Các dự án đưa di sản vào trường học có được tác động tích cực nhưng còn không ít thách thức đối với các nhà quản lý giáo dục, văn hóa… Để hiện thực hóa chính sách nói trên về việc dạy và
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ––––––––––––––––––––––––
NGUYỄN THỊ NGỌC
GIÁO DỤC GIÁ TRỊ DI SẢN TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 9 - TRUNG HỌC CƠ SỞ
TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ––––––––––––––––––––––––
NGUYỄN THỊ NGỌC
GIÁO DỤC GIÁ TRỊ DI SẢN TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 9 - TRUNG HỌC CƠ SỞ
TỈNH BẮC NINH
Ngành: Lí luận và phương pháp dạy học Địa Lí
Mã số: 8.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Dương Quỳnh Phương
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện dưới sự
hướng dẫn của PGS.TS Dương Quỳnh Phương
Các số liệu trong luận văn là có thực, có nguồn gốc rõ ràng Kết quả luận văn chưa được công bố trong công trình nào khác Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Thái nguyên, ngày ….tháng….năm 2018
Tác giả
Nguyễn Thị Ngọc
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS Dương Quỳnh Phương
đã tận tình hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu; Bộ phận Sau đại học - Phòng đào tạo; Ban chủ nhiệm khoa Đia Lí - Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên
đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn, Ban Giám hiệu, giáo viên, học sinh các trường THCS Quế Tân, trường THCS Việt Hùng, THCS Phù Lương đã giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát thực tế để thực hiện luận văn
Thái Nguyên, ngày ….tháng …năm 2018
Tác giả
Nguyễn Thị Ngọc
Trang 5iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt iv
Danh mục các bảng v
Danh mục các hình v
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục tiêu và nhiệm vụ 5
4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 5
5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 6
6 Những đóng góp của đề tài 8
7 Cấu trúc của đề tài 8
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC DI SẢN TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÝ 9
1.1 Cơ sở lý luận 9
1.1.1 Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học 9
1.1.2 Phương pháp dạy học 10
1.1.3 Di sản văn hóa 12
1.1.4 Giáo dục di sản 17
1.2 Cơ sở thực tiễn 20
1.2.1 Cấu trúc, đặc điểm chương trình sách giáo khoa địa lý lớp 9 20
1.2.2 Đặc điểm tâm sinh lý và trình độ nhận thức của học sinh lớp 9 23
1.2.3 Thực trạng giáo dục di sản trong dạy học địa lí cho học sinh lớp 9 hiện nay 24
1.2.4 Thực trạng việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản của Việt Nam 27
1.2.5 Khả năng giáo dục giá trị di sản trong dạy học Địa lý 9 31
Tiểu kết chương 1 33
Trang 6iv
LÝ LỚP 9 34
2.1 Yêu cầu và nguyên tắc tổ chức dậy học giáo dục di sản trong môn Địa lí 9 34
2.1.1 Các yêu cầu của việc giáo dục di sản qua môn địa lí 34
2.1.2 Các nguyên tắc sử dụng phương pháp giáo dục di sản trong bài dạy học Địa lí 9 39
2.1.3 Nguyên tắc xác định nội dung giáo dục di sản qua bài dạy Địa lí 9 42
2.2 Xác định nội dung giáo dục di sản qua môn địa lý lớp 9 45
2.2.1 Mục tiêu giáo dục di sản văn hóa cho học sinh lớp 9 45
2.2.2 Các kiến thức về về giáo dục di sản trong chương trình Địa lí lớp 9 46
2.3 Phương pháp giáo dục di sản cho học sinh lớp 9 qua việc dạy học tích hợp vào một số bài học 48
2.4 Một số hình thức tổ chức giáo dục di sản cho học sinh qua bài dạy học Địa lí lớp 9 49
2.4.1 Khai thác, sử dụng thông tin địa lí về DSVH để tiến hành bài học nội khóa địa lí (tổ chức bài học tại lớp) 49
2.4.2 Tiến hành bài học tại nơi có di sản văn hóa (Bài học thực địa) 51
2.4.3 Tổ chức tham quan di sản văn hóa 53
2.4.4 Giáo dục di sản văn hóa cho học sinh lớp 9 qua dự án địa lí 54
2.4.5 Sử dụng di sản để tổ chức các hoạt động ngoại khóa khác 55
2.5 Thiết kế một số kế hoạch dạy học về tích hợp giáo dục di sản qua dạy học địa lí 9 THCS 58
2.5.1 Một số di sản tiêu biểu ở tỉnh Bắc Ninh 58
2.5.2 Một số kế hoạch dạy học giáo dục di sản 60
Tiểu kết chương 2 80
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 81
3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm 81
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 81
3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 81
Trang 7v
3.2 Nguyên tắc tiến hành thực nghiệm 81
3.3 Nội dung thực nghiệm 82
3.4 Tổ chức thực nghiệm 82
3.4.1 Thời gian thực nghiệm 82
3.4.2 Chọn trường, lớp thực nghiệm 82
3.4.3 Chọn giáo viên thực nghiệm 83
3.4.4 Phương pháp thực nghiệm 83
3.4.5 Tiến hành thực nghiệm và kết quả thực nghiệm 83
Tiểu kết chương 3 86
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 87
1 Kết luận 87
2 Khuyến Nghị 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 PHỤ LỤC
Trang 8iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Thực trạng về mức độ giáo dục di sản của giáo viên trong dạy học địa
lí cho học sinh lớp 9 tại 3 trường (THCS Quế Tân, THCS Việt Hùng,
THCS Phù Lương) 25
Bảng 1.2 Thực trạng sử dụng phương pháp của giáo viên trong giáo dục giá trị DSVH cho HS THCS 26
Bảng 2.1 Nội dung được lồng ghép trong chương trình giáo dục giá trị DSVH cho học sinh lớp 9 THCS 46
Bảng 3.1 Danh sách trường, lớp tham gia thực nghiệm sư phạm 82
Bảng 3.2 Danh sách giáo viên dạy thực nghiệm 83
Bảng 3.3 Điểm kiểm tra bài thực nghiệm 84
Bảng 3.4 Bảng tổng hợp điểm trung bình của các lớp thực nghiệm và đối chứng 84
Bảng 3.5 Bảng phân phối tổng hợp điểm các bài trắc nghiệm của lớp thực nghiệm và đối chứng 84
DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 3.1 Biểu đồ so sánh tỉ lệ HS khá giỏi giữa thực nghiệm và đối chứng ở 3 trường THCS 85
Trang 10Hiện nay, giảng dạy về di sản đã là yêu cầu với các trường phổ thông Các dự
án đưa di sản vào trường học có được tác động tích cực nhưng còn không ít thách thức đối với các nhà quản lý giáo dục, văn hóa… Để hiện thực hóa chính sách nói trên về việc dạy và học về di sản văn hóa trong trường học cũng như nhằm đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học ở giáo dục phổ thông và giữ gìn, phát huy giá trị của di sản văn hóa, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Văn bản 73/HD - BGDĐT - BVHTTDL ngày 16/1/2013 hướng dẫn sử dụng di sản trong dạy học ở trường phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên (GDTX) Việc sử dụng di sản văn hóa trong dạy học ở trường phổ thông hướng tới đích giúp học sinh có những hiểu biết về những giá trị của các di sản, qua đó giáo dục học sinh ý thức gìn giữ, bảo vệ các di sản văn hóa Di sản văn hóa, dù dưới dạng vật thể hoặc phi vật thể đều có thể sử dụng trong quá trình giáo dục, dạy học dưới hình thức tạo môi trường; tạo công cụ hoặc là nguồn cung cấp chất liệu để xây dựng nội dung dạy học, giáo dục
Các di sản văn hoá được đưa vào trong dạy học và các hoạt động giáo dục gắn liền mục tiêu giáo dục toàn diện học sinh về đức, trí, thể, mỹ; Đồng thời gắn liền với việc đổi mới phương pháp dạy học, đa dạng hóa các hình thức dạy học, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong việc sưu tầm, tìm hiểu, sử dụng di sản văn hóa trong giờ học và các hoạt động giáo dục
Sử dụng di sản văn hóa trong dạy học ở trường phổ thông, trung tâm GDTX được triển khai thực hiện hàng năm ở tất cả các cấp học giáo dục phổ thông và GDTX; đồng thời có sự phối hợp chặt chẽ, thường xuyên, hiệu quả giữa các cơ sở
Trang 112
giáo dục phổ thông, GDTX và các cơ quan liên quan thuộc ngành Văn hóa, Thể thao
và Du lịch Trong các trường học đã có nhiều hoạt động thiết thực nhằm nhằm hình thành và nâng cao ý thức tôn trọng, giữ gìn, phát huy những giá trị của di sản văn hóa Đặc biệt là thông qua các bộ môn học, nhà trường và giáo viên đã đưa giá trị di sản của địa phương, đất nước và trên thế giới vào trong bài học
Đối với môn Địa lí việc giáo dục giá trị di sản là hết sức cần thiết, trong chương trình môn Địa lý lớp 9 có những kiến thức bổ ích nhất về đặc điểm tự nhiên, dân cư và kinh tế xã hội của Việt Nam Những kiến thức rất thực tế, gần gũi với học sinh nên việc tích hợp sử dụng di sản trong dạy và học rất khả quan, thuận lợi và mang nhiều ý nghĩa.Tuy nhiên có rất nhiều phương thức được các nhà trường sử dụng nhằm giúp học sinh tiếp cận học hỏi về các di sản như phương thức tổ chức dạy học giáo dục di sản văn hóa được thực hiện lồng ghép vào các môn học, hoạt động giáo dục trong chương trình giáo dục phổ thông (nội khóa hoặc ngoại khóa),
Để việc sử dụng di sản văn hoá để dạy học Địa lí lớp 9 mang lại những kết quả tích cực vừa có giá trị ở phương pháp giáo dục kiến thức phổ thông theo quy định của chương trình, vừa nâng cao nhận thức và trách nhiệm của học sinh đối với di sản văn hoá thì việc tích hợp giáo dục di sản vào các bài học trong chương trình Địa lí lớp 9 là
cần thiết Vì vậy tác giả đã lựa chọn hướng nghiên cứu “Giáo dục giá trị di sản trong
dạy học Địa lí lớp 9 - Trung học cơ sở tỉnh Bắc Ninh” làm luận văn tốt nghiệp
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Trên thế giới
