1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng công tác giáo dục sức khỏe cho bà mẹ sau sinh của điều dưỡng tại bệnh viện đa khoa thành phố thái bình năm 2019

34 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 800,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH NGUYỄN THỊ MINH PHƯƠNG THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC SỨC KHỎE CHO BÀ MẸ SAU SINH CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ THÁI BÌNH NĂM 20

Trang 1

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

NGUYỄN THỊ MINH PHƯƠNG

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC SỨC KHỎE CHO BÀ MẸ SAU SINH CỦA ĐIỀU DƯỠNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ THÁI BÌNH NĂM 2019

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

NAM ĐỊNH - 2019

Trang 2

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

NGUYỄN THỊ MINH PHƯƠNG

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC SỨC KHỎE CHO BÀ MẸ SAU SINH CỦA ĐIỀU DƯỠNG

TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ THÁI BÌNH NĂM 2019

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP Chuyên ngành: Điều dưỡng Sản phụ khoa

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:

PGS TS LÊ THANH TÙNG

NAM ĐỊNH - 2019

Trang 4

i

LỜI CẢM ƠN Lời đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến những thầy cô giáo Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định Những người thầy cô đã giúp đỡ tôi trong suốt quãng thời gian 2 năm học, cũng như trong quá trình làm chuyên đề tốt nghiệp Tôi xin cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau Đại học, Khoa Y học lâm sàng, Bộ môn Sản Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định

Ban Giám đốc, Khoa Sản - Bệnh viện Đa khoa Thành phố Thái Bình nơi tôi đang công tác đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập

và hoàn thành chuyên đề này

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS.TS Lê Thanh Tùng Hiệu Trưởng Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định Thầy luôn tận tình dạy dỗ, chỉ bảo, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập Thầy đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình làm chuyên

đề tốt nghiệp

Xin được gửi lời cảm ơn tới các anh chị đồng nghiệp, các bác sỹ, điều dưỡng, các bạn đồng nghiệp Khoa Sản - Bệnh viện Đa khoa Thành phố Thái Bình, các bạn lớp Chuyên khoa I - Khóa 6, Chuyên ngành Phụ sản đã luôn giúp đỡ, động viên góp ý cho tôi trong quá trình học tập và làm báo cáo chuyên đề tốt nghiệp Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình, luôn

là hậu phương vững chắc cho tôi trong 2 năm học qua Xin chân thành cảm ơn những sản phụ đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thiện chuyên đề Với thời gian thực hiện chuyên đề gần 3 tháng, do trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên bài báo cáo không tránh khỏi những sai sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp từ các Quý thầy, cô và các bạn cùng lớp để tôi hoàn thành tốt hơn bài báo cáo chuyên đề tốt nghiệp này

Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!

Nam Định, tháng 7 năm 2019

Học viên

Nguyễn Thị Minh Phương

Trang 5

ii

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là báo cáo chuyên đề của riêng tôi Nội dung trong bài báo cáo này hoàn toàn trung thực, khách quan và chưa được áp dụng Báo cáo này

do bản thân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của Giảng viên hướng dẫn Nếu có điều gì sai trái tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Người làm báo cáo

Nguyễn Thị Minh Phương

Trang 6

iii

MỤC LỤC

Lời cảm ơn ……… i

Lời cam đoan ……… ii

Mục lục ……… iii

Danh mục các từ viết tắt ……….……iv

Danh mục Bảng, Hình ảnh ……… v

Đặt vấn đề 1

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn 3

1.1 Cơ sở lý luận 3

1.1.1 Khái niệm 3

1.1.2 Những thay đổi sinh lý khi mang thai 3

1.1.3 Những thay đổi sau đẻ 3

1.1.4 Nội dung tư vấn sau 4

1.2 Cơ sở thực tiễn 11

1.2.1 Các quy định về giáo dục sức khỏe cho người bệnh 11

1.2.2 Thực trạng các biện pháp giáo dục sức khỏe sinh sản đang được triển khai ở Việt Nam 12

Chương 2: Liên hệ thực tiễn 14

2.1 Khái quát sơ lược về Bệnh viện Đa khoa Thành phố Thái Bình 14

2.2 Khoa Sản - Bệnh viện Đa khoa Thành Phố Thái Bình 15

2.3 Tình hình công tác giáo dục sức khỏe 17

2.4 Những ưu điểm và những điểm còn tồn tại trong công tác giáo dục sức khỏe cho bà mẹ sau sinh tại Khoa Sản - Bệnh viện Đa khoa Thành phố Thái Bình năm 2019 20

