BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH --- Lê Thị Lan Hương THỰC TRẠNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ THUỐC CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE II NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA MỸ ĐỨC NĂM 201
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
-
Lê Thị Lan Hương
THỰC TRẠNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ THUỐC CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE II NGOẠI TRÚ
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA MỸ ĐỨC NĂM 2018
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Nam Định, năm 2018
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
-
Lê Thị Lan Hương
THỰC TRẠNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ THUỐC CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE II NGOẠI TRÚ
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA MỸ ĐỨC NĂM 2018 Chuyên ngành: ĐIỀU DƯỠNG NỘI NGƯỜI LỚN
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP Giảng viên hướng dẫn: TS.BS Vũ Văn Thành
Nam Định, năm 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN Trong quá trình học tập, làm việc và nghiên cứu thực hiện chuyên đề, em đã nhận được sự hướng dẫn cũng như sự giúp đỡ, động viên của các thầy cô giáo, các đồng nghiệp tại Bệnh viện Đa khoa huyện Mỹ Đức, gia đình và bạn bè
Với sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc đó, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới:
Ban Giám hiệu nhà trường, phòng Đào tạo Sau Đại học, các phòng ban và các thầy cô giáo Trường Đại học Điều Dưỡng Nam Định đã truyền đạt cho em kiến thức, những kinh nghiệm quý báu và tạo điều kiện, giúp đỡ em trong thời gian học tập, nghiên cứu tại trường
TS.BS Vũ Văn Thành, giảng viên Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định là người thầy đã tận tình chỉ bảo hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành chuyên đềtốt nghiệp
Ban giám đốc, các đồng nghiệp tại Bệnh viện Đa khoa huyện Mỹ Đức đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện để em có thể hoàn thành tốt khóa học này
Em cũng bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới gia đình, đồng nghiệp, bạn bè và tập thể lớp Chuyên khoa I – khóa 5 Nội, những người đã giành cho em tình cảm và nguồn động viên khích lệ
Học viên
Lê Thị Lan Hương
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3
2.1 Cơ sở lý luận 3
2.1.1.Định nghĩa 3
2.1.2 Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ[6],[8] 3
2.1.3 Phân loại bệnh đái tháo đường [7] 4
2.1.4 Cơ chế bệnh sinh[16] 4
2.1.5 Triệu chứng 5
2.1.6.Biến chứng 7
2.1.7 Điều trị 8
2.1.8 Phòng bệnh 9
2.2 Cơ sở thực tiễn 9
2.2.1 Tình hình nghiên cứutrên thế giới 9
2.2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam 10
3 LIÊN HỆ THỰC TIỄN 12
3.1 Thực trạng chung của bệnh viện đa khoa huyện Mỹ Đức năm 2018 12
3.2 Thực trạng tuân thủ dùng thuốc của người bệnh ĐTĐ type 2 ngoại trú tại bệnh viện đa khoa huyện Mỹ Đức năm 2018 13
3.3 Ưu điểm, tồn tại và nguyên nhân 18
3.3.1 Ưu điểm 18
3.3.2 Tồn tại 18
3.3.3 Nguyên nhân: 18
KẾT LUẬN 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BMI (Body Mass Index) Chỉ số khối cơ thể
