Với quan điểm bảo vệ môi trường là trách nhiệm của tất cả mọi người, trong đó có trường học, nên các nhà trường THPT tại thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã rất chú trọng việc giáo dục t
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ––––––––––––––––––––––
NGUYỄN QUANG LANH
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC SINH THÁI CHO HỌC SINH
CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
THỊ XÃ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ––––––––––––––––––––––
NGUYỄN QUANG LANH
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC SINH THÁI CHO HỌC SINH
CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
THỊ XÃ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Ngành: LL&PPDH bộ môn Lý luận Chính trị
Mã ngành: 8.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Khương
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Trong luận văn này, toàn bộ tài liệu tham khảo được đưa ra hoàn toàn có
cơ sở xác thực Trước tôi chưa có công trình nghiên cứu nào cùng đề tài này được công bố Tôi xin đảm bảo luận văn này là kết quả nghiên cứu khoa học của riêng cá nhân tôi
Thái Nguyên, ngày 17 tháng 4 năm 2018
Tác giả
Nguyễn Quang Lanh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, các cô giáo, các nhà khoa học, khoa Giáo dục chính trị, phòng đào tạo trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, đặc biệt là TS Nguyễn Thị Khương, người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này!
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, đồng nghiệp, các em học sinh các trường THPT ở thị xã Phổ Yên - Thái Nguyên đã tạo cho tôi mọi điều kiện thuận lợi để hoàn thành tốt luận văn!
Thái Nguyên, ngày 17 tháng 04 năm 2018
Tác giả
Nguyễn Quang Lanh
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt iv
Danh mục các bảng v
Danh mục các hình vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 4
6 Đóng góp của đề tài 4
7 Giả thuyết khoa học 5
8 Kết cấu của đề tài 5
NỘI DUNG 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC SINH THÁI CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài có liên quan đến đề tài 6
1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước có liên quan đến đề tài 8
1.1.3 Những nội dung luận văn tiếp tục nghiên cứu 13
1.2 Lý luận chung về giáo dục đạo đức sinh thái cho học sinh Trung học phổ thông 13
1.2.1 Khái niệm đạo đức, đạo đức sinh thái 13
1.2.2 Khái niệm, nội dung, hình thức giáo dục đạo đức sinh thái cho học sinh THPT 21
1.2.3 Tầm quan trọng của việc giáo dục đạo đức sinh thái cho học sinh Trung học phổ thông 31
Trang 61.3 Những yếu tố tác động đến giáo dục đạo đức sinh thái cho học sinh
trường THPT 35
1.3.1 Những yếu tố khách quan 35
1.3.2 Những nhân tố chủ quan 37
Kết luận chương 1 38
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC SINH THÁI CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở THỊ XÃ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN 2.1 Khái quát chung về môi trường sinh thái và đặc điểm các trường THPT ở thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 39
2.1.1 Đặc điểm về vị trí địa lý, kinh tế - xã hội và môi trường sinh thái ở thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 39
2.1.2 Đặc điểm học sinh và công tác giáo dục học sinh THPT ở thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 45
2.2 Thực trạng giáo dục đạo đức sinh thái cho học sinh trung học phổ thông ở thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 49
2.2.1 Nhận thức của giáo viên THPT thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên về tầm quan trọng của môi trường sinh thái và bảo vệ môi trường sinh thái 50
2.2.2 Nhận thức của học sinh THPT thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên về tầm quan trọng của môi trường sinh thái và bảo vệ môi trường sinh thái 55
2.2.3 Công tác giáo dục đạo đức sinh thái cho học sinh THPT ở thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 60
2.2.4 Những ưu điểm và hạn chế trong công tác giáo dục đạo đức sinh thái cho học sinh trung học phổ thông thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 63
Kết luận chương 2 68
Chương 3: MỘT SỐ NGUYÊN TẮC VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC SINH THÁI CHO HỌC SINH THPT Ở THỊ XÃ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN 69
Trang 73.1 Một số nguyên tắc nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức
sinh thái cho học sinh THPT ở thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 69
3.1.1 Nguyên tắc bảo đảm tính đồng bộ 69
3.1.2 Nguyên tắc bảo đảm tính thực tiễn 70
3.1.3 Nguyên tắc bảo đảm tính khả thi 72
3.1.4 Nguyên tắc bảo đảm tính hiệu quả 73
3.2 Một số giải pháp chủ yếu góp phân nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức sinh thái cho học sinh THPT thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 74 3.2.1 Tăng cường tích hợp nội dung giáo dục đạo đức sinh thái vào các môn học khác để dạy học cho học sinh THPT ở thị xã Phổ Yên 74
3.2.2 Đa dạng hóa các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, giáo dục đạo đức sinh thái cho học sinh THPT ở thị xã Phổ Yên 78
3.2.3 Tích cực hóa vai trò của học sinh THPT thị xã Phổ Yên trong học tập, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường sinh thái 81
3.3 Thực nghiệm sư phạm giải pháp “Tăng cường tích hợp nội dung giáo dục đạo đức sinh thái vào các môn học khác để dạy học cho học sinh THPT ở thị xã Phổ Yên” 82
3.3.1 Mục đích và giả thuyết thực nghiệm 82
3.3.2 Đối tượng, thời gian thực nghiệm 83
3.3.3 Nội dung thực nghiệm 83
3.3.4 Đánh giá kết quả sau thực nghiệm 84
Kết luận chương 3 88
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 89
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94 PHỤ LỤC
Trang 8UNEP : United Nations Environment Programme -
Chương trình Môi trường của Liên hợp quốc UNESCO : United Nations Educational Scientific and Cultural Organization
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Nhận thức của giáo viên cấp THPT ở thị xã Phổ Yên về tầm quan
trọng của công tác giáo dục đạo đức sinh thái trong nhà trường 50 Bảng 2.2: Nhận thức của giáo viên về mục tiêu của công tác giáo dục đạo
đức sinh thái ở trường trung học phổ thông 51 Bảng 2.3: Ý kiến của giáo viên THPT thị xã Phổ Yên về nội dung giáo dục
đạo đức sinh thái ở nhà trường trung học phổ thông 53 Bảng 2.4: Ý kiến của giáo viên THPT ở thị xã Phổ Yên về hình thức giáo
dục đạo đức sinh thái cho học sinh 54 Bảng 2.5: Đánh giá sự quan tâm của học sinh THPT ở thị xã Phổ Yên, Thái
Nguyên về môi trường sinh thái 56 Bảng 2.6: Mức độ hiểu biết của học sinh THPT ở thị xã Phổ Yên, Thái
Nguyên về vai trò của môi trường sinh thái 56 Bảng 2.7: Nhận thức của học sinh THPT ở thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái
Nguyên về đạo đức sinh thái 57 Bảng 2.8: Sự hiểu biết của học sinh THPT ở thị xã Phổ Yên Thái Nguyên
về ý thức đạo đức sinh thái 58 Bảng 2.9: Nhận thức của học sinh THPT ở thị xã Phổ Yên, Thái Nguyên về
quan hệ đạo đức sinh thái 58 Bảng 2.10: Nhận thức của học sinh THPT thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái
Nguyên về những hành vi bảo vệ môi trường 60 Bảng 3.1: Kết quả kiểm tra nhận thức của học sinh (Lớp thực nghiệm) 84 Bảng 3.2: Kết quả kiểm tra nhận thức của học sinh (Lớp đối chứng) 85
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1: Các bước biên soạn giáo án tích hợp 76Hình 3.2: Hoạt động của GV và HS trong từng tiểu kỹ năng 78
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Con người và môi trường tự nhiên luôn có sự tác động qua lại với nhau Môi trường tự nhiên không chỉ là ngôi nhà rộng lớn, nâng đỡ con người từ lúc sinh ra đến lúc trưởng thành, già và mất đi, mà còn là nơi cung cấp cho con người các giá trị vật chất và tinh thần để cuộc sống của con người trở nên có ý nghĩa hơn so với các giống loài động - thực vật khác Còn con người, với tư cách là loài động vật cao cấp nhất được sản sinh ra từ tự nhiên, ở một phương thức sản xuất nhất định của mình, con người đã tác động mạnh mẽ đến tự nhiên theo hai hướng hoặc là bảo vệ tự nhiên, hoặc gây hại cho tự nhiên, làm biến dạng tự nhiên