Hội đồng di sản thế giới (WHC) của UNESCO đã được thành lập và tiến hành xây dựng các tiêu chuẩn, điều kiện công nhận của các di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, đồng thời nghiên cứu, giúp đỡ các quốc gia trong việc nghiên cứu, tôn tạo, bảo vệ các di sản thế giới WHC có vai trò lớn trong việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy các DSVH trên toàn thế giới với các chương trình hoạt động cụ thể ở từng quốc gia
Tổ chức này cũng đề cao vai trò của giáo dục trong việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy các giá trị DSVH thông qua nhiều dự án, chương trình đầu tư vào giáo dục để nâng cao nhận thức của công dân toàn cầu về DSVH
Ngoài ra, đã có nhiều các công trình nghiên cứu các di sản như: “Công ước về Bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới”, Trung tâm Di sản thế giới của UNESCO, Pari, Pháp, WHC- 2001/WS/2 “Hướng dẫn hoạt động thực hiện Công ước
Di sản thế giới”, Trung tâm Di sản thế giới của UNESCO, Pari, Pháp, WHC-99/2
Trang 123
March 1999; công trình “World cultural and natural heritage sites: Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới” (2002) của Luo Zhewen đã giới thiệu các danh thắng ở Trung Quốc đã được công nhận là những di sản văn hoá Thế giới, Một số các công trình nghiên cứu về các khía cạnh của du lịch: “Du lịch và sự phát triển sáng tạo” của Lawson và Baud Bovy (1977), “Tổ chức lãnh thổ du lịch” của Gunn (1972), “Nghiên cứu các chỉ tiêu đánh giá, phục vụ mục đích quy hoạch du lịch” của L.I Mukhina (1973), “Quản lí du lịch tại các khu di sản thế giới” Tài liệu hướng dẫn thực tiễn cho các nhà quản lý khu Di sản thế giới, tác giả Arthur Pedersen (2002)
Bên cạnh đó nhiều quốc gia, nhiều tổ chức đã thành lập các Website liên quan đến giáo dục di sản và đặc biệt là cung cấp các nguồn tư liệu về di sản, di sản với dậy học, liên kết các trang học tập nhằm giáo dục kiến thức toàn diện cho học sinh
2.2 Ở Việt Nam
Trong thời gian gần đây, vấn đề giữ gìn và phát huy DSVH được nhiều nhà khoa học quan tâm và đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học có giá trị, đã công bố rộng rãi dưới dạng sách tham khảo, bài báo cáo khoa học Các công trình nghiên cứu khoa học thường theo 2 nhóm vấn đề: nhóm công trình nghiên cứu tổng quát về văn hóa, DSVH và vấn đề giữ gìn phát huy DSVH dân tộc; nhóm công trình nghiên cứu trực tiếp đến vấn đề giáo dục di sản trong dạy học Địa lí Trên cơ sở sự phân định đó, luận án tiến hành chọn lọc có thực hiện tổng quan những công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến luận án như sau:
Luận văn “Giáo dục giá trị di sản văn hóa cho học sinh THPT tỉnh Bắc Giang” (2015) của tác giả Đồng Thị Thanh Luận văn đã làm rõ hơn thực trạng giáo dục giá trị DSVH cho học sinh THPT ở tỉnh Bắc Giang từ đó đề xuất một số biện pháp giáo dục giá trị DSVH cho HS THPT Đề tài tập trung nghiên cứu quá trình giáo dục giá trị DSVH nói chung và giáo dục giá trị các DSVH tiêu biểu tỉnh Bắc Giang (Mộc bản Chùa Vĩnh Nghiêm, Dân ca quan họ Kinh Bắc, Khu di tích khởi nghĩa Yên Thế) cho học sinh ở trường THPT tỉnh Bắc Giang
Công trình Bảo tồn và phát huy giá trị DSVH phi vật thể ở Thăng Long - Hà Nội của tác giả Võ Trọng Quang tiếp cận ở góc độ bảo tồn, phát huy giá trị DSVH phi vật thể ở Thăng Long và nêu rõ một trong những biện pháp hữu hiệu để giữ gìn
và phát huy DSVH là cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục ý thức tự giác, trách nhiệm của người dân tham gia vào công tác này
Trang 134
Luận văn “Giáo dục di sản tỉnh Hà Giang trong dạy học Địa lý lớp 12” (2015) của tác giả Trần Viết Tùng Đề tài tập trung vào việc xác định nội dung và phương pháp giáo dục di sản văn hóa qua môn địa lý lớp 12 THPT Từ đó, đề xuất một số hình thức tổ chức, biện pháp giáo dục di sản văn hóa theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh nhằm nâng cao chất lượng dạy học địa lý ở trường phổ thông Tuy nhiên, luận văn chưa làm rõ được thực trạng bảo tồn giá trị DSVH ở Việt Nam hiện nay
Luận văn của tác giả Nguyễn Thị Huyền “Giáo dục di sản tỉnh Thái Nguyên trong dạy học Địa lý lớp 12” (2015) đã nghiên cứu tổng quan cơ sở lý luận về di sản, giáo dục giá trị di sản thông qua hoạt động dạy học địa lí, khảo sát thực tế và thu thập
và xử lí tài liệu về di sản ở tỉnh Thái Nguyên, thiết kế một số bài học trong chương trình Địa lí lớp 12 THPT để thực nghiệm các phương pháp giáo dục giá trị di sản tỉnh Thái Nguyên đã đề ra Tiến hành thực nghiệm sư phạm và đánh giá kết quả thực nghiệm Từ đó tác giả đưa ra kiến nghị và đề xuất giáo dục giá trị di sản ở tỉnh Thái Nguyên trong dạy học địa lí 12
Tác giả Trần Thị Hồng Minh đã nghiên cứu về “Vấn đề giữ gìn và phát huy di sản văn hóa ở Thừa Thiên Huế hiện nay” (2014) Luận án đã làm rõ thực trạng giữ gìn và phát huy DSVH ở tỉnh Thừa Thiên - Huế với những nét đặc thù riêng có của một tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm miền trung bao gồm: những kết qủa đạt được, hạn chế, nguyên nhân và những vấn đề đặt ra Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả của vấn đề giữ gìn và phát huy DSVH ở tỉnh Thừa Thiên - Huế trong thời gian tới
Giáo trình “Quản lí di sản văn hóa” dùng cho sinh viên cao đẳng và đại học ngành quản lí văn hóa của tác giả Nguyễn Thị Kim Loan Giáo trình đã đề cập đến liên quan đến lí luận về DSVH và vai trò của DSVH trong phát triển xã hội; giới thiệu một cách hệ thống về quản lí nhà nước của DSVH
Ngoài ra, tác giả đã tham khảo, kế thừa kết quả của một số tài liệu khoa học là
cơ sở gợi mở cho hướng nghiên cứu về giáo dục di sản văn hóa trong dạy học Địa lý lớp 9 ở trường THCS Một số bài viết nghiên cứu về việc sử dụng di sản trong dạy học ở các trường phổ thông như bài “Giáo dục trải nghiệm di sản cho học sinh” của PGS.TS Nguyễn văn Huy - Ủy viên Hội đồng di sản văn hóa quốc gia Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX; Luật di sản văn hóa; Hướng dẫn thực hiện công ước di sản Thế giới (1972); Tài liệu tập huấn “Hướng dẫn sử dụng di sản văn hóa
Trang 145
trong dạy ở trường phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên” Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vi Văn Tuất “ Giáo dục DSVH trong dạy học Địa Lí lớp 12”
3 Mục tiêu và nhiệm vụ
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu, vận dụng một cách có chọn lọc những vấn đề lí luận và thực tiễn về di sản và giáo dục di sản; đề tài tập trung vào việc xác định nội dung và phương pháp giáo dục di sản văn hóa thông qua việc tích hợp, lồng ghép vào dạy một
số bài cụ thể trong chương trình Địa lý lớp 9 Từ đó, đề xuất một số hình thức tổ chức, biện pháp giáo dục di sản văn hóa theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh nhằm nâng cao chất lượng dạy học Địa lý ở trường phổ thông hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan có chọn lọc cơ sở lí luận và thực tiễn của việc giáo dục di sản văn hóa trong dạy học Địa lí 9
- Tìm hiểu thực tế việc giáo dục di sản văn hóa qua môn Địa lí 9 ở một số trường THCS trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
- Phân tích nội dung chương trình, sách giáo khoa Địa lý lớp 9 để xác định khả năng và các địa chỉ tích hợp giáo dục di sản văn hóa trong dạy học
- Thiết kế và đề xuất phương pháp, hình thức thực hiện một số kế hoạch dạy học về giáo dục giá trị di sản trong dạy học Địa lí lớp 9
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng các kết quả nghiên cứu
4 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: đề tài nghiên cứu tập trung nghiên cứu trên một số di sản tiêu biểu đã được thẩm định tính khoa học, tính chọn lựa phù hợp từng đơn vị kiến thức
và yêu cầu bài học có thể tích hợp vào giảng dạy các bài trong chương trình sách giáo khoa (SGK) Địa lí 9
- Về nguồn tư liệu: đề tài sử dụng số liệu thống kê về di sản (số liệu từ năm
2009 đến năm 2017) và các bài báo của những cơ quan liên quan và điều tra thực tế
- Về không gian: đề tài tập trung vào các khu vực có di sản, đặc biệt là di sản được UNESCO công nhận và di sản cấp Quốc gia; Các di sản trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh - Địa phương tiến hành tổ chức dạy thực nghiệm ở một số trường THCS
- Về thời gian: đề tài tập trung sử dụng, phân tích các tài liệu, số liệu thống kê của các cơ quan chức năng như Bộ văn hóa - du lịch - thể thao từ năm 2009 đến năm
2017, định hướng đến năm 2020
Trang 156
- Về các trường tổ chức dạy thực nghiệm: Lựa chọn một số trường THCS trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh (Địa phương có nhiều di sản, đồng thời là nơi tác giả đang công tác)
5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1 Quan điểm nghiên cứu
- Quan điểm duy vật biện chứng: Mọi sự vật hiện tượng đều vận động và biến đổi không ngừng và đều có xu hướng phát triển Dựa trên quan điển duy vật biện chứng để nghiên cứu sẽ giúp cho các kết quả nghiên cứu có tính logic và phản ánh đúng quá trình phát triển và nguyên nhân của sự phát triển
- Quan điểm tổng hợp: Đây là một quan điểm quan trọng trong nghiên cứu khoa học địa lí Quan điểm tổng hợp xem xét các yếu tố trong mối quan hệ tương tác,