Trang 61 ĐẶT VẤN ĐỀ Đái tháo đường là một trong những bệnh mạn tính mang tính toàn cầu và là bệnh phát triển nhanh nhất hiện nay Đái tháo đường đang trở thành một vấn đề lớn của y học, nó gây nhiều tác động bất lợi mang tính xã hội như làm tăng gánh nặng chi phí về y tế, làm suy giảm sức lao động của
xã hội, làm tăng tỷ lệ tử vong và làm rút ngắn tuổi thọ của người bệnh [12]
Ngày nay, đái tháo đường ngày càng tăng ở các nước phát triển, nơi
đô thị hóa ngày càng thay đổi lối sống, tập quán ăn uống và giảm hoạt động thể lực Đái tháo đường gắn liền với nhiều biến chứng mạn tính và cấp tính nhất là các biến chứng về tim mạch Các biến chứng này cùng với các stress về tâm lý không chỉ làm chất lượng cuộc sống của người bệnh giảm
đi mà còn làm hao tổn về tuổi thọ, để lại nhiều di chứng nặng nề và vĩnh viễn, gây tỷ lệ tử vong ngày càng cao và bệnh đang là gánh nặng của cộng đồng và xã hội[13]
Người ta nhận thấy một người 40-49 tuổi được chẩn đoán đái tháo đường type 2 sẽ mất đi trung bình là mười năm sống Người bệnh bị bệnh đái tháo đường có bệnh lý mạch vành cao gấp 2-3 lần so với người không
bị bệnh đái tháo đường [6] Mặt khác tại thời điểm chẩn đoán lâm sàng người bệnh Đái tháo đường phần lớn đã có biến chứng; trong đó, bệnh võng mạc là 35%, bệnh thần kinh ngoại vi là 12%, protein niệu là 2%[7] Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), năm 2008 cả thế giới có
135 triệu người đái tháo đường chiếm 4% dân số thế giới, chỉ sau 2 năm số người mắc bệnh đái tháo đường lên tới 221 triệu người chiếm 5.4% [8] Tại Việt Nam, trong những năm gần đây tốc độ phát triển nhanh bệnh đái tháo đường đã trở thành một vấn đề lớn của ngành y tế Theo tính toán của hội người giáo dục bệnh đái tháo đường Việt Nam, tỷ lệ đái tháo đường năm
2002 chiếm 2.7% dân số, đến năm 2008 (sau 6 năm) đã tăng lên gấp đôi 5.7% dân số [6]
Trang 7Một trong những nguyên nhân dẫn đến tử vong cao là do người bệnh không tuân thủ chế độ điều trị gây ra một loạt các biến chứng trầm trọng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh và xã hội Vì vậy, muốn làm giảm tỷ lệ tử vong cũng như các biến chứng: loét bàn chân, mù lòa…[8] do đái tháo đường gây ra thì người bệnh cần tuân thủ tốt chế độ điều trị như chế độ dinh dưỡng, chế độ hoạt động thể lực, chế độ dùng thuốc, chế độ kiểm soát đường huyết và khám sức khỏe định kỳ theo hướng dẫn của nhân viên y tế
Hàng năm có nhiều người bệnh bị đái tháo đường đến khám và điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Nhưng có nhiều người bệnh không hiểu đầy đủ
về bệnh của mình, thậm chí có những người bệnh còn nhận thức sai lầm về bệnh đái tháo đường, tuân thủ điều trị còn hạn chế, ảnh hưởng lớn đến kết quả điều trị Xuất phát từ thực tế trên chúng tôithực hiện chuyên đề:
“Thực trạng tuân thủ điều trị thuốc của người bệnh đái tháo đường type
2 ngoại trú tại bệnh việnđa khoa huyện Mỹ Đức năm 2018”, nhằm hai
mục tiêu như sau:
1 Mô tả thực trạng tuân thủ điều trị thuốc của người bệnh đái tháo đường type 2 ngoại trú tại bệnh việnđa khoa huyện Mỹ Đức năm 2018
2 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao tuân thủ điều trị thuốc của người bệnh đái tháo đườngtype 2 ngoại trú tại bệnh viện đa khoa huyện Mỹ Đức