3.4.1 Về ưu điểm 20

3.4.2 Những điểm tồn tại 20

3.5 Nguyên nhân của những việc đã làm được và chưa làm được 21

Chương 3: Một số đề xuất, giải pháp 22

KẾT LUẬN 24

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Formatted: Font color: Auto

Trang 7

iv

Trang 9

vi

DANH MỤC BẢNG, HÌNH ẢNH

Hình 1.1: Ô vuông thức ăn 9

Hình 2.1: Bệnh viện Đa khoa Thành phố Thái Bình 15

Hình 2.2: Khoa Sản - Bệnh viện Đa khoa Thành Phố Thái Bình 16

Hình 2.3: Hình ảnh làm việc của cán bộ Khoa Sản 16

Hình 2.4: Theo dõi sản phụ sau sinh để phát hiện kịp thời chảy máu 19

Hình 2.5: Hướng dẫn cho con bú 20

Trang 10

1ĐẶT VẤN ĐỀ Giáo dục sức khỏe (GDSK) là quá trình tác động nhằm thay đổi kiến thức, thái độ và thực hành của con người Phát triển những thực hành lành mạnh mang lại tình trạng sức khỏe tốt nhất có thể được cho con người

GDSK cung cấp các kiến thức mới làm cho đối tượng được giáo dục hiểu biết rõ hơn các vấn đề sức khỏe bệnh tật, từ đó họ có thể nhận ra các vấn đề sức khỏe bệnh tật liên quan đến bản thân, gia đình, cộng đồng nơi họ đang sinh sống, dẫn đến thay đổi tích cực giải quyết các vấn đề bệnh tật sức khỏe

Có thể nhận thấy rằng định nghĩa này nhấn mạnh đến 3 lĩnh vực của giáo dục sức khỏe là: Kiến thức của con người về sức khỏe; Thái độ của con người về sức khỏe; Thực hành của con người về sức khỏe [5] Giáo dục sức khỏe là 1 quá trình nên cần tiến hành thường xuyên, liên tục, lâu dài bằng nhiều biện pháp khác nhau chứ không phải là một công việc có thể làm một lần là xong [1] Vì vậy, để thực hiện công tác giáo dục sức khỏe chúng ta phải có sự đầu tư thích đáng, hết sức kiên nhẫn thì mới đem lại hiệu quả cao

Giáo dục sức khỏe chính làm quá trình dạy học có mối quan hệ qua lại hai chiều GDSK không chỉ là cung cấp thông tin một chiều mà là quá trình tác động hai chiều và hợp tác giữa người giáo dục sức khỏe và đối tượng được giáo dục sức khỏe Ở đây, vai trò của giáo dục sức khỏe là tạo những hoàn cảnh thuận lợi cho mọi người tự giáo dục mình Biến quá trình giáo dục thành quá trình tự học, quá trình đó diễn ra thông qua sự nỗ lực của người học (đối tượng được giáo dục sức khỏe) với sự giúp đỡ, tạo ra hoàn cảnh thuận lợi của người dạy Từ sơ đồ trên cho thấy mối quan hệ giữa người làm giáo dục sức khỏe và đối tượng được giáo dục sức khỏe Người làm công tác giáo dục sức khỏe không chỉ dạy cho học viên của mình

mà còn học từ học viên của mình Thu nhận thông tin phản hồi là vấn đề hết sức quan trọng mà người làm công tác giáo dục sức khỏe cần phải hết sức quan trọng,

đề kịp thời điều chỉnh bổ sung những thông tin thiết sót làm cho các chương trình giáo dục sức khỏe thêm sinh động và thu hút sự quan tâm của cộng đồng

