1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa kinh doanh và các bài học kinh nghiệm cho các doanh nhân Việt Nam khi kinh doanh với Mỹ

38 619 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Văn hóa kinh doanh và các bài học kinh nghiệm cho các doanh nhân Việt Nam khi kinh doanh với Mỹ
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh doanh quốc tế
Thể loại bài luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 340 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn hóa kinh doanh và các bài học kinh nghiệm cho các doanh nhân Việt Nam khi kinh doanh với Mỹ

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 3

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN HÓA KINH DOANH 3

I Thế nào là văn hóa kinh doanh ? 3

II Khái quát về môi trường kinh doanh quốc tế và sự cần thiết phải nghiên cứu: 4

1 Khái quát về môi trường kinh doanh quốc tế: 4

2 Sự cần thiết phải nghiên cứu môi trường kinh doanh: 4

CHƯƠNG II: MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA MỸ 8

I Môi trường tự nhiên: 8

II Môi trường chính trị - kinh tế - luật pháp: 9

1 Hệ thống chính trị: 9

2 Hệ thống kinh tế: Nền kinh tế Hoa Kỳ là một trong những nền kinh tế có quy mô lớn của thế giới với nền công nghiệp hùng mạnh, nông nghiệp hiện đại và là trung tâm thương mại, tài chính của thế giới 13

III Môi trường văn hóa: 14

1 Ngôn ngữ và bản sắc dân tộc: 14

2 Tôn giáo 15

3 Tính cách, lối sống và suy nghĩ của con người Mỹ 17

4 Quan niệm về kinh tế – xã hội của con người Mỹ 24

CHƯƠNG III: NHỮNG ĐIỀU CẦN LƯU Ý VÀ CÁC BÀI HỌC KINH NGHIỆM KHI KINH DOANH VỚI DOANH NHÂN MỸ 27

I Tập quán, thị hiếu tiêu dùng, phương thức giao dịch kinh doanh của người Mỹ: 27

II Đạo đức và văn hóa doanh nghiệp Mỹ: 28

1 Quan niệm về đạo đức trong kinh doanh 28

2 Văn hoá doanh nghiệp Mỹ qua suy nghĩ của doanh nhân Mỹ 29

III Quan hệ giao tiếp và Đàm phán trong kinh doanh: 29

1 Cách viết họ tên 29

2 Cách xưng hô 30

3 Vấn đề giao tiếp và đối thoại 30

4 Danh thiếp, trang phục và sự tôn trọng cấp bậc trong kinh doanh 32

5 Thoả thuận, mặc cả, đàm phán 33

6 Mời cơm làm việc 35

7 Làm việc với phụ nữ 35

8 Kinh doanh ở cộng đồng người thiểu số 36

Trang 2

9 Tặng quà 37 KẾT LUẬN 38

LỜI MỞ ĐẦU

Ngày nay, khi quốc tế hóa, toàn cầu hóa đang trở thành xu thế chung của thế giới thì không một quốc gia nào có thể thực hiện chính sách đóng cửa mà vẫn phồn vinh được Trong bối

Trang 3

cảnh đó, Việt Nam cũng là một trong những quốc gia luôn muốn thúc đẩy nền kinh tế trong nướchội nhập với nền kinh tế thế giới, phát huy những lợi thế so sánh của đất nước tận dụng tềm năng

về vốn, công nghệ, khoa học kỹ thuật, kỹ năng quản lí tiên tiến từ bên ngoài, duy trì và phát triểnvăn hóa dân tộc, tiếp thu nững tinh hoa văn hóa của nhân loại

Thực tế, trong hơn hai thập kỷ qua Việt Nam đã không ngừng tăng cường mở rộng quan

hệ với thế giới, trong đó nổi lên mối quan hệ hợp tác ngày càng thân thiết và hiệu quả giữa Việt Nam và Mỹ Mỹ hiện là thị trường xuất nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam hiện nay ( đạt 15,3 tỷ USD năm 2010), đồng thời đứng thứ 6 trong số các nước có nguồn vốn đầu tư vào Việt Nam Không chỉ như vậy với dân số vào khoảng hơn 300 triệu người cùng với GDP hàng năm lên tới

13000 tỉ USD, Hoa Kì luôn là một thị trường đầy hứa hẹn Tuy nhiên làm thế nào để kinh doanh hiệu quả với một quốc gia bất đồng với chúng ta nhiều mặt về ngôn ngữ, văn hóa, cách suy nghĩ,

lối sống…? Đó chính là lý do ra đời cho đề tài “Văn hóa kinh doanh và các bài học kinh nghiệm cho các doanh nhân Việt Nam khi kinh doanh với Mỹ”

Mục tiêu nghiên cứu: đề tài sẽ nghiên cứu và tìm ra những nét đặc trưng cơ bản của văn hóa

kinh doanh Mỹ, đồng thời cung cấp những kinh nghiệm cho các doanh nhân Việt Nam khi kinh doanh, giao dịch với các doanh nghiệp Mỹ

Đối tượng nghiên cứu: văn hóa kinh doanh của Mỹ

Giới hạn đề tài: Sẽ tập trung chủ yếu vào văn hóa kinh doanh của Mỹ, ngoài ra đề tài còn cung

cấp thêm một số nét chính về môi trường tự nhiên cùng hệ thống chính trị-kinh tế-luật pháp của

Mỹ Các số liệu được thu thập và xử lý từ 2008-2011

Mặc dù đã rất nỗ lực, thu thập các tài liệu tham khảo để hoàn thành đề tài này Tuy nhiên

đề tài vẫn còn rất nhiều giới hạn, mới chỉ tiếp cận được bước đầu và còn rất nhiều sai sót khác Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của Cô để bài viết trở nên hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn!

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN HÓA KINH DOANH

I Thế nào là văn hóa kinh doanh ?

Trong không gian kinh tế tri thức yếu tố con người đóng vai trò quyết định Văn hóa làm cho yếu tố đó trở thành có chất lượng, liên kết và nhân lên siêu cấp các giá trị riêng lẻ của mỗi người và trở thành nguồn lực vô tận của mỗi quốc gia Văn hóa kinh doanh là việc sử dụng các nhân tố văn hóa vào hoạt động kinh doanh, là cái mà các chủ thể kinh doanh áp dụng hoặc tạo ra trong quá trình hình thành nên những nền tảng có tính ổn định và đặc thù trong hoạt động kinh doanh của họ

II Khái quát về môi trường kinh doanh quốc tế và sự cần thiết phải nghiên cứu:

1 Khái quát về môi trường kinh doanh quốc tế:

Trang 4

Là tổng thể các môi trường thành phần, như môi trường luật pháp, chính trị, kinh tế, văn hoá, cạnh tranh, tài chính Nó là toàn bộ các điều kiện bên trong và bên ngoài nước có ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động của doanh nghiệp, chi phối bình quân hoạt động tức là sự thành công hoặc thất bại đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ở nước ngoài Chúng tác động và chi phối mạnh mẽ đối với các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, buộc các doanh nghiệp phải tự điều chỉnh các mục đích, hình thức và chức năng hoạt động của mình cho thích ứng, nhằm nắm bắt kịp thời các cơ hội kinh doanh và đạt hiệu quả cao trong kinh doanh.

Môi trường kinh doanh là sự tổng hợp và tương tác lẫn nhau giữa các yếu tố gây ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nó ảnh hưởng không chỉ đối với các hoạt động và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động tạinước sở tại, mà còn ảnh hưởng đến cả kết quả hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh nội địa Vì vậy, để có thể tiến hành kinh doanh có hiệu quả, các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế phải có sự am hiểu nhất định về môi trường kinh doanh nước ngoài

2 Sự cần thiết phải nghiên cứu môi trường kinh doanh:

Mỗi một quốc gia, một khu vực lãnh thổ của quốc gia mà doanh nghiệp đang và sẽ hoạt động đều có những đặc trưng khác nhau về môi trường kinh doanh Các nhân tố, điều kiện của môi trường kinh doanh rất phong phú, đa dạng và luôn biến đổi khá phức tạp Nó tác động chi phối đến mục đích, hình thức và kết quả hoạt động của doanh nghiệp Sự thành công nhiều hay íttrong hoạt động kinh doanh quốc tế của các nhà kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào sự nhận thức và hiểu biết của họ về môi trường kinh doanh mà họ vận hành các hoạt động của mình Hiểu biết tốt về môi trường kinh doanh mà mình hoạt động sẽ cho phép các nhà quản

lý, các nhà kinh doanh có được những đánh giá một cách hệ thống các ý tưởng kinh doanh Kiến thức về địa lý, về sự phân bố dân cư, hiểu biết về lịch sử sẽ gợi mở cho các nhà kinh doanh quốc

tế hiểu rõ hơn chức năng hoạt động cuả mình Kiến thức chính trị, luật pháp trong nước và quốc

tế, những đánh giá về kinh tế đang có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Vì vậy, việc nghiên cứu môi trường kinh doanh quốc tế là sự cần thiết cho mọi người, trước hết là cho những ai hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh quốc tế Nó trang bị kiết thức cơ bản để các cán bộ hoạt động trên lĩnh vực kinh doanh quốc tế có thể đưa ra được những quyết định tác nghiệp hợp lý nhằm tối đa hoá mong muốn của họ