Trang 82 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1.Định nghĩa
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO – World Heath Orgnization): đái tháo đường là một bệnh mạn tính gây ra do thiếu sản xuất insulin của tụy hoặc do tác dụng insulin không hiệu quả gây ra bởi nguyên nhân mắc phải hoặc do di truyền với hậu quả tăng glucose máu Tăng glucose máu gâytổn thương nhiều
hệ thống trong cơ thể, đặc biệt là tổn thương mạch máu và thần kinh[19]
Năm 2011, định nghĩa của Hiệp hội đái tháo đường Hoa Kỳ (ADA), Vương quốc Anh và được WHO công nhận: đái tháo đường là một nhóm các bệnh chuyển hóa được đặc trưng bởi tăng đường máu hậu quả từ thiếu hụt insulin, hoạt động của insulin hoặc cả hai Tăng đường máu trường diễn của đái tháo đường kèm theo tổn thương lâu dài, suy chức năng và tổn thương nhiều cơ quan khác nhau; đặc biệt, là mắt, thận, thần kinh, tim và các mạch máu[17]
2.1.2 Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ[6],[8]
- Bệnh có tính chất gia đình, do kháng insulin đi kèm với thiếu hụt insulin tương đối
- Thường gặp ở người > 30 tuổi
- Trọng lượng:Thừa cân là một yếu tố nguy cơ chính cho bệnh đái tháo đường type
- Không hoạt động:Ít hoạt động hơn, càng có nhiều nguy cơ bị bệnh đái tháo đường type 2 Hoạt động thể chất sẽ giúp kiểm soát trọng lượng, sử dụng hết đường và làm cho các tế bào nhạy cảm hơn với insulin
- Chế độ ăn: Gặp ở người có chế độ ăn nhiều chất béo bão hòa, nhiều carbohydrat tinh chế, ngoài ra thiếu hụt các yếu tố vi lượng hoặc vitamin góp phần làm thúc đẩy sự tiến triển bệnh
- Rối loạn lipid máu
- Tăng huyết áp
Trang 92.1.3 Phân loại bệnh đái tháo đường [7]
Đái tháo đường type 1: Do bệnh tự miễn dịch làm tế bào beta tụy bị phá hủy nhanh hoặc chậm Bệnh tiến triển nhanh ở người trẻ<30 tuổi với triệu chứng lâm sàng rầm như: Khát nhiều, uống nhiều, gầy nhiều, mệt mỏi Nguyên nhân 85%-90%
do tự kháng thể kháng đảo tụy (ICA:isles cell autoantibodies), tự kháng thể Insulin
và tự kháng thể GAD( gluctamic acid decarboxylase); điều trị bằng Insulin, tỷ lệ gặp 10%.Bệnh tiến triển chậm hơn ở người lớn hay còn gọi đái tháo đường tự miễn dịch tiềm tàng ở người lớn (LADA: latent Autoimmune Diabetes in adults)
Đái tháo đường type 2: Trước đây còn gọi ĐTĐ không phụ thuộc vào Insulin, ĐTĐ người lớn, bệnh có tinh chất gia đình Đặc trưng của bệnh là thiếu Insulin tương đối Tuổi trên 30, triệu chứng âm thầm thường phát hiện muộn Biến chứng cấp hay gặp là hôn mê tăng áp lực thẩm thấu, có thể điều trị bằng chế độ ăn, thuốc uống và hoặc Insulin, tỷ lệ 90-95%
Đái tháo đường thai kỳ là tình trạng rối loạn đường huyết xảy ra trong thời kỳ mang thai
Các tình trạng tăng đường huyết đặc biệt khác: giảm chức năng tế bào beta
do khiếm khuyết gen:MODY 1,MODY 2, MODY 3, đái tháo đường ti lạp thể, giảm hoạt tính Insulin do khiếm khuyết gen Bệnh lý tuyến tụy, viêm tụy, xơ, sỏi tụy, ung thư tụy…Một số bệnh nội tiết: To các viễn cực, hội chứng cushing, do hóa chất, do thuốc, do nhiễm khuẩn
ức chế sản xuất insulin ở gan (một phần là ở ruột)
Theo quy luật người lớn tuổi thì tế bào β tuyến tụy tiết insulin giảm đi Tốc độ giảm nhanh hay chậm chịu ảnh hưởng yếu tố di truyền, song cũng