Trong một thời kỳ khá dài, loài người đã phải trả giá cho phương thức phát triển lấy mục tiêu kinh tế làm trung tâm Những thảm họa môi trường kép, vấn đề cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên… là những bài học đắt giá mà con người đã nhận được Những bài học này đã đưa con người quay trở lại với nhận thức “sống hài hòa với tự nhiên” Đã đến lúc con người phải nhận thức lại rằng trái đất không phải là nguồn tài nguyên vô tận để con người có thể khai thác một cách vô độ Nếu con người cứ tìm cách khai thác mãi giá trị từ tự nhiên thì đến một lúc nào đó tự nhiên sẽ quay lại và tìm cách trả thù con người Cái mà con người gọi là những thành tựu trong tiến trình chinh phục tự nhiên rồi có lúc
sẽ “chống lại” con người Thừa nhận các giới hạn của tự nhiên, thừa nhận con
người phải sống hòa hợp với tự nhiên không chỉ là cơ sở để con người tiến đến cách tiếp cận nhân văn mà còn là một nền tảng đạo đức mới với tự nhiên - đạo đức sinh thái
Khi nói về đạo đức sinh thái, Ph Ăngghen đã viết “Chúng ta hoàn toàn
không thống trị được giới tự nhiên như một kẻ xâm lược thống trị một dân tộc khác Chúng ta nằm trong lòng giới tự nhiên và tất cả sự thống trị của chúng
ta đối với tự nhiên là ở chỗ chúng ta, khác với tất cả các sinh vật khác, là
Trang 12chúng ta nhận thức được quy luật của giới tự nhiên và có thể sử dụng được những quy luật đó một cách chính xác” [11, tr 655]
Đất nước Việt Nam hiện nay đang bước vào một giai đoạn phát triển mới - giai đoạn cùng một lúc tiến hành đồng loạt các quá trình quan trọng như đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực Tất cả các quá trình đó không chỉ có tác động mạnh mẽ, toàn diện, sâu sắc tới các mối quan hệ giữa con người với con người, mà còn tác động tới các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên ở cả mặt tích cực lẫn tiêu cực Đáng tiếc hơn cả, mối quan hệ đó đã làm biến đổi nhanh chóng môi trường sống theo chiều hướng ngày càng xấu dần, điều đó đã dẫn đến những hậu quả không thể lường trước được cho cả tự nhiên, xã hội và con người
Nhận thức được thực trạng đó, trong những năm gần đây, toàn thể xã hội
đã hướng hoạt động của mình đến môi trường và bảo vệ môi trường Tuy nhiên, cách tiếp cận đó lại chủ yếu quan tâm đến các khía cạnh: Kỹ thuật, công nghệ, y học, luật pháp Còn, những yếu tố nhân văn, đặc biệt là các yếu tố văn hóa truyền thống dân tộc, đạo đức lối sống với môi trường thì hầu như lại chưa được xã hội chú ý đến Đặc biệt, cái làm nên nền tảng để con người sống hòa hợp với tự nhiên, đó là vấn đề giáo dục đạo đức sinh thái cho mọi công dân thì lại bị bỏ ngỏ, hầu như không có ai quan tâm tới
Lứa tuổi học sinh THPT là lứa tuổi để lại nhiều dấu ấn sâu sắc trong cuộc đời của người học sinh Ở lứa tuổi này, nếu được giáo dục một cách toàn diện,
có hệ thống thì các em sẽ trở thành công dân có ích cho xã hội Với nghĩa đó, việc giáo dục đạo đức nói chung trong đó có đạo đức sinh thái cho học sinh THPT cần phải được chú trọng và đầu tư xứng đáng Nhưng, tiếc rằng, hiện nay, những nội dung, kiến thức về môi trường nói chung, đạo đức sinh thái nói riêng vẫn chưa được đề cập sâu sắc và có hệ thống trong chương trình dạy học
Trang 13Thị xã Phổ Yên là một trong những đô thị phát triển năng động của tỉnh Thái Nguyên Cùng với tốc độ phát triển của công nghiệp hóa, đô thị hóa, nền kinh tế có sự biến chuyển theo chiều hướng tích cực, là sự thay đổi theo chiều hướng ngày một xấu dần của môi trường sinh thái Tình trạng ô nhiễm môi trường tự nhiên, suy giảm đa dạng sinh học, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên…
từ lâu là nỗi bức xúc của nhân dân nơi đây Các cấp chính quyền, đoàn thể đã
và đang đưa ra nhiều cách khác nhau để giải quyết triệt để vấn nạn này
Với quan điểm bảo vệ môi trường là trách nhiệm của tất cả mọi người, trong đó có trường học, nên các nhà trường THPT tại thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã rất chú trọng việc giáo dục tình yêu đối với thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái cho học sinh Tuy nhiên, vẫn còn đó những lỗ hổng trong các câu hỏi đầy tinh thần trách nhiệm đối với môi trường sinh thái: Các em học sinh có những suy nghĩ gì về giá trị của đạo đức môi trường sinh thái? Các em
có những đóng góp gì cho sự phát triển bền vững của đất nước? Liệu các em có phải là những công dân tương lai đầy nhiệt huyết, có trách nhiệm với môi trường sinh thái? Các nhà trường THPT đã giáo dục cho học sinh của mình như thế nào về tình yêu với thiên nhiên?
Với những lý do trên, có thể khẳng định rằng: Vấn đề đạo đức sinh thái và giáo dục đạo đức sinh thái cho học sinh THPT nói chung và học sinh THPT thị
xã Phổ Yên nói riêng là một vấn đề cần được xem xét, nghiên cứu một cách nghiêm túc, toàn diện và sâu sắc cả trên bình diện lý luận và thực tiễn Xuất
phát từ lý do này, tôi quyết định chọn đề tài: “Giáo dục đạo đức sinh thái cho học sinh các trường trung học phổ thông ở thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên” làm đề luận văn thạc sỹ của mình
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở tìm hiểu về đạo đức sinh thái và giáo dục đạo đức sinh thái, đề tài nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm giáo dục đạo đức sinh thái cho học sinh THPT ở thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên hiện nay
Trang 143 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Đề tài phân tích, làm rõ lý luận về đạo đức sinh thái và giáo dục đạo đức sinh thái
- Phân tích thực trạng công tác giáo dục đạo đức sinh thái cho học sinh THPT ở thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm giáo dục đạo đức sinh thái cho học sinh THPT ở thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu công tác đạo đức sinh thái cho học sinh THPT ở thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đạo đức sinh thái và giáo dục đạo đức sinh thái cho học sinh THPT thị xã Phổ Yên, Thái Nguyên từ năm 2010 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về giáo dục đạo đức sinh thái
5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp lôgic - lịch sử
- Phương pháp phân tích - tổng hợp
- Phương pháp so sánh, đối chiếu…
5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Trang 15Ngoài ra, đề tài còn có thể là nguồn tư liệu dạy học cho giáo viên các môn học có liên quan đến môi trường sinh thái và bảo vệ môi trường sinh thái ở các trường Đại học, THPT Đồng thời, đề tài còn là nguồn tài liệu tham khảo cho học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Giáo dục Chính trị, chuyên ngành Sinh học
và sinh viên các chuyên ngành khác trong các trường đại học, cao đẳng
7 Giả thuyết khoa học
Sau khi phân tích thực trạng công tác giáo dục đạo đức sinh thái cho học sinh THPT ở thị xã Phổ Yên, đề tài đề xuất được một số giải pháp nhằm giáo dục đạo đức sinh thái cho học sinh THPT ở thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay với giả thuyết các giải pháp đưa ra sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức sinh thái ở các trường THPT thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
8 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương và 08 tiết
Trang 16NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC SINH THÁI
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài có liên quan đến đề tài
Trong lịch sử cổ đại, vấn đề yêu quý thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái - một biểu hiện đặc thù của đạo đức sinh thái - đã được đề cập đến trong triết lý của các nhà triết học; trong các tác phẩm văn thơ, thi ca, nhạc họa ở cả phương Đông và phương Tây Cố nhiên, lúc bấy giờ người ta không biết đến và không gọi thành tên cụm từ “Đạo đức sinh thái”
Trong triết học phương Đông, nếp nghĩ, lối sống: “Thiên - Nhân cảm ứng”, “Thiên - Địa nhân hòa”, “Thiên - nhân hợp nhất” đã ăn sâu trong tiềm thức của các nhà triết học Các trường phái triết học Nho giáo, Đạo gia ở Trung Quốc, Phật giáo ở Ấn Độ cổ đại đã đặt nền móng cho vấn đề đạo đức sinh thái ngày nay
Còn trong triết học Tây Âu thời cổ đại, các nhà triết học của Hi Lạp cũng
đã đề cập nhiều tới mối quan hệ giao hòa giữa con người với thiên nhiên
Trải qua các thời kỳ khác nhau, vấn đề quan hệ giữa con người với tự nhiên đã dần được nghiên cứu một cách cẩn trọng Đến thời hiện đại các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác - Lênin mới là những học giả tiêu biểu nhất cho việc đặt nền tảng để nghiên cứu và giải quyết đúng đắn vấn đề đạo đức sinh thái