Giáo dục sức khỏe không chỉ là cung cấp các thông tin chính xác, đầy đủ về sức khỏe bệnh tật mà còn nhấn mạnh đến các yếu tố khác ảnh hưởng đến hành vi sức khỏe con người như là: nguồn lực hiện có, sự lãnh đạo của cộng đồng, hỗ trợ xã

Trang 11

2hội, kỹ năng tự chăm sóc sức khỏe… Vì thế GDSK sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để giúp cho mọi người hiểu được hoàn cảnh riêng của họ và chọn các hành động tăng cường sức khỏe thích hợp

Vấn đề chăm sóc sau đẻ là vấn đề hết sức quan trọng nhằm hạn chế các tai biến, giảm tỷ lệ tử vong sau đẻ Trong nhiều biến chứng thì hiện tượng chảy máu sau đẻ vẫn đang là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong mẹ ở các nước thu nhập thấp và là nguyên nhân trực tiếp của ¼ số ca tử vong trên toàn cầu [2] Năm 2011, ở Việt Nam có 289 ca tử vong mẹ trên cả nước, với tỷ lệ tử vong mẹ trong chuyển dạ

và 24 giờ đầu sau đẻ chiếm 45% tổng số Trong số các bà mẹ tử vong do chuyển dạ thì 47% nguyên nhân là do chảy máu sau đẻ [8]

Trong các chăm sóc của người điều dưỡng thì giáo dục sức khỏe đóng vai trò quan trọng trong thành công của quá trình Hầu hết các sản phụ đều thiếu kiến thức

về chăm sóc sinh sản, nhất là trong thời gian ngay sau đẻ và đặc biệt với những sản phụ đẻ lần đầu Thiếu kiến thức về chăm sóc hậu sản cũng như trẻ sau đẻ có thể dẫn tới những biến chứng nguy hiểm cho cả mẹ và bé Nhất là khi những phong tục cổ truyền đang ảnh hưởng rất lớn đến rất nhiều sản phụ Vì vậy, công tác GDSK cho phụ nữ sau sinh cũng là một phần hết sức quan trọng cần được chú trọng

Để đánh giá một cách khách quan cũng như tìm hiểu việc thực hiện công tác GDSK cho phụ nữ sau sinh tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Thái Bình, nhằm đưa

ra các khuyến nghị, góp phần nâng cao nhận thức cho phụ nữ sau sinh và gia đình

về những việc cần thiết phải chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ và trẻ sơ sinh để phụ nữ sau sinh có đủ kiến thức và kỹ năng chăm sóc trẻ, giúp cho bà mẹ và trẻ sơ sinh khỏe mạnh Vì vậy tôi đã chọn chuyên đề: “Thực trạng công tác giáo dục sức khỏe cho phụ nữ sau sinh của điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Thái Bình năm 2019” với hai mục tiêu:

1 Mô tả công tác giáo dục sức khỏe cho bà mẹ sai sinh của điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Thái Bình năm 2019

2 Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao công tác giáo dục sức khỏe cho bà mẹ sau sinh của điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Thái Bình năm 2019

Trang 12

3CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái niệm

Tư vấn giáo dục sức khỏe là một kiểu truyền thông trực tiếp đặc biệt, đây là quá trình truyền thông trực tiếp cho cá nhân, trong đó cán bộ tư vấn giúp đối tượng đưa ra quyết định và hành động theo những quyết định này, thông qua việc việc cung cấp những thông tin khách quan và chia sẻ về mặt tình cảm

Quá trình tư vấn giúp đối tượng học cách nào để hoàn thiện sự phát triển nhân cách, cải thiện các mối quan hệ xã hội, giải quyết các vấn đề, đưa ra các quyết định và thay đổi hành vi

Thai nghén (tiếng Latin graviditas) là việc mang một hay nhiều con, được

gọi là một bào thai hay phối thai, bên trong tử cung của một phụ nữ trong một lần thai nghén, có thể có nhiều bào thai, như trong trường hợp sinh đôi sinh ba [10]

1.1.2 Những thay đổi sinh lý khi mang thai

Thay đổi của vú nhìn thấy được trong thời kỳ mang thai Các quầng vú lớn hơn và sẫm màu hơn

Những thay đổi về sắc tố da mặt khi mang thai

Khi mang thai, người phụ nữ trải qua rất nhiều thay đổi sinh lý, chúng hoàn toàn bình thường, gồm tim mạch, huyết học, trao đổi chất, thận và hô hấp và chúng trở nên rất quan trọng trong những trường hợp biến chứng Cơ thể phải thay đổi các

bộ máy sinh lý và cân bằng nội môi trong thai kỳ để đảm bảo phôi được cung cấp đầy đủ các nhu cầu Những sự gia tăng về đường máu, lượng hơi thở và hô hấp là hoàn toàn cần thiết Những mức dộ progesterone và oestrogen gia tăng trong suốt thai kỳ, chế áp trục dưới đồi và sau đó là chu kỳ kinh nguyệt [10]

1.1.3 Những thay đổi sau đẻ

Ngay sau khi sinh người sản phụ sẽ có những vấn đề lớn sau sinh như các triệu chứng bình thường của sản phụ ngay sau sinh (sản dịch, vết khâu/vết cắt, sữa

và việc nuôi con) đặc biệt trong những ngày đầu Theo nhiều nghiên cứu thì tỷ lệ bà

Trang 13

mẹ hiểu biết về thai nghén, hậu sản và nuôi con là khá thấp [11] Do đó hầu hết các

bà mẹ gặp vấn đề về việc thay đổi lớn này

Sau khi sinh người phụ nữ phải đối mặt với rất nhiều vấn đề về cơ thể: Đau đớn phải trải qua do quá trình sinh con, thậm chí phải mổ đẻ, đau có thể kéo dài một vài tuần sau sinh Những vấn đề về tâm lý như khi con ra đời, người mẹ thường cảm thấy mình trở nên xấu xí và không còn sự hấp dẫn nữa Họ thường phải thay đổi về cách sống để chăm sọc con, đặc biệt đối với những người lần đầu làm mẹ, thường quá lo lắng về trách nhiệm làm mẹ của mình, mong muốn là người mẹ hoàn hảo Có một tỷ lệ khoảng 70-80% các bà mẹ có những cảm giác buồn thoáng qua, còn gọi là

“baby blues” - buồn sau sinh, là một trạng thái biến đổi cảm xúc nhẹ, xuất hiện trong vòng mấy ngày đầu sau khi sinh con [8] Những biểu hiện chính của buồn sau sinh gồm: giảm khí sắc, dao động cảm xúc, buồn rầu, ủ rũ, lo âu, dễ cáu gắt, rối loạn giấc ngủ Các rối loạn này kéo dài khoảng 5-10 ngày rồi tự mất đi hoàn toàn Đây là

do thay đổi hormon sau sinh Nhưng nếu những biểu hiện này kéo dài hơn hai tuần, bạn đã mắc trầm cảm Ngay sau khi sinh, sự sụt giảm nhanh chóng nồng độ estrogen và progesterone, nồng độ hormon tuyến giáp thyroid cũng giảm, dẫn đến mệt mỏi, trầm cảm Suy giảm nồng độ hormon cùng với sự thay đổi về huyết áp, chức năng của hệ miễn dịch và những biến đổi về chuyển hóa mà bà mẹ sau sinh phải trải qua là một phần trong căn nguyên gây trầm cảm

Do đó sản phụ cần được tư vấn giải thích những vấn đề liên quan đến chăm sóc sau sinh, cách nuôi con bằng sữa mẹ, cũng như giải thích các vấn đề mà sản phụ còn lo lắng

1.1.4 Nội dung tư vấn sau sinh (Tài liệu hướng dẫn chăm sóc sức khỏe sinh sản -

Bộ Y tế)

Trong khoảng 6 tuần của giai đoạn hậu sản, các cơ quan trong cơ thể người

mẹ, nhất là cơ quan sinh dục sẽ dần trở về trạng thái bình thường như trước khi có thai trừ tuyến vú vẫn tiếp tục phát triển để tiết ra sữa

Trong khoảng thời gian này, có những vấn đề cần theo dõi là sự co hổi tử cung, tiết sản dịch, sự tiết sữa, những thay đổi tổng quát khác và phát hiện nhiễm trùng hậu sản

Sự thu hồi tử cung

Trang 14

5Bình thường ngay sau khi lấy rau thai ra, tử cung sẽ co hồi thành một khối cầu an toàn Ngày đầu sau sinh, đáy tử cung cao khoảng 13cm trên khớp vệ, trung bình mỗi ngày tử cung co nhỏ đi 1cm Sau ngày thứ 12-13, tử cung co hồi nhỏ lại bình thường, đủ để nằm gọn trong cùng chậu, không còn sờ thấy đáy tử cung trên bụng nữa [10], [11]

Tử cung bắt đầu co hồi ngay sau khi bé ra đời, và việc cho con bú mẹ sớm sẽ giúp quá trình này diễn ra nhanh và hiệu quả hơn Sự co hồi tử cung ở con so nhanh hơn con rạ, ở người cho con bú nhanh hơn người không cho con bú Khi tử cung bị nhiễm trùng, sự co hồi tử cung sẽ chậm hơn bình thường

Nếu bị nhiễm trùng sản dịch có mùi hôi, có thể có lẫn mủ

Vết khâu tầng sinh môn

Nếu tầng sinh môn bị rách hay cắt khi sinh thì có thể khâu lại Vết khâu tầng sinh môn cần được kiểm tra (xem có bị sưng nề, bầm tím, đỏ, đau nhiều, có tụ máu

âm hộ, âm đạo, chân chỉ có mủ ) và sát khuẩn 3 lần mỗi ngày bằng thuốc sát trùng, sản phụ nên tự rửa sau khi tiểu tiện, thay băng vệ sinh sạch nhiều lần trong ngày, tránh tình trạng ẩm ướt kéo dài, vết khâu tầng sinh môn sẽ chậm liền và dễ nhiễm trùng, tập đi tiểu, ngồi dậy đi lại, tránh bị táo bón Kháng sinh thường được bác sỹ cho sử dụng trong 5 ngày Nếu vết khâu tầng sinh môn tốt và lớp da khâu bằng chỉ không tiêu thì thường sẽ được cắt chỉ vào ngày thứ 5 sau sinh

Sự tiết sữa

Sau khi sinh, lượng sữa non tăng dần lên Vào khoảng ngày thứ 3 sau sinh có hiện tượng lên sữa (ở người sinh con so là từ 3-5 ngày, người sinh con rạ là từ 2-3 ngày sau đẻ) Sản phụ sẽ thấy vú căng cứng, đau nhức, có thể sốt nhẹ (38-38,5oC), đôi khi kèm nhức đầu, khó chịu Tình trạng căng sữa có thể kéo dài 24-48 tiếng, sau

Trang 15

đó sữa thực sự chảy ra [9] Nếu căng sữa nên cho trẻ bú thường xuyên hơn, bú đúng

cách và vắt sữa dư thừa

Những thay đổi tổng quát

Bình thường, toàn trạng sản phụ tốt, thân nhiệt bình thường (trừ lúc lên sữa

có thể sốt nhẹ) Sản phụ có thể rét run sau khi sinh do sự mất nhiệt và mệt mỏi khi

rặn sinh, rét run ngắn hạn và mau hết

Sau sinh, sản phụ có thể cảm giác lạnh và trẻ cũng cần hơi ấm vì trẻ mới sinh

dễ mất nhiệt ra môi trường ngoài nên phải giữ ấm đủ cho cả con và mẹ Tuy nhiên,

ở các nơi nhiệt độ môi trường cao, việc nằm hơ lửa như xưa là không cần thiết, đôi

khi còn mang lại những điều tai hại như làm mẹ và con đổ mồ hôi suốt cả ngày làm

cho cơ thể mất nước, da ẩm thường xuyên khiến bị hăm lở, vi trùng dễ phát triển

gây viêm da hoặc gây ra tai nạn ngoài ý muốn như tàn lửa có thể gây bỏng cho mẹ

và con nếu sơ ý… Nếu ở những nơi lạnh như vùng núi, cao nguyên hay vào mùa

đông lạnh có gió bấc… sản phụ có thể nằm phòng kín đáo tránh gió lùa sau sinh, sử

dụng máy sưởi, chăn ấm, nhưng không nên sưởi bằng than tổ ong vì dễ ngạt hơi

độc

Sản phụ và trẻ nên ra ngoài phòng phơi nắng vào buổi sáng (trước 9 giờ)

khoảng một vài tuần sau sinh, hít thở không khí trong lành và vận động nhẹ nhàng

Dù đau, hãy cố gắng vận động lại sớm sau sinh để cơ thể phục hồi tốt hơn

Sau khi sinh, người mẹ chỉ nằm bất động trên giường 8-10 giờ (24 giờ với người

sinh mổ), sau đó nên đi lại nhẹ nhàng [1], [5] Tuy nhiên, ban đầu, sản phụ cần ngồi

dậy từ từ, hít thở sâu, rồi chậm rãi đưa chân xuống đất trước khi dứng thẳng dậy

Nếu thấy chóng mặt, sản phụ cần nằm xuống để máu lưu thông lên não, tránh hiện

tượng choáng ngất, bị ngã

Nếu chuyển dạ kéo dài hay trong những trường hợp sinh khó có thể bị bí tiểu

(do đầu thai nhi đè lên bàng quang trong một thời gian lâu làm liệt bàng quang)

Trong trường hợp bị bí tiểu, sản phụ có thể chườm nóng, xoa bụng dưới…

Nhu động ruột có thể giảm nên sản phụ dễ bị táo bón sau sinh Nên tránh để

bị táo bón bằng cách ăn nhiều rau, trái cây, uống nhiều nước Trong trường hợp bị

trĩ, có thể dùng thuốc bôi để đỡ đau

Formatted: Font: Not Bold

Trang 16

Da là một cơ quan rất nhạy cảm và cần được bảo vệ Nếu kiêng nước, không tắm rửa sạch sẽ thường xuyên, các lỗ chân lông sẽ bị bịt lại và vi trùng có cơ hội phát triển gây viêm da, ngứa ngáy và cơ thể có mùi hôi rất khó chịu Nên tắm bằng nước ấm, trong phòng kín, tránh gió lùa, không nên ngâm mình lâu trong nước, lau khô và mặc đủ ấm sau khi tắm Có thể tắm gội sau vài ngày sinh nhưng không nên tắm bồn Nếu mệt sản phụ không nên tắm gội cùng một lúc và đừng đứng cúi lom khom sẽ dễ gây chóng mặt, ngã quỵ

Trong tháng đầu, bé thường hay thức nhiều về đêm và sản phụ phải thức theo, vì vậy nên tranh thủ ngủ những lúc trẻ ngủ Có thể vắt sữa cho vào bình tiệt trùng bảo quản trong tủ lạnh vài giờ nhờ người thân cho trẻ uống một vài lần vào ban đêm để tránh sản phụ bị mất ngủ nhiều quá

Cho con bú

Sản phụ nên cho con bú sữa mẹ sớm ngay sau sinh nếu không có chống chỉ định của bác sỹ vì sữa mẹ kinh tế hơn, tiện dụng, dễ bảo quản, cho con bú sẽ thắt chặt tình cảm mẹ con, giúp tử cung co hồi tốt hơn trong thời kỳ hậu sản, có thể phòng thiếu máu, mẹ chậm có kinh lại 8 tháng sau sinh, có thể ngừa thai được 6 tháng đầu sau sinh, giảm nguy cơ ung thư vú ở mẹ… Trước và sau mỗi lần cho bú nên làm vệ sinh vú sạch sẽ bằng nước ấm [1], [5]

Hướng dẫn tự theo dõi bất thường sau đẻ giai đoạn tại nhà:

Khi có các dấu hiệu sau phải đến cơ sở y tế khám ngay:

Trang 17

đề tiết sữa nuôi con [3]

Chất đạm: Mẹ nên ăn nhiều thịt nạc (heo, gà, bò, tôm), tránh thịt nhiều mỡ

Ăn nhiều loại đậu và hạt như: Đậu nành, đậu đen, đậu đỏ Đồng thời nên tăng cường uống sữa và ăn thêm trứng gà

Chất béo: Dùng dầu thực vật để chế biến món ăn, hạn chế sử dụng mỡ động vật

Chất bột đường: Cơm, cháo, mì sợi, phở …là những món chứa nhiều tinh bột và đường rất tốt cho cơ thể mẹ sau sinh Bún và các loại bánh kẹo, nước ngọt, kem lạnh nên hạn chế

Vitamin và chất xơ: Việc ăn nhiều các loại rau có lá xanh đậm và những củ quả có màu cam, đỏ sẽ giúp mẹ bổ sung vitamin và khoáng chất Điển hình như rau ngót, rau dền, mồng tơi, bí đỏ, cà rốt, khoai lang… Rau không chỉ cung cấp nhiều vitamin mà còn giàu chất xơ giúp phòng chống táo bón rất tốt cho mẹ và bé

Trong trái cây cũng chứa nhiều vitamin tuy nhiên, không nên ép lấy nước mà nên để miếng ăn sẽ giúp dung nạp trọn vẹn chất xơ

Chất sắt: Bổ sung các loại thực phẩm giàu chất sắt như lòng đỏ trứng gà, vịt, tim cật heo, cá, mực, tôm,thịt bồ câu, rau đay, đậu đen, đậu trắng, hạt sen, đậu hà lan, súp lơ xanh, cải xanh

Ngoài ra nên uống nhiều nước hàng ngày (khoảng 2-3lít) vì nước cũng là thành phần chính tạo nên sữa cho bé bú Ngoài nước lọc, nước khoáng sản phụ có thể bổ sung nước bằng uống sữa, ăn trái cây Tuy nhiên khi uống sữa nên chọn những loại có nhiều can-xi để tốt cho quá trình phát triển xương của bé Hạn chế uống nhiều vào ban đêm để tránh đi vệ sinh nhiều lần

Ngày đăng: 24/02/2021, 14:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Y tế (2009) - Điều dưỡng sản phụ khoa, NXB Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều dưỡng sản phụ khoa
Nhà XB: NXB Y học
2. Bộ Y tế (2009) - Tạp chí Y học thực hành, số 660,661 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học thực hành
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2009
5. Bộ Y tế (2008), Điều dưỡng Sản phụ khoa, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều dưỡng Sản phụ khoa
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
6. Bộ Y tế (2016), Hướng dẫn Quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn Quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2016
7. Bộ Y tế và Liên hợp quốc tại Việt Nam (2011), “ Đánh giá người đỡ đẻ có kỹ năng ở Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá người đỡ đẻ có kỹ năng ở Việt Nam
Tác giả: Bộ Y tế, Liên hợp quốc tại Việt Nam
Năm: 2011
8. Bộ Y tế và Quỹ dân số Liên hợp quốc (2011), Báo cáo rà soát thực hiện can thiệp về làm mẹ an toàn, tập trung vào cấp cứu sản khoa và chăm sóc sơ sinh giai đoạn 2006-2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Y tế và Quỹ dân số Liên hợp quốc (2011)
Tác giả: Bộ Y tế và Quỹ dân số Liên hợp quốc
Năm: 2011
10. Đại học Y Hà Nội (2015), Giáo trình Bệnh viện học Sản phụ khoa. NXB Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Bệnh viện học Sản phụ khoa
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2015
11. Phạm Văn Lình và Cao Ngọc Thành (2007), Sản phụ khoa, NXB Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản phụ khoa
Tác giả: Phạm Văn Lình và Cao Ngọc Thành
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2007
3. Bộ Y tế thông tư 07/2001/TT-BYT về việc hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện Khác
4. Bộ Y tế (2001), Quyết định của bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành qui định nhiệm vụ kỹ thuật trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sinh sản tại các cơ sở y tế, Bộ Y tế, Hà Nội Khác
9. Bộ Y tế - Số 4637/QĐ-BYT-2014: Quyết định về việc phê duyệt tài liệu hướng dẫn chuyên môn chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau đẻ Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w