LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đề tài luận văn “Kinh tế nông nghiệp châu Văn Lãng, tỉnh Thái Nguyên nửa đầu thế kỷ XIX” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, nội dung đề tài luận văn có sử
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đàm Thị Uyên
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn “Kinh tế nông nghiệp châu Văn Lãng, tỉnh Thái Nguyên nửa đầu thế kỷ XIX” là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, nội dung đề tài luận văn có sử dụng tài liệu, thông tin được đăng tải trên các báo, tạp chí và một số cuốn sách (đã nêu ở phần Tài liệu tham khảo)
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng trong công trình nghiên cứu nào Các trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng
6 năm 2017
Hoàng Thị Thơm
Trang 3Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đ
4 năm 2017
Hoàng Thị Thơm
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
D iv
D , biểu đồ v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nhiệm cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của luận văn 7
7 Cấu trúc của luận văn 7
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ CHÂU VĂN LÃNG, TỈNH THÁI NGUYÊN 10
1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 10
1.2 Lịch sử hành chính châu Văn Lãng 13
1.3 Các thành phần dân tộc 16
1.3.1 Dân tộc Tày 18
1.3.2 Dân tộc Nùng 20
1.3.3 Dân tộc Kinh 21
1.3.4 Dân tộc Sán Chay 22
1.3.5 Dân tộc Dao 23
1.4 Văn hoá, xã hội 25
Chương 2 SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT Ở CHÂU VĂN LÃNG NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX 25
2.1 Tình hình ruộng đất ở châu Văn Lãng theo địa bạ năm Gia Long 4 (1805) 32
2.2 Sở hữu ruộng đất ở châu Văn Lãng theo địa bạ Minh Mệnh 21 (1840) 44
Trang 52.3 So sánh sở hữu ruộng đất ở châu Văn Lãng nửa đầu thế kỷ XIX theo địa
bạ Gia Long 4 (1805) và Minh Mệnh 21 (1840) 51
2.4 Chế độ tô thuế 57
Chương 3 SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở CHÂU VĂN LÃNG NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX 63
3.1 Trồng trọt 63
3.1.1 Canh tác lúa nước 68
3.1.2 Canh tác nương rẫy 75
3.2 Chăn nuôi 82
3.3 Kinh tế tự nhiên 88
3.3.1 Hái lượm 88
3.3.2 Săn bắn 89
3.3.3 Đánh cá 90
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96 PHỤ LỤC
Trang 6ĐHSP : Đại học Sư phạm
KHXH : Khoa học Xã hội
M.s.th.t : Mẫu, sào, thước, tấc Ví dụ: 10 mẫu 1 sào 3 thước 5 tấc
viết tắt là 10.1.3.5 Nxb : Nhà xuất bản
Trang 7, BIỂU ĐỒ
Trang
Bảng 1.1: Bảng thống kê các dân tộc huyện Đại Từ 18
Bảng 2.1 Tình hình ruộng đất năm Gia Long 4 (1805) 34
Bảng 2.2 Bình quân sở hữu ruộng đất của một chủ và bình quân số thửa theo địa bạ Gia Long 4 (1805) 37
Bảng 2.3 Quy mô sở hữu ruộng đất theo địa bạ Gia Long 4 (1805) 38
Bảng 2.4 Thống kê sở hữu ruộng đất theo giới tính 39
Bảng 2.5 Quy mô sở hữu ruộng đất của các nhóm họ 41
Bảng 2.6 Sở hữu ruộng đất của các chức sắc theo địa bạ Gia Long 4 (1805) 42
Bảng 2.7 Thống kê tình hình ruộng đất châu Văn Lãng năm Minh Mệnh 21 (1840) 44
Bảng 2.8 Tình hình phân bố ruộng đất theo địa bạ Minh Mệnh 21 (1840) 45
Bảng 2.9 Quy mô sở hữu ruộng đất theo địa bạ Minh Mệnh 21 (1805) 46
Bảng 2.10 Bình quân sở hữu ruộng đất của một chủ và bình quân số thửa theo địa bạ Minh Mệnh 21 (1840) 47
Bảng 2.11 Thống kê quy mô sở hữu ruộng đất của các nhóm họ 48
Bảng 2.12 Sở hữu ruộng đất của các chức sắc 49
theo địa bạ Minh Mệnh 21 (1840) 49
Bảng 2.13 Sự phân bố các loại ruộng đất ở hai thời điểm 1805 và 1840 51
Bảng 2.14 So sánh quy mô sở hữu ruộng đất tư ở hai thời điểm 1805 và 1840 52
Bảng 2.15 So sánh quy mô sở hữu của các nhóm họ 54
Bảng 2.16 So sánh tình hình sở hữu ruộng đất của các chức sắc năm 1805 và 1840 56 Bảng 2.17 Biểu thuế ruộng công tư năm 1803 58
Bảng 2.18 Biểu thuế thời Minh Mệnh (1840) 60
Biểu đồ 2.1: Quy mô sở hữu ruộng đất của châu Văn Lãng năm 1805 38
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo sư Trần Văn Giàu từng viết: “Trải qua mấy ngàn năm, nước ta vẫn
là một xứ nông nghiệp và lấy xã thôn làm đơn vị cơ sở Tới đầu thế kỷ XIX cương vực nước ta mới ổn định và thống nhất về mặt hành chính suốt từ ải Nam Quan tới mũi Cà Mau, gồm khoảng 18.000 làng với các tên gọi khác nhau như xã, thôn, phường, giáp, điếm, ấp, lân, trang, trại, man, sách Làng nước gắn bó xương thịt với nhau, vì nước là thân thể, còn làng là chi thể Cả làng và nước đều sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước
Cho nên, hai vấn để nông nghiệp và xã thôn là vô cùng quan trọng đối
với sự tồn vong, lớn mạnh của dân tộc ta ” [8, tr 5]
Việt Nam đã là một nước nông nghiệp từ rất lâu đời, kinh tế nông nghiệp giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế của Việt Nam Trong thời quân chủ, kinh tế nông nghiệp càng thể hiện vai trò quan trọng của mình, nó là cơ sở kinh
tế, chính trị, xã hội cho sự tồn tại của các vương triều phong kiến Do đó, các triều đại quân chủ Việt Nam luôn tìm mọi phương thức khác nhau để quản lý chặt chẽ vấn đề ruộng đất và phát triển kinh tế nông nghiệp để đảm bảo ổn định đời sống nhân dân, ổn định chính trị trong nước, giữ vững chủ quyền quốc gia
Tìm hiểu kinh tế nông nghiệp nói chung và ruộng đất nói riêng nhằm, góp thêm những hiểu biết về tình hình ruộng đất và kinh tế nông nghiệp ở một địa phương và trong một giai đoạn lịch sử nhất định, sẽ giúp chúng ta có những hiểu biết căn bản, về tình hình kinh tế, xã hội, đời sống các tầng lớp nhân dân ở địa phương trong giai đoạn lịch sử đó
Việc nghiên cứu kinh tế nông nghiệp ở mỗi địa phương nhằm cho chúng
ta có những hiểu biết căn bản về trình độ quản lý ruộng đất, tập quán sản xuất,
sinh hoạt Với những lý do trên tôi quyết định chọn đề tài “Kinh tế nông nghiệp châu Văn Lãng, tỉnh Thái Nguyên nửa đầu thế kỷ XIX” làm đề tài
luận văn thạc sĩ của mình Thông qua đó tôi hy vọng đóng góp một phần nhỏ bé
Trang 9của mình vào việc tìm hiểu các chính sách về ruộng đất, sự phân hoá xã hội và tập quán sản xuất nông nghiệp của châu châu Văn Lãng, tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ XIX
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Vấn đề kinh tế nông nghiệp thời nào cũng vậy luôn đóng vai trò hết sức quan trọng đối kinh tế đất nước Vì thế, từ lâu đã được các nhà sử học quan
tâm, ghi chép lại trong các cuốn sách cổ, tiêu biểu như: Lịch triều hiến chương
loại chí, Đại Nam nhất thống chí, Kiến văn tiểu lục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Đồng Khánh địa dư chí
Trước hết là cuốn “Đất nước Việt Nam qua các đời” của tác giả Đào Duy Anh, Nxb Thuận Hóa, Huế, xuất bản năm 1994 Đây là tác phẩm tập trung nghiên cứu địa lý hành chính, cương vực của nước Việt Nam và vị trí các khu vực hành chính trải qua các đời từ Văn Lang – Âu Lạc, qua thời kỳ Bắc thuộc , trải đến thời tự chủ và cho đến thời nhà Nguyễn
Vào cuối thập kỷ 50 và đầu thập kỷ 60 của thế kỷ XX, đã xuất hiện nhiều
công trình nghiên cứu, trong đó tiêu biểu là cuốn: “Chế độ ruộng đất và kinh tế
nông nghiệp thời Lê sơ” của tác giả Phan Huy Lê do Nhà xuất bản Văn Sử Địa,
Hà Nội xuất bản năm 1959, gồm 214 trang Trong tác phẩm này, tác giả trình bày những nét lớn về chính sách ruộng đất, nông nghiệp của nhà Lê sơ thế kỷ
XV, các hình thức sở hữu, chiếm hữu ruộng đất, địa tô và sự bóc lột địa tô Kể từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, đây là cuốn sách đầu tiên chuyên về đề tài này của giới sử gia, dựa trên cơ sở các bộ sử cũ của các sử gia phong kiến Mặc
dù cuốn sách không đề cập đến tình hình ruộng đất và kinh tế nông nghiệp châu Văn Lãng tỉnh Thái Nguyên nửa đầu thế kỷ XIX, nhưng đây là một trong những tài liệu quan trọng để chúng tôi có thêm nhận thức trong quá trình hoàn thiện luận văn
Từ những năm cuối thập kỷ 70, đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, một số công trình chuyên khảo khá quy mô và công phu nghiên cứu về vấn đề ruộng
Trang 10đất Trong chuyên khảo “Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ
XIX” (Nxb KHXH, Hà Nội, 1979), dựa trên những bộ chính sử của triều