Trong một tác phẩm của mình Ăngghen viết: “chúng ta hoàn toàn
không thống trị được giới tự nhiên như một kẻ xâm lược thống trị một dân tộc khác, như một người sống bên ngoài giới tự nhiên, mà trái lại, bản thân chúng
ta, với cả xương thịt, máu mủ và đầu óc chúng ta, là thuộc về giới tự nhiên, chúng ta nằm trong lòng giới tự nhiên, và tất cả sự thống trị của chúng ta đối
Trang 17chúng ta nhận thức được quy luật của giới tự nhiên và có thể sử dụng được những quy luật đó một cách chính xác” [11, tr.655] Trong câu nói này,
Ăngghen đã gửi gắm niềm tin vào các thế hệ sau: hãy đối xử một cách có văn hóa
và đạo đức với môi trường tự nhiên Các nhà sáng lập ra chủ nghĩa Mác cũng cho rằng, nếu loài người chúng ta tìm cách huỷ hoại tự nhiên, phá vỡ cấu trúc hệ sinh thái tự nhiên thì điều đó cũng chính là chúng ta đang tàn sát chính mình
Nhận thức rõ vai trò của tự nhiên đối với cuộc sống của con người, cuối thế kỷ XX, lần đầu tiên trên thế giới, Hội nghị lần đầu tiên của Liên hợp quốc
về Môi trường đã được tổ chức tại Stockholm (Thuỵ Điển) với sự tham gia của hơn một trăm quốc gia trên thế giới Hội nghị đã đưa ra Tuyên bố chung về bảo
vệ thiên nhiên và môi trường, coi đó là một trong hai nhiệm vụ quan trọng của nhân loại (cùng với nhiệm vụ bảo vệ hoà bình, chống chiến tranh) Để nhấn mạnh trách nhiệm quan trọng của con người trong sự nghiệp bảo vệ môi trường, Hội nghị Stockholm đã đưa ra kiến nghị cần phải quan tâm đến giáo dục môi trường trong nhà trường Hội nghị nhấn mạnh rằng không có một quốc gia nào có thể phớt lờ sự cần thiết để tạo ra những cố gắng có suy nghĩ nhằm dẫn đến sự quan tâm đến môi trường của học sinh trong nhà trường Thực hiện những nguyên tắc và quy định đưa ra trong Hội nghị Stockholm, nhiều chương trình và hội nghị về môi trường đã được thành lập và triển khai rộng khắp trên thế giới, như: Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP), Hội nghị quốc tế về giáo dục môi trường; Hội nghị thượng đỉnh của thế giới về Môi trường và Phát triển, Chương trình Nghị sự 21 (Agenda 21) Đặc biệt, vào năm
1997, Chính phủ Hàn Quốc đã tổ chức Hội nghị bàn tròn về đạo đức môi
trường tại Seoul Các bên tham gia Hội nghị đã ký bản “Tuyên bố Seoul về
đạo đức môi trường” Ngoài ra, trong nhiều Hội nghị quốc tế khác như Hội
nghị Kiôto, Cancul, Thượng Hải những vấn đề sinh thái và đạo đức sinh thái, giáo dục đạo đức sinh thái cũng đã được đề cập ở mức độ nhất định Điểm chung nhất trong các bản Tuyên bố, Công ước, Nghị định thư của các
Trang 18hội nghị nêu trên là đều đưa việc nhận thức, ý thức về bảo vệ môi trường lên hàng đầu, trước khi đưa ra những nguyên tắc hành động cụ thể trong từng lĩnh vực của hoạt động bảo vệ môi trường
Thời hiện đại, những hiểm họa của biến đổi khí hậu và nước biển dâng
đã và đang trực tiếp tác động đến cuộc sống thường nhật của mỗi con người Đối diện với hiểm họa đó, ở phương Tây, sinh thái học từ một lĩnh vực triết lý trở thành một phong trào xã hội có mục đích tái lập cuộc đối thoại giữa con người, giữa xã hội với thiên nhiên Người ta lập luận rằng con người, thiên nhiên và các sinh vật chỉ là những hình thái sống khác nhau Michel Serres cho
rằng: “Ta đánh mất vũ trụ ( ) Ta biến tất cả sự vật thành hàng hóa Vũ trụ
( ) tự cống hiến nó cho chúng ta Sẽ có sự bất công, sẽ có sự bất quân bình nếu ta nhận sự cống hiến đó một cách miễn phí, không trả lại cái gì cả Sự công bằng buộc chung ta phải trả, ít nhất là ngang mức ta nhận, nghĩa là vừa đủ” [dẫn theo 24] Tiến thêm một bước nữa, Aldo Leopold đưa ra một quan
điểm đạo đức “Một việc là tốt, là thiện, nếu có khuynh hướng bảo tồn sự toàn vẹn, sự vững chắc và vẻ đẹp của cộng đồng sinh thái Một việc là xấu, là ác, nếu trái lại” [dẫn theo 24]
Mặc dù còn có nhiều ý kiến chưa hoàn toàn đồng nhất với nhau, nhưng các nghiên cứu trên thế giới về đạo đức môi trường đã khẳng định những vấn đề đạo đức môi trường, văn hóa sinh thái rõ ràng là những vấn đề hệ trọng; chúng vừa có tầm bao quát, vừa có chiều sâu xã hội rất phức tạp Những nghịch lý và mâu thuẫn giữa con người với môi trường luôn đặt ra cho chúng ta nhiều điều phải suy nghĩ, đối phó và giải quyết Và thế giới đã chọn văn hóa sinh thái, đạo đức môi trường để giải quyết ổn thỏa mối quan hệ giữa con người và tự nhiên
1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước có liên quan đến đề tài
Ở Việt Nam, trong những năm qua, nhất là những năm gần đây, việc phát triển lực lượng sản xuất, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa một cách ồ ạt
Trang 19lực thiên nhiên đã làm cho mâu thuẫn giữa phát triển xã hội và bảo tồn cân bằng sinh thái ngày càng tăng lên Đây thực sự là thách thức lớn trên con đường phát triển của đất nước Để giải quyết triệt để những thách thức này, các nhà khoa học tìm đến nhiều giải pháp khác nhau, trong đó có giải pháp đạo đức sinh thái với sự đa dạng của các công trình nghiên cứu khác nhau Theo hướng giáo dục đạo đức môi trường cho học sinh THPT có các công trình nghiên cứu theo các hướng sau:
- Các công trình viết dưới dạng các loại sách chuyên khảo, sách tham khảo, giáo trình gồm có một số công trình tiêu biểu sau:
Trong cuốn sách “Đạo đức sinh thái và giáo dục đạo đức sinh thái”, tác
giả Vũ Trọng Dung đã khẳng định môi trường sinh thái là tất cả những điều kiện xung quanh có liên quan đến sự sống của sinh thể, của con người, việc giải quyết vấn đề ô nhiễm MTST phải bằng công tác giáo dục đạo đức sinh thái, tức
là giáo dục thái độ, ý thức, hành vi tôn trọng và yêu quý thiên nhiên, giữ gìn và bảo vệ MTST cho mọi chủ thể Tác giả cũng cho rằng sự thống nhất giữa nghĩa
vụ đạo đức với nghĩa vụ pháp lý trong việc giữ gìn và bảo vệ MTST là đòi hỏi cấp bách đối với mỗi người và đó cũng là giải pháp cơ bản để giải quyết vấn đề
ô nhiễm MTST ở Việt Nam hiện nay [17]
Lê Văn Khoa (Chủ biên) (2009), Môi trường và giáo dục bảo vệ môi
trường, Nxb Giáo dục, Hà Nội: Theo tác giả, công tác giáo dục đạo đức môi
trường cho học sinh trong và ngoài nhà trường bằng nhiều hình thức khác nhau như các hoạt động thực tế: tham quan, thực nghiệm, thực địa; các hoạt động sáng tác văn học nghệ thuật như thơ, chuyện, tranh ; các hoạt động thực tế bảo
vệ môi trường như thu gom rác thải, trồng cây, dọn vệ sinh Ngoài ra, tác giả cũng cho rằng việc thành lập các câu lạc bộ (bảo vệ cây xanh ), các cuộc thi (vẽ, hát, múa, báo tường ) cũng có tác dụng tốt tới công tác giáo dục đạo đức
sinh thái và bảo vệ môi trường cho học sinh [27]
Trang 20Nguyễn Thị Khương (Chủ biên) (2015) trong sách tham khảo Quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường tự nhiên ở các tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam đã đưa ra nhiều vấn đề về giải quyết mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường ở miền núi phía Bắc nước ta Cuốn sách đã đưa ra nhiều giải pháp nhằm kết hợp đúng đắn giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường ở miền núi phía Bắc nước ta Ở giải pháp thứ tư, tác giả nhấn mạnh: Trường học và gia đình là những nơi thuận tiện nhất cho công tác giáo dục bảo
vệ môi trường trong phát triển kinh tế Do vậy, các cấp chính quyền các tỉnh miền núi Đông Bắc phải tạo điều kiện cho các cơ sở giáo dục quốc dân đưa nội dung kết hợp giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường vào giảng dạy trong nhà trường ở các cấp học Cần thiết phải giúp cho các cơ sở giáo dục thông qua giáo dục các kiến thức chính sẽ từng bước hình thành và giáo dục cho học sinh chú trọng tình yêu đối với thiên nhiên, có nếp sống gần gũi, thân thiện với môi trường Mặt khác, các cấp chính quyền còn phải tạo điều kiện để mỗi gia đình
sẽ là một cơ sở giáo dục nhỏ về bảo vệ môi trường sinh thái trong quá trình phát triển kinh tế [34]
- Các công trình nghiên cứu dưới dạng luận văn, luận án, đề tài gồm có các công trình tiêu biểu sau:
Luận văn thạc sĩ Triết học “Vấn đề giáo dục đạo đức sinh thái cho sinh
viên các trường Đại học, Cao đẳng ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay”, của tác giả