Trang 10chịu tác động của yếu tố khác tác động đến (lối sống ít vận động, chế độ ăn không hợp lý…) Tác dụng insulin tại các mô mất dần đưa đến tình trạng thiếu insulin tương đối của cơ thể Từ đó, làm cho đường và acid béo tự do tăng cao trong máu, ức chế tế bào β tuyến tụy làm giảm tiết insulin Đầu tiên tuyến tụy còn tăng hoạt động để bù lại tình trạng thiếu insulin tương đối, nên đường huyết có thể tạm thời không tăng Dần dần tình trạng này không còn nữa và xuất hiện ĐTĐ type 2 thực sự
2.1.5 Triệu chứng
2.1.5.1 Triệu chứng lâm sàng
- Triệu chứng lâm sàng bệnh đái tháo đườngtype 2 có thể phát triển rất chậm Trong thực tế, có thể có bệnh đái tháo đườngtype 2 trong nhiều năm và thậm chí không biết nó
- Tăng sự khát nước và đi tiểu thường xuyên: Khi tích tụ dư thừa đường trong máu, chất dịch được kéo từ các mô Điều này có thể làm cho khát nước Kết quả là, có thể uống và đi tiểu nhiều hơn bình thường
- Tăng đói: Nếu không có đủ insulin để chuyển đường vào tế bào, các
cơ quan trở nên cạn kiệt năng lượng Điều này gây nên đói dữ dội
- Giảm trọng lượng: Có thể giảm cân mặc dù ăn nhiều hơn bình thường
để làm giảm đói Nếu không có khả năng sử dụng đường, cơ thể sử dụng nhiên liệu thay thế được lưu trữ trong cơ và chất béo Năng lượng bị mất là đường trong nước tiểu
- Mệt mỏi:Nếu các tế bào đang bị tước đoạt đường, có thể trở nên mệt mỏi và dễ cáu kỉnh
- Mờ mắt: Nếu lượng đường trong máu quá cao, dịch có thể được kéo
ra từ các ống kính của mắt Điều này có thể ảnh hưởng đến khả năng thị lực
- Chậm lành vết loét hoặc nhiễm trùng thường xuyên: Bệnh đái tháo đườngtype 2 ảnh hưởng đến khả năng chữa lành và chống nhiễm trùng
- Vùng da tối: Một số người bị bệnh đái tháo đườngtype 2 có vùng da mượt màu đen trong các nếp gấp và nếp nhăn của các cơ quan, thường ở nách
Trang 11và cổ Tình trạng này, được gọi là rối loạn sắc tố da, có thể là một dấu hiệu của sức đề kháng insulin
Hình 1: Mô tả triệu chứng của đái tháo đường
- Xét nghiệm đường máu sau 2 giờ làm nghiệm pháp tăng đường máu (sau khi cho uống 75g glucose) ≥ 11.1 mmol/l (200mg/dl)
- Trường hợp kết quả xét nghiệm đường máu: 110mg/dl < Đường máu
< 126mg/dl, cần làm nghiệm pháp tăng đường máu để xác định
- Các xét nghiệm để theo dõi điều trị:
+ Đường máu lúc đói và đường máu sau ăn 2 giờ, HbA1c lúc mới chẩn đoán bệnh và mỗi 3 tháng một lần
+ Sinh hóa máu (Creatinin, Cholesterol, Tryglicerid, HDL-C) lúc mới chẩn đoán và mỗi 3 tháng một lần
Trang 12+ Nước tiểu: 10 thông số làm thường quy, microalbumin niệu ngay tại thời điểm chẩn đoán
+ Ghi điện tim lần đầu chẩn đoán và mỗi 6 tháng, siêu âm doppler mạch cảnh, mạch chân lúc mới chẩn đoán và khi nghi ngờ có tổn thương, khám mắt lúc mới có chẩn đoán và sau mỗi năm, khi có tổn thương mắt khám lại mỗi 3 đến 6 tháng
2.1.6.Biến chứng
Ba biến chứng cấp tính có thể gặp là: hôn mê do toan ceton (nguy cơ tử vong cao); hôn mê do tăng áp lực thẩm thấu (nguy cơ tử vong cao); hạ đường máu do dùng thuốc quá liều hoặc sai lầm về ăn uống có thể dẫn đến hôn mê nếu không được xử trí
- Biến chứng nhiễm khuẩn: Do các tổn thương mạch máu và thần kinh làm giảm sức đề kháng của cơ thể dễ dẫn đến nhiễm các loại vi rút, vi khuẩn, nấm với các tổn thương viêm, nhiễm khuẩn răng miệng, hô hấp, tiết niệu, ổ bụng
