BỘ Y TẾ Trường đại học điều dưỡng nam địnH ------ NễNG THÚY NGA THỰC TRẠNG CễNG TÁC CHĂM SểC NGƯỜI BỆNH SAU PHẪU THUẬT MỞ CẮT U XƠ TỬ CUNG BÁN PHẦN TẠI KHOA PHỤ SẢN BỆNH VIỆN ĐA KHOA
Trang 1BỘ Y TẾ Trường đại học điều dưỡng nam địnH
- -
NễNG THÚY NGA
THỰC TRẠNG CễNG TÁC CHĂM SểC NGƯỜI BỆNH SAU PHẪU THUẬT MỞ CẮT U XƠ TỬ CUNG BÁN PHẦN
TẠI KHOA PHỤ SẢN BỆNH VIỆN ĐA KHOA
TỈNH CAO BẰNG NĂM 2019
BÁO CÁO CHUYấN ĐỀ TỐT NGHIỆP
NAM ĐỊNH – 2019
Trang 2BỘ Y TẾ Trường đại học điều dưỡng nam địnH
- -
NễNG THÚY NGA
THỰC TRẠNG CễNG TÁC CHĂM SểC NGƯỜI BỆNH SAU PHẪU THUẬT MỞ CẮT U XƠ TỬ CUNG BÁN PHẦN
TẠI KHOA PHỤ SẢN BỆNH VIỆN ĐA KHOA
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước hết em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng đào tạo Sau đại học, các Thầy giáo, Cô giáo trường đại học Điều dưỡng Nam Định; các Thầy giáo, Cô giáo bộ môn Điều dưỡng Sản đã tạo mọi điều kiện, giúp đỡ, hướng dẫn em trong suốt quá trình học tập tại trường
Em cũng xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến thầy ThS.BSCKI Trần Việt Tiến, người thầy đã tận tình dạy dỗ, hướng dẫn em hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp CK1 này
Em cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng, Ban lãnh đạo cùng tập thể khoa Phụ Sản bệnh viện đã tạo điều kiện tốt nhất cho
em trong quá trình thực tế tốt nghiệp và làm chuyên đề tốt nghiệp này
Trong quá trình làm chuyên đề tốt nghiệp với kinh nghiệm thực tế và lý luận còn nhiều hạn chế nên không tránh khỏi những sai sót, em rất mong nhận được những
ý kiến đóng góp, góp ý của Thầy Cô trong hội đồng để em có thêm những kiến thức, thêm kinh nghiệm hoàn thiện chuyên đề của mình, góp phần nhỏ bé của mình vào công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân nói chung và lĩnh vực sản phụ khoa nói riêng
Cuối cùng em xin kính chúc các thầy giáo, cô giáo thật nhiều sức khỏe, hạnh phúc, thành công trong sự nghiệp trồng người
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Nông Thúy Nga
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là báo cáo chuyên đề của riêng tôi Nội dung trong bài báo cáo này hoàn toàn trung thực, khách quan và chưa được áp dụng Báo cáo này
do bản thân tôi thực hiện dưới sự giúp đỡ của Giáo viên hướng dẫn Nếu có điều gì sai trái tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Người làm báo cáo
Nông Thúy Nga
Trang 6MỤC LỤC
Lời cảm ơn ……… ……i
Lời cam đoan ……….ii
Mục lục ……… ……… iii
Danh mục hình ……… ………….v
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3
1.1 Cơ sở lý luận 3
1.1.1 Đặc điểm giải phẫu tử cung 3
1.1.1.1 Hình thể ngoài và liên quan 3
1.1.1.2 Hình thể trong: 4
1.1.1.3 Các phương tiện nâng đỡ tử cung: 4
1.1.1.4 Mạch máu và thần kinh: 5
1.1.1.5 Cấu tạo: 5
1.1.2 Đại cương về U xơ tử cung 5
1.1.2.1 Định nghĩa: 5
1.1.2.2 Vị trí của u xơ tử cung 5
1.1.2.3 Cơ chế bệnh sinh và sự phát triển 6
1.1.2.4 Triệu chứng 7
1.1.2.5 Tiến tiển và biến chứng 7
1.1.2.6 Điều trị u xơ tử cung 8
1.1.3.Tình tình nghiên cứu u xơ tử cung tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao bằng 10
1.2 Cơ sở thực tiễn 10
Chương 2: LIÊN HỆ THỰC TIỄN
2.1 Năng lực chuyên môn và điều kiện hạ tầng tại bệnh viện đa khoa tỉnh Cao bằng 21
2.2 Tình hình chăm sóc, điều trị U xơ tử cung tại khoa phụ- sản Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng 22
2.2.1 Chăm sóc người bệnh ngay sau phẫu thuật và dấu hiệu sinh tồn 22
2.2.2 Dùng thuốc và chăm sóc giảm đau sau mổ 23
2.2.3 Theo dõi nhu động ruột sau mổ 24
2.2.4 Chăm sóc đại tiểu tiện, sonde niệu đạo-bàng quang 25
2.2.5 Chăm sóc vết mổ 25
2.2.6 Thời gian cắt chỉ 25
Trang 72.2.7 Dinh dưỡng cho người bệnh hậu phẫu 26
2.2.8 Thời gian ngủ và tinh thần người bệnh 27
2.2.9 Chế độ luyện tập sau mổ 27
2.2.10 Thời gian điều trị 27
2.2.11 Giáo dục sức khỏe, tư vấn sau mổ 27
2.3 Các ưu điểm và nhược điểm tồn tại: 28
Chương 3 GIẢI PHÁP 30
KẾT LUẬN 31 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Cấu tạo tử cung 3
Hình 1.2 Vị trí u xơ tử cung 5
Hình 2.1 Toàn cảnh Bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng 21
Hình 2.2 Điều dưỡng dùng thuốc cho người bệnh 24
Hình 2.3 Điều dưỡng chăm sóc vết mổ 26
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
U xơ tử cung là khối u lành tính phát triển từ cơ tử cung Đây là bệnh rất hay gặp ở phụ nữ trong độ tuổi sinh sản từ 30 đến 50 tuổi Nguyên nhân của bệnh đang được tìm hiểu, trong đó có nhiều giả thuyết cho rằng u xơ tử cung có liên quan đến yếu tố di truyền, môi trường, thực phẩm, rối loạn nội tiết, béo phì Có thể có mối liên quan với nội tiết: do cường Estrogen
Tỷ lệ mắc u xơ tử cung: Bệnh hay gặp ở phụ nữ thuộc nhiều độ tuổi khác nhau và thường là những người có quan hệ tình dục Khoảng 30% phụ nữ trong độ tuổi từ 30 - 55 mắc u xơ Và phụ nữ da đen có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn người da trắng
U thường phát triển ở thời kỳ sinh sản của người phụ nữ, u có thể có một đến rất nhiều u xơ và trong nhiều trường hợp khối u xơ có thể chiếm toàn bộ tử cung thậm chí cả ổ bụng Sau tuổi mãn kinh do nội tiết tố đã bị suy giảm nên u xơ thường nhỏ đi nhưng không mất hẳn U có thể tiến triển thoái hóa như thoái hóa kinh (lõi khối u hóa thành một chất dịch màu nâu), thoái hóa dạng nang (lõi khối u hóa thành một chất dịch màu trắng đục), có thể tiến triển thoái hóa vôi (thường sự vôi hóa vỏ khối u tiến dần về lõi khối u) thường gặp ở người phụ nữ lớn tuổi U xơ tử cung có thể bị nhiễm trùng và hoại tử sau sảy thai, nạo phá thai hay trong thời kỳ hậu sản Trong lúc mang thai, các mạch máu phát triển không kịp so với sự tăng nhanh kích thước của u, khiến khối u thiếu máu và hoại tử U ở tình trạng này có đặc điểm ung thư hóa, tỷ lệ chiếm 2/1000 trong tất cả các loại u xơ tử cung tuy nhiên có nhiều tài liệu cho thấy tỉ lệ u thoái hóa ác có thể cao hơn ở tỉ lệ 1/493 các loại u xơ
U xơ tử cung gây các biến chứng chèn ép vào niệu quản khi u ở trong dây chằng rộng, dẫn đến ứ đọng bể thận, chèn vào bàng quang gây đái rắt, đái khó, chèn
ép vào trực tràng gây táo bón, chèn vào tĩnh mạch gây phù chi dưới, xoắn khối u dưới phúc mạc có cuống gây đau ở hố chậu, kích thích phúc mạc, u bị kẹt ở Douglas, nhiễm khuẩn hoặc hoại tử khối u; gặp nhiều nhất là biến chứng chảy máu hay gặp trong u xơ dưới niêm mạc Ra huyết nhiều dẫn đến thiếu máu mạn nhược sắc Ngoài ra còn gặp biến chứng về sản khoa như chậm có thai, vô sinh, sảy thai,
đẻ non, ối vỡ non, thai kém phát triển, ngôi bất thường, rau tiền đạo, khối u tiền đạo, chảy máu sau đẻ, sót rau, đờ tử cung, viêm niêm mạc tử cung sau đẻ
Trang 11Có nhiều phương pháp điều trị u xơ tử cung như điều trị nội khoa, thủ thuật, ngoại khoa, và mỗi phương pháp đều có ưu nhược điểm riêng
Sự thành công của cuộc phẫu thuật cắt u xơ tử cung tùy thuộc một phần lớn vào sự chăm sóc sau phẫu thuật, vì giai đoạn sau phẫu thuật là giai đoạn có nhiều rối loạn về sinh lý bao gồm các biến chứng về hô hấp, tuần hoàn, kích thích, đau, rối loạn chức năng thận, rối loạn đông máu, hạ nhiệt độ gây ra do gây mê hoặc do phẫu thuật Vì vậy vấn đề chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật nói chung
và phẫu thuật cắt u xơ tử cung nói riêng luôn là vấn đề hàng đầu của các cơ sở y tế trong và ngoài nước Chăm sóc, theo dõi các dấu hiệu triệu chứng, phát hiện sớm các biến chứng ngay sau phẫu thuật là rất quan trọng trong thành công của điều trị Với vai trò này, các cơ sở điều trị luôn tìm mọi cách nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc, tìm ra những vấn đề còn tồn tại để khắc phục và cải thiện chăm sóc ngày càng tốt hơn
Phẫu thuật mở cắt u xơ tử cung bán phần được tiến hành thường quy ở Khoa Phụ sản Bệnh viện đa khoa tỉnh Cao Bằng, đã có nhiều nghiên cứu về bệnh Tuy nhiên việc chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật mở cắt u xơ tử cung bán phần chưa
có nghiên cứu nào đề cập Chính vì thế chúng tôi tiến hành chuyên đề “Thực trạng công tác chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật mở cắt u xơ tử cung bán phần tại khoa Phụ sản Bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng năm 2019” Với 2 mục tiêu
1 Mô tả thực trạng công tác chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật mở cắt u
xơ tử cung bán phần tại khoa Phụ sản Bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng năm 2019
2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh sau phẫu thuật mở u xơ tử cung bán phần tại khoa Phụ Sản Bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Đặc điểm giải phẫu tử cung [5]
Tử cung là nơi làm tổ của trứng đã thụ tinh và chữ thai là một xoang cơ rỗng, kích thước 6x4x2cm, hình nón cụt, đáy trên đỉnh dưới, có 3 phần: thân, eo và cổ tử cung
Tư thế bình thường của cổ tử cung là tư thế gập ra trước (trục của thân và trục của cổ tạo một góc 1200 mở ra trước) và ngả ra trước (trục của thân tạo với trục
âm đạo một góc 900 mở ra trước)
Hình 1.1 Cấu tạo trong của tử cung và vòi tử cung
1.1.1.1 Hình thể ngoài và liên quan
* Cổ tử cung
Trang 13Có âm đạo bám vào theo một mặt phẳng từ trên xuống dưới ra trước chia cổ làm hai phần
Phần trên âm đạo: Liên quan với mặt sau bàng quang ở trước dưới và trực tràng ở phía sau Đối với bàng quang, cổ tử cung chỉ ngăn cách bằng tổ chức lỏng lẻo, còn với trực tràng có túi cùng tử dcung trực tràng xen vào
Phần âm đạo nhìn như một mỏm cá mè Ở đỉnh mỏm là lỗ tử cung, lỗ được giới hạn phía trước, phía sau bằng mép trước và mép sau:
1.1.1.3 Các phương tiện nâng đỡ tử cung
- Dây chằng ngang cổ tử cung: là một dải xơ cơ đi từ cổ tử cung và thành bên
âm đạo chạy bám vào thành bên của chậu hông Ở bờ trên của dây chằng này có động mạch tử cung đi đến cổ tử cung, sau khi bắt chéo trước niệu quản
- Dây chằng tử cung cùng: Đi từ mặt sau cổ tử cung vòng quanh trực tràng để bám vào mặt trước xương cùng
- Dây chằng mu cổ tử cung: Đi từ mặt trước cổ tử cung đến mặt sau xương mu
- Dây chằng tròn: Đi từ góc bên của tử cung đến lổ bẹn sâu qua ống bẹn bám tận ở môi lớn: Dây chằng này giữ tử cung ở tư thế gập trước
- Dây chằng rộng: gồm hai lá phúc mạc liên tiếp lên hai mặt tử cung, căng từ
bờ bên tử cung và vòi tử cung đến thành bên chậu hông Có hai mặt: trước và sau, mặt sau có gắn mạc treo buồng trứng Có bốn bờ: bờ trên, tự do bọc lấy vòi tử cung;
bờ trong bám lấy bờ bên của tử cung; bờ phải bám vào thành chậu; bờ dưới là đáy dây chằng rộng
Trang 14Ngoài các phương tiện trên, tử cung còn được giữ trong vị trí bởi đáy chậu
Sự bền vững của đáy chậu phụ thuộc vào trung tâm gân của đáy chậu, cho nên, tổn thương trung tâm gân đáy chậu để đưa đến hiện tượng sa sinh dục
1.1.1.4 Mạch máu và thần kinh
Động mạch tử cung xuất phát từ động mạch chậu trong, chạy dọc xuống dưới
đi đến đáy dây chằng rộng bắt chéo trước niệu quản ngang mức và cách cổ tử cung chừng 1,5cm Động mạch chạy theo bờ bên tử cung cho đến góc bên và nối với động mạch buồng trứng
Thần kinh tử cung phát sinh từ đám rối thần kinh âm đạo
1.1.1.5 Cấu tạo
Tử cung có ba lớp, kể từ ngoài vào trong:
- Thanh mạc chính là lớp phúc mạc bao bọc mặt tước và mặt sau
- Lớp cơ, gồm có ba lớp: Ngoài, giữa và trong, lớp giữa dày nhất đan chéo nhau gọi là cơ rối, lại có thêm nhiều mạch máu cho tử cung khi sinh nở
- Lớp trong cùng là lớp niêm mạc, thay đổi theo kỳ kinh
1.1.2 Đại cương về U xơ tử cung [1],[4],[10]
1.1.2.1 Định nghĩa
U xơ tử cung (hay u cơ trơn tử cung, nhân xơ tử cung) là khối u lành tính phát triển từ cơ tử cung
Hình 1.2 Vị trí u xơ tử cung
1.1.2.2 Vị trí của u xơ tử cung
Tùy theo phần của tử cung
- Ở thân tử cung: chiếm 96%
Trang 15- Ở eo tử cung: chiếm 1%
- Ở cổ tử cung: chiếm 3%
So với thành tử cung
- U xơ dưới thành mạc: Có thể có cuống
- U xơ kẽ nằm trong bề dày lớp cơ
- U xơ dưới niêm mạc: Nổi lên trong buồng tử cung Đôi khi có cuống gọi là polyp xơ
1.1.2.3 Cơ chế bệnh sinh và sự phát triển
Cơ chế bệnh sinh u xơ tử cung còn chưa được biết rõ, nên vẫn chưa có phương pháp điều trị căn nguyên Nhiều tác giải cho rằng u xơ tử cung là biểu hiện cường estrogen tại chỗ Người ta dựa vào triệu chứng sau để giải thích:
- Không có u xơ tử cung trước tuổi dậy thì
- U xơ tử cung có thể tồn tại hoặc có thể giảm bớt sau thời kỳ mãm kinh hoặc sau khi cắt bỏ buồng trứng
- U xơ tử cung tăng đột ngột trong qua trình mang thai, bé đi khi kết thúc mang thai
- U xơ tử cung tăng lên khi điều trị bằng estroprpgestaif
- U xơ tử cung to lên sau mãm kinh nếu điều trị bằng estrogen
- Niêm mạc tử cung của người bị u xơ tử cung cho thấy dường estrogen, thông thường có quá sản niêm mạc tử cung gây rong kinh, rong huyết
1.1.2.4 Triệu chứng [4], [8]
Triệu chứng phụ thuộc vào vị trí của khối u
*Triệu chứng cơ năng
- Ra huyết từ tử cung Dưới dạng cường kinh dần dần trở nên rối loan kinh nguyệt, ra máu cục lẫn máu loãng, kéo dài 7 - 10 ngày hoặc hơn
- Dịch âm đạo: Loãng như nước do biến chứng nhiễm khuẩn phối hợp
- Đau hạ vi hoặc hố chậu: Kiểu tức nặng bụng, đau tăng lên trước khi hành kinh hoặc khi hành kinh
- Rối loạn tiểu tiện: Đái dắt, bí đái, són đái
- Có thể bệnh nhân đi khám vì vô sinh
*Triệu chứng thực thể
Trang 16- Nắn bụng: Bàng quan rỗng Nắn bụng thấy vừng hạ vị phồng lên, xác định đáy tử cung khối u ở giữa, gõ đục, chắc, di động, không nắn được cực dưới của u
- Đặt mỏ vịt: Có thể xuất hiện polyp có cuống nằm ở ngoài cổ tử cung
- Thăm âm đạo kết hợp với nắn bụng: Toàn bộ tử cung to, chắc, bờ nhẵn, đều,
có khi thấy những khối u nổi trên mặt tử cung chắc, không đau, di động cùng tử cung
- Đo buồng tử cung dài hơn bình thường
- Xét nghiệm tế bào học ở cổ tử cung để phát hiện sớm ung thư cổ tử cung
- Soi buồng tử cung: có ích đối với u xơ nhỏ dưới niêm mạc
Chẩn đoán phân biệt
- Có thai, dọa sảy thai, thai chết lưu
- Khối u buồng trứng
- Ung thư thân tử cung
Những biểu hiện ngoài thời kỳ mang thai
- Đau bụng dưới, đặc biệt là vùng tử cung, đặc biệt là vào các kì kinh nguyệt
- Cơ đau kéo dài khi quan hệ tình dục
- Xuất huyết âm đạo như rong kinh (kinh kéo dài), rong huyết (xuất huyết ngoài chu kỳ hành kinh), cường kinh (lượng kinh rất nhiều) Với u to có thể sờ nắn thấy, sờ trúng sẽ thấy đau, cộm Luôn thấy buồn tiểu do u ép vào bàng quang, nếu u
to quá chèn ép vào niệu quản sẽ gây ra thận ứ nước Nếp u ép đến trực tràng, người bệnh có nguy cơ trĩ và táo bón
- Khó thụ thai và lâu có con (hiếm muộn)
Những biểu hiện trong thời kỳ mang thai
- Sảy thai, đẻ non
- Ngôi thai bất thường nên khó đẻ đường âm đạo làm tăng nguy cơ mổ đẻ
- Thai chậm tăng trưởng thậm chí suy dinh dưỡng
Trang 17- Dễ gây băng huyết do một phần khối u xơ tử cung to làm chậm sự co hồi của tử cung sau đẻ
1.1.2.5 Tiến tiển và biến chứng [2],[7]
- Chảy máu
- Hay gặp trong u xơ dưới niêm mạc Ra huyết nhiều dẫn đến thiếu máu mạn nhược sắc
- Biến chứng cơ giới
- Chèn ép vào niệu quản khi u ở trong dây chằng rộng, dẫn đến ứ đọng bể thận, chèn vào bàng quang gây đái rắt, đái khó
- Chèn ép vào trực tràng gây táo bón
- Chèn vào tĩnh mạch gây phù chi dưới
- Xoắn khối u dưới phúc mạc có cuống gây đau ở hố chậu, kích thích phúc mạc: nôn, bí trung tiện, bụng chướng, mạch nhanh, choáng
- U bị kẹp ở Douglas
- Biến chứng nhiễm khuẩn: ở ngay khối u, niêm mạc tử cung và ống dẫn trứng nhất là đối với polyp thò ra ngoài cổ tử cung bị nhiễm khuẩn hoặc hoại tử: đau bụng, sốt, bạch cầu tăng, toàn thân suy sụp Đặt mỏ vịt thấy một khối nâu sẫm, mềm, hoại tử
- Biến đổi thoái hóa của u xơ tử cung: Thoái hóa mỡ, kinh, vôi hóa, hoại tử , Ung thư hóa (Sarcome)
- Biến chứng về sản khoa: Chậm có thai, vô sinh, sảy thai, đẻ non, ối vỡ non, thai kém phát triển, ngôi bất thường, rau tiền đạo, khối u tiền đạo, chảy máu sau đẻ, sót rau, đờ tử cung, viêm niêm mạc tử cung sau đẻ
1.1.2.6 Điều trị u xơ tử cung [2], [9]
Các phương pháp điều trị đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng Không có phương pháp nào có ưu điểm hơn phương pháp còn lại, mà điều quan trọng là tất cả những người bệnhu xơ tử cung đã có biến chứng trước khi chọn lựa bất kỳ một phương pháp điều trị nào cũng đều cần phối hợp với cận lâm sàng để đánh giá chính xác đặc điểm khối u xơ tử cung cũng như mức độ tưới máu của u xơ
tử cung, đây là thông tin cực kỳ quan trọng để định hướng chọn lựa loại phương pháp điều trị phù hợp cho tình trạng u xơ tử cung của từng người bệnh, làm giảm tối
Trang 18đa rủi ro cho các bệnh nhân u xơ tử cung trong quá trình tiến hành các thủ thuật và phẫu thuật
a) Điều trị nội khoa
- Thuốc điều trị u xơ tử cung thực chất là các loại nội tiết tố sinh dục, được đưa tạm thời vào cơ thể bệnh nhân để bây ức chế buồng trứng tạm thời không tiết estrogen, nhằm làm cho khối u nhỏ lại (giống như tình trạng mãn kinh) Sau khi ngưng thuốc, buồng trứng sẽ làm việc trở lại và sẽ kích thích khối u tiếp tục phát triển Phương pháp này chỉ áp dụng cho các khối u lớn chờ phẫu thuật hoặc các u có
sự tưới máu tốt giúp làm giảm nguy cơ chảy máu nhiều trong lúc thực hiện phẫu thuật và thủ thuật
- Đối với u xơ nhỏ, không có biến chứng nào khác ngoài ra máu, chờ mổ hoặc với người bệnh sắp mãn kinh dùng Progestatif: từ ngày thứ 16 đến 25 của chu kỳ kinh
- Dùng thuốc co bóp tử cung: Oxytocin
- Dùng thuốc cầm máu như hemocaprol
b) Phẫu thuật
- Có 03 loại phẫu thuật: mổ mở, mổ nội soi qua thành bụng và mổ nội soi qua đường âm đạo Có ba cách chính để loại bỏ khối u xơ tử cung: cắt bỏ tử cung hoàn toàn và mổ bóc u xơ chọn lọc, cắt tử cung bán phần Khi phẫu thuật phải sử dụng biện pháp vô cảm như gây mê, gây tê cho người bệnh nên sẽ có rủi ro nhất định trong lúc phẫu thuật
- Bảo tồn: Bóc tách nhân xơ đối với người trẻ còn nguyện vọng có con, và nhân xơ có thể bóc tách được
- Triệt để: Cắt tử cung bán phần, hoàn toàn với cắt phần phụ hoặc để lại phần phụ tùy thuộc vào tuổi của người bệnh
- Nếu cắt tử cung hoàn toàn sẽ làm mất vĩnh viễn khả năng có thai nên chỉ áp dụng đối với các trường hợp u quá to có chảy máu nhiều trong lúc phẫu thuật và phụ nữ đã sinh đủ số con hoặc không mong muốn có con trong tương lai
c) Phương pháp thuyên tắc mạch máu
- Phương pháp này làm tắc các động mạch nuôi các u xơ tử cung và chỉ áp dụng cho các u xơ tử cung giàu mạch máu Sau tắc mạch thường sẽ rất đau do khối
u xơ tử cung bị hoại tử nhồi máu Phương pháp này cần gây tê và có nguy cơ sẽ tắc các nhánh cấp máu cho buồng trứng hoặc các vùng cơ tử cung lành nên có một tỉ lệ
Trang 19vô kinh thậm chí vô sinh sau tắc mạch Phương pháp này nên áp dụng cho các trường hợp khối u xơ tử cung giàu mạch máu và người phụ đã đủ số con hoặc không mong muốn có thêm con trong tương lai
d) Phương pháp điều trị MRI HIFU
Phương pháp này dùng sóng siêu âm khu trú cường độ cao tạo hiệu ứng nhiệt đốt tế bào đích dưới kiểm soát định vị bằng hình ảnh rộng hưởng tử Đây là phương pháp điều trị u xơ tử cung tiên tiến nhất thế giới, giúp loại trừ mô đích bất thường trong cơ thể mà không cần phẫu thuật, không chảy máu, không để lại sẹo, không ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản, giúp bảo tồn tử cung, độ an toàn cao Hôm sau có thể làm việc trở lại Phương pháp này chỉ áp dụng cho các loại u xơ tử cung nghèo mạch máu nuôi, không áp dụng cho các u xơ tử cung giàu mạch máu
1.1.3 Tình tình phẫu thuật u xơ tử cung tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng Trong năm 2018 tại Bệnh viện có 260 người bệnh được chẩn đoán u xơ tử cung điều trị phẫu thuật Tỷ lệ mổ bóc u xơ bảo tồn tử cung là 63 chiếm 24,2% Tỷ