Nguyễn Văn Hiếu Ở đó, tác giả đã tập trung phân tích tầm quan trọng, thực trạng của việc giáo dục đạo đức sinh thái cho sinh viên các trường Đại học và Cao đẳng ở Bắc Ninh Trong đề tài, tác giả Nguyễn Văn Hiếu cũng phân tích một số giải pháp về giáo dục đạo đức sinh thái cho sinh viên ở tỉnh Bắc Ninh Các giải pháp mà tác giả hướng vào là: giải pháp đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên giảng dạy về đạo đức sinh thái; giải pháp giáo dục đạo đức sinh thái thông qua các phương tiện thông tin đại chúng; giải pháp xây dựng cơ sở vật chất cho công tác giáo dục đạo đức sinh thái cho sinh viên và giải pháp gắn
Trang 21làng nghề, khu công nghiệp của Bắc Ninh [23]
Luận án “Vấn đề giáo dục đạo đức sinh thái cho sinh viên Việt Nam hiện
nay” của Phan Thị Hồng Duyên, (2012) Trên cơ sở của việc khẳng định tầm
quan trọng của việc giáo dục đạo đức sinh thái cho sinh viên Việt Nam, luận án
đã nêu lên một số vấn đề đặt ra về giáo dục đạo đức sinh thái cho sinh viên Việt Nam hiện nay, qua đó đề ra năm giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức sinh thái cho sinh viên Việt Nam hiện nay, đó là: (1) Tiếp tục xây dựng và bổ sung, hoàn thiện pháp luật về môi trường và bảo vệ môi trường sinh thái; (2) Xây dựng nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục đạo đức sinh thái cho sinh viên lồng ghép vào các môn học khác phù hợp với điều kiện nước ta hiện nay; (3) Bồi dưỡng đội ngũ giảng viên giảng dạy về đạo đức sinh thái từ các môn học khác nhau; (4) Đa dạng hóa các hình thức giáo dục đạo đức sinh thái cho sinh viên; (5) Phát huy vai trò chủ động, tích cực và sáng tạo của sinh viên trong giáo dục đạo đức sinh thái [18]
Đề tài: “Đạo đức sinh thái và việc giáo dục đạo đức sinh thái cho cán bộ
chủ chốt cấp huyện các tỉnh phía Bắc nước ta hiện nay” (2004) tác giả Vũ
Trọng Dung đã làm sáng tỏ những vấn đề về đạo đức sinh thái và giáo dục đạo đức sinh thái; Phân tích thực trạng đạo đức sinh thái và giáo dục đạo đức sinh thái cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện các tỉnh phía Bắc nước ta hiện nay;
Đề xuất phương hướng và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức sinh thái cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện các tỉnh phía Bắc nước ta hiện nay [16]
Trong Báo cáo tổng kết đề tài Giáo dục đạo đức môi trường cho học sinh
Trung học cơ sở (2009) TS Dương Quang Ngọc, chủ nhiệm đề tài cho rằng:
Để giáo dục đạo đức môi trường cho học sinh trường trung học cơ sở đạt hiệu quả cao, cần chú trọng một số giải pháp cụ thể: đối với các cơ quan quản lý, nghiên cứu giáo dục; đối với nhà trường trung học cơ sở; đối với giáo viên trung học cơ sở; đa dạng cách tiếp cận giáo dục đạo đức môi trường; về các điều kiện hỗ trợ khác [5]
Trang 22- Các công trình liên quan đến đề tài được nghiên cứu dưới dạng các bài báo, tạp chí gồm có:
Tác giả Đỗ Huy trong bài viết “Giáo dục đạo đức sinh thái và xây dựng
môi trường văn hoá trong lịch trình thế kỷ XXI” đã làm rõ vai trò vô cùng quan
trọng của MTST trong quá trình phát triển kinh tế Theo tác giả, giá trị của hệ sinh thái có ảnh hưởng lớn đến cuộc sống con người, các giá trị này tuy “im lặng” nhưng nếu con người lạm dụng quyền lực của mình, tác động thô bạo vào chúng thì cái giá phải trả là rất lớn Do đó, tác giả khẳng định, việc giáo dục đạo đức sinh thái là rất cần thiết để môi trường và con người phát triển một cách hài hoà [25]
Tác giả Phan Thị Hồng Duyên trong bài viết Giáo dục đạo đức sinh thái vì
sự phát triển bền vững cho con người và giới tự nhiên đăng trên Tạp chí Triết
học, số năm 2008 khẳng định: Giáo dục đạo đức sinh thái phải bắt đầu từ sự quá trình giáo dục cho con người nhận thức đúng đắn mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, xây dựng một cách có ý thức hoạt động thực tiễn của con người phù hợp với quy luật của tự nhiên Giáo dục đạo đức sinh thái phải được coi là một quá trình giáo dục về nhận thức khoa học, đạo đức, thẩm mỹ, chính trị trong lĩnh vực sinh thái nhằm trang bị cho con người khả năng chủ động, tích cực tham gia vào hoạt động cải tạo, bảo vệ môi trường tự nhiên trên cơ sở nắm vững ý thức đạo đức sinh thái, quan hệ đạo đức sinh thái, hành vi đạo đức sinh thái [19]
Các tác giả Phạm Minh Ái, Nguyễn Thị Thủy Hương trong bài viết Nâng
cao hiệu quả giáo dục đạo đức sinh thái cho thế hệ trẻ nước ta hiện nay đăng
trong Tạp chí Giáo dục tháng 11 năm 2016 đã phân tích những khía cạnh cần chú ý để nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức sinh thái cho thế hệ trẻ Các tác giả nhấn mạnh cần phải giáo dục cho thế hệ trẻ ý thức sâu sắc rằng, con người
là một thực thể không thể tách rời của giới tự nhiên; cần “tiêu chí hóa” và phối
Trang 23trường; giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho thanh thiếu niên, nhất là qua hệ thống trường học [1]
Như vậy, có thể thấy, tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu mà mỗi công trình đã có đề cập đến những khía cạnh khác nhau về đạo đức sinh thái và giáo dục đạo đức sinh thái nói chung Những kết quả nghiên cứu của các công trình trên là nguồn tư liệu quý giá cho tác giả trong quá trình thực hiện luận văn này
1.1.3 Những nội dung luận văn tiếp tục nghiên cứu
Qua việc tìm hiểu những công trình nghiên cứu đã có liên quan đến đề tài luận văn, có thể thấy rằng môi trường sinh thái và việc giáo dục môi trường sinh thái cho học sinh, sinh viên nói riêng và cho quần chúng nhân dân nói chung đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu và đưa ra nhiều giải pháp khả thi Song, với tư cách là một công trình nghiên cứu về giáo dục đạo đức sinh thái cho học sinh THPT ở thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên thì chưa có công trình nào đề cập đến một cách công phu và có hệ thống Dựa trên cơ sở các kết quả nghiên cứu đã có liên quan đến đề tài, đề tài tiếp tục nghiên cứu để làm rõ những nội dung sau:
- Bước đầu đề xuất khái niệm về giáo dục đạo đức sinh thái cho học sinh
- Nghiên cứu để chỉ rõ thực trạng công tác giáo dục đạo đức sinh thái cho học sinh THPT ở thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
- Đề xuất và thực nghiệm tính khả thi của một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao công tác giáo dục đạo đức sinh thái cho học sinh THPT ở thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên hiện nay
1.2 Lý luận chung về giáo dục đạo đức sinh thái cho học sinh Trung học phổ thông
1.2.1 Khái niệm đạo đức, đạo đức sinh thái
1.2.1.1 Khái niệm đạo đức
Trong xã hội, ở bất cứ thời đại nào cũng đều tồn tại mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội Tùy theo trình độ phát triển của xã hội mà những lợi ích của cá
Trang 24nhân phù hợp ít nhiều với lợi ích của xã hội Để những hoạt động của cá nhân không vượt ra khỏi những giới hạn của xã hội, người ta thường sử dụng các biện pháp điều chỉnh, trong đó có đạo đức
Đạo đức - Etica, theo tiếng Hi Lạp cổ là Ethos, có nghĩa là truyền thống, phong tục, đặc tính, loại hình tư tưởng Các nhà triết học Hi Lạp cổ đại dùng từ Ethos để chỉ những đặc điểm đã được hình thành bền vững ở con người hoặc
các hiện tượng xã hội Còn theo tiếng Latin Đạo đức được gọi là Mos với hàm
ý chỉ những gì liên quan đến lề thói Nhìn chung, thời cổ đại ở phương Tây, nói
đến đạo đức là nói đến những lề thói, tập tục, nó biểu hiện mối quan hệ giao tiếp hàng ngày giữa con người với nhau Còn ở phương Đông, trong triết học Trung Quốc, đạo đức được hiểu là những yêu cầu, nguyên tắc do cuộc sống đặt
ra mà mỗi người phải tuân theo
Trong mỗi một giai đoạn, tương ứng với sự phát triển của xã hội, người
ta hiểu đạo đức theo những tiêu chuẩn khác nhau, như Ph.Ăngghen đã khẳng định: "Xét cho đến cùng, mọi học thuyết về đạo đức đã có từ trước đến nay đều
là sản phẩm của tình hình kinh tế cửa xã hội lúc bấy giờ" Tuy vậy, dù ở thời đại nào thì vẫn có những giá trị đạo đức chung cho toàn nhân loại Tùy theo cách tiếp cận mà đạo đức được hiểu theo các nghĩa khác nhau:
Theo nghĩa rộng: Đạo đức là hình thái ý thức xã hội, nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi cho phù hợp với lợi ích, hạnh phúc và làm giàu tính người trong các quan hệ xã hội, kể cả trong các quan hệ chính trị, tư tưởng
Theo nghĩa hẹp: Đạo đức là các qui tắc, chuẩn mực dùng điều chỉnh hành vi con người trong quan hệ giữa người với người trong hoạt động sống
Và ở nghĩa hẹp hơn nữa thì đạo đức dùng để chỉ hành vi đạo đức, đó là hành động cá nhân thể hiện quan niệm của cá nhân về nghĩa vụ đối với xã hội