sự tác động qua lại giữa giáo dục và thực tiễn nghiên cứu cũng như trong mối quan hệ chặt chẽ của toàn hệ thống giáo dục Quan điểm này giúp tác giả nghiên cứu một cách tổng quan việc giáo dục di sản văn hóa cho học sinh ở trường phổ thông, thông qua việc xác định các nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục cho học sinh
- Quan điểm hệ thống - cấu trúc: Tính hệ thống là một trong những quan điểm không thể thiếu trong nghiên cứu khoa học nói chung, cũng như khi nghiên cứu khoa học địa lý Bất kỳ một nội dung kiến thức nào khi nghiên cứu đều phải được đặt trong mối tương quan với các yếu tố thuộc hệ thống cấp cao hơn và trong cấp phân vị thấp hơn Giáo dục di sản văn hóa là một bộ phận trong việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ, nó bao gồm nhiều thành phần, các thành phần có mối quan hệ chặt chẽ và tác động qua lại với nhau
- Quan điểm lịch sử: Các đối tượng, hiện tượng địa lý đều phải có thời gian hình thành và phát triển nhất định Vì vậy, cần phải vận dụng quan điểm này để gắn liền giữa lí luận và thực tiễn, từ đó tránh có cái nhìn phiến diện, chủ quan về vấn đề nghiên cứu Đồng thời, khi xem xét quá khứ và hiện tại của các đối tượng, ở một mức
độ nhất định có thể dự đoán được tương lai của chúng
Đây là quan điểm cho ta cái nhìn đầy đủ, toàn diện về quá khứ, hiện tại cũng như dự đoán được tương lai của sự vật, hiện tượng Quan điểm này được tác giả sử dụng trong nghiên cứu đề tài, việc giáo dục di sản văn hóa trong nhà trường phổ thông nói chung và qua môn Địa lý nói riêng, cho ta một cái nhìn sâu sắc, toàn diện
về thực trạng và phương pháp giáo dục hiện nay Bên cạnh đó, việc giáo dục DSVH còn giúp truyền thụ cho HS (học sinh) những kiến thức cần thiết, rèn luyện kĩ năng
Trang 167
thực hành, hình thành thái độ, tình cảm, ý thức bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời nâng cao hứng thú học tập bộ môn Địa lí cho HS
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp, xử lý các số liệu, tài liệu:
Phương pháp này cho phép tác giả tổng quan các tài liệu, kế thừa những nghiên cứu trước đó và có cơ sở để đưa ra những nhận định và kết quả của công trình Những thông tin, những nguồn tài liệu tham khảo, sử dụng từ các nguồn xử lý, thống
kê từ các ban ngành có liên quan đến các di sản
Ngoài ra, để phục vụ cho mục đích và yêu cầu của luận văn, tác giả có sử dụng tài liệu từ các dự án, đề tài nghiên cứu, các trang web có liên quan đến di sản, cung cấp thông tin và các chỉ thị, các nghị quyết của ngành giáo dục có liên quan đến đề tài Để đề tài đảm bảo tính khoa học và tính sư phạm, trong quá trình thu thập tài liệu phải đặc biệt chú ý đến nội dung chương trình SGK Địa lý lớp 9, sách hướng dẫn của giáo viên, sách chuẩn kiến thức, kĩ năng cùng với các tài liệu tham khảo khác
- Phương pháp khảo sát điều tra
Để đảm bảo tính xác thực và khoa học của đề tài tác giả đã sử dụng phương pháp khảo sát điều tra thực tế ở một số trường phổ thông để nắm rõ thực trạng dạy và học di sản văn hóa ở các trường phổ thông hiện nay Dự giờ của một số giáo viên đang dạy Địa lý lớp 9, phỏng vấn và phát phiếu điều tra cho giáo viên và học sinh về thực trạng giáo dục di sản văn hóa qua môn Địa lý ở nhà trường phổ thông Từ đó, phân tích các kết quả để thấy được tính khả thi của đề tài, rút ra những nhận xét chính xác và khách quan Đồng thời để đưa ra những kiến nghị cần thiết, giúp cho việc giảng dạy và học tập bộ môn địa lý, trong đó có việc giáo dục di sản văn hóa được tốt hơn
- Phương pháp sử dụng toán thống kê
Phương pháp sử dụng toán thống kê đảm bảo cho quá trình nghiên cứu khoa học đi đúng hướng, nhất quán, cũng như trong trình bày kết quả nghiên cứu thành một hệ thống lôgic và đồng thời tạo lập các ngôn ngữ khoa học chính xác có tính thuyết phục cao Tác giả sử dụng phương pháp này trong việc xử lý, phân tích các kết quả thu được sau khi tiến hành quan sát, điều tra, thực nghiệm sư phạm ở các trường phổ thông nhằm đánh giá tính khả thi, làm cho các kết quả nghiên cứu trở nên chính xác, đảm bảo độ tin cậy trong việc giáo dục kiến thức di sản văn hóa
Trang 178
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Để kiểm chứng tính khoa học và thực tiễn của đề tài, tác giả đã tiến hành thực nghiệm sư phạm ở một số trường THCS, việc thực nghiệm được tiến hành bằng cách tác giả trực tiếp giảng dạy hoặc nhờ một số giáo viên có kinh nghiệm ở một số trường THCS giảng dạy theo giáo án do tác giả thiết kế Tiến hành thực nghiệm đối chứng, sau
đó dùng phiếu thăm dò, lấy ý kiến của giáo viên và học sinh nhằm kiểm nghiệm các kết quả lý thuyết mà đề tài đưa ra Phân tích các kết quả thực nghiệm thu được, rút ra những nhận định cần thiết và từ đó đề ra một số kiến nghị giúp cho việc giáo dục di sản văn hóa nói riêng, cũng như địa lý nói chung đạt được hiệu quả như mong muốn
- Xây dựng được các nội dung, phương pháp cách tích hợp nội dung giáo dục
di sản văn hóa theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh vào dạy học địa lý lớp
9 Dưới dạng công cụ, thiết bị dạy học, di sản văn hóa giúp cho quá trình học tập của
HS trở nên hấp dẫn hơn, HS hứng thú học tập và hiểu bài sâu sắc hơn, phát triển tư duy độc lập sáng tạo, giáo dục tư tưởng, đạo đức cho HS
- Thiết kế một số kế hoạch dạy học tích hợp giáo dục di sản văn hóa vào dạy học Địa lý lớp 9
- Đề tài sẽ là nguồn tài liệu tham khảo cho giáo viên Địa lý nói chung và giáo viên Địa lý lớp 9 nói riêng
7 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung đề tài được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc giáo dục di sản trong dạy học
địa lý
Chương 2: Tổ chức dậy học giáo dục di sản trong trong môn Địa lý lớp 9 Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 189
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC DI SẢN
TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÝ
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học
Cùng với sự phát triển của đất nước, nền giáo dục Việt Nam từng bước được đổi mới Đảng ta đã xác định giáo dục là: ‘‘quốc sách hàng đầu”, coi đầu tư giáo dục là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển, tạo điều kiện cho giáo dục đi trước, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển của đất nước
Công cuộc đổi mới đất nước đã đề ra những yêu cầu đổi mới với hệ thống giáo dục, phải ‘‘xác định lại mục tiêu, thiết kế lại mục tiêu, thiết kế lại chương trình, kế hoạch nội dung, phương pháp giáo dục và đào tạo”
Nghị quyết TW4 khóa VII đã xác định ‘‘khuyến khích tự học’’ phải ‘‘Áp dụng phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề”
Nghị quyết TW2 khóa VIII tiếp tục khẳng định phải ‘‘Đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tựu học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học”
Những định hướng trên đã được pháp chế hóa trong Luật giáo dục, điều 24.2, có ghi ‘‘phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tựu giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
Hiện nay, các tài liệu giáo dục và dạy học ở nước ngoài và trong nước - kể cả một số văn bản của Bộ giáo dục và Đào tạo - thường nói tới việc cần thiết chuyển từ dạy học lấy giáo viên làm trung tâm sang dạy học lấy học sinh làm trung tâm
Có thể xem dạy học lấy học sinh làm trung tâm là một tư tưởng, một quan điểm, một cách tiếp cận mới về hoạt động dạy học Người ta còn dùng một số thuạt ngữ khác, tương đương như dạy học tập trung vào người học, dạy học tích cực hóa hoạt động của người học Các thuật ngữ đều nhấn mạnh hoạt động học và vai trò của người học trong quá trình học
Trang 1910
Như vậy, việc đổi mới phương pháp dạy học là một xu hướng tất yếu, theo lịch
sử phát triển của phương pháp giáo dục và dạy học trong nhà trường Hiện nay, việc giáo dục DSVH trong dậy học là một phần của xu thế đổ mới PPDH
1.1.2 Phương pháp dạy học
1.1.2.1 Khái niệm về phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học là tổng hợp các cách thức làm việc phối hợp thống nhất của thầy và trò (trong đó thầy đóng vai trò chủ đạo, trò đóng vai trò tích cực chủ động) nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học Như vậy, phương pháp dạy học bao gồm cả phương pháp dạy và phương pháp học
Phương pháp dạy là cách thức giáo viên trình bày tri thức, tổ chức và kiểm tra hoạt động nhận thức và thực tiễn của học sinh nhằm đạt được nhiệm vụ dạy học Theo quan điểm công nghệ dạy học, phương pháp dạy học là phương pháp thiết kế và góp phần thi công quá trình dạy học của người giáo viên [9]
Phương pháp học là cách thức tiếp thu, tự tổ chức và kiểm tra hoạt động nhận thức và thực tiễn của học sinh nhằm đạt được các nhiệm vụ dạy học Cũng có thể nói phương pháp học là cách thức tự thiết kế và thi công quá trình học tập của học sinh nhằm đạt được các nhiệm vụ dạy học [9]
Mỗi phương pháp gồm các yếu tố sau đây:
- Mục đích định trước;
- Hệ thống những hành động liên tiếp tương ứng;
- Phương pháp hành động (ngôn ngữ, thao tác );
- Quá trình biến đổi của đối tượng bị tác động;
- Kết quả thực tế đạt được;
Bên cạnh những điểm chung nói trên, phương pháp dạy học có những điểm riêng
do tính chất đặc thù của dạy học Phương pháp dạy học bao gồm cả phương pháp dạy, phương pháp học có quan hệ chặt chẽ với phương pháp khoa học và tâm lí học của sự lĩnh hội