Nguyễn, tác giả Vũ Huy Phúc đã hệ thống hoá nội dung, bản chất những chính sách lớn về ruộng đất của triều Nguyễn và kết cấu ruộng đất hình thành từ chính sách đó, cũng như tác động, hậu quả của nó đối với yêu cầu phát triển của lịch sử kinh tế, xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX Nội dung của tác phẩm không trực tiếp đề cập đến châu Văn Lãng tỉnh Thái Nguyên, nhưng đây
là một trong những tài liệu quan trọng giúp chúng tôi tìm hiểu về chế độ ruộng đất của Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XIX
Tác giả Trương Hữu Quýnh trong chuyên khảo “Chế độ ruộng đất Việt
Nam thế kỷ XI-XVIII” gồm 2 tập (Nxb KHXH, Hà Nội, 1982,1983), đã phác thảo
những nét chính về chế độ ruộng đất Việt Nam từ thế kỷ XI đến thế kỷ XVIII, qua
đó bước đầu vạch ra xu thế phát triển chủ yếu cũng như tính chất kinh tế, xã hội của nó Trong chuyên khảo bên cạnh việc sử dụng tư liệu chính sử tác giả còn sử dụng nguồn tư liệu địa phương rất phong phú (bao gồm gia phả, văn bia ) Vì vậy chuyên khảo là một nguồn tài liệu quan trọng cung cấp những tư liệu quý báu, có giá trị về vấn đề sở hữu ruộng đất cho người đọc, người nghiên cứu lịch sử
Trong tác phẩm “Kinh tế thời nguyên thuỷ ở Việt Nam” xuất bản năm
1970, tác giả Đặng Phong trình bày, phân tích một cách sâu sắc về các ngành kinh
tế ở Việt Nam như hái lượm, săn bắt, trồng trọt, chăn nuôi, các ngành thủ công
Năm 1997, hai tác giả Trương Hữu Quýnh, Đỗ Bang đã cho xuất
bản tác phẩm Tình hình ruộng đất, nông nghiệp và đời sống nông dân
dưới triều Nguyễn do Nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành Tác giả vẽ lại bức
tranh cụ thể về tình hình ruộng đất chủ yếu thông qua tài liệu địa bạ Các chính sách về nông nghiệp đặc biệt là các chính sách về ruộng đất dưới triều Nguyễn Bên cạnh đó, các tác giả còn nêu được một số nội dung về đời sống nông dân dưới triều Nguyễn
Trang 11Bên cạnh các cuốn sách nói trên còn có nhiều bài viết đề cập đến vấn
đề này được đăng tải trên các tạp chí nghiên cứu lịch sử, nghiên cứu kinh tế, dân tộc học của các tác giả như: Hà Văn Tấn và Phạm Thị Tâm, Nguyễn Hồng Phong, Trương Hữu Quýnh, Nguyễn Đức Nghinh, Phan Đại Doãn, Vũ Huy phúc, Vũ Văn Quân - Nguyễn Quang Ngọc, Đào Tố Uyên, Nguyễn Cảnh Minh Các bài viết của những tác giả nêu ở trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của chế độ sở hữu ruộng đất và kinh tế nông nghiệp trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XX
Ngoài ra còn có thể kể đến một số công trình nghiên cứu có giá trị như:
luận án “Công cuộc khẩn hoang thành lập huyện Kim Sơn (1829)” (1991), của
tác giả Đào Tố Uyên Công trình đã chỉ ra những điểm cơ bản và diễn biến của chế độ ruộng đất ở huyện Kim Sơn nửa đầu thế kỷ XIX Luận án Huyện Quảng Hoà (tỉnh Cao Bằng) từ khi thành lập đến giữa thế kỷ XIX” (2000) của tác giả Đàm Thị Uyên đã làm rõ tình hình kinh tế, chính trị xã hội của huyện Quảng Hoà (tỉnh Cao Bằng), đặc biệt tác giả quan tâm nghiên cứu sâu về ruộng đất, kinh tế nông nghiệp của huyện Quảng Hoà dưới triều Nguyễn
Luận văn thạc sĩ “Sở hữu ruộng đất và kinh tế nông nghiệp ở huyện Đại
Từ (Thái Nguyên) nửa đầu thế kỷ XIX” của tác giả Hoàng Xuân Trường, bảo vệ tại Đại học Sư phạm Thái Nguyên năm 2012 Luận văn đã trình bày đặc điểm tự nhiên, thành phần dân tộc, tình hình ruộng đất, sự phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện Đại Từ, một huyện giáp gianh với châu Văn Lãng xưa
Luận văn thạc sĩ “Ruộng đất và kinh tế nông nghiệp ở huyện Bảo Lạc
(Cao Bằng) nửa đầu thế kỷ XIX” của tác giả Chu Thu Hương, bảo vệ tại Đại
học Sư phạm Thái Nguyên năm 2014 Luận văn đã trình bày khái quát đặc điểm tự nhiên, thành phần dân tộc, đi sâu nghiên cứu về tình hình ruộng đất, sự phát triển kinh tế, nông nghiệp của huyện Bảo Lạc, một huyện vùng cao của tỉnh Cao Bằng
Trang 12Cuốn “Địa chí Thái Nguyên”, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, xuất bản
năm 2009 Cuốn sách đã trình bày cụ thể về kinh tế, văn hóa, xã hội của cả tỉnh Thái Nguyên cũng như các huyện trên địa bàn tỉnh
Như vậy, cho đến nay chưa có một công trình nào đi sâu tìm hiểu về vấn đề “Kinh tế nông nghiệp châu Văn Lãng, tỉnh Thái Nguyên nửa đầu thế
kỷ XIX” Bởi vậy, còn nhiều vấn đề quan trọng chưa được làm sáng tỏ như vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, nguồn gốc dân tộc, chế độ sở hữu ruộng đất, kinh
tế nông nghiệp Song, chúng tôi vẫn xem thành quả của những nhà nghiên cứu đi trước là ý kiến gợi mở quý báu, tạo điều kiện cho tôi hoàn thành tốt luận văn thạc sĩ của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nhiệm cứu
- Mục đích: Đề tài “Kinh tế nông nghiệp châu Văn Lãng, tỉnh Thái Nguyên nửa đầu thế kỷ XIX”, tác giả mong muốn phản ánh một cách khách quan, khoa học tình hình sở hữu ruộng đất và kinh tế nông nghiệp của châu Văn Lãng nửa đầu thế kỷ XIX nhằm làm rõ tình hình ruộng đất cũng như hoạt động sản xuất nông nghiệp Từ đó bước đầu phân tích và đưa ra một số nhận xét sơ bộ về tình hình sở hữu ruộng đất và cơ cấu kinh tế của châu Văn Lãng thời điểm này Ngoài ra, còn góp phần nâng cao kiến thức chuyên môn cho bản thân phục vụ cho công tác học tập và giảng dạy
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Bước đầu nghiên cứu tương đối cụ thể về: Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, dân cư, tình hình kinh tế - xã hội của châu Văn Lãng, tỉnh Thái Nguyên trong quá khứ và hiện tại Nội dung chính cần phải làm rõ là tình hình ruộng đất và sản xuất nông nghiệp châu Văn Lãng nửa đầu thế kỷ XIX
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
-
Trang 13+ Phạm vi thời gian: Nửa đầu thế kỷ XIX
+ Phạm vi không gian: Tác giả tập trung nghiên cứu châu Văn Lãng theo
địa giới lãnh thổ nửa đầu thế kỷ XIX với 4 tổng 19 xã
5 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tài liệu
- Đề tài nghiên cứu khai thác, sử dụng nguồn tư liệu bao gồm một số
cuốn sách và địa chí cổ như: dư
, Các sách chuyên khảo
và các bài viết đề cập đến lịch sử, văn hóa người Tày, Nùng, Kinh… Của các cơ quan nghiên cứu và các nhà khoa học
Bên cạnh đó là tài liệu nghiên cứu về ruộng đất và kinh tế nông nghiệp
như: “Chế độ ruộng đất Việt Nam thế kỷ XI-XVIII”, tập I và tập II của tác giả
Trương Hữu Quýnh, “Tìm hiểu chế độ ruộng đất Việt Nam nửa đầu thế kỷ XIX”
(Nxb KHXH, Hà Nội, 1979)” của Vũ Huy Phúc, “Nghiên cứu địa bạ triều
Nguyễn” của Nguyễn Đình Đầu Các bài viết đề cập đến vấn đề này trong “Nông
thôn Việt Nam trong lịch sử” (2 tập) (Nxb KHXH, Hà Nội, 1991, 1993)
- Nguồn tư liệu địa bạ: Luận văn sử dụng 19 đơn vị địa bạ Trong đó có 11
đơn vị địa bạ có niên đại Gia Long 4 (1805), 8 đơn vị địa bạ có niên đại Minh Mệnh
21 (1840) Có 5 xã có địa bạ ở hai thời điểm 1805 và 1840 Các bản địa bạ đều là bản chính, hiện đang lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ Quốc gia I Hà Nội, tất cả các xã của châu Văn Lãng đều có địa bạ, đó là cơ sở để cho chúng tôi khôi phục tình hình ruộng đất của châu Văn Lãng tỉnh Thái Nguyên nửa đầu thế kỷ XIX
Ngoài ra đề tài còn khai thác, sử dụng một số nguồn tư liệu khác như:
Nguồn tư liệu địa phương (Địa chí Thái Nguyên ); Nguồn tư liệu điền dã đó là
những bài ca dao, tục ngữ địa phương, những hình ảnh có đề cập đến vấn đề
ruộng đất và kinh tế nông nghiệp
5.2 Phương pháp nghiên cứu: Thực hiện đề tài này tác giả đã sử dụng phương
pháp lịch sử, phương pháp logic, là hai phương pháp chính, kết hợp với
Trang 14hệ thống hoá bằng các biểu bảng, nhằm làm rõ vấn đề nghiên cứu Trên cơ sở thực tế là nguồn địa bạ triều Nguyễn, tác giả đặc biệt chú ý khâu giám định tư liệu để thấy được mức độ chính xác của nó Đồng thời tác giả kết hợp các nguồn tư liệu khác để hoàn thiện luận văn, sử dụng phương pháp phân tích định lượng để xử lý nguồn tư liệu trong địa bạ
Phương pháp đồng đại và lịch đại giúp c
ă
6 Đóng góp của luận văn
- Lần đầu tiên công bố 19 tập địa bạ của châu Văn Lãng được khai thác tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I Hà Nội
- Từ những tư liệu địa bạ luận văn chỉ ra tình hình ruộng đất và sản xuất nông nghiệp của châu Văn Lãng ở nửa đầu thế kỷ XIX Đồng thời cho chúng ta thấy được phong tục, tập quán, tín ngưỡng sản xuất của nhân dân địa phương giai đoạn nửa đầu thế kỷ XIX
