Tăng cường công tác truyền thông tư vấn về vệ sinh thai nghén cho chị em phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ nói chung và phụ nữ mang thai nói riêng tại các xã, phường... Người giúp đỡ tốt nhất
Trang 1BỆNH VIỆN SẢN NHI TỈNH YÊN BÁI NĂM 2018
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
NAM ĐỊNH - 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
Chuyên ngành: CHUYÊN KHOA I ĐIỀU DƯỠNG SẢN
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
Ths, BSCKII Trần Quang Tuấn
NAM ĐỊNH - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình của riêng tôi, do chính tôi thực hiện, tất
cả các số liệu trong báo cáo này chƣa đƣợc công bố trong bất cứ công trình nào
khác
Nếu có điều gì sai trái tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
HỌC VIÊN
Tống Thị Mừng
Trang 4Tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Thạc sỹ, Bác sỹ CKII Trần Quang Tuấn - Phó trưởng khoa Y học lâm sàng; Trưởng Bộ môn Sản phụ khoa - Trường đại học Điều dưỡng Nam Định đã trực tiếp giúp đỡ và hướng dẫn tôi rất tận tình trong suốt thời gian tôi học tập và hoàn thành chuyên đề này
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc, các khoa, phòng của Bệnh viện Phụ sản Trung ương đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian tôi học tập tại bệnh viện
Tôi xin được cảm ơn Đảng ủy, Ban Giám hiệu Trường Cao đẳng Y tế Yên Bái; Ban Giám đốc, Phòng Đào tạo - Chỉ đạo tuyến, Phòng Kế hoạch - Tổng hợp, Phòng Khám thai Bệnh viện Sản Nhi Yên Bái, bạn bè đồng nghiệp đã động viên, tạo điều kiện tốt nhất trong quãng thời gian tôi đi học và giúp đỡ tôi thu thập thông tin để hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp
Các bạn trong lớp Chuyên khoa I - khóa 5 đã cùng kề vai sát cánh với tôi hoàn thành chuyên đề này
Những người bệnh - gia đình người bệnh đã cảm thông và tạo điều kiện phối hợp với tôi trong quá trình thực hiện phỏng vấn
Xin chân thành cảm ơn mọi người
Yên Bái, ngày tháng 8 năm 2018
Tống Thị Mừng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
DANH MỤC HÌNH ẢNH v
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3
1 Cơ sở lý luận 3
1.1 Sự thụ tinh, làm tổ và phát triển của trứng 3
1.2 Những thay đổi giải phẫu sinh lý của người phụ nữ khi có thai 3
1.3 Các nguy cơ có thể gặp trong thời kỳ thai nghén 9
1.4 Vệ sinh thai nghén 11
2 Cơ sở thực tiễn 16
2.1 Sơ lược về tình hình kiến thức vệ sinh thai nghén trên thế giới 16
2.2 Sơ lược về tình hình kiến thức vệ sinh thai nghén tại Việt Nam 17
CHƯƠNG II: LIÊN HỆ THỰC TIỄN 19
1 Thực trạng kiến thức vệ sinh thai nghén của thai phụ đến khám thai tại phòng khám sản bệnh viện sản nhi tỉnh Yên Bái 19
1.1 Thời gian và địa điểm phỏng vấn 19
1.2 Đối tượng phỏng vấn 20
1.3 Số lượng phỏng vấn 20
1.4 Kết quả phỏng vấn 20
2 Nguyên nhân 27
CHƯƠNG III: ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO KIẾN THỨC VỆ SINH THAI NGHÉN CHO PHỤ NỮ MANG THAI TẠI TỈNH YÊN BÁI 28
1 Nâng cao kiến thức, kỹ năng cho Hộ sinh, Y sỹ sản nhi, y tế thôn bản, cô đỡ thôn bản tại các trạm y tế 28
1.1 Sở Y tế Yên Bái 28
1.2 Bệnh viện Sản Nhi - Trường Cao đẳng Y tế Yên Bái 28
Trang 61.3 Các Trung tâm Y tế 28
1.4 Trạm y tế 28
2 Tăng cường công tác truyền thông tư vấn về vệ sinh thai nghén cho chị em phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ nói chung và phụ nữ mang thai nói riêng tại các xã, phường 29
KẾT LUẬN 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO 31
PHỤ LỤC 32
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CSSKSS Chăm sóc sức khỏe sinh sản
PV Phỏng vấn TĐVH Trình độ văn hóa
NT Nông thôn PNCT Phụ nữ có thai TĐVH Trình độ văn hóa