Ngoài tính mục đích, phương pháp dạy học còn phụ thuộc vào nội dung Mỗi môn học có nội dung và phương tiện dạy học riêng nên cũng có phương pháp dạy học riêng Trong môn Địa lí có nhiều nội dung khác nhau như địa lí tự nhiên, địa lí kinh tế -
xã hội, nên phương pháp dạy học địa lí cũng lại phân hóa ra: phương pháp dạy địa lí tự nhiên, phương pháp dạy học địa lí kinh tế - xã hội,
Trang 2011
Ngoài ra, do đặc điểm riêng của môn Địa lí là luôn gắn với bản đồ, với việc quan sát trên thực địa, cho nên phương pháp dạy học địa lí cũng có sự khác biệt với các môn khoa học khác Đó chính là nguyên nhân làm nảy sinh ra những phương pháp dạy học đặc trưng của môn Địa lí
1.1.2.2 Phương pháp dạy học tích cực
PPDH tích cực là những PPDH phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa các hoạt động nhận thức của người học (tức là tập trung phát huy tính tích cực của người học chứu không phải tập trung vào người dạy) [10]
Bản chất của dạy học tích cực là khai thác động lực học tập trong bản thân người học để phát triển chính họ Coi trọng lợi ích, nhu cầu của mỗi cá nhân người học, đảm bảo cho họ thích ứng với đời sống xã hội
Đặc trưng cơ bản của PPDH tích cực là dạy học thông qua tổ chức các hoạt động cho HS, chú trọng vào việc phát triển năng lực tự học, tăng cường học tập cá thể và phối hợp với học tập hợp tác khác Kết hợp đánh giá của thầy - tự đánh giá của trò
Theo quan điểm lí luận dạy học hiện đại tổ chức dạy học hiệu quả là quá trình được vận hành theo nguyên lí ‘‘hỗ trợ tích cực” và ‘‘chủ động kiến tạo”
Tổ chức dạy học phải tuân theo các nguyên tắc chung của dạy học hiệu quả:
- Dạy học theo mục tiêu và dựa trên tư duy bậc cao
- Đa dạng hóa các hoạt động dạy học
- Tạo môi trường học tập an toàn
- Cung cấp các cơ hội học tập công bằng
- Dạy học bằng chính hoạt động, sự tham gia đóng góp của chính người học
- Dạy học dựa trên việc đánh giá, tự đánh giá và cùng đánh giá
Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực là một quá trình lâu dài, phải được thực hiện ở tất cả các cấp học, các bậc học, môn học Thực hiện dạy và học tích cực sẽ mang lại hiệu quả cao trong giáo dục
1.1.2.3 Quan niệm về dạy học tích hợp
Tích hợp là sự hợp nhất, sự hòa nhập, sự kết hợp Đó là sự kết hợp nhất hay nhất thể hóa các bộ phận khác nhau để đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhất dựa trên những nét bản chất của các thành phần đối tượng chứ không phải là phép cộng giản đơn như những thuộc tính của thành phần ấy
Trang 2112
Theo dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể: “ Dạy học tích hợp là định hướng dạy học giúp học sinh phát triển khả năng huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết có hiệu quả các vẫn đề trong học tập và trong cuộc sống, được thực hiện ngay trong quá trình lĩnh hội tri thức và rèn luyện kĩ năng; phát triển được những năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn đề”
Trong dạy học các bộ môn, tích hợp được hiểu là sự kết hợp, tổ hợp các nội dung từ các môn học, lĩnh vực học tập khác nhau (theo cách hiểu truyền thống từ trước tới nay) thành một “môn học” mới hoặc lồng ghép các nội dung cần thiết vào những nội dung vốn có của môn học, ví dụ: lồng ghép nội dung giáo dục dân số, giáo dục môi trường, giáo dục di sản… xây dựng môn học tích hợp từ các môn học truyền thống Từ
đó xuất hiện các quan điểm tích hợp như:
- Tích hợp trong nội bộ môn học: tìm kiếm sự kết nối giữa các nội dung, chủ đề; hình thành các chủ đề mới gắn liền với thực tiễn dựa trên các chủ đề, nội dung đã có
- Tích hợp đa môn: một chủ thể có thể xem xét trong nhiều môn học khác nhau
- Tích hợp liên môn: phối hợp sự đóng góp của nhiều môn học để nghiên cứu và giải quyết một tình huống
- Tích hợp xuyên môn: tìm cách phát triển ở HS những kĩ năng xuyên môn có tính chất chung và áp dụng được ở mọi nơi
1.1.3 Di sản văn hóa
1.1.3.1 Khái niệm di sản văn hóa
Theo nghĩa Hán Việt, DSVH là những tài sản văn hóa có giá trị của quá khứ còn tồn tại trong cuộc sống đương đại và tương lai
Năm 1973, Hội nghị Di sản toàn quốc của Vương quốc Anh đã định nghĩa “Di sản là những gì thuộc về thế hệ trước giữ gìn và chuyển giao cho thế hệ này và những
gì mà một nhóm người quan trọng trong xã hội hiện nay mong muốn chuyển giao cho thế hệ tương lai” Với quan niệm này thì DSVH được hiểu như là tài sản, là báu vật của thế hệ trước để lại cho thế hệ sau
Đến năm 1989, UNESCO đã định nghĩa DSVH như sau: “DSVH là tập hợp những biểu hiện vật thể hoặc biểu tượng di sản quá khứ truyền lại cho mỗi nền văn hóa,
và do đó là của toàn thể nhân loại Là một phần của việc khẳng định cũng như làm giàu thêm bản sắc văn hóa, là một dạng di sản nhân loại, DSVH mang lại những đặc điểm riêng cho mỗi địa danh cụ thể, và vì thế nên là nơi cất giữ kinh nghiệm của con người Việc bảo tồn và giới thiệu DSVH này là cốt lõi của mọi chính sách văn hóa”
Trang 2213
Theo điều 1, chương 1 Luật DSVH do Chủ tịch Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam ban hành ngày 29 tháng 6 năm 2001 đã nêu rõ “DSVH quy định tại Luật này bao gồm DSVH phi vật thể và DSVH vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [17] Theo cách hiểu trên thì DSVH bao gồm DSVH phi vật thể và DSVH vật thể đồng thời tương ứng với hai loại hoạt động cơ bản của con người là hoạt động sản xuất ra các giá trị tinh thần và hoạt động sản xuất của cải vật chất
Trong Điều 1 của luật Di sản văn hóa: “Di sản văn hóa gồm DSVH vật thể và di sản văn hóa phi vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [17]
Dựa trên những văn bản của Đảng, Nhà nước Việt Nam và của các tác giả đi trước về DSVH, có thể rút ra: DSVH là tổng thể những tài sản văn hóa truyền thống bao gồm cả văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể trong hệ thống giá trị của nó, được chủ thể nhận biết, qua đó tiến hành giữ gìn và phát huy nhằm đáp ứng những nhu cầu và đòi hỏi của cuộc sống hiện tại
1.1.3.2 Phân loại di sản văn hóa
Phân loại DSVH theo cách phân loại văn hóa của tổ chức UNESCO và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật DSVH Việt Nam năm 2009, theo tiêu chí này DSVH được chia thành hai loại hình: DSVH vật thể và DSVH phi vật thể
* DSVH phi vật thể:
Theo điều 2 của bản Công ước quốc tế về bảo vệ DSVH phi vật thể, khái niệm DSVH phi vật thể được UNESCO hiểu là “Các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần DSVH của họ Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, DSVH phi vật thể được các cộng đồng và nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên
và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua
đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người” [12, tr.30]
Theo Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật DSVH năm 2009 nêu rõ
“DSVH phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và
Trang 2314
không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác” [17]
* Di sản văn hóa vật thể
DSVH vật thể bao gồm toàn bộ những sản phẩm do sản xuất vật chất của con người tạo ra như các công trình kiến trúc, công cụ sản xuất và sinh hoạt, đồ ăn, đồ mặc, các phương tiện đi lại DSVH vật thể là một dạng thức tồn tại của văn hóa chủ yếu dưới dạng vật thể có hình khối, có chiều cao, chiều rộng, trọng lượng, đường nét, màu sắc, kiểu dáng tồn tại trong không gian và thời gian xác định DSVH vật thể được tạo tác từ bàn tay khéo léo của con người, để lại dấu ấn lịch sử rõ rệt DSVH luôn chịu
sự thách thức của quy luật bào mòn của thời gian, trong sự tác động của con người thời đại sau
Tại điều 4 Luật DSVH định nghĩa “DSVH vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh,
di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” [17]
Sự phân biệt hai thể loại di sản văn hóa như trên chỉ có ý nghĩa quy ước, vì chúng có mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau, khó phân biệt rạch ròi Những DSVH vật thể có chứa đựng giá trị văn hóa phi vật thể đồng thời DSVH phi vật thể được nhận biết, khám phá qua DSVH vật thể
1.1.3.3 Hệ thống di sản văn hóa ở Việt Nam
Trong cuốn tài liệu “Sử dụng di sản trong dạy học ở trường phổ thông” DSVH phi vật thể của Việt Nam được liệt kê cụ thể bao gồm:
1 Tiếng nói, chữ viết của các dân tộc Việt Nam;
2 Ngữ văn dân gian, bao gồm sử thi, cao dao, dân ca, tục ngữ, hò, vè, câu đố, truyện cổ tích, truyện trạng, truyện cười, truyện ngụ ngôn, hát ru và các biểu đạt khác được truyền tải bằng lời nói hoặc ghi chép bằng chữ viết;
3 Nghệ thuật trình diễn dân gian, bao gồm âm nhạc, múa, hát, sân khấu và các hình thức trình diễn dân gian khác;
4 Tập quán xã hội, bao gồm luật tục, hương ước, chuẩn mực đạo đức, nghi lễ và các phong tục khác;
5 Lễ hội truyền thống;
6 Nghề thủ công truyền thống;
7 Tri thức dân gian
Trang 243 Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học;
4 Cổ vật hiện được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên;
5 Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học [32]
* Hiện tại, Việt Nam đã có 2 di sản thiên nhiên được UNESCO công nhận là Di sản thế giới gồm [32]:
+ Vịnh Hạ Long, được công nhận năm 1994 và năm 2000
+ Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, năm 2003