- Luận văn góp thêm tư liệu cho việc biên soạn lịch sử địa phương và
là tài liệu tham khảo cho tác giả và nhân dân địa phương trong việc học tập, giảng dạy lịch sử địa phương và tộc người
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung của luận văn được chia làm 3 chương
Chương 1: Khái quát vể châu Văn Lãng, tỉnh Thái Nguyên
Chương 2: Sở hữu ruộng đất ở châu Văn Lãng nửa đầu thế kỷ XIX
Chương 3: Sản xuất nông nghiệp ở châu Văn Lãng nửa đầu thế kỷ XIX
Trang 15BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH TỈNH THÁI NGUYÊN
( Nguồn: Tác giả biên vẽ )
Trang 17Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ CHÂU VĂN LÃNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý
Văn Lãng là một châu thuộc Phủ Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn nửa đầu thế kỷ XIX, nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Thái Nguyên Địa giới của
châu vào nửa đầu thế kỷ XIX đã được sách Đại Nam nhất thống chí chép như
sau: “Huyện Văn Lãng ở cách phủ 44 dặm về phía đông nam, đông tây cách nhau 36 dặm, phía đông đến địa giới huyện Phú Lương 21 dặm, phía tây đến địa giới huyện Sơn Dương tỉnh Sơn Tây 15 dặm, phía bắc đến địa giới châu Định 21 dặm, không rõ tên huyện đặt từ đời nào Trước thuộc phủ Phú Bình do phiên thần họ Ma nối đời quản trị” [29, tr 183]
Sách Đồng Khánh địa dư chí miêu tả chi tiết về vị trí của châu Văn
Lãng ở nửa đầu thế kỷ XIX như sau: “Huyện lỵ nguyên đặt ở xã Thượng Lãm, năm Tự Đức 4 (1851) vâng chỉ giám bỏ, do phủ Thông Hoá kiêm nhiếp Huyện hạt ở phía đông nam cách phủ lỵ 44 dặm, phía đông giáp xã Phủ Lý huyện Phú Lương, phía Tây giáp xã Trúc Đạm huyện Sơn Dương tỉnh Sơn Tây, phía nam giáp xã Phú Minh Thượng huyện Đại Từ, phía bắc giáp 2 xã Phúc Nhiêu, Quảng Nạp thuộc Định Châu Đông tây cách nhau 36 dặm Nam
bắc cách nhau 36 dặm” [41, tr 809]
Trước Năm 1835 châu Văn Lãng thuộc phủ Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, năm Minh mệnh thứ 16 (1835) nhà Nguyễn tách Châu Định Hoá và 3 huyện Văn Lãng, Đại Từ, Phú Lương ra khỏi Phủ Phú Bình và đặt làm phủ Tòng Hoá
“Năm Minh Mạng thứ 12 (1831) chia tỉnh hạt gọi là tỉnh Thái Nguyên, đặt các chức bố chánh và án sát dưới quyền tổng đốc Ninh – Thái Năm thứ 16 trích lấy
4 châu huyện là Định Châu, Văn Lãng, Đại Từ và Phú Lương đặt thành phủ
Tùng Hoá, các phủ huyện đầu đổi đặt lưu quan” [29, tr 178]
Như vậy, địa bàn châu Văn Lãng hiện nay là khu vực phía Bắc của huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên bao gồm các xã: Yên Lãng, Minh Tiến, Phúc Lương,
Trang 18Đức Lương, Phú Cường, Na Mao, Phú Thịnh, Bản Ngoại, Phú Lạc, Phú Xuyên, Tân Linh, Phúc Linh Khu vực này giáp với huyện Định Hoá, Phú Lương tỉnh Thái Nguyên và huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên Quang ngày nay
Điều kiện tự nhiên
Châu Văn Lãng nay là khu vực phía Bắc của huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, khu vực này dưới sự tác động của quá trình vận động địa chất đã quy định đặc điểm của địa hình nơi đây là vùng trung du và miền núi
Châu Văn Lãng là vùng đất ít sông, suối, nhiều núi Sách Đồng Khánh
địa dư chí chép về địa hình núi sông Văn Lãng như sau: “Toàn hạt đều là núi,
nhưng không núi nào có tên Một dòng sông từ giáp địa phận Định Châu chảy quanh huyện lỵ rồi chảy về nam đến giáp bến Xuân Độ huyện Đại Từ, dài 95
dặm, rộng 3 trượng, sâu 5 thước.” [41, tr 809] Con sông chảy qua địa phận
châu Văn Lãng là dòng sông Công bắt nguồn từ vùng rừng núi Điềm Mạc (huyện Định Hoá) chảy theo hướng tây bắc – đông nam với chiều dài chạy qua huyện Đại Từ khoảng 2km Mặc dù có duy nhất một con sông nhưng khu vực này lại được ưu đãi bởi dãy núi Tam Đảo và hệ thống các núi khác tạo ra các con suối nhỏ trong khu vực huyện rồi chảy ra sông Công Các con suối nhỏ này
có chung đặc điểm là ngắn và chảy mạnh Hệ thống thuỷ văn ở Văn Lãng không có giá trị lớn về vận tải đường thuỷ, nhưng có một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc cung cấp nước phục vụ sản xuất nông nghiệp và cuộc sống sinh hoạt của người dân nơi đây Một số hồ, đập nhân tạo như: hồ Phượng Hoàng, đập Minh Tiến, Phú Xuyên, Na Mao, Đức Lương với dung lượng nước tưới bình quân từ 40 – 50 ha mỗi đập và từ 180-500 ha mỗi hồ
Khí hậu Văn Lãng mang nét chung của vùng trung du miền núi phía Bắc
Sách Đại Nam nhất thống chí chép về khí hậu tỉnh Thái Nguyên, trong đó có
phản ánh khí hậu nơi đây: “Hàng năm cuối mùa xuân mới hơi nóng, đến mùa
hè nóng lắm, đầu mùa thu lạnh dần, đến mùa đông rét lắm Vì địa thế có nhiều núi cao nên rét nhiều, nóng ít các huyện Tư Nông, Đồng Hỷ, Phú Bình, Bình
Trang 19Xuyên khí lam chướng nhẹ còn các huyện khác thì nặng mà huyện Đại Từ, Vũ
Nhai thì nặng hơn cả” [29, tr 187-188]
Đặc điểm của khí hậu châu Văn Lãng được sách Đồng Khánh địa dư chí
như sau: “Cuối xuân còn lạnh, đến mùa hạ hơi nóng, đầu thu chớm lạnh, đến
mùa đông rét đậm Sương mù phủ khắp, gần trưa mới tan” [41, tr 810]
Khí hậu của Văn Lãng chịu ảnh hưởng bởi khí hậu của khu vực được tạo nên bởi các cánh cung lớn Tây Bắc và Việt Bắc gần như đồng quy về tỉnh Thái Nguyên nói chung, dạng địa hình này tạo điều kiện cho sự xâm nhập khí lạnh
từ phương Bắc vào sâu lãnh thổ qua các huyện miền núi của tỉnh vào Đại Từ, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam thổi tới Đặc trưng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm thể hiện qua các chỉ số: Nhiệt độ trung bình 22,90
C, nhiệt độ cao nhất trung bình trong năm là 27,20C, nhiệt độ thấp nhất trung bình trong năm là 200C, tổng nhiệt độ năm của huyện Đại Từ là 7.000 – 8.0000C Lượng mưa ở đây tương đối cao, bình quân từ 1.872mm/năm, do mưa nhiều khí hậu thường ẩm ướt, độ ẩm trung bình từ 70 - 80% phù hợp cho nhiều loại cây trồng phát triển, nhất là cây chè Tuy nhiên lượng mưa phân bố không đều theo không gian và thời gian, lượng mưa có sự chênh lệch lớn giữa mùa khô và mùa mưa, mùa mưa cường độ mưa tương đối lớn, chiếm gần 80% tổng lượng mưa trong năm
Khí hậu phân thành 2 mùa, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, gió Đông Nam, khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 gió Đông Bắc chiếm ưu thế, lượng mưa ít, thời tiết hanh khô Với những đặc điểm khí hậu như vậy làm cho hoạt động kinh tế, văn hoá của vùng vừa có nét chung lại vừa có nét riêng đặc thù
Hiện nay diện tích đất tự nhiên là 23.313 ha (năm 2015) chiếm trên 40% diện tích toàn huyện Đại Từ, trong đó đất nông nghiệp chiếm 38,50%, (8.990 ha) đất lâm nghiệp chiếm 47, 80%, (11.146 ha) còn lại là đất phi nông nghiệp chiếm 13,70% (2,739 ha) Trong tổng diện tích đất hiện có thì diện tích đất
Trang 20chưa sử dụng chiếm 1.81% (101 ha), chủ yếu là đất đồi núi và sông suối Đất đai ở đây chủ yếu là đất sườn đồi thích hợp cho việc phát triển cây công nghiệp, nhất là cây chè
Về khoáng sản: có nguồn nguyên liệu than và khoáng sản khá dồi dào, tập trung ở một số xã như Yên Lãng, Na Mao, Minh Tiến trữ lượng lớn nhất là
mỏ than Núi Hồng ở xã Yên Lãng với trữ lượng khoảng 10 nghìn tấn/ năm
Bên cạnh nguồn nguyên liệu than, khu vực này còn có nhiều loại khoáng
sản quý như: quặng sắt, quặng ti tan đều có rải rác ở các xã phía Bắc này Ngoài ra còn có vật liệu xây dựng gồm các mỏ đất sét, đá, cát, sỏi
Về động thực vật: mặc dù là một huyện thuộc trung du miền núi phía
Bắc, nhưng sản vật của địa phương không nhiều Trong sách Đại Nam nhất
thống chí có ghi rằng: “Nhung hươu, mật gấu, sáp ong sơn phận các huyện đều
có” [29, tr 210] Sách Đồng Khánh địa dư chí chép cụ thể như sau: “Toàn hạt
chỉ có lúa, khoai, đậu Các sản vật khác có tre vầu, củ nâu, sa nhân Thú rừng có hươu, lợn rừng, gà rừng Ngoài ra không có sản vật quý gì” [41, tr.810]
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên ở đây thuận lợi cho sự phát triển vật nuôi và cây trồng, thích hợp cho sự phát triển kinh tế nông lâm nghiệp hiện nay, đặc biệt là cây chè
Trang 21Hỷ, Vĩnh Thông, Tuyên Hoá, Lộng Thạnh, Đại Từ, An Định, Cảm Hoá, Thái Nguyên” [41, tr 810] Như vậy, thời thuộc Minh chưa có tên châu Văn Lãng.