và đối với người khác, thể hiện lương tâm hoặc bổn phận cá nhân trong những hoàn cảnh đặc thù không lặp lại
Như vậy, nói đến đạo đức là nói đến con người, đến trách nhiệm của cá
Trang 25chỗ cá nhân phải gánh chịu sự đánh giá từ dư luận xã hội về sự lựa chọn ý thức
và hành vi đạo đức của mình mà còn được phán xử bởi chính lương tâm của con người vê những động cơ, mục đích của bản thân Trên cơ sở này, cá nhân nhận thức được những giá trị đạo đức chân chính và định hướng được hành động của mình cho phù hợp với lợi ích của người khác, của xã hội
Từ sự phân tích trên, có thể đi đến kết luận: Đạo đức là một hình thái ý
thức xã hội, bao gồm những chuẩn mực mang tính lịch sử - xã hội do con người đặt ra để điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với quyền lợi chung của cộng đồng mà họ đang sống, đạo đức là sự thể hiện trách nhiệm của cá nhân đối với cộng đồng xã hội
Đạo đức không thể tách rời cuộc sống của con người Chính con người bằng hoạt động thực tiễn đã xây dựng nên những tiêu chuẩn, giá trị đạo đức Vì
lẽ đó, bản chất đạo đức trước hết là sự phản ánh những giá trị cao đẹp của đời sống con người, được thể hiện ra ở những quan hệ cụ thể giữa con người với con người trong xã hội Mỗi cá nhân dù sống ở bất cứ hoàn cảnh nào, khó khăn hay thuận lợi, đều phải suy nghĩ và hành động cho phù hợp với yêu cầu phát triển chung của xã hội mà không xâm phạm đến lợi ích chính đáng của người khác Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, có cấu trúc tương đối hoàn thiện, bao gồm: ý thức đạo đức, hành vi đạo đức và quan hệ đạo đức [26, tr 8] Quan hệ đạo đức là bộ phận đặc biệt của quan hệ xã hội Quan hệ đạo đức
là quan hệ giữa con người với con người, cá nhân với xã hội về mặt đạo đức
Nó xác định những nội dung khách quan của những nhu cầu đạo đức
Ý thức đạo đức là ý thức của cá nhân về hệ thống những quy tắc và chuẩn mực hành vi phù hợp với những quan hệ đạo đức hiện tồn Ý thức đạo đức xác định ranh giới của hành vi con người với những giá trị đạo đức của nó Trong ý thức đạo đức, ngoài những chuẩn mực đạo đức phải tuân theo, còn có những tình cảm, ý chí đạo đức của con người
Hành vi đạo đức của mỗi người thường diễn ra dưới sự chỉ đạo bởi ý thức đạo đức của chính con người đó trong việc thực hiện các quan hệ xã hội
Trang 26Hành vi đạo đức là sự cụ thể hóa của ý thức đạo đức trong đời sống thực tiễn Dưới ảnh hưởng của những lý tưởng và niềm tin đạo đức, sự hoạt động của con người trong các lĩnh vực khác nhau, những cộng đồng xã hội khác nhau chính
là hành vi đạo đức
Như vậy, bất cứ cá nhân nào cũng đều được sinh ra và trưởng thành trong một môi trường nhất định Môi trường đó có ảnh hưởng không nhỏ tới việc hình thành và phát triển nhân cách của cá nhân Để cá nhân trở thành con người tốt thì môi trường phải thực sự tốt Thực tế cuộc sống đã dần chứng minh vai trò to lớn của đạo đức trong việc duy trì và ổn định trật tự xã hội Đạo đức không chỉ giữ vai trò quan trọng để tạo dựng nên cuộc sống tốt đẹp cho xã hội
mà nó còn có tác dụng cảm hóa con người, giúp con người nhận thức và hành động theo lẽ phải, giúp người xấu trở thành người tốt, hoàn thiện nhân cách con người và đặc biệt duy trì mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người, con người với tự nhiên
1.2.1.2 Khái niệm đạo đức sinh thái
Đạo đức sinh thái là một thuật ngữ xuất hiện cách đây khoảng vài ba thập kỷ Do nhu cầu của hoạt động thực tiễn, để tăng năng suất lao động, phát triển sản xuất, con người đã bằng mọi cách tác động vào tự nhiên, gây ra những biến đổi sâu sắc trong tự nhiên Tình trạng cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, sa mạc hóa, đất đai, khí hậu biến đổi bất thường, ô nhiễm môi trường sinh thái diễn ra ở khắp nơi trên diện rộng Ở những mức độ khác nhau, những biến đổi bất thường trong tự nhiên đều gây đến những bất lợi trong cuộc sống của con người Để bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ sự sống, các quốc gia đã đề ra nhiều giải pháp, từ pháp luật đến đạo đức, lối sống; từ cưỡng bức, xử phạt đến khuyến nghị, răn đe Trong hàng loạt các biện pháp đó, người ta nhận thức rằng, sử dụng tiếng nói từ góc độ đạo đức trong việc bảo vệ môi trường sinh thái là một trong những biện pháp hay nhất để giải quyết các tình trạng xấu về môi trường sinh thái Việc thực hiện tốt nghĩa vụ đạo đức đối với môi trường
Trang 27Cho đến nay, có nhiều quan niệm khác nhau về đạo đức sinh thái Tùy theo từng góc độ tiếp cận mà khái niệm này được gọi tên khác nhau như đạo
đức môi sinh, đạo đức môi trường Theo tác giả Vũ Trọng Dung, “Đạo đức
sinh thái bao gồm một hệ thống những quan điểm, quan niệm, tư tưởng, tình cảm, những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực,… quy định, điều chỉnh hành vi của con người trong quá trình biến đổi và cải tạo tự nhiên nhằm phục vụ cho
sự sống của con người, sự tồn tại và phát triển của xã hội trong những điều kiện sinh thái còn có những nét đặc thù riêng” [17, tr.77]
Với quan điểm đạo đức sinh thái được hình thành trong quá trình con người tác động vào tự nhiên, lấy từ nó những vật phẩm cần thiết cho sự tồn tại
và phát triển của mình, tác giả Phan Thị Hồng Duyên cho rằng: “Đạo đức sinh
thái là hệ thống những quan điểm, quan niệm, tư tưởng, tình cảm, những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực, dùng để điều chỉnh và đánh giá hành vi ứng
xử của con người trong quá trình cải tạo, biến đổi tự nhiên nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người, sự phát triển bền vững của xã hội và của cả
tự nhiên” [18, tr 29]
Mặc dù chưa có sự thống nhất tuyệt đối về mặt câu từ, song các quan niệm trên ít nhiều đều cho rằng nói đến đạo đức sinh thái là nói đến sự quan tâm tự nguyện, tự giác của con người đối với việc giữ gìn môi trường sinh thái vì lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội
Cũng giống như đạo đức, cấu trúc của đạo đức sinh thái gồm ba bộ phận là ý thức đạo đức sinh thái, hành vi đạo đức sinh thái và quan hệ đạo đức sinh thái
Ý thức đạo đức sinh thái là việc con người có những hiểu biết về MTST,
hiểu được tầm quan trọng và có tình cảm thân thiết với môi trường sinh thái Chẳng hạn yêu thiên nhiên, ý thức được những việc làm có hại và những việc làm không gây hại đối với môi sinh
Hành vi đạo đức sinh thái là những hoạt động của con người nói chung, đối với môi trường sinh thái Con người có hành vi đạo đức sinh thái tức là có
Trang 28những hành động phù hợp với MTST mà những hành động đó được chỉ đạo bởi tình cảm đạo đức của con người đối với môi trường sinh thái Chẳng hạn trong quá trình tác động vào tự nhiên con người biết bảo vệ tự nhiên, bảo vệ động vật Các hoạt động này của con người có thể là tự giác nhưng cũng có thể là tự
phát Hành vi đạo đức sinh thái “là sự biểu hiện cao nhất của đạo đức sinh thái,
là sự tổng hợp của tất cả các yếu tố hợp thành đạo đức sinh thái; ý thức sinh thái, quan hệ đạo đức sinh thái và thực hiện đạo đức sinh thái Hành vi đạo đức sinh thái được điều chỉnh bởi một hệ thống các chuẩn mực và giá trị đạo đức sinh thái, thể hiện sự thống nhất trong chủ thể đạo đức những nhu cầu khách quan của xã hội, những hoạt động tự giác, tích cực của con người trong việc khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường Hành vi đạo đức sinh thái là cách ứng xử của con người đối với hệ sinh thái” [19, tr 79]
Quan hệ đạo đức sinh thái là hệ thống những quan hệ xác định giữa con người và con người, con người và tự nhiên trong mối quan hệ với tự nhiên
Quan hệ đạo đức sinh thái được biểu hiện ra ở quan hệ lợi ích, lợi ích của cả
chủ thể đạo đức (con người) lẫn khách thể đạo đức (giới tự nhiên) Vấn đề đặt ra ở đây là, “con người cần phải ý thức được một cách đúng đắn vị trí, vai trò của mình trong mối quan hệ với tự nhiên, cần phải giải quyết một cách hài hoà mối quan hệ lợi ích giữa con người và giới tự nhiên Không chỉ thế, con người còn cần phải thay đổi thái độ đối với giới tự nhiên, từ thái độ khai thác, bóc lột sang khai thác đi đôi với xây dựng và bảo vệ, tái tạo và tôn trọng giới tự nhiên” [19, tr 80]
Có thể thấy, đạo đức sinh thái là một khía cạnh đặc biệt của đạo đức xã hội