- Loét bàn chân: Kết hợp nhiều yếu tố như rối loạn cảm giác, giảm vận động do biến chứng tổn thương thần kinh, giảm tưới máu do biến chứng tổn thương mạch máu, chấn thương, nhiễm trùng
Trang 13Hình 2: Biến chứng đái tháo đường type 2
2.1.7 Điều trị
- Nhằm kiểm soát đường máu, ngăn ngừa và hạn chế các biến chứng với các mục tiêu: HbA1c < 7%, glucose máu lúc đói ở mức 3.9 – 7.2 mmlo/lit (70-130mg/dl), glucose máu sau ăn 2 giờ < 10 mmol/lit (<180mg/dl)
- Kết hợp các biện pháp điều trị, gồm chế độ ăn hợp lý, chế độ hoạt động thể lực hợp lý, sử dụng thuốc điều trị tăng đường máu, dự phòng và điều trị các biến chứng Việc sử dụng thuốc điều trị đái tháo đường theo chỉ định của Bác sỹ
- Insulin: Khi mất bù, nhiễm trùng, vết thương cấp, tăng ceton máu cấp
và nặng, sụt cân không kiểm soát được, có can thiệp ngoại khoa, có thai, suy gan, suy thận, tổn thương tụy, biến chứng hôn mê, dị ứng hoặc thất bại với thuốc viên hạ đường máu, dùng tạm thời khi đường máu quá cao > 14 mmol/lit, HbA1c >11%
- Thuốc viên hạ đường máu: Dùng khi không có biến chứng hoặc các chống chỉ định cụ thể của mỗi nhóm thuốc Tùy thuộc từng người bệnh có thể
sử dụng một trong các nhóm thuốc như: Nhóm kích thích tụy bài tiết insulin (Diamicron…), nhóm làm tăng nhạy cảm insulin ở ngoại vi và giảm đề kháng insulin – Metfomin
Trang 142.1.8 Phòng bệnh
- Có cuộc sống lành mạnh, loại bỏ các yếu tố ảnh hưởng xấu đến sức khỏe Đối với những người có nguy cơ cao dẫn đến đái tháo đường như béo phì, tăng huyết áp, gia đình có người bị đái tháo đường, rối loạn lipid máu, hút thuốc lá, cần thực hiện các biện pháp dự phòng như: thực hiện chế độ ăn hợp lý, tăng cường vận động thể lực, thôi hút thuốc lá, điều chỉnh huyết áp và rối loạn lipid máu, khám và xét nghiệm định kỳ
- Khi đã được chẩn đoán là đái tháo đường, phải kiểm soát bệnh hiệu quả, làm chậm tiến triển và biến chứng của bệnh, tuân thủ chế độ điều trị, chế
độ ăn và vận động thể lực hợp lý
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tình hình nghiên cứutrên thế giới
Anju Gautam và cộng sự (2015), tiến hành một điều tra cắt ngang trên
244 người bệnh ĐTĐ (52.5% nữ) cho thấy: 18% đối tượng không biết chữ, 24.6% đến từ nông thôn, 9.8% có hút thuốc lá, 16% uống rượu, 17.6% không hoạt động thể lực Nghiên cứu còn cho biết điểm trung bình cho kiến thức, thái độ, thực hành là 80,4 và 41 Trong tất cả các đối tượng thì 12.3% có kiến thức đúng, 12.8% có thái độ đúng và 16% có thực hành đúng [12]
Nghiên cứu của Shah V.N và cộng sự (2009), tiến hành trên 238 người bệnh ĐTĐ; trong đó, 50% người bệnh biết biến chứng bệnh, 46.63% người bệnh biết thế nào là ĐTĐ, 17.64% biết nguyên nhân gây bệnh, 38.23% nghĩ rằng ĐTĐ có thể chữa khỏi, 82.77% biết làm thế nào để phát hiện ĐTĐ, 78.1% người bệnh tuân thủ điều trị thuốc Về vấn đề làm thế nào để kiểm soát ĐTĐ: 51.23% biết các bài tập thể dục, 74.78% biết thay đổi chế độ ăn uống, 7.14% biết ngừng thuốc lá, uống rượu, 65.12% biết tự chăm sóc ĐTĐ, 10.08% biết tự theo dõi đường huyết tại nhà, 70.16% biết đến bệnh viện kiểm tra đường huyết hàng tháng [18]
Gul N Nghiên cứu trên 100 người bệnh ĐTĐ typ 2 tuổi trung bình 50±5, tỷ lệ nam/nữ là 1/3, NC cho thấy nhận thức của người bệnh về ĐTĐ