Năm 1412, trấn Thái Nguyên đổi thành phủ Thái Nguyên Năm 1423 nhập huyện Tư Nông vào huyện Yên Định, gồm huyện Đồng Hỷ vào huyện Phú Lương và huyện Đại Từ vào huyện Tuyên Hoá (phủ Thái Nguyên chỉ còn
8 huyện)
Năm Quang Thuận thứ 7 (1466) cả nước chia thành 12 đạo, Văn Lãng thuộc phủ Phú Bình đạo Thái Nguyên Đến năm Quang Thuận thứ 10 (1469) trên cơ sở hoạch định lại bản đồ hành chính, nhà Lê chia cả nước ta thành 12 thừa tuyên Văn Lãng và những đơn vị hành chính khác của phủ Phú Bình thuộc thừa tuyên Ninh Sóc Năm Hồng Đức năm thứ 21 (1490), thừa tuyên Ninh Sóc được lấy lại tên cũ là xứ Thái Nguyên lãnh 3 phủ, 7 huyện, 6 châu
“Năm Quang Thuận thứ 7 đặt Thái Nguyên Thừa tuyên Năm thứ 10 đổi làm Ninh Sóc thừa tuyên Đời Hồng Đức gọi là xứ Thái Nguyên lãnh 3 phủ, 7 huyện và 6 châu” [29, tr 177] Cụ thể:
Phủ Phú Bình gồm 7 huyện là: Phổ Yên, Bình Tuyền, Đại Từ, Tư Nông, Đồng Hỷ, Phú Lương, Văn Lãng và hai châu là Châu Định và Vũ Nhai Phủ Thông Hoá gồm 1 huyện là Cảm Hoá và một châu là Bạch Thông Phủ Cao Bằng (đời Quang Thuận gọi là Bắc Bình) lãnh 4 châu là Thượng Lang, Hạ Lang, Thạch Lâm, Quảng Uyên
Như vậy, châu Văn Lãng được thành lập và đặt tên năm Quang Thuận thứ 7 (1466), đời Lê Thánh Tông, đặt thuộc phủ Phú Bình Qua các triều đến đời Gia Long không thay đổi Năm Minh Mệnh 16 (1835) tách sang thuộc phủ Tòng Hoá mới lập
Thời Lê Trung Hưng, năm Vĩnh Trị thứ 2 (1677), 4 châu phía Bắc dưới
sự kiểm soát của nhà Mạc, gần 70 năm, nhà Lê đổi gọi 4 châu đó làm làm trấn Cao Bằng “Hai phủ Phú Bình và Thông Hoá vẫn lệ thuộc vào trấn Thái Nguyên
như cũ do thổ quan chia nhau cai trị” [29, tr 178]
Trang 22Đầu thời Nguyễn, địa giới hành chính Thái Nguyên không thay đổi, sách
Đại Nam nhất thống chí viết: “Bản triều đầu đời Gia Long vẫn theo như thế, đặt
các chức Trấn thủ, Hiệp trấn và Tham hiệp, lãnh 2 phủ 9 huyện, 2 châu (Phủ phú Bình, lãnh 8 huyện là Tư Nông, Bình Tuyền, Phú Lương, Đồng Hỷ, Vũ Nhai, Đại
Từ, Phổ Yên, Văn Lãng và một châu là Định Hoá; Phủ Thông Hoá lãnh 1 huyện Cảm hoá và 1 châu Bạch Thông Hai huyện Phổ Yên và Văn Lãng không thấy
chép trong bản đồ thời Hồng Đức chưa rõ đặt từ đời nào” [29, tr 178]
Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), địa giới hành chính Thái Nguyên có sự thay đổi, theo đó châu Văn Lãng cũng có sự thay đổi về địa giới hành chính
trực thuộc các đơn vị hành chính khác nhau Sách Đại Nam nhất thống chí
chép: “Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) chia tỉnh hạt, gọi là tỉnh Thái Nguyên đặt các chức Bố chánh và Án sát, dưới quyền tổng đốc Ninh –Thái Năm thứ 16 (1835) trích lấy 4 huyện là Định Châu, Văn Lãng, Đại Từ và Phú Lương đặt thêm phủ Tùng Hoá Các phủ huyện đều đổi đặt lưu quan Nay lãnh 2 phủ, 9 huyện 2 châu” [29, tr 178] Như vậy, huyện Đại Từ và châu Văn Lãng thuộc phủ Tùng Hoá từ năm 1835
Thời vua Đồng Khánh (1886-1889) châu Văn Lãng có các đơn vị hành chính sau: “Huyện có 5 tổng, 12 xã, trang:
Trang 23Ngày 14 tháng 1 năm 1900, thực dân Pháp lấy phần đất thuộc phủ Thông Hoá để Thành lập tỉnh mới gọi là Bắc Kạn gồm 4 huyện: Bạch Thông, Na Rì, Ngân Sơn, Chợ Đồn Châu Văn Lãng vẫn thuộc địa phận tỉnh Thái Nguyên
Ngày 1 tháng 8 năm 1922 huyện Đại Từ và châu Văn Lãng hợp lại làm một gọi là huyện Đại Từ gồm 9 tổng, 38 xã
Châu Văn Lãng xưa nay là khu vực phía Bắc của huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên bao gồm 12 xã: Yên Lãng, Minh Tiến, Phúc Lương, Đức Lương, Phú Cường, Na Mao, Phú Thịnh, Bản Ngoại, Phú Lạc, Phú Xuyên, Tân Linh, Phúc Linh giáp với huyện Định Hoá, Phú Lương của tỉnh Thái Nguyên và huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang ngày nay
Trong thời kỳ vận động cách mạng tháng Tám năm 1945, Đại Từ cùng Định Hoá và Sơn Dương có vị trí trung tâm của chiến khu Nguyễn Huệ, có thời gian được mang tên châu Giải phóng nằm trong chiến khu
Ngày 21 tháng 4 năm 1965, uỷ ban thường vụ Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam) ra quyết định
số 103-QN-TVQH thành lập tỉnh Bắc Thái trên cơ sở hợp nhất 2 tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn
Ngày 6/11/1996, Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 10, đã phê chuẩn việc phân chia lại địa giới hành chính của một số tỉnh, trong đó chia tỉnh Bắc Thái thành 2 tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn
Từ đó đến nay địa bàn của châu Văn Lãng xưa gồm 12 xã phía Bắc của huyện Đại Từ ngày nay thuộc tỉnh Thái Nguyên
1.3 Các thành phần dân tộc
Châu Văn Lãng đã quy tụ được nhiều tộc người đến ngụ cư, sinh sống như: Tày, Nùng, Kinh, Mông, Dao, Sán Chay đã tạo nên ở nơi đây những nét văn hoá tộc người đặc trưng riêng biệt Trong đó, mỗi một dân tộc đều có sắc thái văn hoá riêng, có một quá trình lịch sử phát triển riêng và có nhiều nguồn gốc khác nhau Tuy nhiên, các dân tộc sinh sống tại châu Văn Lãng đều mang những nét văn hoá truyền thống của dân tộc Việt, đó là, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau trị thuỷ, sản xuất nông nghiệp, săn bắn, hái lượm góp phần
Trang 24tạo nên tính cộng đồng cao của nhiều thế hệ người dân nơi đây Đồng thời các dân tộc do sống xen kẽ với nhau nên họ đã tiếp nhận văn hoá của nhau, hình thành một nền văn hoá đa dạng, phong phú
Sách Đồng Khánh địa dư chí chép: “Trong huyện hạt chỉ có tổng Vị
Xuyên rải rác có người Kinh, phong tục cũng giống như miền xuôi, còn người Mán, người Thổ (Tày) thì ở xen kẽ Tập tục của họ quê mùa, xảo trá, thích săn bắn, ít học hành Về tục thờ thần và cưới xin của người Mán, người Thổ cũng giống như [người Mán, người Thổ] ở Định Châu” [41, tr 809] Với những ghi chép trên cho ta thấy được các thành phần dân tộc, đặc điểm phong tục, tập quán của cư dân Văn Lãng xưa
Cư dân người Tày, Nùng chiếm số đông, nhiều hơn so với các dân tộc khác trên địa bàn châu và ít hơn so với các huyện khác trong phủ “Trong phủ hạt người Kinh, người Thổ (Tày), người Mán ở xen nhau Huyện Văn Lãng, thuộc Định Châu ở về miền thượng du, người Thổ và người Mán khá nhiều, các huyện Phú Lương, Đại Từ ở vùng hạ du thì người Kinh nhiều hơn, trong đó có một số người biết chữ” [41, tr 806]
Bên cạnh cư dân bản địa cũng có một số ít dân di cư đến, nhất là người Kinh, họ đến từ các tỉnh Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình đến đây sinh cơ lập nghiệp Họ đến đây là do nhiều nguyên nhân: một bộ phận đến đây
do tư bản Pháp tuyển mộ dân phu làm thuê trong các đồn điền, hầm mỏ Một
bộ phận khác vốn là đồng bào các tỉnh miền xuôi di cư đến đây khai hoang lập làng Người miền xuôi đến sinh sống đan xen với người miền núi đã tạo nên ở nơi đây sự đa dạng, phong phú không chỉ về văn hoá mà còn làm du nhập cả tập quán sản xuất của miền xuôi vào cư dân bản địa, đồng thời cũng làm phong phú thêm các thành phần dân tộc trên địa bàn châu Văn Lãng