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1: Đặc điểm đối tượng 21
Bảng 2: Hiểu biết về số lần khám thai liên quan đến địa dư 22
Bảng 3: Hiểu biết về chế độ dinh dưỡng trong khi có thai liên quan đến địa dư 23
Bảng 4: Hiểu biết về chế độ vệ sinh trong khi có thai liên quan đến địa dư 24
Bảng 5: Hiểu biết về chế độ làm việc, sinh hoạt trong khi có thai liên quan đến địa dư 25
Bảng 6: Các triệu chứng bất thường khi có thai cần đi khám ngay liên quan đến địa dư 26
Bảng 7: Kênh cung cấp các kiến thức vệ sinh thai nghén cho PNCT liên quan đến địa dư 26
Trang 9DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1: Tháp dinh dƣỡng hợp lý cho phụ nữ có thai và bà mẹ cho con bú 14
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Thai nghén là hiện tượng sinh lý hầu hết phụ nữ đều phải trải qua, tuy nhiên khi có thai và sinh đẻ, người phụ nữ thực sự phải chấp nhận nguy cơ rủi ro có thể ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của bản thân cũng như thai nhi, thậm chí có thể mất ngay cả mạng sống của mình Vì thế trong giai đoạn này, thai phụ cũng như người thân trong gia đình đều lo lắng và họ luôn luôn mong nhận được những thông tin cần thiết, muốn được giải đáp những điều họ chưa hiểu với mong muốn cho thai phụ, thai nhi khỏe mạnh và sinh nở an toàn, “ mẹ tròn -con vuông” Người giúp đỡ tốt nhất là những cán bộ y tế đã được đào tạo chuyên ngành, họ sẽ giúp thai phụ biết cách tự theo dõi bản thân và đồng thời theo dõi sự phát triển của thai, giúp phát hiện sớm các nguy cơ và tai biến có thể có trong quá trình thai nghén, làm giảm tai biến sản khoa, giảm tử vong mẹ và thai nhi, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc gia đình [1]
Chính vì vậy công tác tư vấn về các vấn đề vệ sinh thai nghén vô cùng quan trọng Nó còn góp phần không nhỏ đến việc nâng cao kiến thức cho bà mẹ về công tác chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ và trẻ em Cán bộ y tế phải tư vấn cho các bà mẹ hiểu rõ tầm quan trọng của vệ sinh thai nghén để có chế độ dinh dưỡng, làm việc nghỉ ngơi hợp lý nhằm mục đích nâng cao kiến thức cho bà mẹ về công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em, hạn chế đến mức thấp nhất những tai biến có thể xẩy
ra trong quá trình mang thai cũng như sinh đẻ [2]
Yên Bái là một tỉnh miền núi, nằm ở phía Tây Bắc của Tổ quốc, có tới 30 dân tộc anh em cùng chung sống [8] Toàn tỉnh có 7 huyện, 1 thị xã và 1 thành phố với 180 xã, phường, thị trấn trong đó có 81 xã đặc biệt khó khăn Người dân ở các huyện, thị trong tỉnh chủ yếu là dân tộc thiểu số, trình độ dân trí thấp, phong tục tập quán lạc hậu, giao thông liên thôn, liên xã đặc biệt khó khăn [8] Theo báo cáo công tác chăm sóc sinh sản năm 2017 của Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Yên Bái tổng hợp tổng
số phụ nữ đẻ năm 2017 chung cả tỉnh là 14.371, trong đó số phụ nữ đẻ ở thành phố, thị xã (Gọi chung là thành thị) là 1.579; ở các huyện (nông thôn) là 12.792 Số đẻ được quản lý thai trong cả tỉnh đạt 98.2%, tỷ lệ này ở Thành thị (TT) là 99.4%, ở nông thôn (NT) là 98.0.0% Số phụ nữ đẻ được khám thai 3 lần/3 thai kỳ chung cả tỉnh Yên Bái là 12.814 đạt 89.2%, tỷ lệ này cũng có sự chênh lệch giữa TT (99.5%) với NT (87.9%) Số phụ nữ đẻ được khám thai 4 lần/3 thai kỳ chung cả tỉnh Yên
Trang 11Bái là 4.988 đạt 34.7%, tỷ lệ này cũng có sự chênh lệch giữa TT (67.2%) với NT (30.7%) [7] Cho đến nay chưa có số liệu chính xác về khám thai đủ các bước trong mỗi lần khám thai tại tỉnh Yên Bái Qua số liệu báo cáo của Bệnh viện Sản Nhi về công tác Chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) cho thấy số phụ nữ đẻ được làm xét nghiệm nước tiểu phát hiện Protein trong khi có thai là 14.856 lần, tỷ lệ 1.03 lần/ thai phụ [7] Theo hướng dẫn Quốc gia về các dịch vụ CSSKSS mỗi lần khám thai đều phải làm xét nghiệm nước tiểu [4], một thai phụ phải được làm xét nghiệm