III Khái quát về môi trường văn hóa:

1 Khái niệm:

Theo định nghĩa văn hoá của UNESCO, trong ý nghĩa rộng nhất, văn hoá ngày nay có thểcoi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hoặc một nhóm người trong xã hội Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng

Văn hoá là hệ thống những giá trị và tiêu chuẩn được chia sẻ bởi cùng một nhóm người

và khi phối hợp lại với nhau thì tạo thành một mẫu hình sống Văn hoá quy định hành vi của mỗi

Trang 5

con người, thông qua mối quan hệ giữa người với người trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xãhội Văn hóa được hiểu thông qua giáo dục và kinh nghiệm

Do có sự khác nhau về nền văn hoá đang tồn tại giữa các quốc gia, cho nên các nhà kinh doanh phải sớm có những quyết định có hay không tham gia kinh doanh ở môi trường đó Điều này trong một chừng mực nhất định tuỳ thuộc vào sự chấp nhận của doanh nghiệp đối với môi trường văn hoá nước ngoài Sự khác nhau về văn hoá dẫn đến sự khác nhau trong mô hình quản

lý của các doanh nghiệp

2 Những đặc tính văn hóa cần nghiên cứu:

Việc thuê mướn nhân công, buôn bán kinh doanh của doanh nghiệp đều liên quan đến con người, con người chính là chủ thể trong quan hệ kinh tế – mà con người lại bị tác động bởi cái văn hoá trong môi trường họ sinh sống Vì vậy, doanh nghiệp phải cân nhắc, dự đoán, am hiểu về văn hoá của nước sở tại, văn hoá của từng khu vực trên thế giới Có như vậy, hiệu quả của hoạt động kinh doanh đó mới có khả quan.Văn hóa là một đối tượng phức tạp và đa dạng Đểhiểu về bản chất của văn hóa, chúng ta cần xem xét một số yếu tố chính sau: ngôn ngữ, tôn giáo, giá trị và thái độ, cách ứng xử và thói quen, thể chất và thẩm mỹ, giáo dục và thái độ xã hội…

Tuy nhiên không phải chỉ xem xét các yếu tố trên một cách riêng rẽ mà còn phải kết hợp chúng lại để hiểu về tính cách, lối sống, cách suy nghĩ, các quan niệm về kinh tế - xã hội của mộtquốc gia cho mục đích cuối cùng là đạt hiệu quả cao trong kinh doanh

a Ngôn ngữ: là sự thể hiện rõ rệt của văn hóa vì đó là phương tiện sử dụng để

truyền thông tin và ý tưởng Sự hiểu biết về ngôn ngữ có thể hữu ích cho các nhà kinh doanh quốc tế về bốn vấn đề: Đầu tiên giúp cho doanh nghiệp hiểu rõ hơn về tình huống mà không cần phải dựa vào người khác để cảm nhận hay giải thích Thứ hai, ngôn ngữ giúp trực tiếp tiếp cận người dân địa phương Thứ ba, một sự hiểu biết về ngôn ngữ cho phép con người nhận biết sắc thái, nhấn mạnh ý nghĩa, và những thong tin không được trình bày rõ ràng Cuối cùng ngôn ngữ giúp con người hiểu văn hóa rõ ràng hơn Ví dụ về cách sử dụng không thích hợp ngôn ngữ khi kinh doanh quốc tế như khi Ford giới thiệu xe vận tải giá thấp “Feira” ở một vài nước, tên này cónghĩa là “phụ nữ già xấu xí” ở Tây Ba Nha, chính điều này đã khiến cho doanh số bán hang tại đây rất thấp Để giải quyết tình trạng sử dụng nhiều ngôn ngữ khác nhau trong giao tiếp kinh doanh, chúng ta có thể thuê phiên dịch và thuê cố vấn hay các chuyên gia về ngôn ngữ

b Tôn giáo: Tôn giáo là những niềm tin, nghi lễ, tập quán dựa trên những tín điều

thiêng liêng, nó ảnh hưởng đến cách sống, niềm tin, giá trị, ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động hàng ngày của các cá nhân, tổ chức trong xã hội và có thể ảnh hưởng đáng kể đến việc hìnhthành thái độ đối với công việc, tinh thần kinh doanh Vì vậy, các doanh nghiịep kinh doanh quốc tế cần phải hiểu biết về các tôn giáo và vai trò của chúng trong xã hội, nơi mà các doanh nghiệp tổ chức các hoạt động kinh doanh Thông thường, các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế phải quan tâm đến bốn vấn đề và tôn giáo, đó là:

+ Tôn giá thống trị

Trang 6

+ Tầm quan trọng của tôn giáo trong xã hội.

+ Mức độ thuần nhất của tôn giáo

+ Sự tự do tín ngưỡng trong xã hội

Tôn giáo có thể ảnh hưởng đến hoạt động hàng ngày của con người và do đó ảnh hưởng dến hoạt động kinh doanh Ví như thời gian mở cửa hoặc đóng cửa, ngày nghỉ, kỳ nghỉ, lễ kỷ niệm Vì vậy, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải được tổ chức cho phù hợp với từng loại tôn giáo

c Giá trị và thái độ: Giá trị là những niềm tin vững chắc làm cơ sở để con người

đánh giá những điều đúng và sai, tốt và xấu, quan trọng và không quan trọng…Thái độ là những khuynh hướng không đổi của sự cảm nhận và hành vi theo một hướng riêng biệt về một đối

tượng Giá trị ảnh hưởng văn hóa, thái độ có nguồn gốc từ những giá trị và ảnh hưởng trực tiếp

đến kinh doanh quốc tế Ví dụ như tại Pháp, General Foods bán chewing gum mang nhãn hiệu Hollywood có mang hình thiếu niên cưỡi xe đạp trên bãi biển vì họ thấy rằng khách hàng thích lien tưởng trực tiếp với Mỹ (giá trị) và kết quả là mức bán cao (thái độ) Tóm lại, bằng sự nhận thức về thái độ và giá trị của con người trong văn hóa mà một công ty kinh doanh có thể định vị sản phẩm hiệu quả hơn

d Thói quen và cách ứng xử: là những cách thực hành phổ biến hoặc đã hình thành

từ trước Cách ứng xử là những hành vi được xem là đúng đắn trong một xã hội riêng biệt Thói quen thể hiện cách sự vật được làm, cách ứng xử được dung khi thực hiện chúng Ví dụ như ở các nước Latinh có thể chấp nhận việc đến trễ nhưng ở Pháp và Anh thì không Thói quen cũng thể hiện trong cách công ty quảng cáo, tiếp thị sản phẩm Ví dụ như ở Mỹ nước cam dùng trong buổi điểm tâm, nhưng ở Pháp được bán như một loại nước giải khát vì người Pháp không dùng nước cam trong buổi điểm tâm.Nếu như không tìm hiểu cặn kẽ thói quen và cách ứng xử của từng môi trường văn hóa thì các nhà kinh doanh sẽ rất dễ mắc sai lầm khi kinh doanh và tiếp thị sản phẩm

e Vật chất: những đối tượng con người làm ra Khi xem xét văn hóa vật chất chúng

ta xem xét cách con người làm ra chúng, ai làm ra chúng và vì sao làm ra chúng Ở yếu tố này chúng ta cần chú ý đến cơ sở hạ tầng kinh tế như giao thông, thông tin, nguồn năng lượng; cơ sở

hạ tầng xã hội như chăm sóc sức khỏe , nhà ở, hệ thống giáo dục và cơ sở hạ tầng tài chính như ngân hàng, bảo hiểm…Tiến bộ kỹ thuật trong một xã hội quan trọng vì nó ảnh hưởng đến tiêu chuẩn mức sống, giúp giải thích những giá trị và niềm tin của xã hội đó Khi thực hiện kinh doanh ở nững nước có kỹ thuật phát triển, doanh nghiệp phải thường xuyên cập nhật sản phẩm tốt hơn, nhiều tiện ích hơn Ở những quốc gia có kỹ thuật kém phát triển, những sản phẩm này sẽvượt quá yêu cầu vì cơ sở hạ tầng không đủ để đáp ứng hay nơi đó chưa có nu cầu

f Thẩm mỹ: liên quan đến thị hiếu nghệ thuật của văn hóa Để hiểu một nền văn

hóa, chúng ta cần nghiên cứu những sự khác nhau trong thẩm mỹ của quốc gia đó tác động thế nào đến hành vi Ví dụ như ở Mỹ màu đen sử dụng cho đám tang, màu trắng thường sử dụng khi