Theo số liệu điều tra dân số năm 2015, huyện Đại Từ có 164.730 người, trong đó khu vực phía Bắc huyện Đại Từ hiện nay (châu Văn Lãng xưa) có tổng số 66.286 người
Trang 25Bảng 1.1: Bảng thống kê các dân tộc huyện Đại Từ
(Nguồn: Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2009)
Theo số liệu bảng thống kê trên thì thì người Kinh chiếm số đông nhất, nhưng châu Văn Lãng xưa thì người Tày và người Nùng chiếm đa số, người Kinh ít hơn nhiều Ngày nay trên địa bàn châu Văn Lãng cũ, số người Tày, Nùng vẫn chiếm số đông, có những xã người Tày vẫn chiếm trên 80% số dân Người kinh chủ yếu tập trung ở phía Nam của huyện Đại Từ ngày nay
1.3.1 Dân tộc Tày
Người Tày là một cộng đồng dân tộc thuộc ngữ hệ ngôn ngữ Tày – Thái
Họ là cư dân bản địa, là những người sớm có mặt trong thành phần cư dân Văn Lãng Người Tày hoặc Thổ là dân tộc có số dân đông nhất trong số các dân tộc
Vì vậy người Tày có vai trò chủ lực trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Cộng đồng Tày là một cộng đồng khá thuần nhất với những nét bản sắc văn hoá rất đặc trưng và có quan hệ thân thuộc với các dân tộc khác như Nùng, Cao Lan, Sán Chỉ
Dân tộc Tày còn có một tên gọi khác vừa mang ý nghĩa tộc người, vừa
mang ý nghĩa thổ dân, dân bản xứ đó là “người Thổ” Tên gọi này đã xuất hiện
trong các sách lịch sử, địa lý của các học giả đương thời để phân biệt với các
Trang 26nhóm dân tộc khác như Nùng, Mán Sau cách mạng tháng Tám đến nay, ở hầu hết các địa phương có người Tày sinh sống đều thống nhất một tên gọi là dân tộc Tày Tên gọi này đã trở thành tộc danh chính thức của dân tộc trong hoạt động giao dịch ở tất cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội nói chung
Hiện nay tại khu vực châu Văn Lãng xưa người Tày chủ yếu gồm các bộ phận sau: Tày bản địa và Tày gốc Kinh
Tày bản địa: Là người Tày sinh sống lâu đời ở địa phương, họ là chủ nhân của nghề trồng lúa nước từ xa xưa
Tày gốc Kinh: Người xưa thường có câu “Kinh già hoá thổ” Quá trình người Kinh hoá Thổ là do những nguyên nhân: Thứ nhất: Trong thời kỳ
phong kiến các quan lại trong triều đình được cử lên cai trị miền núi, hoặc những binh lính của triều đình được cử lên miền núi đánh dẹp các cuộc nổi dậy Sau đó họ không trở về miền xuôi mà ở lại sinh sống lâu dài, sinh cơ lập
nghiệp Lâu dần họ bị Tày hoá trở thành dân tộc Tày; Thứ hai: Do sự tranh
chấp giữa các thế lực phong kiến, trong quá trình tranh chấp đó một số thế lực phong kiến miền xuôi đã lên miền núi xây dựng cát cứ, nhưng sau đó suy yếu,
dư đảng phải thay tên đổi họ mới có thể tồn tại được, họ sống trà trộn vào cư
dân địa phương và dần dần bị đồng hoá trở thành người Tày; Thứ ba: nhân
dân miền xuôi do bị loạn lạc, tránh sự áp bức bóc lột nặng nề của phong kiến, mất mùa, đói kém phải tha phương cầu thực lên miền núi kiếm ăn, buôn bán, dạy học Họ là con cháu tôi, tớ của những người từng theo nhà Mạc, Tây Sơn còn sót lại Qua thời gian sinh sống lâu dài, nhiều đời họ đã trở thành người Thổ Người Tày thuộc dòng họ Đinh, Nguyễn đều là gốc người Kinh theo khảo sát tư liệu địa bạ thì dòng họ Nguyễn chiếm đa số trong các dòng họ ở Văn Lãng
Do người Tày chiếm số dân đông trong số các thành phần cư dân dân tộc, vì thế người Tày đã góp phần tạo nên nền văn hoá bản địa ở khắp các khu vực của châu Văn Lãng Sống xen kẽ vào các khu vực sinh sống của người Tày
Trang 27là các dân tộc khác Văn hoá Tày đã ảnh hưởng, chi phối lớn đến các dân tộc
khác tạo nên quá trình Tày hoá Ngược lại qua quá trình sinh sống, giao lưu
kinh tế, văn hoá người Tày cũng đã tiếp thu những yếu tố văn hoá tiến bộ của các dân tộc khác để cải biến những phong tục, tập quán của mình ngày càng văn minh hơn Sự giao thoa văn hoá này đã tạo nên một mối liên hệ mật thiết giữa các dân tộc trên địa bàn châu Văn Lãng, đồng thời cũng góp phần làm cho nền văn hoá địa phương ngày càng đa dạng, phong phú, làm cho văn hoá của mỗi dân tộc ngày càng tiến bộ, văn minh hơn Năm 1999 xã Phú Cường có tới 80% người Tày sinh sống
1.3.2 Dân tộc Nùng
Dân tộc Nùng là một dân tộc ít người, đứng thứ 7 về số lượng dân cư trong danh mục các thành phần dân tộc ở Việt Nam theo kết quả nghiên cứu của Viện Dân tộc học năm 1979, bao gồm nhiều nhóm địa phương khác nhau,
cư trú phân tán ở vùng núi phía Bắc, tạo nên sự phong phú, đa dạng của sắc thái văn hoá Việt Nam Dân tộc Nùng ở Việt nam có 968.800 người (Theo số liệu thống kê dân số năm 2009) Riêng ở Thái Nguyên, người Nùng có 63.816 người chiếm 6,6% số người Nùng trong cả nước Trong đó số người Nùng ở khu vực Văn Lãng xưa nay là khu vực phía Bắc của huyện Đại Từ chiếm khoảng 4% dân số của huyện
Lê Quý Đôn trong tác phẩm Kiến văn tiểu lục đã chép về sự có mặt của
người Nùng ở Việt Nam lúc bấy giờ như sau: “Giống người Nùng đều là người mười hai thổ châu ở Tiểu Trấn Yên, Quy Thuận, Long Châu, Điền Châu, Phù Châu, Thái Bình, Lôi Tử Thành và Hướng Vũ thuộc Trung Quốc Họ phiêu lưu đến nước ta, làm nghề cày cấy, trồng trọt, cùng chịu thuế khoá, lao dịch, mặc
áo vằn vải xanh, cắt tóc, trắng răng, có người trú ngụ đã đến vào ba đời, đổi theo tập tục người Nam, quan bản thổ thường cấp cho họ một số ruộng làm khẩu phần, bắt họ chịu binh xuất Các xứ lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên
đều có giống người này” [18, tr 391] Sách Đồng Khánh địa dư chí chép:
Trang 28“Người Nùng nguyên là dân miền biên giới nước Thanh, đến lưu cư, cách ăn mặc và tiếng nói hơi giống người Thanh” [41, tr 789]
Người Nùng ở khu vực Văn Lãng nói riêng, ở Việt Nam nói chung đã thiên di từ Trung Quốc vào nước ta từ rất sớm: “Người Nùng ở Việt Nam có chung nguồn gốc với người Nùng (nay là dân tộc Choang) ở Quảng Tây – Trung Quốc… Những người mang tộc danh Nùng ở Việt Nam hiện nay di cư
từ nam Trung Quốc vào nước ta cách đây khoảng 3 thế kỷ” [47, tr 10]
Ở Văn Lãng, người Nùng chiếm số đông thứ 2 sau người Tày, người Nùng ở đây chủ yếu là người Nùng Cháo (quê ở Long Châu), họ thiên cư vào đây từ rất lâu, cách đây khoảng 300 – 400 năm, cũng có nhóm nhập cư vào Văn Lãng cách đây không lâu Khi di cư vào Văn Lãng dân tộc Nùng sống hoà hợp với cư dân địa phương vừa khai phá thiên nhiên hoang dã, vừa đấu tranh chống giặc ngoại xâm bảo vệ xóm làng Họ làm nghề trồng trọt là chủ yếu và thêm một số nghề thủ công như đan lát, rèn sắt Người Nùng thường ở nhà sàn Qua nhiều đời đồng bào dân tộc Nùng đã trở thành một thành viên trong cộng đồng các dân tộc Văn Lãng xưa, Đại Từ hiện nay nói riêng và cộng đồng các dân tộc Việt Nam nói chung
1.3.3 Dân tộc Kinh
Là dân tộc có số dân nhiều nhất hiện nay (chiếm tới 2/3 dân số của huyện) nhưng ở nửa đầu thế kỷ XIX người Kinh ít hơn so với dân tộc Tày và dân tộc Nùng trên địa bàn châu Văn Lãng Từ xa xưa họ đã đến nơi đây cư trú