mà biểu hiện đặc thù của nó là mối quan hệ giữa con người với tự nhiên Để nhận biết được đạo đức sinh thái, thường phải nhận thức thông qua các dấu hiệu cơ bản, đặc thù của nó, khác biệt về chất so với dấu hiệu đạo đức xã hội tồn tại trong đời sống của cộng đồng xã hội
Dấu hiệu thứ nhất là nhận biết về khách thể và chủ thể của đạo đức sinh
Trang 29đạo đức sinh thái là con người Nếu chủ thể đạo đức sinh thái có những ý thức
và hành vi phù hợp với chuẩn mực đạo đức sinh thái thì khách thể đạo đức sinh thái được bảo tồn và phát triển Ngược lại, nếu chủ thể đạo đức sinh thái có những ý thức và hành vi không phù hợp với chuẩn mực đạo đức sinh thái thì khách thể đạo đức sinh thái sẽ không được bảo tồn và phát triển, thậm chí còn là yếu tố gây hại cho khách thể đạo đức sinh thái Bản chất của đạo đức sinh thái đã chỉ rõ, con người với tư cách là chủ thể đạo đức phải luôn ý thức và có những sự tác động phù hợp tới giới tự nhiên, phải biết yêu quý và trân trọng tự nhiên
Dấu hiệu thứ hai để nhận diện đạo đức sinh thái là đạo đức sinh thái đòi hỏi ở chủ thể đạo đức sinh thái một sự nhận thức tự giác và tự nguyện rất cao Đây là nét đặc thù của đạo đức sinh thái so với đạo đức xã hội Nếu trong đạo đức xã hội cả chủ thể và khách thể đều đòi hỏi phải có sự tự nguyện, tự giác trong việc điều chỉnh ý thức và hành vi đạo đức thì trong đạo đức sinh thái, chủ thể đạo đức sinh thái tự mình nhận thức và điều chỉnh hành vi một cách hoàn toàn chủ động Chính chủ thể đạo đức sinh thái tự đặt ra các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực trong quan hệ với tự nhiên, qua đó tự điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với giới tự nhiên Cố nhiên, chúng ta cũng có thể thấy khách thể đạo đức sinh thái cũng có sự tác động tích cực hoặc tiêu cực tới chủ thể đạo đức sinh thái Chẳng hạn như sự ảnh hưởng của khí hậu, thời tiết… tới con người Song, đó là sự tác động một cách tự phát, không tuân theo một quá trình nhận thức nào cả Với dấu hiệu này, đạo đức sinh thái đòi hỏi chủ thể phải biết trân trọng, yêu quý thiên nhiên, phát huy bản chất “nhân chi sơ tính bản thiện”, nuôi dưỡng tinh thần “Thiên - Nhân hợp nhất” trong triết lý phương Đông Hơn nữa, chủ thể đạo đức sinh thái cũng cần phải có những hiểu biết sâu sắc về các giá trị của các tự nhiên; hiểu biết quy luật vận động, biến đổi của tự nhiên; có những nhận thức đúng đắn về vai trò, vị trí và trách nhiệm của mình khi đối xử với tự nhiên Chỉ có trên cơ sở của những sự hiểu biết đó, con người mới có thể lựa chọn, xác định được những chuẩn mực, hành vi đạo đức đúng đắn, phù hợp trong quá trình khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sinh thái
Trang 30Dấu hiệu thứ ba của đạo đức sinh thái là thông qua hệ thống các chuẩn mực của đạo đức sinh thái, bao gồm một số chuẩn mực sau:
Thứ nhất, trong mối quan hệ với tự nhiên, chủ thể đạo đức sinh thái phải đảm bảo rằng trong khi khai thác MTST, cần phải tính tới khả năng tái tạo và
tự hồi phục của các thực thể tự nhiên như động vật, thực vật Còn đối với các loại tài nguyên không có khả năng tái tạo và phục hồi như các loại khoáng sản, nhiên liệu dầu mỏ, chất đốt phải khai thác, sử dụng hợp lý, dùng tiết kiệm, không lãng phí, không làm thất thoát
Thứ hai, các chuẩn mực đạo đức sinh thái, về mặt xã hội, được biểu hiện thông qua chất lượng sinh học của các sản phẩm sản xuất và tiêu dùng Có nghĩa
là, trong sản xuất phải đảm bảo quy trình hợp lý để đưa ra thị trường những sản phẩm hợp vệ sinh, an toàn, sản phẩm “sạch” cho xã hội; còn trong tiêu dùng, phải đảm bảo rằng việc thu gom, xử lý chất thải phải được thực hiện một cách tối ưu và
có hiệu quả nhất để không gây ô nhiễm môi trường sinh thái
Thứ ba, chuẩn mực đạo đức sinh thái được biểu hiện ở chất lượng môi trường sống và sự đa dạng sinh học của hệ sinh thái Nếu như môi trường bị ô nhiễm thì môi trường sống của con người bị thu nhỏ lại, ảnh hưởng tới sức khỏe của con người và làm mất dần sự đa dạng sinh thái Do đó, chuẩn mực của đạo đức sinh thái còn được hiểu ngắn gọn là không làm ô nhiễm môi trường
Như vậy, qua sự phân tích trên về đạo đức sinh thái, có thể thấy, đạo đức sinh thái là một phương diện biểu hiện đặc thù của đạo đức con người, nhưng trong sự tương tác với môi trường sinh thái tự nhiên Từ những quan điểm trên,
tác giả luận văn đi đến kết luận: đạo đức sinh thái là hệ thống các nguyên tắc,
chuẩn mực về đạo đức mà con người đối xử với môi trường sinh thái, nó có tác dụng điều chỉnh những hành vi của con người trong mối quan hệ với môi trường sinh thái
Đạo đức sinh thái, cũng giống như đạo đức xã hội, nó không là sự biểu hiện
Trang 31cũng không phải là sự biểu hiện của những năng lực “tiên thiên”, nhất thành bất biến của con người mà được biểu hiện ra bằng năng lực thực tiễn của con người trong mối quan hệ với môi trường sinh thái tự nhiên
1.2.2 Khái niệm, nội dung, hình thức giáo dục đạo đức sinh thái cho học sinh THPT
1.2.2.1 Khái niệm giáo dục đạo đức sinh thái
Giáo dục luôn được xếp ở vị trí trước tiên trong tất cả các yếu tố để giúp con người có những nhận thức đúng trên cơ sở đó có những hành vi, hành động đúng đắn Giáo dục nói chung là quá trình thông qua các hoạt động và các quan
hệ giữa nhà trường với người học, giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với nhau hoặc người học với chính mình nhằm giúp người học chiếm lĩnh những tri thức, kinh nghiệm của loài người Giáo dục ở nghĩa hẹp còn được hiểu là quá trình sư phạm trong đó bằng kiến thức, năng lực và tình cảm nghề nghiệp của mình, giáo viên truyền lại cho học sinh những hiểu biết cơ bản về tự nhiên và xã hội, trên cơ sở đó học sinh hình thành nên thế giới quan, niềm tin, tình cảm, thái độ, những tính cách, những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong môi trường tự nhiên và xã hội
Giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác (giữa giáo viên với học sinh, học sinh với học sinh…), nhưng cũng có thể thông qua quá trình tự học của người học Tất cả những trải nghiệm có ảnh hưởng đến suy nghĩ và hành vi của con người đều có thể được xem là có tính giáo dục
Cũng như mọi hình thức giáo dục khác, giáo dục đạo đức sinh thái là một quá trình giáo dục về nhận thức khoa học, đạo đức, thẩm mỹ, chính trị trong lĩnh vực sinh thái, cùng với những hình thức và biện pháp giáo dục thích hợp nhằm trang bị cho mỗi con người khả năng chủ động, tích cực tham gia vào hoạt động cải tạo, bảo vệ môi trường tự nhiên
Giáo dục đạo đức sinh thái còn được hiểu “là một hoạt động hướng đích, trong đó các lực lượng giáo dục bằng những phương tiện nhất định tác động một cách có mục đích lên đối tượng, nhằm hình thành ở họ ý thức, chuẩn mực
Trang 32đạo đức sinh thái, để từ đó họ có thái độ, hành vi đúng đắn trong ứng xử với tự nhiên” [18, tr 38]
Về thực chất, giáo dục đạo đức sinh thái “trước hết, nhằm điều chỉnh một cách tự giác hành vi của con người đối với tự nhiên, hướng tới tạo ra mối quan
hệ “hài hòa” giữa tự nhiên, con người và xã hội, làm cho mối quan hệ giữa con người với tự nhiên ngày càng trở nên “thân thiện”, tính thống nhất giữa con người và tự nhiên ngày càng thêm khăng khít Tiếp đến, giáo dục đạo đức sinh thái còn cung cấp cho đối tượng giáo dục những chuẩn mực, nguyên tắc trong ứng xử với môi trường tự nhiên; hình thành ở họ tình cảm, tri thức, niềm tin, ý chí, thói quen và từ đó biến thành nhu cầu, động cơ và năng lực đạo đức sinh thái bên trong mỗi cá nhân, sự quan tâm đến lợi ích của tự nhiên, của cộng đồng xã hội, ngăn cản tật xấu đột nhập vào trái tim con người, nhằm hoàn thiện con người trước khi bước vào đời, chuẩn bị cho họ đấu tranh thắng lợi với cái xấu, cái ác” [18, tr 38-40]
Để giáo dục đạo đức sinh thái có hiệu quả phải thông qua nhiều con đường với các hình thức giáo dục khác nhau như tập huấn, đào tạo, hội thảo, truyền thông thông tin trên báo đài, đưa chương trình giáo dục môi trường vào các bậc học trong nhà trường… Ngoài ra, để giáo dục đạo đức sinh thái có kết quả thì việc giáo dục này cần phải tiến hành ở mọi thành tố của nó, tức là từ việc giáo dục những chuẩn mực đến ý thức và hành vi đạo đức sinh thái
Tóm lại, giáo dục đạo đức sinh thái là tạo ra những suy nghĩ và hành động đúng đắn vì sự toàn vẹn của môi trường và sự phát triển bền vững của xã hội
"Nếu chúng ta có đầy đủ kiến thức hơn và hành động khôn ngoan hơn, chúng ta