- 5 Di sản văn hóa thế giới được UNESCO công nhận là di sản thế giới gồm: + Quần thể di tích Cố đô Huế, năm 1993
+ Phố Cổ Hội An, năm 1999
+ Thánh địa Mỹ Sơn, năm 1999
+ Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long, năm 2010
+ Thành nhà Hồ, năm 2011
- 1 Di sản thế giới hỗn hợp: Quần thể danh thắng Tràng An, là một di sản thiên nhiên thế giới và là một di sản văn hóa thế giới, năm 2014
* Việt Nam hiện đã có 12 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận
là kiệt tác của nhân loại theo thứ tự từ mới nhất đến cũ nhất là:
- Nghệ thuật Bài Chòi Trung Bộ ngày 7/12/2017
- Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam được công nhận ngày 1/12/2016, tại Phiên họp
Uỷ ban Liên Chính phủ về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể lần thứ 11 của UNESCO diễn ra tại thành phố Addis Ababa, Ethiopia [32]
- Nghi lễ Kéo co ở Việt Nam được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đa quốc gia đại diện của nhân loại ngày 02/12/2015 Riêng Việt Nam, kéo co được các cộng đồng người Kinh, Thái, Tày, Nùng, Giáy… và nhiều địa phương
Trang 25- Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là di sản văn hóa phi vật thể được công nhận vào ngày 6/12/2012
- Hát xoan là di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại, được công nhận ngày 24/11/2011
- Hội Gióng tại đền Sóc và đền Phù Đổng, Hà Nội, di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, được công nhận ngày 16/11/2010
- Ca trù là di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại, được công nhận ngày 01/10/2009
- Dân ca Quan họ, di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, được công nhận ngày 30/9/2009
- Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, được công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể thế giới vào năm 2005, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại
- Nhã nhạc cung đình Huế, di sản văn hóa thế giới phi vật thể đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận tháng 11 năm 2003, đến năm 2008 được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại [32]
* Việt Nam có 2 di sản thông tin tư liệu thế giới bao gồm:
+ Mộc bản triều Nguyễn là di sản tư liệu đầu tiên tại Việt Nam, được công nhận năm 2009 Số mộc bản này hiện đang bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV- Đà Lạt, Lâm Đồng
+ Bia tiến sĩ Văn Miếu Thăng Long đã được công nhận là di sản tư liệu thế giới ngày 9/3/2010, tại Macau, Trung Quốc
* Việt Nam hiện có 4 Di sản tư liệu khu vực châu Á - Thái Bình Dương gồm: + Châu bản triều Nguyễn (kho tài liệu đồ sộ này đang được bảo quản tại Trung tâm lưu trữ quốc gia I, số 18 Vũ Phạm Hàm, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội)
đã được UNESCO công nhận là di sản tư liệu khu vực châu Á - Thái Bình Dương ngày 14/5/2014 Đầu năm 2014, Việt Nam đã trình hồ sơ lên UNESCO đề cử Châu bản triều
Trang 2617
Nguyễn là di sản thiên nhiên thế giới, ngày 14/5/2014, Châu bản triều Nguyễn của Việt Nam được UNESCO công nhận là Di sản tư liệu Chương trình Ký ức thế giới Khu vực châu Á - Thái Bình Dương
+ Kho mộc bản kinh Phật chùa Vĩnh Nghiêm - Bắc Giang đã được công nhận là
di sản tư liệu khu vực châu Á - Thái Bình Dương ngày 16/05/2012 và đang tiếp tục được đề cử vào di sản tư liệu thế giới
+ Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế thuộc Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế là di sản tư liệu khu vực châu Á - Thái Bình Dương tại Hội nghị toàn thể lần thứ 7
Ủy ban Chương trình ký ức Thế giới Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (MOWCAP)
do Việt Nam đăng cai tổ chức tại thành phố Huế từ ngày 18 đến 21/5/2016
+ Mộc bản trường Phúc Giang Tỉnh Hà Tĩnh là di sản tư liệu khu vực châu Á - Thái Bình Dương tại Hội nghị toàn thể lần thứ 7 Ủy ban Chương trình ký ức Thế giới Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (MOWCAP) do Việt Nam đăng cai tổ chức tại thành phố Huế từ ngày 18 đến 21/5/2016
* Việt Nam có 9 khu dự trữ sinh quyển thế giới bao gồm:
+ Khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn Cần Giờ, 2000
+ Khu dự trữ sinh quyển Đồng Nai, 2011
+ Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà, 2004
+ Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng, 2004
+ Khu dự trữ sinh quyển ven biển và biển đảo Kiên Giang, 2006
+ Khu dự trữ sinh quyển miền tây Nghệ An, 2007
+ Khu dự trữ sinh quyển mũi Cà Mau, 2009
+ Khu dự trữ sinh quyển Cù Lao Chàm, 2009
+ Khu dự trữ sinh quyển Langbian, 2015
* Việt Nam có 1 di sản thiên nhiên thuộc mạng lưới công viên địa chất toàn cầu: Cao nguyên đá Đồng Văn, được công nhận năm 2010
- Trên 3000 di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh cấp quốc gia; hàng triệu mẫu vật, di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia được lưu trữ trong hơn 120 bảo tàng và các sưu tập cá nhân
1.1.4 Giáo dục di sản
1.1.4.1 Ý nghĩa của việc giáo dục giá trị DSVH cho HS THCS
Giáo dục giá trị của các DSVH cho HS THCS góp phần giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc, giáo dục truyền thống dân tộc cho HS Thông qua việc giáo dục giá trị của các DSVH của đất nước, địa phương sẽ giúp HS có những hiểu biết về lịch sử, truyền thống
Trang 27sự bền vững của các DSVH
Giáo dục giá trị DSVH cho HS THCS góp phần định hướng giá trị sống, rèn luyện kĩ năng sống cho HS Trong năm 2012 Bộ GD-ĐT phối hợp với Bộ VHDLTT triển khai việc sử dụng di sản trong dạy học, trong tổ chức hoạt động giáo dục với mục tiêu giáo dục toàn diện cho HS vể đức, trí, thể, mỹ đồng thời gắn liền với việc đổi mới phương pháp dạy học, giáo dục, đa dạng hình thức dạy học, giáo dục phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong việc sưu tầm, tìm hiểu, sử dụng di sản trong giờ học và các hoạt động giáo dục
1.1.4.2 Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng di sản văn hóa trong dạy học địa lí nói chung và địa lí lớp 9 nói riêng
Di sản văn hoá dù dưới dạng vật thể hoặc phi vật thể đều có thể sử dụng trong quá trình dạy học, dưới hình thức tạo môi trường; tạo công cụ hoặc là nguồn cung cấp chất liệu để xây dựng nội dung dạy học Sử dụng di sản trong dạy học giúp cho quá trình học tập của học sinh trở nên hấp dẫn hơn, học sinh hứng thú học tập và hiểu bài sâu sắc, phát triển tư duy độc lập sáng tạo, giáo dục tư tưởng, đạo đức cho học sinh Việc khai thác các di sản văn hóa trên địa bàn nhà trường đóng vai trò là nguồn tri thức, là phương tiện dậy học, giáo dục đáp ứng nhu cầu nâng cao hiểu biết về di sản văn hóa cho học sinh Hiện nay, nhiều trường đã tận dụng những thế mạnh về tri thức di sản văn hóa của địa phương mình vào giáo dục nhằm bảo tồn, giữ gìn giá trị của chúng và nâng cao kiến thức, hiểu biết về di sản cho học sinh
Các di sản văn hoá khi được sử dụng trong dạy học sẽ góp phần nâng cao tính trực quan, giúp người học mở rộng khả năng tiếp cận với đối tượng, hiện tượng liên quan đến bài học tồn tại trong di sản Giúp cho học sinh phát triển kĩ năng học tập, tự chiếm lĩnh kiến thức
Ngoài ra, dạy học với di sản còn giúp phát triển một số kĩ năng sống ở học sinh như: Kĩ năng giao tiếp - ứng xử, lắng nghe, hợp tác, quản lí thời gian, kĩ năng thuyết trình,
Trang 2819
Trong dạy học Địa lí, di sản văn hóa không chỉ là phương tiện để minh họa, để tăng tính cụ thể của bài giảng mà còn chứa đựng một nguồn kiến thức phong phú giúp cho quá trình nhận thức của học sinh được hoàn thiện hơn
Di sản văn hóa tạo biểu tượng địa lí cho học sinh Việc đưa các di sản văn hóa vào dạy học địa lí không chỉ giúp học sinh tạo biểu tượng chân thực về các sự vật, hiện tượng, mà nó còn là phương tiện có hiệu quả để giúp các em hiểu đúng bản chất của sự vật Làm việc với di sản văn hóa là học sinh đã thực sự “làm việc” với một nguồn tài liệu “sống” Các em phải giải quyết nhiều vấn đề, huy động các kĩ năng, vận dụng nhiều kiến thức có liên quan đến di sản để nhận thức một cách sâu sắc các sự kiện, hiện tượng địa lí Vì vậy, thông qua việc tiếp xúc với các di sản, các hiện vật, tranh ảnh, sẽ làm cho học sinh nhanh chóng tiếp thu được kiến thức cơ bản của bài học, tạo được biểu tượng địa lí chính xác nhất
Di sản văn hóa giúp học sinh nhớ kĩ, hiểu sâu những hình ảnh, những kiến thức, những tư tưởng đã thu nhận được Di sản văn hóa có tác dụng minh họa, bổ sung, làm sáng tỏ và phong phú hơn những kiến thức học sinh đã được học trên lớp, điều mà trong một tiết học chính khóa 45 phút, giáo viên không thể cung cấp hết được
Sử dụng di sản văn hóa là một hình thức, biện pháp “xã hội hóa” giáo dục địa lí,
là những điều kiện để nâng cao tri thức địa lí toàn diện cho học sinh Các em không chỉ tiếp nhận các tri thức địa lí ở nhà trường, trong sách giáo khoa mà cả ở ngoài xã hội, ở mỗi di sản văn hóa
Phương pháp giáo dục di sản văn hóa sẽ góp phần phát triển óc quan sát, trí tưởng tượng và tư duy, ngôn ngữ cho học sinh Việc sử dụng tranh ảnh, hiện vật về di sản còn có tác dụng giúp học sinh biết đọc kênh hình, phân tích các sự kiện, hiện tượng địa lí Qua đó, rèn luyện cho các em thói quen và khả năng quan sát vật thể một cách khoa học, có mục đích để đi đến phân tích, so sánh, khái quát, rút ra kết luận Nhờ vậy, mà các thao tác tư duy của học sinh được rèn luyện và phát triển Đồng thời, giáo dục di sản văn hóa sẽ rèn luyện cho học sinh tinh thần độc lập, tự chủ trong lao động và học tập, niềm say mê, hứng thú với bộ môn Nhờ đó, học sinh sẽ thấy giờ học không nhàm chán, khô khan, các em phát huy được tính tích cực của mình trong việc tiếp nhận kiến thức