Từ thời nhà Trần, nhà Lê, nhà Nguyễn do cuộc sống đói kém cơ cực, hạn hạn, mất mùa thường xuyên xảy ra, họ đã bỏ làng đi phiêu tán, vì thế các cuộc di thực từ các tỉnh Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Hưng Yên đã diễn ra , họ đã
di cư đến đất Văn Lãng và dừng chân ngụ cư, làm ăn sinh sống tại đây Bên cạnh đó số người Kinh di cư lên Văn Lãng còn có các quan lại được triều đình phong kiến cử lên làm quan tại Thái Nguyên (dưới tác động của chính sách
“phiên thần” thời Lê và “lưu quan” thời Nguyễn), các quan lại đã mang theo
gia đình, bà con họ hàng trong dòng tộc đến định cư sinh sống, họ sống tập
Trang 29trung chủ yếu tại Tổng Vị Xuyên Qua khảo sát địa bạ thì dòng họ Nguyễn, chiếm số đông ở Văn Lãng
Đặc biệt, đến thời Pháp thuộc, khi thực dân Pháp đẩy mạnh công cuộc khai thác thuộc địa, cướp đoạt ruộng đất lập đồn điền, khai mỏ Để có nhân công làm việc trong các đồn điền, hầm mỏ người Pháp đã thực hiện chính sách
mộ phu, tuyển mộ lao động từ các tỉnh miền xuôi lên làm phu Vì thế làm tăng thêm số người Kinh tại châu Văn Lãng
Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, quân, dân từ các
đô thị và các vùng nông thôn ở các tỉnh miền xuôi lên tản cư kháng chiến và chiến đấu chống thực dân Pháp, sau đó ở lại sinh cơ lập nghiệp tại Đại Từ ngày nay Khi hoà Bình lập lại đất Văn Lãng xưa và Đại Từ ngày nay lại tiếp tục nhận những người Kinh đến sinh cơ lập nghiệp theo các chương trình kinh tế mới của Đảng và Nhà nước Kết quả đưa đến là ngày nay số người Kinh tại châu Văn Lãng xưa và khu vực phía Bắc của huyện Đại Từ ngày nay đã tăng lên rõ rệt
Người Kinh sống tại Văn Lãng đã du nhập phương thức canh tác, kinh nghiệm sản xuất, phong tục tập quán của người miền xuôi vào địa bàn châu Văn Lãng Sự du nhập này đã làm cho văn hoá nơi đây thêm đa dạng và phong phú Văn hoá, tín ngưỡng miền xuôi đã hình thành tại đây như: Tín ngưỡng thờ thành hoàng làng, xây dựng đình làng Đồng thời trong quá trình sinh sống với các dân tộc khác tại Văn Lãng người Kinh cũng tiếp thu những nét văn hoá của các dân tộc anh em khác trên địa bàn
1.3.4 Dân tộc Sán Chay
Cộng đồng người Sán Chay ở Thái Nguyên nói chung gồm 2 nhóm địa phương là Cao Lan và Sán Chí Theo công bố chính thức vào tháng 3 năm 1979 của Tổng cục thống kê thì người Cao Lan, Sán Chí đều cùng một dân tộc là Sán Chay Tại các xã Phú Cường, Phú Thịnh, Na Mao, Yên Lãng của huyện Đại
Từ, là những xã có đông người Sán Chay sinh sống
Trang 30Theo các nhà nghiên cứu, người Cao Lan, Sán Chí là những cộng đồng
cư dân mới di cư vào Việt Nam cách đây vài trăm năm Trong một sô tài liệu
đã cho rằng tổ tiên của người Sán Chay từng sống ở vùng giáp ranh giữa các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Hồ Nam – Trung Quốc Do những biến động
lịch sử họ đã di cư vào nước ta vào khoảng thế kỷ thứ XVIII Trong sách Đại
Nam nhất thống chí ở mục Phong tục tỉnh Thái Nguyên khi đề cập đến người
Cao Lan có ghi: “Mán Cao Lang cứ 3 năm một lần thay đổi chỗ ở, không có
và Bàn Đại Hộ của người Dao Quần Chẹt đã kể về sự di cư của họ
“Dần, Mão hai năm trời đại hạn Rồng nhảy lên bờ sông nước khô Kho thóc khắp nơi đều hết sạch Rời bỏ làng quê tới Việt Nam” [6, tr 172]
Hoặc:
“Thiên triều đất rộng người đông đúc Không đất trồng trọt lúa, ngô, khoai Tin đồn Việt Nam có nhiều đất Làng bản xôn xao tính kế đi” [19, tr 65]
Trang 31Ngày nay trong đồng bào Dao còn lưu truyền nhiều áng thơ văn cổ với nội dung là những bức thư trao đổi giữa người sang trước đang sống ở Việt Nam nhắn gửi đồng tộc mình ở bên kia biên giới như sau:
“Tổ xưa nghe lời thiên triều mách Tới Quảng Đông trăm nỗi lo phiền Việt Nam trăm thứ tốt
Người Dao ở khu vực châu Văn Lãng thuộc hai nhóm địa phương: Dao
Lô Gang và Dao Quần Chẹt Tuy thuộc hai nhóm khác nhau nhưng đều tự gọi
là Dao Đại Bản (Tầm Mả Miền), cùng nói phương ngữ Kiềm Miền (hoặc Miền Vả) Hiện nay ở tất cả các xã thuộc vùng đất phía Bắc của huyện Đại Từ hiện nay đều có người Dao sinh sống Do cuộc sống du canh, du cư nên người Dao
có điều kiện tiếp xúc với nhiều tộc người khác nhau tạo nên khu vực văn hoá lịch sử phong phú, đa dạng
Ngoài ra còn có một số dân tộc chiếm số lượng và tỉ lệ rất nhỏ trong thành phần cư dân của Văn Lãng như: Mường, Ngái Các dân tộc này cũng
Trang 32chủ yếu có nguồn gốc từ Trung Quốc di cư sang các tỉnh miền núi phía Bắc của Việt Nam cách đây khoảng vài trăm năm
1.4 Văn hoá, xã hội
Về di sản văn hoá: Đại từ là một trong những địa phương của tỉnh Thái
Nguyên có hệ thống di tích lịch sử văn hoá đa dạng, phong phú, trong đó nhiều
di tích đã được xếp hạng Quốc gia Trên địa bàn huyện Đại Từ hiện nay có 169 điểm di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh, trong đó có 122 điểm di tích lịch sử cách mạng, 38 điểm di tích tín ngưỡng, 9 điểm danh lam thắng cảnh Huyện đã lập hồ sơ và đề nghị xếp hạng được 40 di tích, gồm: 6 di tích Quốc gia và 34 di tích cấp tỉnh Một số điểm di tích lịch sử, văn hoá thu hút được đông đảo du khách trong và ngoài tỉnh đến tham quan, trong đó tiêu biểu là khu
di tích lịch sử Quốc gia 27-7 (ở xóm Bàn Cờ, thị trấn Hùng Sơn) Hiện nay huyện Đại Từ có 73 điểm đình đền, chùa, trong đó khu vực Văn Lãng xưa có
25 điểm đình, đền chùa, tiêu biểu như: Chùa Đại Phú thuộc xã Phục Linh, chùa Phú Cường (xã Phú Cường), chùa Tây Quan (xã Đức Lương), chùa Nhật Quang (xã Tân Linh)…Hệ thống đền gồm có đền Cao Khản, Cửa Nghè, Khâu Giang, Ninh Giang thuộc xã Bản Ngoại, đền Lang Cẩm (xã Phục Linh), đền Tăng Na Thức (xã Phú Lạc) Ngoài ra còn có hệ thống đình bao gồm: đình làng Khưu (xã Phục Linh), đình Na Uy (xã Phú Lạc), đình Na Ca, đình Na Quảng (xã Đức Lương), đình làng Cườm (xã Minh Tiến)…
Trong số các đình chùa kể trên có ngôi đình Na Ca được xây dựng từ giai đoạn nửa đầu thế kỷ XIX, nay được xây dựng lại Kết quả điền dã thực tế của tác giả được các cụ cao niên trong làng và cán bộ văn hoá xã cho biết: “Đình
Na Ca là một ngôi đình làng có từ cổ xưa, trước đây thuộc thôn Na Ca tổng Thượng Lương, nay nằm trên địa phận xóm Mon Đình xã Đức Lương Hiện nay các cụ cao niên trong làng còn giữ nhiều tài liệu liên quan đến ngôi đình này đặc biệt còn giữ được 4 đạo sắc phong từ thời Nguyễn gồm: 01 đạo năm
Tự Đức thứ 6 (1853); 01 đạo thời vua Tự Đức thứ 31 (1880); 01 đạo thời vua Duy Tân (1909); 01 đạo thời vua Khải Định (1924) Xưa kia hội đình được tổ chức vào ngày mùng 8 tháng 2 âm lịch hằng năm đây là dịp để nhân dân trong
Trang 33vùng làm lễ tế cáo thần, cầu cho mưa thuận gió hòa, nhân khang vật thịnh, mùa màng tươi tốt với nhiều nghi lễ mang đậm bẳn sắc văn hóa của người dân nơi đây” [74]