ít nhất 4 lần nhưng từ số liệu trên cho thấy trung bình mỗi thai phụ chỉ được xét nghiệm nước tiểu phát hiện Protein 1.03 lần Điều đó cho thấy trong quá trình khám thai chưa thực hiện đầy đủ 9 bước khám thai hoặc đã thực hiện nhưng chưa nhiều Xuất phát từ thực tế trên để đánh giá sự hiểu biết về kiến thức vệ sinh thai nghén
của phụ nữ mang thai tại tỉnh Yên Bái em thực hiện chuyên đề: Khảo sát kiến thức
vệ sinh thai nghén của phụ nữ mang thai đến khám thai tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Yên Bái năm 2018 nhằm mục tiêu:
1 Thực trạng kiến thức vệ sinh thai nghén của phụ nữ mang thai đến khám thai tại Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Yên Bái năm 2018
2 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao kiến thức vệ sinh thai nghén cho phụ nữ mang thai tại tỉnh Yên Bái
Trang 12CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1 Cơ sở lý luận
1.1 Sự thụ tinh, làm tổ và phát triển của trứng
Thụ tinh, làm tổ và phát triển của trứng là những hiện tượng mở đầu cuộc sống của một con người Suốt trong thời gian thai nghén, phôi và sau đó là thai sống phụ thuộc hoàn toàn vào cơ thể mẹ Vì thế việc chăm sóc bà mẹ trong thời kỳ thai nghén rất quan trọng để có được những thế hệ trẻ em khỏe mạnh, thông minh cho gia đình và xã hội
Thụ tinh là sự kết hợp giữa tế bào sinh dục nam trưởng thành là tinh trùng với tế bào sinh dục nữ trưởng thành là noãn để hình thành 1 tế bào mới duy nhất là trứng được thụ tinh Sau khi thụ tinh, trứng sẽ di chuyển từ nơi thụ tinh (1/3 ngoài của ống dẫn trứng) vào đến tử cung Tại tử cung trứng khoét lớp niêm mạc tử cung
đã dày lên để chui vào, bám rễ làm tổ tại đó và tiếp tục phát triển cho đến khi thai
đủ tháng từ 38 đến 41 tuần [1]
1.2 Những thay đổi giải phẫu sinh lý của người phụ nữ khi có thai
1.2.1 Thay đổi về nội tiết
- Khi đã thụ tinh, hoàng thể của buồng trứng sẽ tồn tại mà không teo đi như trong các vòng kinh không thụ thai, để trở thành hoàng thể thai nghén và tồn tại đến 4 tháng sau mới teo dần Do đó lượng Progesterone và Estrogen tiếp tục duy trì
và tăng lên, đảm bảo cho thai nghén thuận lợi [1]
- Khi bắt đầu làm tổ, các tế bào nuôi của trứng bắt đầu chế tiết một loại nội tiết tố (hormon) thai nghén là HCG (human chorionic gonadotropin), đây là chất nội tiết duy trì sự tồn tại của hoàng thể Có thể phát hiện chất nội tiết nà bằng các phản ứng sinh vật (thỏ hoặc ếch) hoặc phổ biến hiện nay là que thử thai nhanh HCG là hormon gây nên tình trạng nghén của thai phụ Trường hợp thai bị sẩy hay chết trong tử cung, HCG cũng giảm dần và không phát hiện được sau 1 đến 2 tuần lễ [1]
- Khi thai đã ổn định trong tử cung, rau thai được hình thành và phát triển thì chính bánh rau lại là một tuyến nội tiết lớn, chế tiết ra nhiều loại hormon khác nhau trong đó có cả 2 hormon của buồng trứng là Estrogen và Progesterone Từ tháng thứ
4 trở đi hoàng thể thai nghén sẽ teo dần và cuối cùng không tồn tại nữa, cũng vì thế nên HCG giảm dần theo sự teo đi của hoàng thể [1]
Progesterone do hoàng thể tiết ra trong tuần lễ đầu khi mới có thai, sau đó
Trang 13bánh rau sản xuất ra nội tiết tố này, lượng nội tiết này tăng lên đều đặn trong quá trình mang thai, đạt mức cao nhất vào tháng cuối của quá trình thai nghén và giảm thấp xuống một cách đột ngột trước khi chuyển dạ đẻ một vài ngày [11]