Trang 7

vui như đám cưới, nhưng ở nhiều nước phương đông màu trắng dùng cho đồ tang Rõ ràng giá trịthẩm mỹ ảnh hưởng đến hành vi của chúng ta, cần phải hiểu giá trị thẩm mỹ nếu chúng ta muốn kinh doanh đạt hiệu quả cao với các nền văn hóa khác nhau.

g Giáo dục: ảnh hưởng nhiều đến nhiều khía cạnh của văn hóa Những người có

học thức cao, có hiểu biết rộng thường dẫn đến khả năng nâng cao năng suất và tiến bộ kỹ thuật Giáo dục giúp cung cấp cơ sở hạ tầng cần thiết để phát triển khả năng quản trị Giáo dục là yếu

tố quan trọng để hiểu nền văn hóa

3 Mục đích nghiên cứu môi trường văn hoá

Kinh doanh ở nước ngoài, các doanh nghiệp phải cố gắng thích nghi với môi trường văn hoá của các nước sở tại nhằm nâng cao dần vị thế của mình trên thương trường quốc tế Chỉ trên

cơ sở đó họ mới có thể mở rộng và nâng cao sự hiểu biết của mình về văn hoá tương ứng với việc mở rộng hoạt động kinh doanh ở nước ngoài Như vậy, tuỳ thuộc vào nhu cầu và trình độ hiểu biết về văn hoá mà công ty sẽ có hoạt động thích ứng và hiệu quả Vì thế, nghiên cứu môi trường văn hoá mà mình hoạt động nhằm giúp các doanh nghiệp cá nhân và tổ chức kinh doanh

có hiệu quả, phòng tránh rủi ro và tối đa hoá mong muốn của mình

IV Tác động của văn hóa đối với hoạt động kinh doanh quốc tế

Mỗi nước đều có những tập tục, quy tắc, kiêng kỵ riêng Chúng được hình thành theo truyền thống văn hoá của mỗi nước và có ảnh hưởng to lớn đến tập tính tiêu dùng của khách hàng nước đó Tuy sự giao lưu văn hoá giữa các nước đã làm xuất hiện khá nhiều tập tính tiê dùng chung cho mọi dân tộc, song những yếu tố văn hoá truyền thống vẫn còn rất bền vững, có ảnh hưởng rất mạnh đến thói quen và tâm lý tiêu dùng Có những thị trường với bản sắc văn hoá thuần nhất (như Trung Quốc, Nhật Bản ) song cũng có những thị trường hết sức pha tạp Về văn hoá (Hoa Kỳ) vì thế môi trường văn hoá mà doanh nghiệp nghiên cứu sẽ giúp cho việc kinh doanh ấy có hiệu quả

Sự khác biệt về văn hoá sẽ ảnh hưởng đến cách thức giao dịch được tiến hành, loại sản phẩm mà khách hàng sẽ mua và những hình thức khuếch trương có thể được chấp nhận.Giữa cácnền văn hoá cũng có sự khác biệt về quản lý nhân lực, chính sách Marketing và phương thức đàm phán giao tiếp Nhân tố văn hoá có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh quốc tế bởi

nó tác động trực tiếp đến suy nghĩ và tính cách của doanh nhân - chủ thể của hoạt động kinh doanh quốc tế

CHƯƠNG II: MÔI TRƯỜNG KINH DOANH CỦA MỸ

I Môi trường tự nhiên:

Trang 8

1 Vị trí địa lí: Hoa kỳ nằm ở Bắc Mỹ, phía đông là Đại tây dương, phía tây là Thái

Bình Dương, phía bắc tiếp giáp với Canada, và phía nam tiếp giáp với Mehico Hai mặt đều giáp biển khiến cho việc giao thương rất thuận lợi

2 Địa hình: có xu hướng phát triển theo hướng Bắc-Nam xuyên qua đất nước Sâu

trong nội địa là một vùng đất trũng rộng lớn và kéo dài, trải từ Vịnh Mexico cho tới

biên giới Canada rồi đến tận Alaska Được chia làm 3 khu vực địa hình khác nhau:

a Vùng đồng bằng ven biển Đại Tây Dương và Vịnh: phát triển dọc theo bờ biển

phía đông của Hoa Kỳ lên phía bắc, tới tận mép phía nam của New England Bên dưới vùng đất này là những nền đá trẻ, mềm và dễ bị xói mòn được hình thành vào thời kỳ địa chất gần đây, do những con sóng nhỏ êm đềm vỗ vào bờ đất Những đồng bằng thấp này vươn xa dưới mặt nước biển, tạo nên một thềm lục địa, có chỗ kéo ra xa bờ biển tới 400 km

b Vùng đất trũng nội địa: nằm ở phía bắc, cao hơn các đồng bằng ven biển, hầu

như không có địa hình gồ ghề Khu vực này giống như một cái đĩa, bị bẻ lên ở phần vành đĩa và được che phủ bởi một loạt tầng đá trầm tích chồng lên nhau Đặc tính của vùng đất trũng nội địa rộng lớn này có một số ảnh hưởng quan trọng tới lịch sử kinh tế và định cư của Hoa Kỳ Ngoài tiềm năng nông nghiệp to lớn màkhu vực này đem lại, quá nửa phần đất có thể đi lại được dễ dàng mà không gặp phải một trở ngại đáng kể nào về địa lý Điều này tạo thuận lợi cho cả khu vực này và miền Tây xa xôi có thể hội nhập với cơ cấu kinh tế của cả nước Gần như toàn bộ vùng đất trũng nội địa được thông với dòng chảy của sông Mississippi hoặc những nhánh của nó Điều này hỗ trợ cho sự hội nhập khu vực, qua việc cung cấp một tiêu điểm giao thông và kinh tế cho vùng đất phía tây của dãy Appalachia

c Vùng Canadian Shield (Lá chắn Canada): nằm ở phía Bắc và Đông Bắc của

vùng đất trũng trung tâm, bề mặt được phủ bằng đá cứng và trong, hình thành từ lâu đời Phần lớn các vùng thuộc khu vực này có lớp đất nông và những sườn dốc,rất khó khăn cho việc canh tác trong bất kỳ hoàn cảnh nào, và hoàn toàn không thích hợp với những kỹ thuật nông nghiệp hiện đại chú trọng tới phương tiện cơ giới Đô thị quy mô lớn hay sự tăng trưởng của công nghiệp bị cản trở bởi những vùng đất trũng nhỏ của địa phương

3 Khí hậu: Hoa Kỳ có diện tích lớn và có nhiều địa hình rộng lớn nên Hoa Kỳ gần như

có tất cả các loại khí hậu Khí hậu ôn hòa có ở đa số các vùng, khí hậu nhiệt đới ở Hawaii và miền nam Florida, khí hậu địa cực ở Alaska, nữa khô hạn trong Đại Bình nguyên phía tây kinh tuyến 100 độ, khí hậu hoang mạc ở Tây nam, khí hậu Địa TrungHải ở duyên hải California, và khô hạn ở Đại Bồn địa Thời tiết khắt nghiệt thì hiếm khi thấy, các tiểu bang giáp ranh Vịnh Mexico thường bị đe dọa bởi bảo và phần lớn lốc xoáy của thế giới xảy ra trong Hoa Kỳ Lục địa, chủ yếu là miền Trung Tây

Trang 9

4 Tài nguyên thiên nhiên: Mỹ có trữ lượng than đá rất lớn, những mỏ than quan trọng

nhất ở Mỹ đã được khai thác trên những khu vực gồ ghề của dãy Appalachia, đông Kentucky, tây Virginia và tây Pennsylvania, chúng thường xuyên cung cấp hơn một nửa nhu cầu than của nước Mỹ Có nhiều mỏ nhựa đường nhỏ và một vài mỏ lớn nằmrải rác trong và dọc gờ phía đông của Rocky Moutain Những mỏ lớn ở Wyoming và Montana đã được đưa vào sản xuất trong hai thập niên qua