Qua bản dịch các sắc phong cho thấy, đình thờ thần chúa núi (Chúa Sơn chi thần), đến thời Tự Đức năm thứ 6 được ban tặng “Hùng Trấn chi thần Đến bản sắc phong Duy Tân năm thứ 3 có ghi đình thờ “Hùng Trấn Dực Bảo Trung Hưng Chúa Sơn chi thần” Như vậy có thể còn một đạo sắc phong ban tặng mĩ hiệu “Dực Bảo Trung Hưng” có thể là vào thời vủa Đồng Khánh nhưng đã bị thất lạc Đến thời vua Khải Định năm thứ 9 ban tặng thêm mỹ hiệu “Tung Bạt Trung Đẳng Thần”
Bản dịch cụ thể các sắc phong của đình Na Ca như sau:
Sắc Phong thời vua Tự Đức năm thứ 6 (1853): Sắc phong “Chúa Sơn chi thần” (thần Chúa Núi), phò nước giúp dân, rất là linh ứng Nay trẫm gánh vác mệnh lớn, nghĩ đến công lao của Thần, đáng ban tặng thêm “Hùng Trấn chi thần”, cho phép xã Hạ Lương huyện Văn Lãng phụng thờ như cũ, mong Thần hãy phù hộ và bảo vệ che chở cho dân đen của trẫm Ngày 24 tháng 9 năm Tự Đức thứ 6 (1853)
Sắc Phong thời vua Tự Đức năm thứ 31 (1880): Sắc chỉ xã Hạ Lương huyện Văn Lãng tỉnh Thái Nguyên trước đây phụng thờ thần Hùng Trấn Chúa Sơn (Chúa Núi), từng được ban sắc phong, theo đó phụng thờ Năm Tự Đức thứ 31 (1878), nhân dịp trẫm tròn 50 tuổi nên ban chiếu báu, báo ơn sâu, có lễ nghi ban phẩm trật Đặc biệt cho phép được thờ cúng như trước để nhớ ngày quốc khánh (sinh nhật) mà tỏ rõ điển lễ thờ cúng Hãy kính theo! Ngày 24 tháng 11 năm Tự Đức thứ 33 (1880)
Sắc Phong thời vua Duy Tân năm thứ 3 (1909): Sắc chỉ xã Hạ Lương huyện Văn Lãng tỉnh Thái Nguyên trước đây phụng thờ Hùng Trấn Dực Bảo Trung Hưng Chúa Sơn chi thần, từng được ban sắc phong, theo đó để phụng thờ Năm Duy Tân thứ nhất (1907), nhân dịp đại lễ tấn quang (lên ngôi), nên
Trang 34ban chiếu báu, báo ơn sâu, có lễ nghi nâng phẩm trật Đặc biệt cho phép được thờ cúng như trước để nhớ ngày quốc khánh (sinh nhật) mà tỏ rõ điển lễ thờ cúng Hãy kính theo! Ngày 11 tháng 8 năm Duy Tân thứ 3 (1909)
Sắc Phong thời vua Khải Định năm thứ 9 (1924): Sắc phong thôn Na Ca
xã Hạ Lương huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên lâu nay phụng thờ bậc “Chúa Sơn Tôn Thần”, vốn được tặng mỹ hiệu “Hùng Trấn Dực Bảo Trung Hưng Tôn Thần” Thần có công phò nước giúp dân, rất là linh ứng, theo nghi lễ đã được ban cấp sắc phong, cho phép thờ phụng Nay gặp lễ mừng thọ Trẫm tứ tuần, nên ban chiếu báu, báo ơn sâu, có lễ nghi nâng phẩm trật, ban tặng thêm mỹ hiệu “Tủng Bạt Trung Đẳng Thần”, đặc biệt cho phép được thờ cúng như trước
để nhớ ngày quốc khánh (sinh nhật) mà tỏ rõ điển lễ thờ cúng Hãy kính theo! Ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 (1924)
Năm 1947, khi Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở và làm việc tại khu đồi Dọc
Dè thuộc xóm Na Muồng (Cách Đình khoảng 1km) thì tại Đình là trạm đóng quân cảnh giới bảo vệ và là nơi ở của đồng chí Trần Tử Bình (Sau này là Thiếu tướng trong đợt phong quân hàm đầu tiên năm 1948)
Những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ XX, Đình là lớp học cho con em xã Đức Lương do thầy giáo Lý Khai – Thầy giáo dạy chữ Quốc ngữ đầu tiên của
xã Đức Lương giảng dạy Ngày 18 tháng 7 năm 1966, Khoa Địa lí - một trong bảy khoa đầu tiên của Trường Đại học Sư phạm Việt Bắc, nay là Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã được thành lập tại vùng rừng núi xã Đức Lương Đình Na Ca đã trở thành giảng đường của khoa Địa Lý
Theo các cụ cao niên kể lại: “Đình Na Ca xưa kia rất rộng lớn, là ngôi đình làng lớn nhất vùng, đình lợp lá cọ, nền đất, có sàn gỗ cao chừng gần một mét bao gần khắp nền đình Phía sau là hậu cung gồm hai tầng, tầng trên gồm hai ngăn, ngăn trong để cất giữ sắc phong ngăn ngoài để bát hương thờ cúng, tầng dưới để cất đồ cúng tế” [70]
Trang 35Ngày nay, trải qua thời gian, với bao thăng trầm của lịch sử, do chiến tranh, thiên tai tàn phá… đình đã đổ nát hoàn toàn, trở thành hoàng phế, hiện chỉ còn lại nền đình xưa với những tảng đá để kê chân cột Ai về qua đình Na
Ca cũng xót xa trước cảnh tượng ngôi đình làng gần 200 năm tuổi nằm ngay giữa làng đang hoang tàn, đổ nát
Với bề dày lịch sử, văn hóa của ngôi đình Na Ca, hiện nay thể theo nguyện vọng của nhân dân trong xã, Chính quyền xã Đức Lương đang hoàn tất các thủ tục để phục dựng tôn tạo lại ngôi đình cũng như phục dựng lại các lễ hội truyền thống gắn với đình Na Ca Mong rằng, các cơ quan chức năng sớm
có những biện pháp để phục dựng lại ngôi đình và những truyền thống văn hóa của nhân dân nơi đây
Bên cạnh đó còn có ngôi đền Cao Khản: Đền Cao Khản (Đền Bờ Sông) theo nhân chứng và nhân dân địa phương kể lại đền có khoảng năm 1930 Lúc
đó có người dân đến đây ở làm nghề ruộng và chài lưới sông nước thấy khu đất
có vị trí đẹp nên đã xây dựng một ngôi đền bằng tranh tre, gỗ nứa làm chỗ cho nhân dân qua lại nghỉ ngơi qua khúc sông, hoặc những lúc đi làm đồng ruộng mưa gió xa nhà không về được
Đến thời kỳ kháng chiến chống Pháp, đền bị phá hủy và đến 12/1996 đều được nhân dân địa phương đóng góp tu sửa lại Các lễ hội trong năm của đền bao gồm: Vào 6/1 (Âm lịch) là lễ hội chính mở vào mùa xuân sau tết Nguyên đán hàng năm Ngày 01/04 (Âm lịch) là Lễ vào hạ Ngày 10/7 (Âm lịch) hàng năm là Lễ tán hạ Ngày 25/12 âm lịch hàng năm là Lễ tất niên Đền Cao Khản
là nơi thờ Bà chúa Sơn Lâm và thờ Phật
Những năm gần đây, công tác bảo vệ, tôn tạo và phát huy giá trị của các
di tích lịch sử, văn hóa trên địa bàn luôn được huyện Đại Từ đặc biệt quan tâm Tính đến nay, huyện đã trùng tu, sửa chữa và nâng cấp được 7 di tích với tổng kinh phí trên 30 tỷ đồng Cơ bản các di tích lịch sử, văn hóa đã có ban quản lý
và gắn bảng giới thiệu tóm tắt về di tích Ban quản lý di tích có nhiệm vụ xây
Trang 36dựng quy chế hoạt động, kế hoạch bảo tồn, phát huy giá trị di tích, đồng thời tổ chức đón tiếp các đoàn khách trong và ngoài tỉnh đến tham quan
Văn hoá, nghệ thuật, thể thao của huyện cũng được quan tâm phát triển, huyện đã xây dựng trung tâm văn hoá, thể thao và đi vào hoạt động từ năm
2015 Hàng năm huyện thường xuyên tổ chức các hoạt động thể thao, các cuộc thi văn nghệ thu hút đông đảo các giới, các ngành tham gia
Ngày nay các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao được quan tâm phát triển đến các cơ sở góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân các dân tộc của huyện, tạo môi trường vui chơi lành mạnh, đậm đà bản sắc dân tộc cho thế hệ trẻ
Về truyền thống lịch sử: Mặc dù đến thời Pháp thuộc châu Văn Lãng đã
sáp nhập vào huyện Đại Từ, nhưng thời gian trước đó và sau khi thuộc Đại Từ Văn Lãng cũng là một địa phương có truyền thống yêu nước và cách mạng, đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ đất nước Tinh thần ấy được thể hiện trong
suốt chiều dài lịch sử dân tộc
Năm 1884 người Pháp đã vấp phải sự kháng cự quyết liệt của nhân dân các dân tộc của Văn Lãng