Estrogen khi có thai buồng trứng tiết ra sau đó bánh rau sản xuất ra 25mg mỗi ngày có tác dụng làm tăng đường huyết và hoạt động của kháng thể [11]
Aldosteron (ADH) tăng nhiều gây ứ đọng nước và muối trong cơ thể Lactogen rau thai tăng lên đều đặn cùng với sự phát triển của bánh rau trong suốt thai kỳ [11]
Một số tuyến nội tiết khác cũng thay đổi: Tuyến yên phì đại từ 0,6 - 0,86g, tuyến giáp to có thể xuất hiện bướu giáp cổ một thời gian Tuyến cận giáp trạng thường ở tình trạng thiểu năng do can xi được huy động cho thai vì vậy có thể gặp các cơn tetani do hạ canxi máu [11]
1.2.2 Thay đổi giải phẫu sinh lý ở bộ phận sinh dục
1.2.2.1 Thay đổi tại tử cung
Bắt đầu từ lúc có thai trọng lượng tử cung tăng từ 50g đến 1000g ở cuối thai
kỳ [11]
- Thay đổi về sinh lý: Lúc chưa có thai tử cung chắc, lúc có thai dưới tác dụng của nội tiết tố tử cung mềm ra [11]
- Thay đổi ở eo tử cung: Khi chưa có thai eo tử cung dài 0,5cm khi có thai eo
tử cung giãn rộng dần, mỏng và dài biến thành đoạn dưới, đến cuối giai đoạn chuyển dạ dài 10cm [11]
- Thay đổi ở cổ tử cung: Cổ tử cung mềm dần ra, các tuyến ống cổ tử cung không chế tiết hay chế tiết rất ít, chất nhầy cổ tử cung đặc lại bịt kín ống cổ tử cung [11] 1.2.2.2 Thay đổi ở âm hộ âm đạo
Khi có thai âm hộ âm đạo thay đổi âm đạo dài ra và dễ dãn nở, dưới niêm mạc có nhiều tĩnh mạch phát triển nên âm đạo có màu tím [11]
1.2.2.3 Thay đổi ở buồng trứng
Trong 3 tháng đầu hoàng thể tiếp tục phát triển và được gọi là hoàng thể thai nghén, khi thai trên 3 tháng hoàng thể dần dần thoái hóa [11]
1.2.2.4 Thay đổi ở vòi trứng
Trong khi có thai vòi trứng không làm nhiệm vụ gì, tuy nhiên hiện tượng xung huyết và mềm tổ chức cũng đã sảy ra [11]
Trang 141.2.3 Thay đổi giải phẫu sinh lý ngoài bộ phận sinh dục
1.2.3.1 Thay đổi ở da, cân, cơ
Ở da có thể xuất hiện các vết sắc tố (vết rám), ở mặt các vết rám xuất hiện ở
gò má, mặt và cổ tạo cho người phụ nữ có một gương mặt đặc biệt gọi là “gương mặt thai nghén” Ở thành bụng, các sắc tố tập trung ở đường trắng giữa bụng có màu nâu đen, gọi là đường nâu Sau khi đẻ các vết rám này mất đi hoặc nhạt dần Thành bụng giãn nở nên có các vết rạn da, các vết rạn này có thể thấy ở hai hố chậu
và hai bên đùi hoặc vú [11]
1.2.3.2 Thay đổi ở vú
Tuyến sữa và ống dẫn sữa phát triển làm vú to và căng lên, quầng vú sẫm màu, các hạt Montgomery nổi lên đó là các tuyến bã phì đại [11]
1.2.3.3 Thay đổi ở hệ tuần hoàn
Thay đổi về máu: Trong khi có thai khối lượng máu tăng lên khoảng 50%,
bình thường khi chưa có thai khối lượng máu của người phụ nữ là 4 lít thì khi có thai lên đến 6 lít Khối lượng máu bắt đầu tăng trong ba tháng đầu, tăng nhanh trong
ba tháng giữa và cao nhất vào tháng thứ 7 của thời kỳ thai nghén Sau đó khối lượng máu là hằng định trong những tuần cuối của thai nghén Do khối lượng huyết tương tăng nhiều hơn huyết cầu nên số lượng hồng cầu trong máu hơi giảm, tỷ lệ huyết sắc
tố giảm, Hematocrit giảm (bình thường 39,5% còn 38,5% khi thai được 40 tuần) Máu có xu hướng loãng làm cho thiếu máu nhược sắc và giảm áp lực thẩm thấu Vì vậy cần bổ sung sắt cho phụ nữ có thai Bạch cầu gia tăng 7000 lên 10.000 giai đoạn cuối thai nghén Tiểu cầu cũng tăng 300.000 - 400.000/mm [11]
Thay đổi về tim: Nhịp tim tăng 10 đến 15lần/phút, trong trường hợp đa thai
đa ối nhịp tim tăng 25 đến 30 lần/p Cung lượng tim khi có thai tăng lên 50%, bắt đầu tăng khi có thai và tăng dần đến mức cao nhất vào tháng thứ 7, sau đó giảm dần đến khi thai đủ tháng [11] Trong thời kỳ này thường xảy ra các tai biến tim sản trên các sản phụ có sẵn các bệnh tim mạch như (suy tim trái cấp, phù phổi cấp….) [12] Trục tim xoay dần sang trái và lên cao do cơ hoành bị đẩy lên trong khi có thai Tiếng tim nhanh và mạnh hơn có thể nghe được tiếng thổi tâm thu cơ năng do độ nhớt của máu giảm [11] Trên những người không có bệnh lý về tim mạch thì có khả năng hoạt động bù trừ, nếu người phụ nữ mắc các bệnh về tim mạch thì dễ xảy