Nhưng quan trọng nhất có lẽ vẫn là những mỏ dầu ở các đồng bằng phía nam, dọc theo bờ Vịnh và nam California Một vòng cung lớn các giếng dầu đang sản xuất nằmdọc theo toàn bộ chiều dài của các bờ biển Texas và Louisiana

Vùng khoáng sản kim loại rộng lớn được tạo thành bởi các núi ở phía tây Những mỏ vàng, bạc,đồng,sắt nằm phân tán, chúng có trữ lượng rất lớn Có tầm quan trọng lớn

về công nghiệp là những trữ lượng lớn đồng, kẽm, chì, molybđen và uraniom có ở phía tây khu vực này, cùng với những trữ lượng nhỏ hơn vônfram, crôm, mănggan và những khoáng sản khác

Không nên cho rằng những đòi hỏi của nền công nghiệp Mỹ được đáp ứng hoàn toàn bởi những khoáng sản phong phú và dồi dào tìm thấy ở ba vùng đá biến dạng này Cómột vài khoáng chất cần cho công nghiệp hiện đại (như thiếc, mănggan, bôxít cao cấp

để sản xuất nhôm) mà ở Mỹ không có đủ khối lượng cần thiết để đáp ứng nhu cầu nộiđịa Ngoài ra, sự tăng trưởng của tiềm lực công nghiệp đi đôi với tăng cầu về khoáng chất Tuy nhiên, xét về khối lượng và tính đa dạng ban đầu của khoáng sản kim loại

và nhiên liệu có ở nước Mỹ thì không mấy quốc gia có được bằng hay thậm chí gần bằng nước này.Nguồn khoáng sản dồi dào này có vai trò hết sức quan trọng trong việc hỗ trợ sự phát triển của tổ hợp công nghiệp, chế tạo khổng lồ của nước Mỹ

II Môi trường chính trị - kinh tế - luật pháp:

1 Hệ thống chính trị:

Mỹ là một nước cộng hòa liên bang thực hiện chế độ chính trị tam quyền phân lập Hiến

pháp Mỹ qui định quyền lập pháp thuộc về Quốc Hội, quyền hành pháp thuộc về Tổng thống và quyền tư pháp thuộc về Tòa án tối cao Mỗi bang có hệ thống hiến pháp và pháp luật riêng nhưngkhông được trái với Hiến pháp củ liên bang

a Quốc hội: ngoài quyền lập pháp còn giám sát hoạt động của bộ máy hành pháp và tư

pháp.Gồm hai viện:

Thượng viện gồm 100 thượng nghị sĩ, trong đó mỗi bang có hai thượng nghị sĩ Các khu hành

chính trực thuộc không có đại diện tại Thượng viện Nhiệm kỳ thượng nghị sĩ là 6 năm Hai năm một lần, Thượng viện tổ chức bầu cử lại 1/3 số thượng nghị sĩ Về mặt pháp lý, Phó Tổng thống

là Chủ tịch Thượng viện Song trên thực tế, điều hành công việc hàng ngày của Thượng viện là thủ lĩnh phe đa số trong Thượng viện Phó Tổng thống chỉ bỏ phiếu khi cần thiết để tránh bế tắc trong trường hợp Thượng viện rơi vào tình huống 50/50 về một vấn đề nào đó

Hạ viện gồm 435 hạ nghị sĩ Nhiệm kỳ của hạ nghị sĩ là 2 năm Khác với Thượng viện, số hạ

Trang 10

nghị sĩ đại diện cho bang phụ thuộc vào dân số của bang Mỗi bang có quyền có tối thiểu một hạ nghị sĩ Việc phân bổ số hạ nghị sĩ cho các bang được tiến hành 10 năm một lần dựa trên kết quả điều tra dân số Ngoài ra, các khu hành chính trực thuộc như Samoa, Thủ đô Washington DC, Guam, và Virgin Islands cũng có đại diện không có quyền bỏ phiếu; Khu vực Puerto Rico được đại diện bởi một Cao uỷ thường trú Đứng đầu Hạ viện là Chủ tịch Hạ viện Chủ tịch Hạ viện là người thứ hai sau Phó Tổng thống kế nhiệm Tổng thống.

Phân chia quyền lực giữa hai viện: Cả hai viện đều có quyền quyết định chiến tranh, kiểm soát

các lực lượng vũ trang, đánh thuế, vay tiền, phát hành tiền, điều tiết thương mại, và ban hành luậtcần thiết cho hoạt động của chính quyền Trong đó, Thượng viện có đặc quyền cố vấn và thông qua các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài và các chức vụ do Tổng thống bổ nhiệm Ví

dụ, Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ được chính phủ hai nước ký tháng 7 năm 2000

và đến tháng 11 năm 2001 mới được Thượng viện Hoa Kỳ thông qua và đến 10/12/2001 mới có hiệu lực thi hành Tất cả các dự luật liên quan đến tài chính (thuế và phân bổ ngân sách) đều do

Hạ viện đề xuất; Thượng viện có thể bỏ phiếu thay đổi dự luật của Hạ viện và khi đó hai viện sẽ họp chung để giải quyết bất đồng Hạ viện có quyền bỏ biếu buộc tội Tổng thống và các các quan chức liên bang, và Thượng viện có quyền quyết định có bãi chức người bị buộc tội đó hay không Cả Thượng viện và Hạ viện đều có những uỷ ban riêng của mình Tuy nhiên, giữa

Thượng viện và Hạ viện có một số uỷ ban phối hợp để xử lý một số công việc chung

Dân biểu (thượng và hạ nghị sĩ liên bang và bang) được bầu từ các khu vực bầu cử Một trong

những nhiệm vụ quan trọng của các dân biểu là bảo vệ và đem lại càng nhiều lợi ích cho các cử tri của mình càng tốt Một trong những cách thông thường nhất để thực hiện nhiệm vụ này là đấutranh dành ngân quĩ liên bang và bang cho các dự án ở khu vực bầu cử của mình Khá nhiều khoản tiền dành cho các dự án ở địa phương được lẩn trong các khoản tiền phân bổ cho các cơ quan của chính quyền liên bang và bang Một cách khác mà các dân biểu thường làm là kiến nghị

và vận động các cơ quan lập pháp và hành pháp thông qua các luật pháp và quyết định có lợi cho

cử tri của mình Ví dụ, nhiều thượng và hạ nghị sĩ của các bang ở Hoa Kỳ có nuôi cá catfish đã bảo trợ và tích cực vận động Quốc hội Liên bang thông qua dự luật cấm cá da trơn của Việt Nammang tên catfish trên thị trường Hoa Kỳ.Tòa án tối cao: Gồm 1 chánh án và 8 thẩm phán, đều do tổng thống chỉ định, với sự chấp thuận của thượng viện, có nhiệm kỳ suốt đời

b Chính quyền liên bang:Quyền hạn của chính quyền liên bang do Hiến pháp Liên

bang qui định và chủ yếu tập trung ở các lĩnh vực có ảnh hưởng đến toàn liên bang như ngoại giao, quốc phòng và an ninh, quản lý xuất nhập khẩu, quản lý di dân, bảo hộ sở hữu trí tuệ, và một số lĩnh vực khác Tổng thống là người đứng đầu cơ quan hành pháp liên bang và được bầu trực tiếp với nhiệm kỳ 4 năm Theo luật hiện hành, mỗi tổng thống chỉ được phục vụ không quá

2 nhiệm kỳ Tất cả các dự luật liên bang được Quốc hội liên bang thông qua phải được Tổng thống ký mới trở thành luật Hiến pháp cho phép Tổng thống quyền phủ quyết dự luật đã được Quốc hội liên bang thông qua Ngoài Tổng thống, bộ máy hành pháp Hoa Kỳ còn có Phó Tổng thống, 15 bộ và trên 60 ủy ban độc lập Các bộ trưởng do Tổng thống bổ nhiệm và phải được Thuợng viện thông qua

Trang 11

Trong hệ thống hành pháp liên bang còn có Văn phòng Nhà trắng, Văn phòng quản trị và tài chính, các hội đồng cố vấn Các hội đồng cố vấn đóng vai trò quan trọng trong hoạch định chính sách của Tổng thống Đáng chú ý nhất là Hội đồng an ninh quốc gia, Hội đồng cố vấn kinh tế, vàHội đồng chính sách phát triển.