có thể giành được cho chính bản thân chúng ta và con cháu chúng ta một cuộc sống tốt đẹp hơn trong một môi trường đáp ứng nhiều hơn nhiều nhu cầu và hy vọng của con người" [10, tr10] Chúng ta cần phải bình tĩnh, sáng suốt khách quan nhìn lại các hành vi của mình đối với môi trường tự nhiên, “không chỉ
Trang 33với những “vật chất” vừa nhìn thấy được, vừa không nhìn thấy được, của môi trường tự nhiên để tìm ra biện pháp, cách thức, lối sống thích hợp, hài hòa giữa
con người và tự nhiên, đảm bảo sức khỏe và hạnh phúc lâu bền” [18, tr 62]
1.2.2.2 Nội dung giáo dục đạo đức sinh thái
Đề án “Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân” được Thủ tưởng Chính phủ ban hành kèm theo quyết định số 1363/QĐ-TTg ngày 17 tháng 10 năm 2001 khẳng định nội dung, phương thức giáo dục đào tạo về bảo vệ môi trường đối với giáo dục trung học cơ sở và trung học phổ thông là: trang bị những kiến thức về sinh thái học, mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên; trang bị và phát triển kỹ năng bảo vệ và gìn giữ môi trường, biết ứng xử tích cực với môi trường sống xung quanh; Việc giáo dục bảo vệ môi trường chủ yếu thực hiện theo phương thức khai thác triệt để tri thức về môi trường hiện có ở các môn học trong nhà trường Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường còn được thực hiện ngoài nhà trường dưới nhiều hình thức khác nhau nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường cho toàn cộng đồng [15]
Có thể thấy, nội dung giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh cũng đồng thời là nội dung giáo dục đạo đức sinh thái cho học sinh Tuy nhiên, xét
về mặt cấu trúc của đạo đức sinh thái, nội dung giáo dục đạo đức sinh thái cho
học sinh được thể hiện trên các khía cạnh sau đây:
* Giáo dục ý thức đạo đức sinh thái
Năm 1977, Hội nghị quốc tế về Giáo dục môi trường của Liên hợp quốc tổ chức tại Tbilisi cho rằng giáo dục môi trường có mục đích làm cho cá nhân và các cộng đồng hiểu được bản chất phức tạp của môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo là kết quả tương tác của nhiều nhân tố sinh học, lý học, xã hội, kinh tế và văn hóa; đem lại cho họ kiến thức, nhận thức về giá trị, thái độ và kỹ năng thực hành để họ tham gia một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong phòng ngừa và giải quyết các vấn đề môi trường và quản lý chất lượng môi
Trang 34trường Đến năm 1987, Hội nghị về môi trường ở Moscow do UNEP và UNESCO đồng tổ chức đã đưa ra nhận định nếu chúng ta không nâng cao được
sự hiểu biết của công chúng về những mối quan hệ mật thiết giữa chất lượng môi trường với quá trình cung ứng liên tục các nhu cầu ngày càng tăng của họ, thì sau này sẽ khó làm giảm bớt được những mối nguy cơ về môi trường ở các địa phương cũng như trên toàn thế giới Bởi vì, hành động của con người tùy thuộc vào động cơ của họ và động cơ này lại tùy thuộc vào chính nhận thức và trình độ hiểu biết của họ Do đó, giáo dục môi trường là một phương tiện không thể thiếu để giúp mọi người hiểu biết về môi trường
Với ý nghĩa trên, giáo dục ý thức đạo đức sinh thái cho học sinh trước hết là quá trình giáo dục cho học sinh có sự hiểu biết về môi trường sinh thái, về bảo vệ môi trường sinh thái, có tình yêu đối với môi trường sinh thái cụ thể là:
Giáo dục cho học sinh có được sự hiểu biết đầy đủ về bản chất của các vấn
đề môi trường sinh thái như tính phức tạp, quan hệ nhiều mặt, nhiều chiều, tính hạn chế của tài nguyên thiên nhiên và khả năng chịu tải của môi trường sinh thái, mối quan hệ chặt chẽ giữa môi trường sinh thái và phát triển, giữa môi trường sinh thái địa phương, vùng, quốc gia với môi trường sinh thái khu vực
và toàn cầu Thực chất đây là quá trình trang bị cho học sinh có được các kiến thức về môi trường sinh thái
Giáo dục cho học sinh nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của các vấn đề môi trường sinh thái như một nguồn lực để sinh sống, lao động và phát triển, đối với bản thân học sinh cũng như đối với cộng đồng, quốc gia và quốc
tế Từ đó, các em có thái độ, cách ứng xử đúng đắn trước các vấn đề môi trường sinh thái, xây dựng cho mình quan niệm đúng đắn về ý thức trách nhiệm, về giá trị nhân cách để dần hình thành các kỹ năng thu thập số liệu và phát triển sự đánh giá thẩm mỹ Nội dung giáo dục này có định hướng xây dựng cho học sinh thái độ, cách đối xử thân thiện với môi trường sinh thái
Trang 35Giáo dục cho học sinh có tri thức, kỹ năng, phương pháp hành động cụ thể
để nâng cao năng lực trong việc lựa chọn phong cách sống thích hợp với việc
sử dụng một cách hợp lý và khôn ngoan các nguồn tài nguyên thiên nhiên, để học sinh có thể tham gia hiệu quả vào việc phòng ngừa và giải quyết các vấn đề môi trường cụ thể nơi các em ở và làm việc
Ngoài ra, cần giáo dục cho học sinh biết trân trọng những tri thức bản địa
về bảo vệ môi trường, cách ứng xử văn minh, coi trọng việc giáo dục toàn cầu cũng như giáo dục môi trường địa phương Đồng thời có những cam kết và hành động thiết thực bảo vệ môi trường sinh thái theo nguyên tắc “Nghĩ: toàn cầu; Hành động: Địa phương”
Có thể nói rằng việc giáo dục ý thức đạo đức sinh thái cho học sinh là vô cùng quan trọng Bởi lẽ, những thông tin, kiến thức về môi trường sinh thái được tích luỹ trong mỗi cá nhân sẽ nuôi dưỡng và nâng cao ý thức và tinh thần trách nhiệm về bảo vệ môi trường của chính học sinh, tạo nên những động cơ mạnh mẽ, những cam kết vững chắc hướng về một môi trường sinh thái trong lành và phát triển trong tương lai Và hơn hết, mỗi học sinh sẽ biến ý thức mà các em có được về môi trường sinh thái thành những hành động cụ thể, tích cực, tạo nên những thay đổi lớn hơn, tốt đẹp hơn cho môi trường sinh thái Giáo dục ý thức đạo đức sinh thái cho học sinh còn là quá trình giáo dục
để các em có tình cảm, niềm tin đạo đức sinh thái Thực chất đây là sự biểu hiện thái độ cảm tình của học sinh khi trước môi trường sinh thái Chẳng hạn, các em
có sự cảm nhận, rung động, reo hò trước vẻ đẹp của tự nhiên Không chỉ dừng lại ở đây, khi có được tình cảm đối với cảnh quan thiên nhiên, học sinh biết bày
tỏ thái độ đúng đắn, có bản lĩnh và trách nhiệm công dân của mình trong quan hệ, ứng xử đối với cảnh quan thiên nhiên đó Nói cách khác, khi có tình cảm với môi trường sinh thái, với một cảnh đẹp nào đó, học sinh sẽ nghĩ tới việc làm thế nào để bảo vệ nó khỏi sự tác động tiêu cực từ phía con người
Việc giáo dục tình cảm đạo đức sinh thái phải được đặt trong mối quan hệ với việc giáo dục niềm tin đạo đức sinh thái cho học sinh Khi học sinh có tình
Trang 36cảm cộng với việc có được niềm tin vững chắc vào cái tốt, cái thiện sẽ chiến thắng cái ác trong quá trình bảo vệ môi trường sinh thái, cộng với việc các em tin yêu đối với tự nhiên, hướng thiện hơn, tin tưởng vào chính khả năng nhận thức của mình, vào sự quyết định đúng đắn cho mỗi hành vi mà mình thực hiện đối với tự nhiên thì các em sẽ biết sáng tạo ra những giải pháp hữu hiệu để bảo
vệ môi trường sinh thái Điều đó góp phần nâng đạo đức sinh thái của học sinh lên tầm cao mới Tức là các em đã biến tri thức, tình cảm, niềm tin đạo đức sinh thái thành hành vi đạo đức sinh thái
Xuất phát từ những vấn đề trên giáo dục tình cảm, niềm tin đạo đức sinh thái, giáo dục tình yêu, sự tôn trọng thiên nhiên cho học sinh phải luôn được coi trọng hơn bao giờ hết Giáo dục tình cảm, niềm tin đạo đức sinh thái nhằm bồi dưỡng và không ngừng làm nảy nở những cảm xúc, khát vọng tốt đẹp, tình cảm đạo đức trong sáng, lành mạnh đối với tự nhiên
ở mỗi học sinh và có thể xem đó là hạt nhân của giáo dục đạo đức sinh thái
* Giáo dục chuẩn mực đạo đức sinh thái
Chuẩn mực đạo đức sinh thái là thước đo cơ bản để một người hay một cộng đồng người nào đó dùng để điều chỉnh, đánh giá các hoạt động tác động đến môi trường sinh thái của con người Chuẩn mực đạo đức sinh thái tạo cho
sự phát triển tốt đẹp và bền vững giữa con người và tự nhiên, là thước đo cơ bản của mỗi nền văn hóa
Trong giáo dục đạo đức sinh thái, việc giáo dục những yêu cầu về chuẩn mực đạo đức sinh thái giữ một vai trò quan trọng Nó góp phần định hướng cho học sinh những yêu cầu cụ thể để học sinh tác động đến môi trường một cách tốt nhất, vừa khai thác giá trị của môi trường phục vụ cho hoạt động cần thiết của mình, vừa góp phần bảo vệ môi trường tự nhiên Các chuẩn mực đạo đức sinh thái cần được giáo dục cho học sinh sẽ phải là:
Chuẩn mực về tuân thủ các yêu cầu về bảo vệ môi trường trong các hoạt động tiêu dùng như tiết kiệm điện, nước trong tiêu dùng; sử dụng các tài nguyên thiên nhiên hợp lý; sử dụng sản phẩm tái chế để bảo vệ môi trường; sử
Trang 37dụng những sản phẩm sinh học thân thiện với môi trường thay cho các sản phẩm hóa họccó hại cho môi trường sinh thái
Chuẩn mực về tôn trọng, bảo vệ đa dạng sinh học Cần làm cho học sinh nhận thức được rằng do sự khác biệt lớn về khí hậu, từ vùng gần xích đạo tới giáp vùng cận nhiệt đới, cùng với sự đa dạng về địa hình, đã tạo nên tính đa dạng sinh học cao ở Việt Nam Việt Nam được xem là một trong những nước thuộc Đông Nam Á giàu về đa dạng sinh học và được xếp thứ 16 trong số các quốc gia có đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới Sự đa dạng sinh học này không những là cơ sở vững chắc cho sự tồn tại của nhân dân Việt Nam thuộc nhiều thế hệ đã qua, mà còn là cơ sở cho sự phát triển của dân tộc trong những năm sắp tới Tuy nhiên, thay vì phải bảo tồn và sử dụng một cách hợp lý nguồn tài nguyên quý giá này, ở nhiều nơi, dưới danh nghĩa phát triển kinh tế, một số người, tổ chức, địa phương đã và đang khai thác quá mức và phí phạm tài nguyên thiên nhiên Việc làm suy thoái các hệ sinh thái đã làm mất nơi cư trú
và nhiều loài động, thực vật quý Sách đỏ Việt Nam đã chỉ ra hiện nay có tới hàng nghìn loài động thực vật ở nước ta bị đe dọa ở các mức độ khác nhau Ngoài ra nhiều giống cây trồng vật nuôi bản địa quý giá như lúa, đậu tương, ngô, cây ăn quả, các loài cá, lợn, gà… cũng đã mất dần Đây là một tổn thất rất lớn trên tất cả các phương diện: kinh tế, khoa học, môi trường, và nhân văn ở nước ta Do vậy, việc giáo dục chuẩn mực bảo vệ đa dạng sinh học cho học sinh sẽ giúp những thế hệ tương lai của đất nước sau này sẽ biết xây dựng một kiểu kinh tế - xã hội mới - lấy con người làm trung tâm và dựa trên cơ sở bảo tồn, cải thiện chất lượng cuộc sống cho tất cả mọi người trên cơ sở duy trì tính
đa dạng và năng suất của thiên nhiên
Chuẩn mực thực hiện lối sống văn hóa sinh thái trong ứng xử với tự nhiên Ông cha ta từ xưa đã có những phương cách bảo vệ môi trường sinh thái phù hợp với trình độ phát triển của kinh tế Những sâu thẳm cội nguồn của triết
lý đó đã dẫn dắt, tạo dựng, bảo vệ và phát triển non sông gấm vóc ông cha bao
Trang 38đời để lại cho thế hệ chúng ta hôm nay Triết lý Phật giáo “Cây cỏ, đất đá, đồi núi, tất cả yếu tố của vũ trụ đều có Phật tính” và văn hóa dân gian Việt Nam biểu đạt triết lý ấy qua câu nói “Người ta là hoa của đất” Trân trọng giữ gìn, chăm chút cảnh sắc thiên nhiên quanh ta, một gốc cây, một ngọn cỏ, một nhành hoa, một ngọn lá là cả một ứng xử văn hóa Ứng xử ấy cần trở thành một thói quen, một tập quán để định hình một lối sống, một cách sống và lối sống ấy, phong cách sống ấy phải được truyền đạt cho thế hệ học sinh hôm nay Khi học sinh thực hiện tốt lối sống văn hóa sinh thái, các em sẽ có thái độ tôn trọng
và yêu quý thiên nhiên, nuôi dưỡng trong họ tình yêu thiết tha đối với thiên nhiên, từ đó họ sẽ tự nguyện, tự giác giữ gìn, bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường sống xanh, sạch, đẹp
* Giáo dục hành vi đạo đức sinh thái
Việc truyền đạt kiến thức về bản chất, đặc trưng của môi trường, từ đó hình thành thái độ, ứng xử, ý thức trách nhiệm, quan niệm giá trị nhân cách, đạo đức đúng đắn về môi trường, cung cấp tri thức kỹ năng, phương pháp cần thiết cho những quyết định, hành động bảo vệ môi trường và phát triển bền vững là nội dung rất quan trọng trong giáo dục đạo đức sinh thái cho học sinh Tuy nhiên, để giáo dục có hiệu quả hơn, cần thiết phải giáo dục cho học sinh hành vi đạo đức sinh thái “Hành vi đạo đức sinh thái là sự biểu hiện cao nhất của đạo đức sinh thái, là sự tổng hợp của tất cả các yếu tố hợp thành của đạo đức sinh thái Đó là ý thức đạo đức sinh thái (quan niệm, tư tưởng, tình cảm); quan hệ đạo đức sinh thái (quan hệ giữa con người với tự nhiên) và thực tiễn đạo đức sinh thái Hành vi đạo đức sinh thái được hiểu là một hành động tự giác được thúc đẩy bởi một động cơ bên trong có ý nghĩa về mặt đạo đức sinh thái” [18, tr 68]
Nội dung giáo dục hành vi đạo đức sinh thái cho học sinh được thể hiện ở các khía cạnh sau:
Trang 39- Giáo dục cho học sinh tham gia vào các hoạt động cụ thể để bảo vệ môi trường như không vứt rác bừa bãi, biết phân loại rác thải; biết tái chế, tái sử dụng rác thải; tiết kiệm nước, tiết kiệm điện; hạn chế phát sinh các chất thải trong sinh hoạt hàng ngày, giảm thiểu lãng phí thực phẩm, tiêu thụ bền vững, nâng cao hiệu quả của quy trình sản xuất thực phẩm, sử dụng công nghệ, các sản phẩm thân thiện với môi trường, trồng cây xanh bảo vệ môi trường; giữ gìn
vệ sinh môi trường và mỹ quan đô thị
- Tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động tuyên truyền về bảo vệ môi trường để hưởng ứng Ngày Môi trường thế giới; Giờ Trái đất, “Tháng hành động vì môi trường”… thông qua việc tổ chức các cuộc thi “Trò chuyện với môi trường”, làm video clip về bảo vệ môi trường, thi sáng tác tranh, ảnh bảo vệ môi trường; tham gia các chương trình “Ngày hội môi trường”, “Sống hài hòa với thiên nhiên, “Vườn sinh thái” …
- Giáo dục học sinh tham gia các cuộc thi chế tạo các sản phẩm thân thiện với môi trường, các đề tài nghiên cứu khoa học bảo vệ môi trường như bảo vệ môi trường nước; bảo tồn và phát triển cây giống, con giống bản địa có lợi cho môi trường; tìm ra các giải pháp để xây dựng thôn, làng, ấp, bản, khu dân cư thân thiện với môi trường
- Giáo dục học sinh tham gia phát triển các hình thức tự quản và tổ chức hoạt động dịch vụ giữ gìn vệ sinh môi trường của cộng đồng dân cư và trong trường học, xóa bỏ hủ tục gây hại đến môi trường
- Giáo dục cho học sinh thực hiện tốt, không được có những hành vi như: Phá hoại, khai thác trái phép nguồn tài nguyên thiên nhiên; khai thác nguồn tài nguyên sinh vật bằng phương tiện, công cụ, phương pháp hủy diệt, không đúng thời vụ và sản lượng theo quy định của pháp luật; khai thác, kinh doanh, tiêu thụ các loài thực vật, động vật hoang dã thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; vận chuyển, chôn lấp chất độc, chất phóng xạ, chất thải và chất nguy hại khác
Trang 40không đúng quy trình kỹ thuật về bảo vệ môi trường; thải chất thải chưa được
xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường; các chất độc, chất phóng xạ và chất nguy hại khác vào đất, nguồn nước và không khí; gây tiếng ồn, độ rung vượt quá quy chuẩn kỹ thuật môi trường; sản xuất, kinh doanh sản phẩm gây nguy hại cho con người, sinh vật và hệ sinh thái; sản xuất, sử dụng nguyên liệu, vật liệu xây dựng chứa yếu tố độc hại vượt quá quy chuẩn kỹ thuật môi trường; phá hoại, xâm chiếm trái phép di sản thiên nhiên, khu bảo tồn thiên nhiên; xâm hại công trình, thiết bị, phương tiện phục vụ hoạt động bảo vệ môi trường; che giấu hành vi hủy hoại môi trường, cản trở hoạt động bảo vệ môi trường, làm sai lệch thông tin dẫn đến gây hậu quả xấu đối với môi trường…
1.2.2.3 Hình thức giáo dục đạo đức sinh thái cho học sinh THPT
Đạo đức sinh thái của học sinh thể hiện thông qua nếp sống, hành động
và phải dựa trên sự tự giác của từng người học Sự tự giác này được bắt đầu, không ngừng phát triển và củng cố qua các hình thức giáo dục đạo đức sinh thái, từ giáo dục ở gia đình đến giáo dục trong nhà trường và ngoài xã hội Bởi vậy, để nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức sinh thái cho học sinh chúng ta cần phải chú ý tới một số hình thức giáo dục cơ bản sau:
Thứ nhất, giáo dục đạo đức sinh thái thông qua các môn học khác nhau
trong nhà trường Qua các môn học như: Sinh học, Vật lý, Hoá học, Văn học, Địa lý… giúp cho học sinh nhận thức rõ được đặc điểm của môi trường tự nhiên, vai trò của nó đối với đời sống và sự phát triển của xã hội loài người, những tác động của con người làm cho môi trường tự nhiên biến đổi, hậu quả của nó
Thứ hai, giáo dục đạo đức sinh thái cho học sinh thông qua hoạt động
ngoại khoá, tham quan Hình thức hoạt động ngoại khoá có vị trí và ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với hoạt động tự giáo dục, tự rèn luyện đạo đức sinh thái của học sinh, vì nó có nội dung phong phú, các hình thức giáo dục đa dạng,