ra tai biến tim sản do không có khả năng họat động bù trừ [12]
Trang 15Thay đổi về mạch máu: Các mạch máu mềm, dài, to và dễ giãn do đó huyết
áp động mạch không tăng Huyết áp tĩnh mạch ở nửa dưới cơ thể tăng lên do tử cung to chèn ép vào hệ thống tĩnh mạch của nửa dưới cơ thể là nguyên nhân gây phù chi dưới sinh lý ở những tháng cuối [11]
Tóm lại: Trong khi có thai, do nhu cầu nuôi dưỡng thai nên hệ tuần hoàn có
nhiều thay đổi để đảm bảo đủ máu nuôi dưỡng bà mẹ và thai nhi Người phụ nữ có thai cần có chế độ làm việc, sinh hoạt hợp lý, không lao động quá sức mà phải làm việc xen kẽ nghỉ ngơi để không tăng thêm gánh nặng cho tim phòng tránh nguy cơ suy tim thai nghén
1.2.3.4 Thay đổi về hô hấp
Lồng ngực: trong thai kỳ góc sườn hoành mở rộng, đường kính ngang của
lồng ngực tăng khoảng 2 cm, cơ hoành bị đẩy lên cao khoảng 4 cm [11]
Thông khí: Có hai thay đổi quan trọng trong khi có thai là giảm thể tích dự
trữ thở ra (do cơ hoành nâng lên) và tăng thông khí, thể tích khí lưu thông cho một nhịp thở và hấp thu oxy/phút theo tiến triển của thai nghén [11]
Tần số thở: Tăng vừa phải, thai phụ thường thở nhanh và nông, đặc biệt ở
những người đa thai, đa ối [11]
Mức tiêu thụ oxy của người có thai tăng lên 15% tương đương cân bằng thông khí với oxy tăng khoảng 10% trong khi có thai [11] Như vậy khi có thai nếu lao động nặng hoặc gắng sức sẽ làm cho thai phụ thiếu oxy có thể dẫn đến hậu quả suy thai
1.2.3.5 Thay đổi về tiết niệu
Thay đổi về thận: Kích thước của thận hơi tăng lên khi có thai Tốc độ lọc
máu ở cầu thận tăng lên 50%, bắt đầu tăng từ 3 tháng giữa của thời kỳ thai nghén Lưu lượng máu qua thận tăng từ 200ml lên 250ml/phút Các acid amin và các vitamin tan trong nước tìm thấy trong nước tiểu của người phụ nữ có thai nhiều hơn
so với người không có thai Nồng độ ure và creatinin trong huyết thanh của người phụ nữ có thai giảm do tăng tốc độ lọc máu ở cầu thận Trong khi có thai, trong nước tiểu có đường có thể không là hiện tượng bất thường do tốc độ lọc máu ở cầu thận tăng và khả năng tái hấp thu đường ở ống thận không tốt Tuy nhiên cần phải chú ý với đái tháo đường trong khi có thai Protein niệu thường không có trong nước tiểu do vậy khi thấy Protein trong nước tiểu là hiện tượng bất thường Bình
Trang 16thường hồng cầu cũng không có trong nước tiểu nên thấy đái máu phải tìm nguyên nhân các bệnh của đường tiết niệu [11]
Thay đổi ở niệu quản: Phụ nữ có thai sau khi tử cung to lên trên tiểu khung,
tiến vào ổ bụng sẽ đè vào niệu quản Khi niệu quản bị chèn ép sẽ dẫn đến bể thận bị giãn, niệu quản dài ra, cong queo và giảm trương lực, do đó khả năng dẫn nước tiểu
bị giảm xuống Hậu quả có thể gây ra nhiễm trùng đường tiết niệu ngược dòng Hiện tượng giãn niệu quản và giảm trương lực ở 90% phụ nữ có thai đươc 3 tháng Đặc biệt quan trọng đối với bên phải và không liên quan đến số lần đẻ [11]
Sự giãn to này gây ra 3 hậu quả: Đánh giá sai về khối lượng và chất lượng nước tiểu; tăng tỷ lệ nhiễm khuẩn đường tiết niệu; thay đổi hình ảnh đường tiết niệu [11]
Thay đổi ở bàng quang và niệu đạo: Trong những tháng đầu có thai, bàng
quang có thể bị kích thích gây ra tình trạng đái rắt Nếu tử cung ngả sau nó chèn ép vào cổ bàng quang gây bí đái và chèn ép vào trực tràng gây táo bón [11]