c. Hệ thống tòa án liên bang: Hệ thống tòa án liên bang gồm Tòa án liên bang tối

cao và các tòa án liên bang khu vực Chánh án và các thẩm phán Tòa án tối cao liên bang do Tổng thống bổ nhiệm và được Thượng viện thông qua với nhiệm kỳ suốt đời Những người này chỉ từ nhiệm khi họ muốn hoặc bị buộc tội Toà án tối cao liên bang có quyền vô hiệu hoá bất cứ luật lệ liên bang hoặc bang nào mà toà xét thấy là trái với Hiến pháp Ví dụ, năm 1897, Toà án tối cao liên bang đã ra phán quyết bác bỏ luật của Bang Louisiana cấm mua bảo hiểm của các hãng bảo hiểm ngoài bang trừ phi các hãng bảo hiểm đó đáp ứng đuợc một số điều kiện tiên quyết nhất định

d. Các đảng phái chính trị: Hệ thống chính trị Hoa Kỳ chủ yếu do hai Đảng Dân

chủ và Đảng Cộng hòa kiểm soát Đảng Dân chủ quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề an sinh xã hội, y tế, giáo dục và công ăn việc làm cho nguời nghèo, và do vậy được đông đảo người nghèo

và giới công đoàn ủng hộ Đảng này chủ trương tăng cường quyền quản lý hành chính trong các lĩnh vực kinh tế và xã hội.Ngược lại, Đảng Cộng hòa muốn giảm thiểu sự can thiệp của chính phủ đối với nền kinh tế, để nền kinh tế vận động theo qui luật của thị trường Đảng này thường quan tâm nhiều hơn đến các giới chủ, các thế lực tài phiệt, giới chuyên gia và các tầng lớp trung lưu Trong lĩnh vực đối ngoại, Đảng Cộng hòa thường chủ trương tăng cường sức mạnh quân sự

và cứng rắn hơn trong việc giải quyết các xung đột quốc tế.Trong các cuộc bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ ứng cử viên Đảng Cộng hòa thường có ưu thế tại các bang phía Nam, trong khi đó ứng

cử viên Đảng Dân chủ thường có ưu thế tại các bang phía Bắc

e. Hệ thống chính quyền bang: Hệ thống chính quyền bang nói chung cũng tương

tự như hệ thống chính quyền liên bang Đứng đầu ngành hành pháp bang là thống đốc bang Thống đốc bang do cử tri bầu trực tiếp với nhiệm kỳ 2 hoặc 4 năm tùy theo bang Có bang giới hạn số nhiệm kỳ của thống đốc bang, có bang không Ngoài quyền hành pháp, thống đốc bang còn có quyền kiến nghị và phủ quyết luật pháp bang, và một số quyền tư pháp.Ở cấp bang cũng

có quốc hội bang gồm 2 viện như liên bang (trừ Bang Nebraska chỉ có một viện) Quốc hội bang cũng có quyền làm một số luật áp dụng trong bang (chủ yếu trong các lĩnh vực an sinh xã hội như y tế, giáo dục, an toàn, đạo đức, và phúc lợi của dân chúng trong bang) Quốc hội bang có quyền sửa đổi và thông qua ngân sách bang do thống đốc bang đề xuất, trong đó có việc tăng, giảm, hoặc hoàn thuế Dưới bang là quận, thành phố, thị trấn, và làng

Hoạt động vận động hành lang: Có thể nói vận động hành lang là một trong những đặc trưng

nổi bật của hệ thống chính trị Hoa Kỳ Tại Thủ đô Washington DC hiện nay có tới trên 12 nghìn người vận động hành lang chuyên nghiệp hoạt động Các doanh nghiệp, các công đoàn, các hiệp hội kinh doanh, các nhóm tôn giáo, các trường đại học, các bang, các tổ chức xã hội, thậm chí cả chính phủ nước ngoài đều tiến hành các hoạt động vận động hành lang Vận động hành lang được coi là một hình thức đề đạt ý nguyện của dân chúng đến các các cơ quan quản lý nhà nước;

Trang 12

do vậy, được pháp luật Hoa Kỳ cho phép Trên thực tế, các nhóm lợi ích thường tiến hành các hoạt động vận động hành lang để tác động tới các quyết định lập pháp và hành pháp nhằm phục

vụ cho lợi ích của mình Vận động hành lang cũng có thể không liên quan đến một biện pháp luậtpháp hoặc chính sách hoặc quyết định cụ thể mà chỉ nhằm cổ vũ cho một quan điểm hoặc một mối quan tâm nào đó.Vận động hành lang không chỉ đơn thuần là nêu kiến nghị hoặc nguyện vọng Những người vận động hành lang thường phải cung cấp các lý lẽ, chứng cứ, và thậm chí các bằng chứng khoa học có sức thuyết phục hỗ trợ cho kiến nghị hoặc nguyện vọng của mình Đối với các cơ quan quản lý nhà nước, những thông tin và lý lẽ thu lượm được từ các hoạt động vận động hành lang cũng là những nguồn thông tin bổ xung tốt phục vụ cho các cơ quan này trong công việc lập pháp và hành pháp của mình

Các hoạt động vận động hành lang có thể do nhóm hoặc cá nhân có lợi ích trực tiếp tiến hành bằng cách gặp gỡ, gọi điện thoại, hoặc gửi kiến nghị đến các dân biểu của mình cũng như với các

cơ quan chính quyền Vận động hành lang cũng có thể được tiến hành một cách gián tiếp thông qua các chiến dịch báo chí truyền thông, thuê các công ty hoặc cá nhân vận động hành lang chuyên nghiệp thay mặt tiến hành những việc nói trên, thông qua các tổ chức quần chúng, đảng phái, thậm chí thông qua các cuộc biểu tình

Các tổ chức và cá nhân làm dịch vụ vận động hành lang chuyên nghiệp có thu tiền đều phải đăng

ký với Quốc hội, trừ những những trường hợp có mức phí dịch vụ dưới 5.000 USD trong thời gian 6 tháng Thời hạn đăng ký là trong vòng 45 ngày kể từ khi bắt đầu tiếp xúc vận động hành lang hoặc kể từ ngày ký hợp đồng với khách hàng

Hầu hết các hiệp hội kinh doanh và công ty lớn của Hoa Kỳ đều có đại diện của mình ở Thủ đô Washington DC và ở thủ phủ các bang mà họ có hoạt động kinh doanh để tiến hành các hoạt động vận động hành lang đối với quốc hội và chính quyền liên bang và bang

Trong lĩnh vực thương mại quốc tế, các công ty Hoa Kỳ đặc biệt quan tâm đến các vòng đàm phán thương mại đa biên và song phương giữa Hoa Kỳ và các nước Họ thường xuyên vận động

và thậm chí gây sức ép với Quốc hội và Chính quyền liên bang để đảm bảo kết quả các cuộc đàmphán thương mại quốc tế có lợi cho hoạt động kinh doanh của mình

Ví dụ, trong vấn đề hạn ngạch dệt may đối với Việt Nam, các nhà sản xuất dệt may nội địa Hoa

Kỳ đã liên tục gây sức ép với Quốc hội và Chính quyền đòi đàm phán sớm hiệp định dệt may và thậm chí đòi đơn phương áp đặt hạn ngạch với Việt Nam Ngược lại, các nhà nhập khẩu và bán

lẻ Hoa Kỳ đã tích cực vận động chính phủ Hoa Kỳ không áp dụng hạn ngạch nhập khẩu hoặc dành cho Việt Nam hạn ngạch cao Nhiều công ty thuộc cả hai phía đã cử đại diện vào Việt Nam

và đến Washington DC để vận động trong quá trình đàm phán nhằm giành thuận lợi tối đa cho những mặt hàng mà họ quan tâm

Trang 13

2 Hệ thống kinh tế: Nền kinh tế Hoa Kỳ là một trong những nền kinh tế có quy mô lớn

của thế giới với nền công nghiệp hùng mạnh, nông nghiệp hiện đại và là trung tâmthương mại, tài chính của thế giới

GDP: 13 nghìn tỷ USD (2008)

GPD theo đầu người: 45.000 USD (2008)

GDP theo cơ cấu: (2007)

Công nghiệp: Dẫn đầu về công nghiệp sản xuất năng lượng trên thế giới, các nghành công nghệ

cao, hóa dầu, thép, ô tô, không gian vũ trụ, viễn thông, hóa học, điện tử, chế biến thực phẩm,hàng tiêu dùng, gỗ xẻ, khai khoáng

Nông nghiệp: Lúa mì, ngô, các loại ngũ cốc khác, hoa quả, rau, bông, thịt bò, thịt lợn, gia cầm,các sản phẩm bơ sữa, cá, các sản phẩm lâm nghiệp