Giáo dục di sản văn hóa trong dạy học địa lí ở trường phổ thông không chỉ có tác dụng bồi dưỡng nhận thức mà còn có tác dụng quan trọng trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức, bồi dưỡng cho học sinh ý thức tôn trọng, bảo vệ di sản văn hóa, tránh việc tiêm nhiễm những hủ tục, lạc hậu, mê tín dị đoan, góp phần đấu tranh ngăn chặn tệ
Trang 2920
nạn xã hội và tuyên truyền cho mọi người thực hiện, xây dựng nếp sống hiện đại, văn minh ngay tại di sản
Giáo dục của việc sử dụng di sản văn hóa trong dạy học địa lí ở trường học
là phát huy ưu thế, sở trường của bộ môn trong việc góp phần giáo dục thế hệ trẻ truyền thống yêu nước, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Sử dụng
di sản văn hóa trong dạy học địa lí sẽ góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập ở trường THCS
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Cấu trúc, đặc điểm chương trình sách giáo khoa địa lý lớp 9
1.2.1.1 Cấu trúc và nội dung sách giáo khoa Địa lí 9
Chương trình SGK lớp 9 có sự nối tiếp với SGK lớp 8 Chương trình Địa lí lớp 8 ngoài cung cấp các kiến thức về châu Á thì còn cung cấp một khối lượng kiến thức rất quan trọng, đó là phần địa lí Việt Nam Nội dung chính của địa lí tự nhiên Việt Nam là
về vị trí địa lí, hình dạng, kích thước lãnh thổ; các thành phần của tự nhiên cũng như sự phân hóa của chúng theo lãnh thổ SGK lớp 9 nối tiếp bộ SGK lớp 8, từ đó cấu trúc sách giáo khoa Địa lí 9 gồm 4 phần: Địa lí dân cư gồm 5 bài, trong đó có 1 bài thực hành Địa lí kinh tế, gồm 11 bài, trong đó có 2 bài thực hành Sự phân vùng lãnh thổ gồm 24 bài, trong đó có 7 bài thực hành và địa lí địa phương gồm 4 bài, trong đó có 1 bài thực hành Cấu trúc và nội dung sách giáo khoa Địa lí 9 cụ thể như sau:
- Phần Địa lí dân cư: Cung cấp những kiến thức về địa lí dân cư với một số nội dung chính, bao gồm:
+ Cộng đồng các dân tộc Việt Nam
+ Dân số và gia tăng dân số
+ Lao động và việc làm Chất lượng cuộc sống
+ Thực hành: Phân tích và so sánh tháp dân số năm 1989 và năm 1999
- Phần địa lí kinh tế: Là một trong những nội dung quan trọng của chương trình nhằm trang bị những kiến thức về sự phát triển và phân bố các ngành kinh tế của Việt Nam Phần địa lí kinh tế được sắp xếp như sau:
+ Sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam
+ Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố nông nghiệp
+ Sự phát triển và phân bố nông nghiệp
+ Sự phát triển và phân bố lâm nghiệp, thủy sản
+ Thực hành: Vẽ và phân tích biểu đồ về sự thay đổi cơ cấu diện tích reo trồng phân theo các loại cây, sự tăng trưởng đàn gia súc, gia cầm
Trang 3021
+ Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố công nghiệp
+ Sự phát triển và phân bố công nghiệp
+ Vai trò, đặc điểm phát triển và phân bố của dịch vụ
+ Giao thông vận tải và bưu chĩnh viễn thông
+ Thương mại và du lịch
+ Thực hành: Vẽ biểu đồ về sự thay đổi cơ cấu kinh tế
- Phần sự phân hóa lãnh thổ: Phần này đề cập tới 7 vùng KT - XH (kinh tế - xã hội) của đất nước Sự phân hóa lãnh thổ cung cấp các kiến thức cụ thể về từng vùng và các vấn đề phát triển kinh tế ở đó thông qua từng bài và thông qua bài thực hành kết thúc mỗi vùng Ngoài ra, ở phần này SGK Địa lí lớp 9 còn đề cập tới vấn đề phát triển tổng hợp kinh tế và bảo vệ tài nguyên, môi trường biển - đảo Nội dung chương trình được kết cấu theo thứ tự sau:
+ Vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ
+ Thực hành: Đọc bản đồ, phân tích và đánh giá ảnh hưởng của tài nguyên khoáng sản đối với phát triển công nghiệp ở Trung du và miền núi Bắc Bộ
+ Vùng Đồng bằng sông Hồng
+ Thực hành: Vẽ và phân tích biểu đồ về mối quan hệ giữa dân số, sản lượng lương thực và bình quân lương thực theo đầu người
+ Vùng Bắc Trung Bộ
+ Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ
+ Thực hành: Kinh tế biển của Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ
+ Vùng Tây Nguyên
+ Thực hành: So sánh tình hình sản xuất cây công nghiệp lâu năm ở Trung du và miền núi Bắc Bộ với Tây Nguyên
+ Vùng Đồng bằng sông Cửu Long
+ Thực hành: Vẽ và phân tích biểu đồ về tình hình sản xuất của ngành thủy sản ở Đồng bằng sông Cửu Long
+ Phát triển tổng hợp kinh tế và bảo vệ tài nguyên, môi trường biển - đảo
+ Thực hành: Đánh giá tiềm năng kinh tế của các đảo ven bờ và tìm hiểu về ngành công nghiệp dầu khí
- Phần Địa lí địa phương: Trang bị cho học sinh kiến thức về địa lí địa phương với quy mô lãnh thổ ở cấp tỉnh (thành phố) với số lượng là 3 bài và 1 bài thực hành phân tích mối quan hệ giữa các thành phần tự nhiên Vẽ và phân tích biểu đồ
cơ cấu kinh tế của địa phương
Trang 31b Về hình thức trình bày sách giáo khoa
Mỗi bài học được chia thành các đề mục lớn và ứng với mỗi đề mục là các nội sung kiến thức chính Do đó việc lồng ghép các nội dung giáo dục DSVH cho học sinh cũng thuận lợi và mang nhiều ý nghĩa
Các bài thực hành chiếm khoảng 20% thời lượng chương trình và chủ yếu tập trung vào vẽ biểu đồ, phân tích bảng số liệu Không có nội dung bài thực hành nào dành riêng cho giáo dục DSVH hay bài thực hành liên quan đến viết báo cáo Đây cũng chính là một khó khăn nữa của hình thức trình bày SGK Địa lí 12, trong giáo dục DSVH cho học sinh
Về các kênh hình biểu đồ và bản đồ có biểu hiện sự thống kê và phân bố các loại DSVH thì chưa có hoặc có cũng chỉ dừng lại ở mức rất hạn chế Chính vì thế hiệu quả của việc giáo dục DSVH thông qua kênh hình còn hạn chế
Số liệu thống kê trong SGK Địa lí 9, khá phong phú và đa dạng nhưng hầu hết là được cập nhật vào thời điểm năm 2005 Số liệu thống kê về số lượng và giá trị của các di sản thì chưa có Vì vậy việc giáo dục DSVH cho học sinh rất hạn chế
vì giáo viên phải tự sưu tầm các số liệu có liên quan đến DSVH Chính vì thế trong quá trình giảng dạy, nhiều giáo viên thường không quan tâm đến việc giáo dục DSVH cho HS Ngoài ra, muốn lồng ghép giáo dục DSVH, thì giáo viên phải tự biên soạn hệ thống câu hỏi Đây là một khó khăn lớn làm đối với việc giáo dục DSVH qua bài dạy Địa lí
Trang 3223
1.2.2 Đặc điểm tâm sinh lý và trình độ nhận thức của học sinh lớp 9
1.2.2.1 Đặc điểm tâm sinh lí
Lứa tuổi học sinh lớp 9 - THCS (lứa tuổi thiếu niên) là một giai đoạn chuyển tiếp trong sự phát triển của con người diễn ra giữa giai đoạn trẻ em và tuổi trưởng thành Đây là lứa tuổi có bước nhảy vọt về thể chất lần tinh thần, tạo ra sự khác biệt mới về mọi mặt: thể chất, trí tuệ, giao tiếp, tình cảm, đạo đức… của các em Bởi vậy, giáo viên cần nắm được vị trí của giai đoạn phát triển tâm lý thiếu niên, những khó khăn, thuận lợi trong quá trình phát triển tâm - sinh lý của học sinh THCS để giảng dạy, giáo dục HS
HS lớp 9 là thời kỳ quá độ từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành, thời kỳ trẻ đang
ở “ngã ba đường” của sự phát triển Trong đó có rất nhiều khả năng, nhiều phương
án, nhiều con đường để mỗi trẻ em trở thành một cá nhân Trong thời kỳ, nếu sự phát triển được định hướng đúng, được tạo thuận lợi thì em sẽ trở thành công dân tốt Ngược lại, nếu không được định hướng đúng, bị tác động bởi yếu tố tiêu cực thì sẽ xuất hiện hàng loạt các nguy cơ dẫn đến trẻ em bên bờ của sự phát triển lệch lạc về nhận thức, thái độ, hành vi và nhân cách [14]
Thời kỳ mà tính tích cực xã hội của trẻ em được phát triển mạnh mẽ, đặc biệt trong việc thiết lập các quan hệ bình đẳng với người lớn và bạn ngang hàng, trong việc lĩnh hội các chuẩn mực và giá trị xã hội, thiết kế tương lai của mình và những hành động cá nhân tương ứng
Trong suốt thời kỳ thiếu niên dều diễn ra sự cấu tạo lại, cải tổ lại, hình thành các cấu trúc mới về thể chất, sinh lý, về hoạt động, tương tác xã hội và tâm lý, nhân cách, xuất hiện những yếu tố mới của sự trưởng thành Từ đó hình thành cơ sở nền tảng và vạch chiều hướng cho sự trưởng thành thực thụ của cá nhân, tạo nên đặc thù riêng của lứa tuổi
Tuổi thiếu niên là giai đoạn khó khăn, phức tạp và đầy mâu thuẫn trong quá trình phát triển Ngay các tên gọi của thời kỳ này: thời kỳ “quá độ”, “tuổi khó khăn”,
“tuổi khủng hoảng”… đã nói lên tính phức tạp và quan trọng của những quá trình phát triển diễn ra trong lứa tuổi thiếu niên Sự phức tạp thể hiện qua tính hai mặt của hoàn cảnh phát triển của trẻ Một mặt có những yếu tố thúc đẩy phát triển tính cách của người lớn Mặt khác, hoàn cảnh sống của các em có những yếu tố kìm hãm sự phát triển tính người lớn
Trang 3324
Tìm hiểu đặc điểm tâm lí của học sinh lớp 9 THCS cho phép người viết có thể
sử dụng những biện pháp thích hợp để giáo dục di sản văn hóa phù hợp với tâm lí, trình độ nhận thức của HS lớp 9 - THCS
1.2.2.2 Đặc điểm về hoạt động học tập và sự phát triển trí tuệ
- HS THCS, khối lượng các đối tượng tri giác tăng lên rõ rệt Tri giác có trình
tự, có kế hoạch và hoàn thiện hơn Các em có khả năng phân tích và tổng hợp phức tạp khi tri giác sự vật, hiện tượng Sự tri giác của HS còn 1 số hạn chế: thiếu kiên trì, còn vội vàng, hấp tấp trong tri giác, tính tổ chức, tính hệ thống trong tri giác còn yếu
- Ghi nhớ chủ định, ghi nhớ ý nghĩa, ghi nhớ logic dần được chiếm ưu thế hơn ghi nhớ máy móc Nếu trước đây các em học sinh tiểu học thường cố gắng ghi nhớ từng chữ từng bài thì bây giờ học sinh THCS thường phản đối yêu cầu của giáo viên bắt học thuộc lòng và có khuynh hướng muốn tái hiện bằng lời nói của mình
- Chú ý có chủ định phát triển mạnh Sức tập trung chú ý cao hơn, khả năng duy trì chú ý được lâu bền hơn so với nhi đồng, khả năng di chuyển sự chú ý từ thao tác này đến thao tác kia cũng được tăng cượng
- Chuyển từ tư duy cụ thể sang tư duy trừu tượng Đầu cấp THCS thì tư duy cụ thể vấn phát triển mạnh và giữ vai trò quan trọng trong cấu trúc tư duy Sang cuối cấp THCS, tư duy trừu tượng phát triển mạnh Biết phân tích tài liệu một cách đầy đủ, sâu sắc, đi vào bản chất
1.2.3 Thực trạng giáo dục di sản trong dạy học địa lí cho học sinh lớp 9 hiện nay
Giáo dục giá trị DSVH cho HS THCS được thực hiện thông qua nhiều con đường khác nhau, để nhận biết được thực trạng giáo dục giá trị DSVH cho HS THCS tỉnh Bắc Ninh trước tiên tác giả đã tiến hành khảo sát về thực trạng con đường giáo dục mà các trường THCS đã tiến hành để thực hiện giáo dục cho học sinh Tác giả đã tiến hành điều tra tìm hiểu thực trạng của việc dạy học DSVH qua môn Địa lý ở
3 trường THCS thuộc huyện Quế Võ
- Thời gian khảo sát, điểu tra được tiến hành từ: tháng 11 đến tháng 01 năm học 2017-2018
- Phương pháp điều tra
+ Lập mẫu phiếu điều tra nhằm thu thập ý kiến của giáo viên và học sinh về những vấn đề cần khảo sát
+ Quan sát, dự một số giờ dạy trên lớp của giáo viên, kết hợp với kết quả điều tra và kiểm tra chất lượng học tập của học sinh nhằm đánh giá hiệu quả của việc giáo dục di sản văn hóa
Trang 3425
- Tổ chức điều tra
+ Số lượng giáo viên: 5 giáo viên địa lý thuộc 3 trường THCS
+ Số lượng học sinh: 140 học sinh thuộc 3 trường (THCS Quế Tân, THCS Việt Hùng, THCS Phù Lương)
* Kết quả điều tra
- Đối với giáo viên:
Để nhận biết được thực trạng giáo dục giá trị DSVH cho HS THCS tỉnh Bắc Ninh tác giả đã tiến hành khảo sát trên các giáo viên và học sinh về thực trạng con đường giáo dục mà các trường THCS trên địa bàn tỉnh đã tiến hành
Qua sự điều tra cho thấy tất cả các giáo viên đều mong muốn đưa các di sản văn hóa vào giáo dục cho học sinh trong nhà trường phổ thông Tuy nhiên, các hình thức được mỗi giáo viên lựa chọn được thực hiện ở những mức độ khác nhau Giáo dục di sản thông qua con đường dạy học trên được đa số các giáo viên lựa chọn (tỷ lệ 80%) Mức độ tiến hành giáo dục di sản văn hóa cho học sinh thông qua việc tổ chức xã hội, gắn kết các hoạt động ngoài giờ lên lớp, tổ chức các hoạt động, lao động, trải nghiệm sáng tạo và sinh hoạt tập thể với di sản thông qua việc tổ chức các chuyến thăm quan trải nghiệm tại di tích chiếm tỉ lệ thấp, đặc biệt vẫn có những giáo viên rất hiếm khi chú ý đến việc này
Bảng 1.1 Thực trạng về mức độ giáo dục di sản của giáo viên
trong dạy học địa lí cho học sinh lớp 9 tại 3 trường (THCS Quế Tân,
THCS Việt Hùng, THCS Phù Lương) Nội dung
Mức độ Thường
Chưa thực hiện
Thông qua con đường dạy học
Thông qua tổ chức hoạt động giáo
Thông qua tổ chức hoạt động, lao
Thông qua sinh hoạt tập thể 1/20% 3/60% 1/20% Thông qua tổ chức các hoạt
(Nguồn: Tác giả xây dựng thông qua điều tra thực tế)
Trang 3526
Nội dung giáo dục di sản văn hóa: Qua khảo sát cho thấy, nội dung mà các giáo viên thường giáo dục cho học sinh chủ yếu là giới thiệu sơ qua về các di sản văn hóa, hoặc liệt kê một số di sản, chưa tập trung giáo dục cho học sinh về giá trị, ý nghĩa, vai trò và ý thức và trách nhiệm bảo tồn, giữ gìn các di sản văn hóa
Về phương pháp của giáo viên trong việc giáo dục di sản văn hóa: Nội dung giáo dục giá trị DSVH phải được thực hiện thông qua các phương pháp cụ thể, vì vậy tác giả đã khảo sát thực trạng sử dụng các phương pháp trong giáo dục giá trị DSVH
Bảng 1.2 Thực trạng sử dụng phương pháp của giáo viên trong giáo dục giá trị
DSVH cho HS THCS Nội dung
Phương pháp trao đổi, đàm thoại 3 60% 2 40% 0 0%
(Nguồn: Tác giả xây dựng thông qua điều tra thực tế)
Qua bảng số liệu cho thấy:
+ Phương pháp được phần đông GV và HS đánh giá là thường xuyên sử dụng trong giáo dục giá trị DSVH bao gồm: phương pháp thuyết trình là 80% số ý kiến
GV phương pháp trao đổi, đàm thoại 60% số ý kiến; phương pháp thảo luận nhóm 40%, phương pháp nêu vấn đề 80% số ý kiến GV
Như vậy trong các phương pháp trên phương pháp dạy học nêu vấn đề và phương pháp thiết trình được giáo viên đánh giá ở mức độ sử dụng thường xuyên với tỷ lệ cao nhất, tiếp đến là phương pháp thuyết trình và phương pháp trao đổi, đàm thoại Trên thực tế đây là những phương pháp dạy học truyền thống và dễ thực hiện vì vậy nó có thể được GV sử dụng thường xuyên khi dạy cho HS về các DSVH
Từ số liệu cho thấy có sự đánh giá khá tương đồng giữa GV và HS về các phương pháp thường được GV sử dụng trong quá trình GD về DSVH cho HS
Phương pháp trực quan rất ít khi được giáo viên sử dụng trong quá trình giáo dục di sản cho học sinh Phương pháp dạy học trực quan có rất nhiều ưu thế trong giáo dục DSVH cho học sinh, tuy nhiên lại chưa được thực hiện thường xuyên
Trang 3627
Phương pháp trực quan có thể hình thành cho HS nhiều năng lực và rất phù hợp để thiết kế các bài học về DSVH cho HS, tuy nhiên đây là phương pháp ít được giáo viên vận dụng vì thường mất nhiều thời gian cũng như sự khống chế của nội dung chương trình sách giáo khoa và điều kiện về vật chất trong nhà - Đối với học sinh:
Qua điều tra cho thấy, đa số các em học sinh đều yêu thích môn Địa Lí và có mong muốn được hiểu biết về các kiến thức liên quan đến DSVH (phụ lục 5) Mức độ cần thiết của việc giáo dục giá trị DSVH cho HS với ba mức độ rất cần thiết, cần thiết và không cần thiết, kết quả thu được như sau: 17% HS đánh giá ở mức độ rất cần thiết, 71.3% cho là cần thiết và 11.7% cho là không cần thiết
Nhìn vào số liệu trên cho thấy đa số HS cho rằng việc giáo dục giá trị DSVH cho là rất cần thiết và cần thiết Đặc biệt về phía HS có 11.7% không nhận thức được
sự cần thiết của việc giáo dục giá trị DSVH
Giáo dục giá trị DSVH cho học sinh THCS có những ý nghĩa nhất định, nhận thức được ý nghĩa này là cơ sở quan trọng để giáo viên, học sinh tiến hành các hoạt động giáo dục giá trị DSVH trong nhà trường Ngoài ra còn giúp học sinh có thêm những kiến thức về bộ môn, rèn luyện được các kĩ năng sống, là cơ hội để học sinh trình bày suy nghĩ của mình trước tập thể, thể hiện những tài năng, năng khiếu Đặc biệt, các em có được cái nhìn chung về di sản văn hóa dân tộc
1.2.4 Thực trạng việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản của Việt Nam
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã nhận thức sâu sắc về vai trò của
di sản văn hóa trong phát triển kinh tế - xã hội Di sản văn hóa được coi là “cốt lõi của bản sắc dân tộc” bởi nó được coi là yếu tố cấu thành đặc trưng của nền văn hóa Việc lưu giữ, tôn tạo các giá trị di sản văn hóa không chỉ thể hiện đạo lí “uống nước nhớ nguồn”, mà còn góp phần làm phong phú đời sống tinh thần các thế hệ mai sau Nhiều sáng kiến nhằm phục hồi các hoạt động văn hóa phi vật thể được thể nghiệm, nhiều cuộc trình diễn văn hóa truyền thống, văn nghệ dân gian được tổ chức, nhiều sản phẩm thủ công truyền thống cũng có dịp được giới thiệu rộng rãi với công chúng
Du lịch phát triển tại các di sản thế giới không chỉ góp phần tạo công ăn việc làm cho hàng nghìn người dân ở các địa phương có di sản thế giới, mà còn làm chuyển dịch
cơ cấu kinh tế tại một số địa phương, góp phần phát triển các ngành nghề dịch vụ du lịch, nhiều ngành nghề thủ công truyền thống, hoạt động văn hóa truyền thống (văn hóa phi vật thể) được phục hồi, phát triển phục vụ trở lại cho du lịch
Trang 3728
Các chính sách của Đảng, Nhà nước trong thời gian qua đã có tác dụng bảo tồn
và phát huy di sản văn hóa, ngăn chặn tình trạng xuống cấp của di tích lịch sử, tác động mạnh mẽ đến sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Bằng chính sách xếp hạng của Nhà nước, nhiều di tích có giá trị tiêu biểu
về lịch sử, văn hóa và khoa học đã được đặt dưới sự bảo vệ của pháp luật Qua đó, tổng mức đầu tư hàng năm cho hoạt động tu bổ, tôn tạo di tích liên tục tăng lên theo hướng đa dạng hóa các nguồn vốn, đồng thời ưu tiên tập trung đầu tư cho các di tích quốc gia đặc biệt và các di tích lịch sử cách mạng
Như vậy, Chương trình mục tiêu quốc gia tu bổ tôn tạo di tích ngày càng có hiệu quả, góp phần thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa các hoạt động bảo tồn bảo tàng Nhờ nguồn ngân sách được đầu tư kịp thời của Nhà nước và cộng đồng xã hội
mà nhiều di tích lịch sử cách mạng đã được cứu thoát khỏi tình trạng xuống cấp nghiêm trọng Đồng thời, quá trình thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia về chống xuống cấp và tôn tạo di tích đã tạo ra các sản phẩm văn hóa đặc thù, có sức hút mới Chính vì nhận thức được rằng các giá trị văn hóa, thiên nhiên của di sản không phải chỉ nhằm phục vụ công tác nghiên cứu, học tập đơn thuần, mà còn có khả năng đóng góp vào sự phát triển kinh tế của địa phương và cả nước, nên ngoài sự quan tâm của các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương, các di sản còn nhận được sự tham gia ngày càng tích cực của cộng đồng vào quá trình bảo tồn và phát huy giá trị