Do có sự thay đổi như vậy nên khi có thai người phụ nữ cần tăng cường vệ sinh bộ phận sinh dục ngoài, nên vệ sinh sạch sẽ sau mỗi lần đại, tiểu tiện để giảm nguy cơ nhiễm khuẩn ngược dòng đường tiết niệu
1.2.3.6 Thay đổi về tiêu hóa
Trong 3 tháng đầu thai phụ hay bị buồn nôn hoặc nôn và thích các thức ăn lạ được gọi là nghén Tăng tiết nước bọt nên thai phụ hay nhổ vặt, có trường hợp tiết tới 1lit/ngày Do đó thời gian này thai phụ thường ăn uống kém, từ tháng thứ 4 trở
đi các triệu chứng nghén mất đi thai phụ trở lại ăn uống bình thường [11]
Khi thai phát triển, dạ dày và ruột bị thay đổi vị trí do tử cung to lên, làm cho triệu chứng một số bệnh có thể thay đổi ví dụ ruột thừa thường bị đẩy lên cao hoặc
bị đẩy sang bên khi tử cung to lên [11]
Thời gian tiêu hoá ở dạ dày và ruột non thường kéo dài hơn do ảnh hưởng của các nội tiết tố hoặc yếu tố thực thể Có thể xuất hiện chứng táo bón, trĩ Chứng
ợ nóng cũng khá phổ biến ở phụ nữ có thai do hiện tượng trào ngược của acid vào phần dưới của thực quản Ruột non và đại tràng giảm nhu động do bị chèn ép và giảm trương lực cơ nên hay gây ra táo bón [11]
1.2.3.7 Thay đổi về hệ thống xương
Các xương bị ngấm nước và mềm hơn so với trước khi có thai, đặc biệt có
Trang 17thể gặp tình trạng loãng xương do canxi đươc huy động để tạo bộ xương cho thai nhi Cột sống cũng thay đổi, đoạn thắt lưng và cổ ưỡn ra phía trước do đó đoạn ngực và cùng cụt cong ra sau nhiều hơn so với trước khi có thai Trong những tháng cuối của thai nghén có thể gặp các hiện tượng tê bì, đau hay mỏi yếu ở chi trên Nguyên nhân do thay đổi ở cột sống và đai vai hạ thấp xuống kéo vào dây thần kinh trụ và giữa [11]
Các khớp mềm và dãn ra; các dây chằng cũng ngấm nước và mềm đi Ở vùng chậu hông các khớp vệ, khớp cùng chậu, khớp cùng cụt giãn rộng và mềm ra làm cho khung chậu dễ thay đổi, tăng độ rộng giúp cho cuộc đẻ dễ dàng hơn [11]
Khi có thai, hệ thống xương có sự thay đổi như vậy nên để tránh tổn thương đến xương khớp, thai phụ nên vận động nhẹ nhàng, không nên mang vác nặng trên đầu, trên vai; không làm việc trên cao có thể bị ngã; không đi giầy dép cao gót; không nên cúi nhiều, cúi lâu cũng gây ảnh hưởng đến hệ thống xương
1.2.3.8 Thay đổi về thần kinh
Trong khi có thai người phụ nữ có các thay đổi về tâm lý, cảm xúc, hay cáu gắt, dễ thay đổi tính tình, trí nhớ giảm, mất ngủ Ngoài ra còn có các thay đổi về hệ thống thần kinh giao cảm và phó giao cảm Những triệu chứng buồn nôn, kém ăn, mất ngủ trong những tháng đầu có thể do nguyên nhân thay đổi về thần kinh Tuy nhiên các thay đổi về thần kinh đều có liên quan mật thiết với thay đổi về nội tiết Các dấu hiệu trên người ta nghĩ nhiều đến cơ chế thần kinh và nội tiết [11]
Nếu cuộc sống gia đình hạnh phúc, thai nghén lần này là niềm mong ước, khi thai nghén sẽ có nhiều thuận lợi không chỉ riêng về mặt tâm lý, tinh thần Ngược lại hoàn cảnh gia đình có khó khăn về kinh tế hoặc có bất đồng trong quan hệ vợ chồng hay với các thành viên khác trong gia đình, thai nghén lần này không được mong đợi thì tâm trạng và tinh thần của thai phụ nhất định sẽ ảnh hưởng xấu đến thai nghén và sự phát triển của thai nhi
1.2.3.9 Một số thay đổi khác
- Nhiệt độ: Do tác động của hoàng thể thai nghén nên thân nhiệt cao trên
- Trọng lượng cơ thể: Có thể tăng lên trên 25% so với khi không mang thai, trung bình khi mang thai tăng 12kg Tăng cân chủ yếu vào nửa sau của thời kỳ thai nghén [11]
Trang 18- Chuyển hóa: Nhu cầu năng lượng cần khoảng 2500cal/ngày [11]
Thai nghén bình thường có 1 số chuyển hóa sau: Giảm đường huyết trung bình khi nhịn ăn, tăng đường huyết sau bữa ăn và tăng insulin huyết Những đặc điểm này cung cấp glucose liên tục đến thai nhi Nếu tuyến tụy không cung cấp đủ insulin có thể dẫn đến đái tháo đường thai nghén [11]