Xuất khẩu: 1,377 nghin tỷ USD (2008) Mặt hàng xuất khẩu: sản phẩm nông nghiệp (đậu nành,hoa quả, ngô)9,2%, nguyên liệu công nghiệp 26,8%, tư bản phẩm (thiết bị bán dẫn, máy bay, linhkiện ô tô, máy vi tính, thiết vị viễn thông) 49%, hàng tiêu dùng (ô tô, dược) 15%

Các nước xuất khẩu chính: Canada 21.4%, Mexico 11,7%, Trung Quốc 5,6%, Nhật 5,4% Anh4,3%, Đức 4,3%

Nhập khẩu: 2,19 nghìn tỷ USD (2008) Mặt hàng nhập khẩu: sản phẩm nông nghiệp 4,9%,nguyên liệu công nghiệp 32,9%(dầu thô 8,2%), tư bản phẩm 30,4% (máy vi tính, thiết bị viễnthông, linh kiện ô tô, máy văn phòng), hàng tiêu dùng31,8%(ô tô, quần áo, dược, đồ nội thất, đồchơi)

Các nước nhập khẩu chính: Trung Quốc 16,9%, Canada 15,7% , Mãico 10,6%, Nhật Bản 7,4% ,Đức 4,8%

Tiền tệ: Đô la Mỹ - US dollar (USD)

Tỷ giá hối đoái:

Trang 14

Năm tài khóa: tính từ 1/10 đến 30/9.

Quý III năm 2009, kinh tế Mỹ tăng trưởng 2,8%, mức tăng trưởng đầu tiên sau 4 quý liêntiếp thu hẹp do cuộc khủng hoảng Năm 2010, suy thoái kinh tế Mỹ đã kết thúc, nhưng của sựphục hồi kinh tế không mấy khả quan

Các mối quan tâm chính trong nền kinh tế Hoa Kỳ gồm nợ quốc gia, nợ nước ngoài, nợ củangười tiêu dùng, tỉ lệ tiết kiệm thấp, sự thâm hụt tài chính lớn, thất nghiệp

III Môi trường văn hóa:

Nền văn hoá của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ thật đa dạng, phong phú, cũng giống như một cây xanh cao to, gồm nhiều cành, nhánh và dĩ nhiên là chúng mọc xúm xít chung quanh thân hình chính, làm nên diện mạo đầy đủ cho vây xanh đó Người ta thường coi văn hoá Mỹ bắt đầu từ năm 1607 khi mà sự nhập cư của người Anh đã tương đối ổn định Rồi muộn hơn – năm 1668, Wiliam Stoughton một học giả gốc Anh đã thành công ở xứ sở Hoa Kỳ đã viết “Chúa đã sàng lọc

cả một dân tộc từ nước Anh để có thể chuyển thành những hạt giống tốt nhất tới mảnh dất hoang

dã là Mỹ quốc này” Văn hoá Mỹ nhìn chung chủ yếu thừa hưởng một số kinh nghiệm và địa danh của người bản xứ (Inđiô), còn hầu hết các mặt như ngôn ngữ, thể chế, tôn giáo, văn học, kiến trúc, âm nhạc đều có xuất xứ từ châu Âu nói chung và nước Anh, Tây Âu nói riêng Tuy bắt nguồn từ văn hoá Tây Âu là chính nhưng khi hình thành phát triển thì văn hoá Mỹ thể hiện làmột nền văn hoá đa dạng – phức tạp do gần 300 năm hấp thụ được ở những người nhập cư và tỵ nạn từ khắp thế giới, tức là xã hội Mỹ có nhiều nền văn hoá và các nhánh văn hoá phụ

Cho đến tận ngày nay, nước Mỹ vẫn chưa có ngôn ngữ chính thức, 1/3 số bang lấy tiếng Anh làm ngôn ngữ chích thức, 2/3 số bang còn lại coi tiếng Mỹ hoặc khôing coi ngôn ngữ nào là chícnh thức Riêng bang đảo Hawai lại tuyên bố có hai ngôn ngữ chính thức tiếng Anh và tiếng Hawai Việc ủng hộ tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức cũng khác nhau, tuy nhiên, trong kinh doanh quốc tế, tiếng Anh là ngôn ngữ chính được sử dụng ở tất cả mọi nơi trừ những cộng đồng

“nước ngoài” biệt lập

Trước đây, sự phân rẽ cổ điển là giữa người da trắng và người da đen Những người Cộng hoà có xu hướng phân biệt hơn Còn những người Dân chủ lại muốn thử tiến hành hội nhập Cùng với việc gia tăng nhiều dân tộc, các chiến lược này đều đã quá thời và cần được thay thế bằng tư tưởng chia sẻ những giá trị dân tộc, những khả năng tài chính và các kết quả của nền kinh tế mới

Trang 15

Giữa những năm 20, Mỹ đã thông qua một chính sách hạn chế sự nhập cư Chính sách này kéo dài 40 năm Năm 1965, chính sách này thay đổi hoàn toàn, nó cho phép tiếp nhận nhữngngười nhập cư mới, trước hết là những người từ châu Mỹ la tinh và châu Á tới Chính sách này đưa lại kết quả rõ rệt Tỷ lệ người Mỹ sinh ở ngoài nước Mỹ đã tăng gấp đôi từ những nam 60 Gần 11% dân số có nguồn gốc Tây ban nha, 12% người Mỹ gốc Phi và 3% gốc châu Á Ở New York, những người gốc Tây ban nha đã tạo ra nhóm thiểu số quan trọng nhất Năm 1997, lần đầutiên số lượng trẻ em gốc Tây ban nha vượt quá số lượng trẻ em Mỹ gốc Phi.

Sự phát triển này sẽ tăng tốc độ trong nửa đầu thế kỷ tới Ngay từ năm 2005, những người Tây ban nha sẽ trở thành nhóm thiểu số đầu tiên của Mỹ Năm 2050, họ sẽ chiếm 1/4 dân

số Mỹ và những người châu Á chiếm 8% (người Mỹ gốc Phi chiếm 13,5%) Tỷ lệ người da trắngkhông phải gốc Tây ban nha tụt xuống còn 53%, và ở nhiều bang họ trở thành thiểu số

Do đó các dữ kiện bầu cử sẽ bị thay đổi sâu sắc Các nhà có trách nhiệm về chính sách bắt đầu quan tâm đến điều đó Vì vậy, những người của đảng Cộng hoà - họ từng xem người Mỹ gốc Phi, người Tây ban nha ở Caliphoócnia, ở Tếchdát và Florida như kẻ thù – sẽ xem xét lại đường lối của họ trong những năm tới

Một chính sách tập hợp các dân tộc khác nhau lại không thể chỉ được khẳng định trên nguyên tắc Nó cũng cần phải vạch ra giải pháp cụ thể cho các vấn đề nâng cao đời sông cho mọingười

2 Tôn giáo

Mỹ là một nước đa chủng tộc, gần như không thiếu một màu da nào, một dân tộc nào trênđất nước này Góp vào bức tranh xã hội đầy màu sắc, tôn giáo Mỹ hết sức đa dạng, phong phú, mang một bản sắc riêng không thấy ở bất cứ quốc gia nào khác

Các nhà nghiên cứu về xã hội Mỹ nêu lên một nhận xét rằng, khi thấy người Mỹ đi ghi tên tham gia vào các đoàn thể thì có thể ước đoán với độ chính xác khá cao là họ đăng ký gia nhập một tổ chức tôn giáo nhiều hơn tất cả các hội tự nguyện khác gộp lại Khoảng 60% tổng số người dân Mỹ là thành viên các hiệp hội tôn giáo, đông hơn nhiều so với các nước Tây Âu và Canađa

Tôn giáo có một vai trò quan trọngtrong xã hội, và đa số người Mỹ cho rằng nhà thờ phảitách khỏi nhà nước Thuy nhiên, vị trí của tôn giáo trong xã hội đã có những thay đổi to lớn so với những thời kỳ đầu tiên của lịch sử nước Mỹ Những người di cư đến lập nghiệp ở nước Mỹ đều mang trong mình tâm niệm là làm theo ý Chúa, và là quá trình xây dựng những bậc thang lênthiên đàng Họ coi tôn giáo là nền tảng của kỷ cương trong xã hội Khuôn mặt của một vị linh mục (do mọi người trong thị trấn bầu ra, chứ không phải chỉ những người trong họ đạo) là hiện thân của điều thiện và phúc lợi xã hội; đồng thời năng lực, phẩm chất của ông ta là cơ sở cho trật

tự kỷ cương trong thị trấn đó Tuy nhiên, đến nay ta không còn thấy được chuyện đó nữa, thậm chí ở cả những vùng xa xôi, hẻo lánh Tôn giáo đã hoàn toàn trở thành một công việc mang tính chất cá nhân Đa số người Mỹ coi việc theo đuổi tín ngưỡng là việc riêng của mình, chẳng có

Trang 16

liên quan đến ai cả Chẳng thế mà có người nói mỉa mai rằng trong tương lai, đời sống tôn giáo nước Mỹ sẽ phân chia thành 249 triệu loại tín ngưỡng, cứ mỗi người có một loại tín ngưỡng cho riêng mình.