di sản Riêng đối với di sản thế giới, Nhà nước còn có những cơ chế riêng về tài chính, như bố trí lại các nguồn thu cho các di sản thế giới nhằm tạo sự chủ động cho các hoạt động của di sản thế giới
Chính vì vậy, các di sản thế giới có điều kiện được bảo tồn phát huy giá trị nhiều hơn so với khi chưa trở thành di sản thế giới và các di sản khác trong cả nước Bên cạnh sự quan tâm đến công tác tổ chức, xây dựng bộ máy, tuyển chọn đội ngũ cán bộ chuyên môn nghiệp vụ, các di sản văn hóa còn nhận được sự hỗ trợ về chuyên môn của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước Nhiều khóa tập huấn, chuyên môn nghiệp vụ, hội thảo khoa học được tổ chức tại các di sản văn hóa với sự tham gia của các chuyên gia thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau ở trong và ngoài nước đã góp phần làm tăng chất lượng đội ngũ cán bộ của các đơn vị quản lý Sở dĩ chúng ta có thể tổ chức các hoạt động nêu trên bởi sau khi trở thành di sản, Đảng và Nhà nước cũng như địa phương đã đầu tư nhiều hơn, hiệu quả hơn vào công tác quản lý và công tác bảo quản, tu bổ và tôn tạo các di sản
Trang 3829
Nhờ những nỗ lực đó, bộ mặt của các di sản thế giới ngày càng được cải thiện, nhiều bộ phận của di sản thế giới đã được bảo quản, tu bổ và phục hồi, di sản thế giới ngày càng trở nên hấp dẫn hơn Nhờ vào việc từng bước hoàn chỉnh hệ thống luật pháp về bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa với việc ban hành Luật Di sản và các quyết định có liên quan; việc tổ chức sắp xếp lại bộ máy quản lí nhà nước cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao; huy động được sự tham gia của toàn xã hội đối với hoạt động giữ gìn, phát huy giá trị di sản văn hóa; việc triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa hoạt động bảo tồn phát huy di sản văn hóa đã đạt nhiều thành tựu, không chỉ đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa ngày càng cao và phong phú của nhân dân, mà còn góp phần đưa hình ảnh quốc gia tới bạn bè thế giới, tạo động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội
Tuy đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ như ở trên, song đối với sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa và thiên nhiên nói chung, bảo tồn di sản phục vụ phát triển du lịch nói riêng thời gian qua còn lộ ra những hạn chế về nhiều mặt
Trước hết, về nhận thức, tâm lý phổ biến của các vị lãnh đạo chính quyền địa phương khi đề đạt nguyện vọng nâng cấp di tích của địa phương mình lên hạng di tích quốc gia đặc biệt hoặc di sản thế giới, ngoài mong muốn nhận được sự quan tâm đầu tư lớn của Chính phủ vào công tác bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích, còn có ý muốn tăng nhanh hoạt động du lịch tại di tích; qua đó tăng nguồn thu cho ngân sách địa phương, cải thiện một phần đời sống nhân dân Bên cạnh đó, nhận thức của người dân về Luật Di sản văn hóa còn chưa đầy đủ nên tình trạng vi phạm bảo tồn di tích còn xảy ra như việc cung tiến đồ thờ cúng bày đặt tùy tiện, gây phản cảm
Thứ hai, sự quản lý của các cơ quan nhà nước còn lỏng lẻo, dẫn đến nhiều di tích tiếp tục bị xâm phạm, lấn chiếm, đánh cắp, làm hư hại, thất thoát khá nặng nề Tại Hà Tây (cũ) từ năm 2000 đến năm 2004 đã xảy ra mất 298 cổ vật tại 40 di tích Tại Phú Thọ từ tháng 5 năm 2004 đến tháng 9 năm 2004 đã mất 33 cổ vật tại 4 di tích… Nhiều di sản quý không còn khả năng khôi phục Có trường hợp, di sản văn hóa, thiên nhiên quốc gia bị xâm lấn, tàn phá (Đồi Vọng Cảnh tại Huế, Di tích nàng
Tô Thị ở Lạng Sơn ) do các địa phương chỉ coi trọng phát triển kinh tế để đạt chỉ tiêu tăng trưởng chứ ít quan tâm đến việc giữ gìn cảnh quan môi trường và các di sản văn hóa
Trang 3930
Ở một số nơi, trong khi tiến hành bảo tồn, trùng tu đã không cẩn thận, thiếu trách nhiệm, thiếu năng lực chuyên môn, làm biến dạng, mất giá trị di tích, đặc biệt là các di tích lịch sử cách mạng, kháng chiến của nhân dân ta Không ít văn hóa phi vật thể đang mai một dần, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số Nhiều hoạt động lễ hội văn hóa có những biến tướng nhằm trục lợi gây sự phản cảm, thậm chí bất bình với
du khách Bên cạnh đó, dù Nhà nước quan tâm đầu tư, nhưng nguồn kinh phí đưa về các di tích vẫn còn quá ít so với nhu cầu thực tế
Cả nước hiện vẫn còn hàng nghìn di tích quốc gia chưa được tu bổ; những di tích được tu bổ chủ yếu vẫn bằng nguồn vốn xã hội hóa nên vừa yếu vừa thiếu
Các di tích được đầu tư mới chỉ đáp ứng được mục tiêu gia cố, chống xuống cấp cục bộ chứ chưa đủ khả năng thực hiện các dự án tổng thể nhằm tạo điều kiện cần
và đủ để di tích tồn tại lâu dài Việc xã hội hóa các hoạt động văn hóa tuy thu được những nguồn lực đáng kể để tu bổ, tôn tạo di sản, nhưng do yếu kém trong khâu quản
lí dẫn đến lộn xộn, nhập nhằng, thậm chí phô trương phản cảm Sự tùy tiện, không khoa học, làm hộ, làm thay thiếu sự tham gia của cộng đồng - chủ thể văn hóa là một bài học đắt giá cho công tác bảo tồn di sản văn hóa dân tộc
Thứ ba, về tổ chức bộ máy quản lý di sản, tuy mỗi di sản văn hóa đã có một tổ chức quản lý riêng, song quy mô và cơ chế tổ chức của các cơ quan giữa các di sản còn chưa thống nhất Đội ngũ cán bộ chuyên môn nghiệp vụ ở một số cơ quan quản lý di sản còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng, nhất là trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam có nhiều di sản thế giới rất cần một đội ngũ cán bộ thực sự có chuyên môn cao
Việc học tập chuyên môn, ngoại ngữ của một số cán bộ, nhân viên thiếu bài bản, chỉ nhằm phục vụ những lợi ích trước mắt, chứ không chú ý chuyên sâu, nâng cao thường xuyên để đáp ứng những đòi hỏi chuyên môn cao của ngành Sự thiếu đồng bộ trong tổ chức và đội ngũ cán bộ ảnh hưởng rất rõ đến công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa cũng như tài nguyên du lịch
Sự chồng chéo về quản lý và nhiệm vụ đã tạo nên những mâu thuẫn, gây bất lợi cho di sản cả trong công tác bảo tồn di tích và phát triển du lịch Chính vì thế, chất lượng công tác quản lý di sản cũng còn rất khác nhau Các di sản thế giới của nước ta được ghi vào danh mục di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới rải ra trong nhiều năm
Một điều bất cập khác là nhận thức và sự tham gia của cộng đồng vào quá trình bảo tồn và phát huy giá trị di sản chưa thực sự đồng đều, vững chắc và có lợi cho sự nghiệp bảo tồn và phát huy giá trị di sản Có thể nói, tại địa phương có di sản
Trang 4031
văn hóa và thiên nhiên, về mặt hình thức, phần lớn mọi người đều vui mừng khi địa phương mình có di sản văn hóa, ý thức trách nhiệm của cộng đồng với việc bảo vệ di sản được nâng lên Nhưng trên thực tế những nhận thức này chưa tương xứng với nhu cầu bảo vệ di sản Cán bộ và người dân địa phương hướng sự quan tâm vào việc khai thác di sản là chính, việc bảo vệ di sản chủ yếu vẫn là những biện pháp hành chính của các cơ quan quản lý
Đối với ngành du lịch, trong những năm qua, sự phối kết hợp giữa ngành Văn hóa - Thông tin và Du lịch trong việc xây dựng một nền du lịch bền vững tại các di sản văn hóa đã có và đạt được nhiều kết quả tốt, nhưng những kết quả đó còn chưa xứng tầm với đòi hỏi phát triển du lịch bền vững
Sự phối kết hợp còn chưa hài hòa giữa khai thác tài nguyên du lịch và bảo tồn
di sản Vẫn còn tình trạng mạnh ai nấy làm Chương trình mục tiêu chống xuống cấp
và tôn tạo di tích do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì còn chưa nhận được thông tin đầy đủ từ Chương trình quốc gia về Du lịch và ngược lại Vì vậy, vẫn còn tình trạng nhiều di tích chưa được đầu tư đồng bộ: nơi nhận được dự án của du lịch thì di tích chưa được quan tâm, nơi di tích được đầu tư thì dự án của du lịch lại chưa tới Không chỉ chúng ta nhận thức điều này mà chuyên gia UNESCO trong các bản báo cáo giám sát hàng năm của mình cũng đã cảnh báo về những tác động tiêu cực đối với các di sản thế giới của Việt Nam
1.2.5 Khả năng giáo dục giá trị di sản trong dạy học Địa lý 9
Để giúp HS có những hiểu biết về những giá trị của các di sản, giáo dục các
em ý thức gìn giữ, bảo vệ, Bộ GD&ĐT đã thí điểm sử dụng di sản trong dạy học ở trường phổ thông Năm 2012, Bộ GD&ĐT đã triển khai sử dụng DSVH trong dạy học đồng thời đã triển khai trên nhiều tỉnh thành trong cả nước Khi đưa DSVH vào trong dạy học đồng nghĩa với việc coi di sản là công cụ, phương tiện để dạy học để giúp củng cố, khắc sâu nội dung bài học liên quan, kích thích hứng thú, hoạt động nhận thức của HS mặt khác giáo dục cho HS giá trị của chính các DSVH (coi giá trị DSVH là nội dung dạy học) Trong đó, mục tiêu của chương trình sẽ gắn kết các hoạt động ngoài giờ lên lớp, sinh hoạt tập thể với di sản thông qua việc tổ chức các chuyến thăm quan trải nghiệm tại di tích, gắn với mục tiêu đào tạo của cấp học, khối lớp và phù hợp với yêu cầu của từng môn học