1.3 Các nguy cơ có thể gặp trong thời kỳ thai nghén [5]
1.3.1 Nhóm nguy cơ có liên quan tới cơ địa của thai phụ
- Tuổi của thai phụ: Dưới 16 tuổi hoặc trên 35 tuổi
- Thể trạng của thai phụ:
+ Quá béo hoặc quá gầy: cân nặng trên 70 kg hoặc dưới 40 kg
+ Chiều cao từ 1,45 m trở xuống
+ Bất thường về khung chậu: lệch, vẹo, biến dạng
- Những bất thường về giải phẫu của đường sinh dục như tử cung đôi, tử cung hai sừng, vách ngăn tử cung….dễ gây đẻ non
1.3.2 Nhóm nguy cơ liên quan tới bệnh tật của mẹ có từ trước
- Cao huyết áp: Nguy cơ tai biến cho mẹ và thai (tiền sản giật nặng, sản giật; rau bong non; xuất huyết não…), có thể dẫn đến tử vong
- Bệnh thận: Nguy cơ cao huyết áp mạn dẫn tới tiền sản giật, sản giật, suy thận…
- Bệnh đái đường: Làm cho bệnh nặng lên trong khi mang thai, có thể gây ra biến chứng như: tăng huyết áp, tiền sản giật và sản giật, sẩy thai và thai lưu, nhiễm trùng tiết niệu, đẻ non, đa ối, thai to hoặc thai chậm phát triển trong tử cung, hội chứng suy hô hấp cấp ở sơ sinh làm tăng tỷ lệ tử vong chu sinh, dị tật bẩm sinh, hạ đường huyết sơ sinh, hạ canxi máu sơ sinh…
- Bệnh tim: Đặc biệt là bệnh tim có biến chứng gây tử vong cao
- Bệnh nội tiết: Basedow, đái tháo đường dễ gây biến chứng cho mẹ và cho thai nhi
- Rối loạn hệ miễn dịch, bệnh tạo keo
- Bệnh ác tính của mẹ: ung thư vú, ung thư cổ tử cung, ung thư buồng trứng…
- Bệnh nhiễm khuẩn cấp hoặc mạn tính: lao phổi, thương hàn…
Trang 19- Bệnh lây truyền qua đường tình dục: Chlamydia trachomatis, herpes sinh dục, HPV, lậu, giang mai, HIV
- Bệnh do virus: viêm gan virus, rubella
- Bệnh do ký sinh trùng: sốt rét cơn, Trichomonas âm đạo
- Bệnh não: viêm não, động kinh, tâm thần
- Nhiễm khuẩn tiết niệu - sinh dục: tụ cầu, Coli, Proteus
- Bệnh di truyền hoặc các yếu tố nguy cơ có tính chất gia đình như: chảy máu, tiểu đường, sinh đôi, đa thai…
- Tiền sử bệnh ngoại khoa: vỡ xương chậu, bệnh trĩ, tạo hình bàng quang do chấn thương…
1.3.3 Nhóm bệnh và các yếu tố bất thường phát sinh trong kỳ thai này
- Nôn nặng trong 3 tháng đầu Cao huyết áp, tiền sản giật, sản giật
- Ra máu âm đạo Chấn thương
- Nhiễm khuẩn đường tiết niệu
- Nhức đầu, hoa mắt, chóng mặt, ù tai
- Thai quá ngày sinh Thai kém phát triển
- Các ngôi thai không thuận lợi
- Song thai, đa thai Đa ối, thiểu ối
- Ra nước âm đạo do rỉ nước ối hay vỡ ối non
- Các lần đẻ quá gần hoặc quá xa nhau
- Tiền sử đẻ băng huyết
- Tiền sử đẻ non, con dưới 2500g gây nguy cơ cho sơ sinh
- Điều trị vô sinh
- Bất đồng nhóm máu ABO, yếu tố Rh gây nguy cơ cho thai
- Tiền sử tiền sản giật, sản giật dễ bị lại ở những lần có thai sau
Trang 20- Tiền sử đẻ lần trước trẻ bị dị tật bẩm sinh
- Tiền sử bị đình chỉ thai nghén do bệnh lý
- Tiền sử mổ lấy thai; hoặc tiền sử đẻ Forceps, giác hút
1.3.5 Nhóm nguy cơ cao có liên quan tới yếu tố xã hội
Liên quan tới nhóm này, phải kể đến các yếu tố như nghèo đói, trình độ văn hoá thấp, ở xa cơ sở y tế, giao thông vận tải không thuận tiện Tất cả những yếu tố trên đều là những yếu tố nguy cơ cao cho quá trình mang thai và sinh đẻ [5]
1.4 Vệ sinh thai nghén
1.4.1 Chế độ dinh dưỡng
Chế độ dinh dưỡng có ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe của mẹ và sự phát triển của thai nhi Dinh dưỡng tốt, không chỉ giúp người mẹ đáp ứng đầy đủ các hoạt động, sinh hoạt hàng ngày của cơ thể, mà còn đáp ứng những thay đổi sinh lý về chuyển hóa, tích lũy mỡ, tăng cân, tăng khối lượng tử cung do mang thai Dinh dưỡng hợp lý khi mang thai còn giúp người mẹ có đủ dự trữ cần thiết để có đủ sữa sau sinh Vì vậy, chế độ dinh dưỡng, cách ăn uống của người phụ nữ khi mang thai đặc biệt quan trọng, mỗi người phụ nữ cần quan tâm tới khẩu phần ăn của mình lúc mang thai một cách khoa học, đạt được mức tăng cân phù hợp với tình trạng dinh dưỡng trước khi mang thai Những người mẹ bị thiếu năng lượng trường diễn từ trước khi mang thai và chế độ dinh dưỡng kém trong thời gian mang thai dễ sinh ra những đứa trẻ nhẹ cân, suy dinh dưỡng [6]
Mức tăng cân trong thai kỳ: Tăng cân là biểu hiện tích cực cho thấy sự
phát triển của thai nhi, tăng cân của người mẹ lúc mang thai phụ thuộc vào giai đoạn thai kỳ và tình trạng dinh dưỡng trước khi mang thai Tùy theo tình trạng dinh dưỡng (chỉ số khối cơ thể: BMI) trước khi có thai của người mẹ để khuyến nghị mức tăng cân [6]:
- Tình trạng dinh dưỡng Bình thường BMI 18.5 - 22.9 tăng 10 - 12kg
- Tình trạng thiếu dinh dưỡng BMI <18.5 cần tăng > 10kg
- Tình trạng dinh dưỡng thừa cân BMI ≥ 23 cần tăng tối thiểu 6-8kg
1.4.1.1 Dinh dưỡng trong giai đoạn thai 3 tháng đầu [6]
- Đây là giai đọan hình thành các cơ quan, tổ chức của thai nhi như tủy sống, não, tim, phổi, gan… nên cần ăn tăng cường các thực phẩm giàu đạm như: trứng, sữa, thịt, đậu đỗ và chia lượng thức ăn trong ngày thành nhiều bữa nhỏ để bớt cảm
Trang 21giác nghén Ngoài việc bổ sung đầy đủ dinh dưỡng trong chế độ ăn, bà mẹ cần uống
bổ sung sắt và acid folic hoặc đa vi chất theo qui định của y tế
- Dinh dưỡng hợp lý, khắc phục tình trạng nghén để đạt mức tăng cân phù hợp với tình trạng dinh dưỡng trước khi mang thai (bình thường là tăng 1kg)
1.4.1.2 Dinh dưỡng trong giai đoạn 3 tháng giữa
Đây là giai đoạn thai phát triển nhanh vì vậy cần tăng đáp ứng năng lượng cho bà mẹ khi có thai Theo nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị của Viện Dinh dưỡng năm 2016, mức năng lượng khuyến nghị hàng ngày khi có thai 3 tháng giữa thai kỳ, khẩu phần ăn nên nhiều hơn sao cho năng lượng cung cấp tăng 250 kcal/ngày (tương đương một bát cơm và thức ăn hợp lý) Giai đọan 3 tháng giữa của thai kỳ là giai đoạn phát triển về khung xương, chiều cao của trẻ nên chú ý ăn các thực phẩm giàu can xi, kẽm như: tôm, cua, trứng, sữa, thủy sản Cần bảo đảm cung cấp đủ canxi 1200mg/ngày, vì thể ngoài chế độ ăn thông thường cần uống thêm 6 đơn vị sữa/ngày Thai phụ tiếp tục uống bổ sung viên sắt/acid folic hoặc viên đa vi chất theo qui định [6]
1.4.1.3 Dinh dưỡng trong giai đoạn 3 tháng cuối
Giai đoạn 3 tháng cuối thai kỳ là giai đoạn tốc độ phát triển cân nặng của thai nhi nhanh nhất, vì vậy dinh dưỡng thai phụ cần đảm bảo đầy đủ, đa dạng đáp ứng nhu cầu của thai nhi, đặc biệt cần:
- Tăng năng lượng bữa ăn như: nhu cầu về năng lượng của thai phụ theo nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị của Viện Dinh dưỡng về mức năng lượng khuyến nghị hàng ngày khi có thai 3 tháng cuối là năng lượng cung cấp tăng 450 kcal/ngày (tương đương 2 miệng bát cơm và thức ăn hợp lý) Về tính cân đối của khẩu phần cần đảm bảo số lượng chất béo và chất lượng chất béo (cân đối giữa chất béo động vật và thực vật, đủ các acid béo không no cần thiết) [6]
- Tăng cường bổ sung dinh dưỡng thông qua đa dạng thực phẩm: Bổ sung chất đạm, chất béo giúp xây dựng và phát triển cơ thể thai nhi: Ngoài cơm (và lương thực khác) ăn đủ no, bữa ăn của bà mẹ có thai cần bổ sung thêm chất đạm, chất béo giúp việc xây dựng và phát triển cơ thể của trẻ Trước hết cần chú ý đến các nguồn chất đạm từ các thức ăn sẵn có như: trứng, cá, tôm, cua, thịt, đậu đỗ các loại (đậu tương, đậu xanh…) và vừng, lạc Đây là những thức ăn có hàm lượng đạm cao, lại có thêm lượng chất béo giúp tăng năng lượng bữa ăn và giúp hấp thu tốt các