Nhưng hiện nay, ở Mỹ có khoảng 219 tôn giáo nhỏ phân chia thành 341 nghìn tổ chức địa phương Tôn giáo lớn nhất và quan trọng nhất nước này là Christmas (còn gọi là đạo KiTô hay Cơ Đốc Giáo) có khoảng 76,8 triệu tín đồ; Protestant (Tân Giáo), 52 triệu tín đồ; Roman Catholics (Thiên chúa La Mã), 3,9 triệu tín đồ; Judaism (Do Thái), 4 triệu tín đồ; tiếp theo là Eastern Othodox Church (Chính giáo phương Đông); rồi Hồi giáo, Phật giáo, Quaker,

Mormons Hàng năm có khoảng 45 triệu trẻ em, chưa kể người lớn, theo học ở các lớp do các tổchức tôn giáo mở Với một nền tôn giáo đa giáo phái và với một số lượng khổng lồ người tham gia các hoạt động tôn giáo như vậy mà trên nước Mỹ hiện nay không hề xảy ra các cuộc tàn sát hay xung đột tôn giáo Trong khi hiện nay tôn giáo và sắc tộc là hai vấn đề rất tế nhị và đã là khởi điểm của nhiều cuộc xung đột hoặc khủng bố đẫm máu

Vậy vì lý do gì mà nước Mỹ có thể duy trì được sự ổn định cho một nền tôn giáo đa dạng như vậy? Tai sao ở Mỹ lại có hiện tượng cùng một nhà thờ có thể dùng làm nơi hành lễ của hai giáo phái? Tại sao cùng một bang, một thành phố, thậm chí cùng một quận tồn tại nhiều trung tâm của các tôn giáo khác nhau? Phải chăng tôn giáo luôn được chính phủ “quan tâm chăm sóc” hay người Mỹ là những người hiền lành, yêu hoà bình, nhân ái?

Lời giải đáp chính xác và đầy đủ nhất đó chính là nền tôn giáo Mỹ với tính cách đặc biệt của nó Nhận xét về nền tôn giáo Mỹ ngày nay, nhà nghiên cứu văn hoá Esther Waming đã viết trong cuốn Culture Shock (Sốc văn hoá) như sau: “Rất có thể ít nhiều do tình cảm tôn giáo truyền lại từ khuynh hướng tôn giáo của nước Mỹ lúc ban đầu”

Càng về giai đoạn cuối của thế kỷ XVII, khi những đợt di cư ồ ạt từ khắp nơi đổ về, nước

Mỹ thực sự trở thành nước đa tôn giáo Thanh giáo từ Anh, Do Thái giáo từ Đức, Phật giáo từ

Ấn Độ, Trung Quốc, Hồi giáo theo chân những nô lệ châu Phi Hơn thế, Hoa Kỳ còn như bà đỡ khéo tay cho sự ra đời hàng loạt tôn giáo mới như Quaker, Mormons Đó là chưa kể đến sự phân tách của các giáo hội thành các giáo phái mới Các giáo phái dến Mỹ hay được thành lập ở

Mỹ đều chung một ý tưởng coi đây là Tân Thế Giới, một miền đất hứa, thậm chí coi nơi đây chỉ

là lãnh đậo của giáo phái họ thôi Tất cả các ý tưởng nhằm đưa một tôn giáo lên thành quốc giáo hay dùng tiền của, quyền lực áp đặt buộc người dân phải theo một tôn giáo nào đó đều bị loại bỏ.Nếu có một giáo hội nào dám đi ngược với tiêu chí, với khuynh hướng tôn giáo Mỹ đã hình thành từ buổi ban đầu thì đều phải trả giá Nó sẽ bị cô lập, bị phản dối hoặc bị trục xuất khỏi mảnh đất đang sinh sống

Theo thời gian, những tình cảm hoà đồng tôn giáo Mỹ trở nên bình thường, mọi cộng đồng tôn giáo vừa độc lập, vừa cùng nhau sinh sống Những điều đó có được là nhờ 3 yếu tố cơ bản là Nhà nước, gia đình và tư tưởng người dân

Trang 17

Ở Mỹ, hiện tượng trong một gia đình có năm người mà có ba, bốn quốc tịch là chuyện bình thường Như một gia đình có người bố là người Anh theo Tân giáo, người mẹ là người Ireland theo phái Calvin, các người con mỗi người theo một tôn giáo Như vậy, sự hoà đồng trong tôn giáo chỉ có ở một đất nước như Mỹ khi mà quyền tự do cá nhân được tôn trọng: Tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do điều trần và không ngoại trừ tự do tín ngưỡng, không ai có thể

ép buộc ai phải theo tôn giáo mình đã theo: chồng không thể ép vợ, bố không thể ép con nhưng

vợ chồng con cái vẫn cùng chung sống trong một mái nhà Từ những hạt nhân như vậy mà tính hào đồng trong tôn giáo được kế tục và phát triển Ngoài ra, các phán quyết của Toà án tối cao ban hành khi xét xử các vụ án tôn giáo đã tăng cường tính pháp lý cho việc tự do tinh ngưỡng

Chính quyền các bang cũng trợ cấp cho các giáo hội tiền bạc hoặc đất đai trên tinh thần thận trọng và công bằng Nói chung, ở thời điểm hiện nay, khi các cuộc xung đột và khủng bố mang tính chất tôn giáo ngày càng gia tăng, tính hoà đồng trong tôn giáo Mỹ tỏ ra có nhiều mặt tích cực trong cuộc sống

3 Tính cách, lối sống và suy nghĩ của con người Mỹ

a Chủ nghĩa cá nhân – cốt lõi của nền văn hoá Mỹ

Khi nói đến tính cách con người và nền văn hoá Mỹ, điều không thể không nhắc đến là chủ nghĩa cá nhân Người Mỹ tin tưởng ở năng lực và “đạo đức thánh thiện” của từng nhân cách

cá nhân Trong hoài bão và hy vọng của họ, điều cao cả nhất và hoà hiệp nhất đều liên quan đến chủ nghĩa cá nhân Mặc dù chủ nghĩa cá nhân đã làm nảy sinh nhiều vần đề xã hội phức tạp, nhưng các nhà nghiên cứu về văn hoá Mỹ đèu cho rằng không thể làm cho dân Mỹ mất đi tích chất cá nhân chủ nghĩa, vì như thế là tước bỏ một đặc điểm chủ yếu của người Mỹ với tư cách là một dân tộc

Điều quan trọng nhất để hiểu người Mỹ là biết rằng họ là những người rất sùng bái “chủ nghĩa cá nhân” Sự kết hợp giữa tự do cá nhân và tính độc lập được đánh giá cao ở Mỹ Họ coi những công việc hoàn thành của cá nhân và những cuộc chiến để giành được nhiều tự do Họ có thể làm theo sở thích hoặc thay đổi lối sống của mình, cho dù có phải từ bỏ mọi cam kết với gia đình, với cộng dồng Quan điểm này đã bị phản ứng mạnh mẽ của những người thuộc trường phái văn hoá cho rằng, mỗi cá nhân là một thành viên của gia đình, xã hội và nhấn mạnh vai trò gắn kết với cộng đồng, đặt sức mạnh của tổ chức cộng đồng lên trên cá nhân, phản đối chủ nghĩa

cá nhân Thực tế, nhiều thành tựu đạt được ở Mỹ là nhờ phát kiến của những nhóm người, mỗi người thực sự là một cầu thủ trong đội hình Hiện nay, một số công ty Mỹ, có xu hướng sử dụng sức mạnh của mỗi cá nhân bằng cách kết hợp các nhóm thành viên có năng lực khác nhau để thực hiện những mục tiêu nhất định

Hơn nữa, họ cho rằng sau một thời gian sống ở Mỹ người ta sẽ cảm thấy thoát khỏi những ràng buộc bên ngoài và sẽ cảm thấy biết ơn nếu để yên cho họ “làm mọi thứ theo cách củahọ” hay “đạt được điều gì đó theo cách của họ”

Trang 18

Theo quan niệm này, ít nhất một số người Mỹ không nhận ra thực tế là họ đang chia sẻ một nền văn hoá với nhau Như đã đề cập ở trên, họ có ý tưởng rằng họ hoàn toàn độc lập để quyết định về những giả định hay giá trị riêng của họ Quan niệm rằng các nhân tố xã hội bắt họ trở thành như những người khác và trong trường hợp này đã làm cho họ có cảm giác tính tự chủ

bị tổn thương

Như vậy, người Mỹ xem mẫu người lý tưởng phải là một người độc lập, tự chủ và riêng biệt Còn quan điểm về “chủ nghĩa cá nhân” - đó là phải tự đứng bằng đôi chân của mình và tự quyết định – thì có thể nói rằng, người Mỹ rất khác biệt Ví dụ nhiều người Mỹ xem các cá nhân

là anh hùng, bởi họ “nổi bật trong một đám đông” do tiên phong làm một điều gì đó, lâu và thường xuyên, hay nói cách khác là làm những điều tốt nhất, chẳng hạn như các phi công lừng danh: Charles Lindberg và Amelia Earhart Người Mỹ thán phục những ai có thể vược qua khó khăn như nghèo khổ hay tàn tật để thành công trong cuộc sống Nhà giáo dục da đen Brooker T Washington, một tác giả vừa bị mù vừa bị điếc là một ví dụ

Sự tôn sùng “chủ nghĩa cá nhân” vẫn thường thể hiện qua việc người Mỹ sử dụng các câunhư “Hãy làm cái gì đó theo cách của mình”, “Tôi làm cái gì đó theo cách của tôi”, “Hãy tự quyết định điều đó”, “Mình làm mình chịu”, “Đừng trông cậy vào sự giúp đỡ của người khác” và

“Hãy cố gắng là điều tốt nhất”

Mối liên hệ chặt chẽ vốn có tầm quan trọng lớn mà người Mỹ gắn liền với chủ nghĩa cá nhân là sự riêng tư Người Mỹ cho rằng, con ngưòi ta “cần có những lúc ở một mình” hoặc “để trầm tĩnh lại” để nghĩ lại mọi sự hoặc hồi phục năng lượng, tâm lý đã hao tổn Người Mỹ thực sựkhông hiểu những người nước ngoài mà thường thích có ai đó để bầu bạn và họ dường như không thích ở một mình Thái độ của người Mỹ về riêng tư có vẻ rất khó hiểu đối với người nước ngoài Nhà, sân chơi, thậm chí văn phòng của người Mỹ có thể mở rộng cửa đón tiếp bạn, song, họ lại có những biên giới mà đơn giản là người khác không thể bước qua Khi những biên giới này bị xâm phạm, có thể thấy người Mỹ hoàn toàn bị cứng lại, và thái độ của họ trở nên lạnhnhạt và xa lánh

b Sự ngay thẳng

Trong ứng xử, người Mỹ thường bộc lộ tính cách thẳng thắn, chân thực, họ luôn có ý kiến về những vấn đề mà họ quan tâm; tự nhận mình là những người có tham vọng, lao động chăm chỉ, có nghị lực và tự hào về mức sống cao của mình, về vai trò quan trọng của nước Mỹ trên thế giới Mặc dù còn nhiều mâu thuẫn, căng thẳng về vấn đề chủng tộc, nòi giống giữa các nhóm sắc tộc trong xã hội, người Mỹ vẫn cố gắng biểu hiện sự thân thiện, sẵn sàng kết bạn và dường như tạo ra mức độ quen thân rất nhanh (điều mà ở một số nước khác phải mất khá nhiều thời gian) Sự nhanh chóng này thường làm cho khách ngạc nhiên, thậm chí có thể hiểu lầm không chỉ bởi nó diễn ra quá nhanh, mà còn bởi sự không chắc chắn về chất trong mối quan hệ

đó Nhưng theo họ, sự thân thiện là một cử chỉ lịch sự Tuy nhiên, mức độ thân thiện còn tuỳ thuộc vào từng mối quan hệ cụ thể và đều được thực hiện có suy xét ở người Mỹ

c Sự bình đẳng

Trang 19

Người Mỹ cũng rất đặc biệt khi nhìn nhận theo góc độ rằng họ tin vào lý tưởng, như đượcphát biểu trong tuyên ngôn độc lập, rằng “tất cả mọi người sinh ra công bằng như nhau” mặc dù trong những hành động thực tế họ vi phạm lý tưởng này, nhất là trong vấn đề giải quyết các mối quan hệ chủng tộc Tuy nhiên, người Mỹ có một niềm tin sâu sắc rằng, về cơ bản thì tất cả mọi người đều có giá trị như nhau và rằng không ai sinh ra cao sang hơn người khác “Mỗi người mộtphiếu”, họ nói Điều này thể hiện ý tưởng rằng ý kiến của một người đều có giá trị và đáng nhận được sự chú ý như bất cứ những người khác.

Người Mỹ thường cảm thấy không thoải mái khi mà họ được đối xử một cách trịnh trọng

Họ không thích là đối tượng để người khác thể hiện sự kính trọng như được cúi đầu chào hay được kính cẩn, được đối xử như người không làm điều gì sai trái và không bao giờ có những yêu cầu vô lý vậy

Theo quan niệm người Mỹ thì không chỉ nam giới sinh ra có sự công bằng mà phụ nữ cũng vậy Trong khi người Mỹ thường vi phạm ý tưởng này, bởi trong thực tế họ lại luôn cho rằng phụ nữ công bằng với đàn ông, xứng đáng được nhận sự kính trọng như nam giới Điều này không có nghĩa là người Mỹ không phân biệt giữa họ trong các vấn đề về giới tính, tuổi tác, của cải hay địa vị xã hội, và trên thực tế là có Nhưng sự phân biệt này chỉ tồn tại ở dạng tinh vi, khó nhận thấy Giọng điệu của lời nói, cách ra lệnh, cách dùng ngôn từ, vị trí chỗ ngồi – tất cả những điều này là cách để người Mỹ công nhận vị trí xã hội khác nhau giữa họ Người ở vị trí cao hơn

có thể có quyền nói trước, nói to hơn và lâu hơn Họ ngồi ở đầu bàn hay trong một ghế thoải mái nhất Họ cảm thấy tự do để có thể chen ngang Người có vị trí cao trong xã hội có thể đặt tay lên vai của người có vị trí xã hội thấp hơn Nếu có vấn đề đề cập đến giữa những người có liên quan,thì người có vị trí cao hơn sẽ được nói đến trước

Những người nước ngoài quen với những cách thể hiện sự kính trọng rõ ràng hơn như cúichào, quay mắt sang phía người có vị trí cao hơn, hay dùng tên, tước hiệu danh giá thì thường tỏ

ra xem thường cách mà người Mỹ thể hiện sự kính trọng đối với người có vị trí cao hơn trong xã hội Họ nghĩ một cách hơi thiên lệch rằng, người Mỹ thông thường không nhận ra sự khác nhau

vị trí xã hội và thường tỏ ra bất nhã với người khác Điều đặc biệt trong quan điểm người Mỹ về vấn đề công bằng là những giả định quan trọng, theo đó bất kể vị trí xã hội lúc đầu của một người như thế nào thì người đó cũng có khả năng đề đạt những vị trí xã hội cao và rằng mọi người dù bất hạnh đến mấy cũng xứng đáng được hưởng sự đối xử cơ bản ngang nhau

d Sự thoải mái

Các khái niệm về công bằng đã làm cho người Mỹ khá thoải mái trong phong thái noi chung của họ và trong các mội quan hệ của họ với người khác Ví dụ như người bán hàng hay người phục vụ bàn đều có thể giới thiệu bằng tên và nói chuyện với khách hàng rất thoải mái và cởi mở Những thư ký Mỹ, như những người khác, được dạy rằng họ cũng hữu ích như mọi người khác, thậm chí cả khi họ làm cố định một công việc mà người khác cho có thể cho là thấp kém Thái độ thoải mái này có khi làm mếch lòng người nước ngoài, những người đang có vị trí

xã hội ở những nước mà không cho là “tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng”

Ngày đăng: 05/11/2013, 16:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Có thể thấy sự khác biệt giữa người Mỹ và ngườ iÁ Đông qua bảng sau: - Văn hóa kinh doanh và các bài học kinh nghiệm cho các doanh nhân Việt Nam khi kinh doanh với Mỹ
th ể thấy sự khác biệt giữa người Mỹ và ngườ iÁ Đông qua bảng sau: (Trang 24)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w