Năm 1892, cùng với binh lính của đồn Hùng Sơn, dưới sự chỉ huy của Cai Bát đã nổi dậy làm binh biến chiếm đồn, thu vũ khí của giặc Trong những tháng đầu năm 1896, dưới sự chỉ huy của Đề Dinh, nhân dân Văn Lãng đã tham gia nghĩa quân và cùng nghĩa quân đánh nhiều trận, làm cho bọn Pháp ở đồn Lục Ba, Cát Nê (ở huyện Đại Từ) phải khiếp sợ
Cùng với nhân dân huyện Đại Từ, nhân dân Văn Lãng còn tích cực ủng
hộ cuộc khởi nghĩa Yên Thế (1887 - 1913) do Đề Thám lãnh đạo Năm 1896, trên địa bàn huyện Đại Từ và châu Văn Lãng, nghĩa quân Yên Thế đã đánh 16 trận, trong đó nổi bật là trận Hùng Sơn (ở huyện Đại Từ), ngày 21/7/1896 diệt hàng chục tên Pháp
Đầu thế kỷ XX, nhân dân Văn Lãng đã tích cực hưởng ứng và tham gia cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên nổ ra đêm 30 rạng ngày 31/8/1917 do Đội Cấn và Lương Ngọc Quyến lãnh đạo Sau khi rút khỏi thị xã, nghĩa quân tiến về Đại
Trang 37Từ, Văn Lãng nhân dân đã hết lòng giúp đỡ lương thực, tạo mọi điều kiện phục
vụ chiến đấu
Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, châu Văn Lãng được Trung ương Đảng chọn làm căn cứ địa kháng chiến, trong đó một số xã được chọn làm An toàn khu Trung ương…
Tháng 12/1953, Châu Văn Lãng xưa được chọn thực hiện thí điểm cải cách ruộng đất ở sáu xã, rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm quý giúp Trung ương Đảng và Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo thắng lợi cải cách ruộng đất ở các địa phương khác trên toàn quốc Sau năm 1954, các cơ quan của Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác Hồ về ở và làm việc tại các xã Bản Ngoại và La Bằng
để lãnh đạo, chỉ đạo việc tiếp quản Thủ đô Hà Nội Năm 1955, Nơi đây là một trong những huyện đầu tiên của miền Bắc được Trung ương chọn làm nơi thí điểm xây dựng hợp tác xã nông nghiệp Trong kháng chiến chống Mỹ, nhân dân các dân tộc trong huyện đã động viên trên 7 nghìn con em ưu tú lên đường đánh Mỹ…
Đại Từ nói chung và Châu Văn Lãng xưa còn được biết đến với nhiều di tích lịch sử: Nơi ra đời Ngày Thương binh liệt sỹ 27-7 tại xóm Bàn Cờ xã Hùng Sơn, nơi thành lập Tổng đội thanh niên xung phong đầu tiên của cả nước ngày 15/7 tại thôn Đồng Cẩm xã Yên Lãng…
Sau khi sáp nhập vào huyện Đại Từ, nhân dân các dân tộc châu Văn Lãng lại tiếp tục tham gia phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân Đại Từ
Tiểu kết: Châu Văn Lãng tỉnh Thái Nguyên là địa bàn miền núi với đặc
điểm địa hình đa dạng, có cả miền núi và trung du, nhưng địa hình miền núi là chủ yếu Điều kiện tự nhiên ở đây tuy có những khó khăn nhất định nhưng cũng tương đối thuận lợi cho sự phát triển kinh tế nông – lâm nghiệp
Dân cư của Văn Lãng do nhiều bộ phận hợp thành, trong đó người Tày, Nùng chiếm đa số, nhân dân vốn có truyền thống lao động cần cù, có tinh thần đoàn kết cùng nhau xây dựng quê hương và gìn giữ và phát huy bản sắc văn
Trang 38hoá của địa phương tạo nên những nét văn hoá đa dạng và phong phú trên mảnh đất này
Trong những năm gần đây, huyện Đại Từ nói chung và khu vực phía Bắc của huyện nói riêng được Nhà nước quan tâm đầu tư, vì vậy tình hình văn hoá -
xã hội của huyện đã có sự thay đổi rõ rệt cơ sở hạ tầng được nâng cấp, đời sống của nhân dân được nâng cao hơn Sự phát triển văn hóa- xã hội của Đại Từ nói chung và 12 xã thuộc châu Văn Lãng xưa nói riêng đã góp phần không nhỏ vào
sự phát triển kinh tế - xã hội chung của tỉnh Thái Nguyên
Trang 39Chương 2
SỞ HỮU RUỘNG ĐẤT Ở CHÂU VĂN LÃNG NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX
2.1 Tình hình ruộng đất ở châu Văn Lãng theo địa bạ năm Gia Long 4 (1805)
Để nghiên cứu tình hình ruộng đất của châu Văn Lãng, một trong những tài liệu quan trọng đó là địa bạ: “địa bạ là văn bản chính thức về địa giới và diện tích các loại ruộng đất, các loại hình sở hữu ruộng đất của làng xã, được thiết lập trên sự khám đạc và xác nhận của chính quyền, dùng làm cơ sở cho việc quản lý ruộng đất và thu tô thuế của nhà nước Có thể định nghĩa một cách tổng quát về địa bạ tuy mỗi thời và mỗi nơi tên gọi và quy cách địa bạ có khác nhau ” [17, tr 17]
Cùng với quá trình phát triển và củng cố chế độ quân chủ tập quyền, các vương triều quân chủ Việt Nam rất quan tâm đến việc lập địa bạ của làng xã để thực thi quyền quản lý và quyền thu tô thuế của Nhà nước Tuy nhiên, hiện nay những địa bạ được lập trước thế kỷ XIX còn lưu lại rất ít Trong sưu tập địa bạ của Viện nghiên cứu Hán - Nôm chỉ có 2 địa bạ cuối thế kỷ XVII (1694-1695),
1 địa bạ đầu thế kỷ XVIII (1723) và 4 địa bạ cuối thế kỷ XVIII, còn lại 1609 địa bạ đời Nguyễn (chiếm 98,3% tổng số địa bạ sưu tập)
Nhà Nguyễn sau khi bình định xong cả nước (1802) đã ý thức ngay được tầm quan trọng của việc lập địa bạ Năm Gia Long thứ 3 (1804) đã xuống chiếu: “Từ Nghệ An, Thanh Hoá đến các trấn Bắc Thành nay phải sức xuống cho các phủ, huyện, tổng, xã trong hạt chiểu theo ruộng chiêm, ruộng mùa và ruộng chiêm mùa 2 vụ trong xã mà kê khai mẫu, sào, thước, tấc, ở xứ
sở nào và 4 bên đông tây, cước chú rõ ràng, làm sổ để nộp Việc làm sổ ruộng này rất quan trọng, cần phải cố gắng làm cho cẩn thận chớ có sao lãng” [24,
tr 119] Đến thời vua Minh Mệnh về cơ bản nhà Nguyễn đã lập xong sổ địa
bạ trên toàn quốc
Trang 40Từ thời Thiệu Trị (1841) cho đến thời Bảo Đại (1945) công việc còn lại chỉ bổ sung thêm một số địa phương vì lí do này hay lí do khác mà trong những đợt làm địa bạ lớn chưa được thực hiện Vì thế trong tổng số 18.519 đơn vị địa bạ hiện còn lưu trữ tại Viện nghiên cứu Hán – Nôm và Cục Lưu trữ Nhà nước, hai đơn vị sưu tập địa bạ lớn nhất nước ta hiện nay thì số địa bạ có niên đại Gia Long, Minh Mệnh là 17.604 đơn vị, chiếm 95,06% tổng số địa bạ được lưu trữ
Tại Cục lưu trữ Nhà nước, địa bạ Bắc Kỳ gồm 4269 tập với 8704 địa bạ của 162 huyện đương thời, hiện nay thuộc 9 tỉnh, thành phố, vùng đồng bằng trung du Bắc Bộ và 10 tỉnh miền núi Trong số này thì địa bạ mang niên hiệu Gia Long 4 (1805) chiếm 83%, địa bạ mang niên hiệu Minh Mệnh 21 (1840) chiếm gần 15% Điều này chứng tỏ nhà Nguyễn dưới hai vương triều Gia Long, Minh Mệnh rất quan tâm đến vấn đề ruộng đất và đã quản lý được ruộng đất rất chặt chẽ
Cũng như các địa phương khác trong cả nước ở nửa đầu thế kỷ XIX, châu Văn Lãng đã được các vua nhà Nguyễn cho lập địa bạ Các địa bạ của Văn Lãng mà chúng tôi sưu tập được lập vào đầu triều Nguyễn chủ yếu ở các niên đại Gia Long 4 (1805) và Minh Mệnh 21 (1840) với tổng số 19 địa bạ, trong đó có 11 địa bạ có niên đại Gia Long 4 (1805) và 8 địa bạ niên đại Minh Mệnh 21 (1840)
Trong quá trình sử dụng tư liệu địa bạ, chúng tôi tiến hành thống kê, phân loại, cố gắng phục dựng lại vài nét về tình hình ruộng đất ở Văn Lãng nửa đầu thế kỷ XIX Các địa bạ nêu trên hiện đang lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I (Hà Nội) mang ký hiệu từ 8680 – 8698
Theo số liệu của 11 địa bạ niên đại Gia Long 4 (1805) các loại ruộng đất
ở châu Văn Lãng như sau: