượt nhau làm, có ruộng dân cấp để cày cấy thu hoa lợi Ông đám phải làm cỗ, cỗ thường có thịt lợn, bánh dầy, bánh dán, xôi vò Ở Đại Lai
cứ sáu người một cỗ Ở Địch Trung cụ nhất được một cỗ rưỡi, cụ nhì được một
cỗ, cụ ba đến cụ sáu cứ hai cụ một cỗ Ở Phương Triện có bốn giáp, mỗi giáp một năm vào đám một lần Cỗ vào đám gồm bánh dầy (có bánh to bằng cái nia)
cụ cao tuổi nhất được một cái Cúng tế xong chia phần, chia theo hàng giáp
Tiếp đó là tục lệ khao vọng, khao vọng là cá nhân bỏ tiền ra làm cỗ khao làng, mua ngôi thứ, chức vị trong làng xóm, số tiền đó dùng để mua gạch xây cầu quán, làm đường đi ngoài ra còn khao lão, mua chức vị: trương tuần, quản xã Cỗ khao rất to thường có xôi vò, chè kho, bánh dầy, bánh dán Ở Phương Triện: đàn ông đến tuổi 60 có khao được làng thì mới được dự tiệc người khác Ở Địch Trung: người ở nơi khác đến phải mua chỗ ngồi ba lần, lần thứ nhất khi còn trai tráng, lần thứ hai khi lên lão, lần thứ ba lên bàn nhất Còn
ở thôn Đại Lai: nếu là người nơi khác đến, không khao được làng thì khi tế lễ, rước thánh phải khênh trống
Ngày nay, xã Đại Lai có rất nhiều lễ hội, hàng năm các làng thường tổ chức lễ hội vào đầu năm (tháng giêng), riêng làng Đại Lai tổ chức vào tháng
10 Lễ hội các làng thường có các trò chơi như: đánh đu, đấu vật, thi đấu cờ tướng, kéo co,múa dối nước Buổi tối có hát ca trù, múa trống quân
Đối với người dân, lễ hội là dịp vui chơi giải trí, thoát ra khỏi sự nhọc nhằn vất vả sau những ngày lặn lội với đồng ruộng, là nơi để mọi người gặp gỡ nhau Lễ hội còn là dịp để con cháu đi xa trở về xum họp nơi quê cha đất tổ Lễ hội luôn luôn là một nét đẹp truyền thống của mỗi làng quê và dù thế nào thì hàng năm nó vẫn được diễn ra vì đối với mỗi người dân đó là một hoạt động văn hóa tinh thần không thể thiếu
Các di tích lịch sử:
Xã Đại Lai còn có các di tích lịch sử văn hóa Đó là những công trình kiến trúc tôn giáo như: chùa Phúc Linh, chùa Ngọc Hoàng, chùa Phương Triện, cụm di tích họ Trần Danh, đình làng Huề Đông, khu di tích Lệ Chi Viên
Trang 33Chùa Phúc Linh nay thuộc thôn Trung Thành, cách trung tâm huyện 6km
về phía Đông Nam Chùa được xây dựng lớn vào thế kỷ XVII Hiện nay khu vực xung quanh chùa còn lại những dấu tích để lại như: khu di chỉ lò gốm cổ,
có niên đại khoảng từ thế kỷ thứ II đến thế kỷ thứ VI Dù chùa mới được trùng
tu năm 2003 nhưng vẫn giữ nguyên được kiểu kiến trúc ban đầu, mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn Trải qua bao biến động của lịch sử, chùa Phúc Linh vẫn còn bảo lưu được khối lượng hiện vật mang giá trị nghệ thuật cao Có
16 pho tượng, 1 bia đá khắc năm 1832, 1 quả chuông đồng đúc năm 1846, ngoài ra còn có các bức đại tự, câu đối, hương án, các đồ thờ
Chùa Ngọc Hoàng nằm ở phía Đông thôn Đại Lai, được xây dựng từ thời Lê quy mô to rộng với nhiều hạng mục công trình như: Tam bảo, thượng điền, nhà mẫu, nhà tổ, 2 dãy hành lang Trải qua thời gian và chiến tranh chùa
đã nhiều lần tu bổ, sửa chữa, đến nay tòa tam bảo và thượng điền còn nguyên kiểu kiến trúc thời Nguyễn Khu di tích chùa Ngọc Hoàng là một ngôi chùa thờ Phật, chủ yếu là Phật A Di Đà và Phật Quan Âm, hệ thống phật trong chùa đẹp, thanh thoát, đây là điểm nổi bật trong chùa Ngọc Hoàng Ngoài ra, trong chùa còn thờ các hậu phật, đó là những người có công đóng góp lớn cho việc xây dựng chùa, họ xin đặt hậu vào đó để sau khi mất được hương khói quanh năm Hiện trong chùa có 7 tượng hậu được tạc bằng đá xanh, trong đó có 5 tượng nữ và 2 tượng nam, đây cũng là truyền thống văn hóa tốt đẹp của vùng quê Đại Lai
Chùa Phương Triện tên chữ là “Thanh Nương Tự” nằm ở phía Đông Bắc của làng thuộc xóm Đầu Voi Theo lời truyền của các cụ cao tuổi trong làng cho biết xưa kia làng có 2 chùa: chùa Ngoài, tên chữ là Thanh Nương tự và chùa trong tên chữ là Khai Bảo tự, do một gia đình giầu có bỏ tiền ra dựng Chùa Phương Triện (Thanh Nương tự) là công trình tín ngưỡng tiêu biểu của địa phương, được khởi dựng từ khá sớm, trùng tu tôn tạo lớn vào năm 1691 Trải qua bao biến thiên, công trình không còn được như xưa Hiện nay di tích
Trang 34còn lưu giữ nhiều tài liệu, hiện vật cổ quý có giá trị văn hóa như: bia đá, chó
đá, tượng thờ, hoành phi, câu đối Đây là trung tâm tín ngưỡng thờ Phật của nhân dân địa phương, thể hiện rõ bản sắc dân tộc cần được bảo tồn nghiên cứu tìm hiểu
Đình làng Huề Đông: thôn Huề Đông hiện nay có 2 ngôi đình là đình Đông và đình Vật (đình Tây), những công trình văn hóa tín ngưỡng tiêu biểu vốn được nhân dân địa phương xây dựng lâu đời để tôn thờ hai vị thần là Lữ Gia và Doãn Công (Tướng Công), có công đánh giặc giữ nước vào những năm đầu công nguyên Đình Đông vốn được xây dựng từ thời Lê, nguyên xưa 3 mặt
là ao, quy mô kiến trúc kiểu chữ đinh gồm 5 gian 2 chái đại đình, 3 gian hậu cung được lát sàn gỗ, phía trước 2 bên là 2 giải vũ, trước cửa đình có đường độc đạo xuống bãi, góc sân (phía Tây) có một giếng cổ rộng khoảng 70m2
, hàng ngày nhân dân trong làng thường xuyên gánh nước về ăn Còn Đình Tây
là đình nằm trong một khu đất cao ở phía Tây của làng Huề Đông Xưa đình có quy mô khá lớn gồm: đại đình, hậu cung, phía trước 2 bên là 2 giải vũ mỗi bên
ba gian, bên ngoài là hệ thống cổng theo kiểu cột trụ lồng đèn, trước sân là bãi vật khá rộng
Khu di tích Lệ Chi Viên: nằm giáp đê Đại Hà thuộc thôn Đại Lai, vốn là hành cung được khởi dựng từ thời Lý, đến thời Trần Minh Tông đã cho xây dựng lại thành cung Ly Trang, sang thời Hậu Lê cung Ly Trang được tu bổ và xây thêm thành cung Yên Hà và sau đó có tên là Lệ Chi Viên Khu Lệ Chi Viên
là di tích lịch sử văn hóa có cảnh quan đẹp được các triều đại phong kiến Việt Nam chọn làm nơi xây dựng một hành cung quan trọng, được xây dựng từ thời
Lý đến thời Lê mở rộng hơn, một trạm nghỉ ngơi của các vua mỗi dịp từ kinh thành đi dã ngoại tới vùng Đông Bắc đất nước
Trang 35Tiểu kết chương 1
Đại Lai là mảnh đất có diện tích tuy nhỏ nhưng trong nó lại chất chứa những dòng chảy văn hóa lịch sử vô cùng quý giá Với truyền thống lịch sử văn hóa lâu đời có từ thời kỳ Đông Sơn, thời vua Hùng dựng nước, đã giúp người dân nơi đây có những đức tính cần cù chịu khó, xây dựng kinh tế xóm làng Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, nhân dân xã Đại Lai luôn luôn kiên cường trong đấu tranh, cần cù và sáng tạo trong lao động góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Càng khó khăn họ lại càng biết gắn kết, yêu thương, đùm bọc nhau hơn Trong công cuộc chống giặc ngoại xâm hay chống lại thiên tai, họ luôn kề vai sát cánh bên nhau tạo thành một sức mạnh vô địch khó mà công phá được Không bao giờ lùi bước trước gian nguy
mà luôn gần nhau để tạo ra sức mạnh, đức tính ấy được manh nha từ tình đoàn kết yêu thương nhau trong mỗi gia đình và trong dòng họ Mặc dù ban đầu, những người dân chất phác ấy đến từ nhiều vùng quê khác nhau, chưa hề quen biết nhưng cùng làm ăn và sinh sống trên một mảnh đất, họ đã tạo ra những dòng
họ có bề dày lịch sử và văn hóa trên đất Đại Lai Trên mảnh đất này, từ khi mở nước cho đến ngày nay đã trở thành chiếc nôi của nhiều anh hùng hào kiệt, những chiến sĩ cách mạng quả cảm mà sau này trở thành những người con ưu
tú của quê hương, đất nước, giữ những vị trí quan trọng trong cơ quan Đảng và Nhà nước Đó là niềm tự hào của mảnh đất, con người Đại Lai trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai Cũng chính trên mảnh đất này, tổ tiên dòng họ Trần Danh đã đến đây lập nghiệp và sinh sống đến ngày nay, có những đóng góp to lớn đối với lịch sử địa phương và dân tộc
Trang 36Chương 2 NGUỒN GỐC LỊCH SỬ VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA DÒNG HỌ TRẦN
DANH Ở THÔN PHƯƠNG TRIỆN XÃ ĐẠI LAI HUYỆN GIA BÌNH TỈNH BẮC NINH
2.1 Nguồn gốc dòng họ Trần Danh
Phương Triện - Đại Lai một vùng đất cổ thuộc huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh Nơi đây có địa hình giống con voi chầu, thiên nhiên thuận lợi bốn mùa mưa thuận gió hòa tạo điều kiện cho phát triển kinh tế Bởi vậy mà từ rất sớm nơi đây đã có con người đến sinh cơ lập nghiệp, lâu dần tạo thành những cộng đồng làng xóm đông vui, ngày càng được cố kết và mở rộng
Nằm ven sông Đuống, mảnh đất nơi đây vốn được bồi tụ bởi hai con sông là sông Lai (nay chỉ còn dấu tích) và sông Thiên Đức (sông Đuống) nên đất đai màu mỡ, thuận tiện cho việc phát triển nông nghiệp cả về trồng trọt và chăn nuôi Phía Bắc thôn Đại Lai giáp thôn Huề Đông (cùng xã), phía Nam giáp Thôn Hương Triện, xã Nhân Thắng; phía Đông thôn Bảo Ngọc, xã Thái Bảo; phía Tây giáp thôn Xuân Lai, xã Xuân Lai
Ngoài sản xuất nông nghiệp, từ lâu đời người dân Phương Triện còn có nghề làm quang tre nổi tiếng trong cả nước, chính vì vậy mà làng còn được gọi
là làng Triện Quang Xưa kia, làng còn có lệ tế ông tổ nghề hàng năm ở gian bên của đình làng Người làm quang vịnh thơ:
“Bước dọc rồi lại bước ngang
Lạ lùng ai biết cái nghề quang Vòng trôn ngoăn ngoắt ngoan tay ngọc Vào cổ khoan thai nhận gót vàng Nắn nót là nhờ con mắt thép Nẩy nung sẵn có cái dao gang Xong rồi sắp đủ thành trăm chục Khói toả màu tươi, mới đắt hàng”
Trang 37Bài thơ trên đã miêu tả được toàn bộ công việc làm quang từ khâu sản xuất đến bán sản phẩm Nghề làm quang nặng nhọc, vất vả nhưng trong những lúc nông nhàn cũng đã góp phần tăng thu nhập cho người dân nơi đây Ngày nay người dân nơi đây không đơn giản là làm ruộng mà kinh tế xã hội đã thay đổi nhiều hơn xưa Thu nhập của người dân tăng cao (bình quân 60triệu/năm) Các ngành nghề cũng ngày một đa dạng Xưa thì nghề nông chiếm phần lớn trong dân cư nhưng từ năm 2000 trở lại đây nghề làm ruộng đã ngày một ít dần (chiếm 35-40%), còn lại là công nhân, thương nhân, công viên chức nhà nước, nhân viên Điều đó cho thấy con người trên đất Phương Triện đã không ngừng
cố gắng, xây dựng quê hương ngày một giàu đẹp Ngày nay (sau năm 2005) về với vùng quê này, ít ai nghĩ rằng một mảnh đất có nghề làm quang truyền thống ngày nào nay đã khác xưa Nhiều mái nhà cao tầng mọc lên san sát, con đường làng quanh co đã được bê tông hóa Người dân an nhàn, thảnh thơi, đời sống văn hóa tinh thần cũng được nâng cao Hàng năm làng luôn có những thành tích cao về học tập của con em trong thôn: đỗ đại học chiếm 70%, 100% học sinh học hết Trung học cơ sở, 97% học hết trung học phổ thông (năm 2014) Năm 2010, xã Đại Lai thực hiện quy hoạch xây dựng NTM cùng với chương trình mục tiêu quốc gia của cả nước Trong đó có thôn Phương Triện có diện tích 1406km2, số dân với 396 hộ gia đình, đã được quy hoạch xây dựng thêm hai khu dân cư mới: điểm số 1 về phía Đông thuộc vị trí xứ đồng Vườn Câu với diện tích 1,39 (ha); điểm số 2 về phía Tây Nam thuộc vị trí xứ đồng Cửa Đình với diện tích 0,28 (ha), tổng diện tích khoảng 1,67 (ha) lấy hoàn toàn từ đất nông nghiệp Ngoài ra các công trình công cộng thôn, cơ sở hạ tầng cũng được quy hoạch thực hiện trong giai đoạn 2011-2015 Trong đó có công trình công cộng thôn: Nhà văn hóa, sân TDTT cây xanh bố trí phía Tây Nam thôn, giáp với khu dân cư cũ, quy hoạch nâng cấp mở rộng nhà văn hóa hiện trạng sang phía Đông hết phần đất của trường mầm non thôn, diện tích khoảng 0,79 (ha); diện tích sân TDTT cây xanh khoảng 0,77 (ha) Phía Tây Nam thôn phát triển
Trang 38mở rộng khu du lịch Lệ Chi Viên, tổng diện tích khoảng 9,24 (ha) Với nội dung quy hoạch như trên, Ủy ban nhân dân xã hướng đến tổ chức xây dựng mạng lưới các điểm dân cư và các khu vực xây dựng công trình công cộng, tạo nên những không gian cảnh quan kiến trúc có nhịp điệu phong phú, hài hòa sinh động trong khu ở Từ đó tạo ra một tổ chức không gian vui chơi giải trí, không gian cây xanh cho các hoạt động chung của cộng đồng dân cư Trên cơ
sở đó xây dựng sự gắn kết các khu dân cư hiện hữu với các khu dân cư quy hoạch mới đảm bảo kế thừa hệ thống hạ tầng kỹ thuật cũ đồng thời nghiên cứu chỉnh trang bổ sung các chức năng còn thiếu đảm bảo phát triển hài hòa, ổn định và bền vững
Nằm giữa một vùng quê có truyền thống hiếu học và khoa bảng, nhân dân Phương Triện - Đại Lai rất coi trọng việc học, được thể hiện qua số ruộng
mà các làng dành cho việc học hành gọi là ruộng học điền Làng Phương Triện xưa là một làng có nhiều văn nhân đỗ đạt cao nên có câu:
Bao giờ chùa Địch hết cây Sông Lai hết nước Triện dày hết quan
Theo sách Các vị đại khoa tỉnh Bắc Ninh thời kỳ phong kiến toàn huyện
Gia Bình có 32 vị Tiến sỹ, riêng làng Phương Triện có 6 vị, chiếm 1/5 tổng các
vị đại khoa toàn huyện đó là: Phạm Công Thiện (1649-1713) năm 13 tuổi đỗ
Hương cống, năm 32 tuổi đỗ Đệ nhị giáp tiến sỹ xuất thân đệ nhất danh (Hoàng giáp) khoa Canh Thân niên hiệu Vĩnh Trị 5 (1680) đời vua Lê Hy Tông Ông
làm quan đến chức Tham chính sứ Thanh Hoá Trần Phụ Dực (1655-1713)
năm 29 tuổi đỗ đệ tam giáp đồng tiến sỹ xuất thân khoa Quý Hợi niên hiệu Chính Hoà 4 (1683) đời vua Lê Hy Tông Ông từng đảm nhiệm các chức vụ như Giám sát đạo Hải Dương, Giám sát ngự sử đạo Sơn Tây, Hiến sát sứ Hưng
Hoá, Cấp sự trung Lễ khoa, Đốc đồng Sơn Nam Phạm Khiêm Ích
(1679-1741) năm 32 tuổi đỗ Đình nguyên Đệ nhất giáp tiến sỹ cập đệ tam danh (Thám hoa) khoa Canh Dần niên hiệu Vĩnh Thịnh 6 (1710) đời Lê Dụ Tông
Trang 39Ông từng qua các chức vụ như Thượng thư bộ Hình, Hộ bộ Tả thị lang, Đông các đại học sỹ, Thượng thư bộ Binh gia phong Thiếu bảo, thượng thư bộ Lễ, năm Quý Mão (1723) được triều đình cử đi sứ nhà Thanh, về sau được thăng lên chức Thái tể Rồi những tên tuổi như Trần Danh Ninh, Trần Danh Lâm, Trần Danh Án trở thành những tâm gương sáng về học hành cho các thế hệ con cháu nơi đây noi theo
Trải thăng trầm của lịch sử, thời gian và chiến tranh đến nay Phương Triện vẫn giữ được hệ thống các di tích lịch sử văn hoá, các di tích tâm linh tín ngưỡng của dân làng như đình làng Phương Triện, chùa làng “Thanh Lương tự” một trong những danh lam cổ tự được xây dựng từ thế kỷ XVII Theo văn
bia “Thanh Lương tự bi”, khắc vào năm Tân Mùi, niên hiệu Chính Hoà 12
(1691) còn lưu tại chùa Thanh Lương cho biết “…Người xưa lấy chữ Bảo đặt tên cho làng vì đây là nơi cổ địa danh lam có tiếng trong thiên hạ có phật điện, tiền đường rộng rãi…” Hội chùa được tổ chức rất long trọng hàng năm vào ngày 15/4 (âm lịch):
"Hàng năm đến rằm tháng tư Không xem hội Triện cũng hư mất đời"
Sinh sống ở làng Phương Triện hiện có 10 dòng họ, các dòng họ trong thôn đều có nhà thờ họ như: họ Đoàn Xuân, họ Phạm Văn, họ Trần Danh, họ
Lê Hữu, họ Nguyễn Huy, họ Đoàn Văn… Hàng năm vào ngày giỗ tổ con cháu toàn gia tộc lại tề tựu đông đủ cùng nhau ôn lại truyền thống tự hào của gia tộc Trong số đó, không thể không nhắc tới truyền thống hiếu học và khoa bảng của dòng họ Trần Danh, một dòng họ nổi tiếng thời Lê Trung Hưng
Trong tác phẩm “Họ và tên người Việt Nam” của Tiến sĩ Lê Trung Hoa
đã đưa ra khái niệm về “Họ”: “Họ vốn chỉ một tập hợp người cùng tổ tiên, cùng một dòng máu Chẳng hạn họ nội ngoại” (26, tr 28) Họ được dùng để phân biệt một tập hợp người cùng tổ tiên, dòng máu này với một tập hợp cùng tổ tiên dòng máu khác Họ luôn đi đôi với tên chính (và cả tên đệm, nếu có) và góp
Trang 40phần cá thể hóa, phân biệt người này với người khác Trong lịch sử các dòng họ Việt Nam thì có rất nhiều dòng họ và mỗi dòng họ đều có nguồn gốc, cội nguồn khác nhau Việc tìm hiểu nguồn gốc dòng họ giúp chúng ta thấy hết được quá trình hình thành và phát triển của một dòng họ Từ đó thấy được cái riêng của mỗi dòng họ trong cái chung của lịch sử quốc gia
Từ ngàn xưa ông cha ta đã luôn có ý thức lưu giữ lịch sử để lại cho con cháu về sau Đặc biệt với mỗi dòng họ nói chung và dòng họ Trần Danh nói riêng, đã ghi chép Gia phả để ghi lại nguồn gốc của tổ tiên, dòng họ mình Trong các cuốn gia phả, phần mở đầu thường là ghi gốc tích của dòng họ mình:
từ đâu tới, hay từ họ nào chuyển tên; tên tuổi và công tích của ông Tổ, người khai cơ lập nên dòng họ… Với dòng họ Trần hay đúng hơn là triều đại nhà Trần, khi nhắc đến luôn gợi cho chúng ta nhớ về một thời kỳ huy hoàng của đất nước ở thế kỷ XIII-XV, với vũ công ba lần đánh thắng quân Nguyên Mông Nước Đại Việt thời Trần (1226-1400) là một cường quốc của khu vực Đông Nam Á Sau khi thành lập, nhà Trần đã nhanh chóng chấm dứt tình trạng loạn lạc cuối thời Lý (1009-1225), ổn định tình hình chính trị và thúc đẩy sự phát triển mọi mặt của đất nước Nền văn minh Đại Việt được các vương triều Ngô, Đinh, Tiền Lê, chuẩn bị điều kiện sau hơn một nghìn năm Bắc thuộc, được nhà
Lý xây đắp, đã phát triển đến đỉnh cao trong thời Trần Vậy dòng họ Trần Danh với triều đại nhà Trần có sự liên quan đến nhau chăng Căn cứ vào gia phả của dòng họ Trần Danh đã cho chúng ta thấy Cụ Thủy tổ họ Trần ở Bảo Triện tên tự
là Thuần Đạo, cụ bà là Chinh Tiết, quê ở làng Tức Mạc, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định Nay là thôn Tức Mạc, xã Lộc Vượng, tỉnh Nam Định Cụ thuộc dòng dõi hoàng tộc nhà Trần sinh vào cuối thế kỷ thứ XV ở Hương Tức Mặc, xã Lộc Vượng, phủ Thiên Trường (nay thuộc ngoại thành Nam Định)
Cụ Thuần Đạo là người được học hành đến nơi đến chốn và có tầm nhìn
xa trông rộng Thấy xứ Kinh Bắc là đất ngàn năm văn hiến, địa linh nhân kiệt,