lệ cắt tử cung bán phần là 197 chiếm 75,8% Số người bệnh có u xơ tử cung được bóc u bảo tồn tử cung ngày càng tăng đã góp phần làm tăng chất lượng cuộc sống của phụ nữ và làm giảm đáng kể những khó khăn trong sinh sản do u xơ gây ra Với người phụ nữ còn nguyện vọng sinh con thì việc lựa chọn phương pháp phẫu thuật bóc u xơ bảo tồn tử cung để duy trì sinh sản là điều hoàn toàn hợp lý Trong 63 trường hợp bóc u xơ vì chưa có con là 21chiếm 33,3 % trong tổng số bảo tồn Mặt khác tỷ lệ bóc u xơ tăng lên có thể do nhận thức của người dân về bệnh tật ngày càng cao, người bệnh đến khám và phát hiện u sớm cùng với trình độ của các phẫu thuật viên ngày càng được nâng cao, trang thiết bị ngày càng hiện đại Tuy nhiên chúng tôi thấy tỷ lệ bóc u xơ bảo tồn tử cung của các tác giả nước ngoài cao hơn rất nhiều so với Việt Nam, có lẽ vấn đề nâng cao chất lượng cuộc sống được quan tâm hơn chính vì vậy tỷ lệ phẫu thuật bảo tồn tử cung được thực hiện nhiều hơn
Trang 20hạ nhiệt độ gây ra do gây mê hoặc do phẫu thuật Để phát hiện sớm các biến chứng này cần cần có những nhân viên được huấn luyện, có kinh nghiệm, cần có các phương tiện để theo dõi người bệnh sau mổ Điều quan trọng trong giai đoạn này là không bao giờ được để người bệnh chưa tỉnh thuốc mê nằm một mình
* Vận chuyển người bệnh, thay đổi tư thế
Sau mổ khi đổi tư thế, vận chuyển người bệnh phải nhẹ nhàng Thay đổi tư thế đột ngột có thể gây tụt huyết áp, trụy mạch, choáng Do đó tốt nhất là đặt xe chuyển người bệnh cạnh bàn mổ và chuyển người bệnh nhẹ nhàng sang xe đẩy Trong trường hợp nặng người bệnh cần cho thở oxy từ phòng mổ đến hậu phẫu, có thể dùng loại tấm cuốn để chuyển người bệnh từ bàn mổ qua xe rất tiện lợi Giường, phòng cho người người bệnh
Giường nằm phải êm, chắc chắn, thoải mái, giường có thể đặt tư thế đầu cao,
tư thế Fowler, tư thế đầu thấp
Trời rét phải có đủ chăn ấm, có túi nước nóng đặt xung quanh, có thể dùng máy sưởi, bố trí sẵn có đệm hơi nóng
Mùa nóng phải phòng thoáng và tốt nhất có máy điều hòa
Nếu người bệnh chưa tỉnh, phản xạ ho chưa có phải đặt người bệnh nằm nghiêng đầu sang một bên hoặc người bệnh nằm ngửa có một gối mỏng lót dưới vai cho cổ và đầu ngửa ra sau
* Dấu hiệu sinh tồn
Tùy theo tình trạng người bệnh, giai đoạn bệnh, tùy vào loại phẫu thuật người điều dưỡng theo dõi dấu hiệu sinh tồn trong ngày đầu 30 phút hay 60 phút/lần
và thời gian theo dõi có thể 12 giờ, 24 giờ sau phẫu thuật Những ngày tiếp theo nếu dấu hiệu sinh tồn bình thường theo dõi ngày 2 lần Tốt nhất sau phẫu thuật theo dõi dấu hiệu sinh tồn bằng Monitor
- Chăm sóc về hô hấp: Theo dõi người bệnh thở có đều hay không đều, theo dõi biến chứng ngạt bằng cách theo dõi số lần thở/1 phút, biên độ thở, SpO2 qua Monitor, nếu số lần thở > 30 lần/1 phút hoặc < 15 lần/1 phút thì phải báo cáo lại với thầy thuốc Hô hấp: tần số thở, biên độ hô hấp, độ bão hòa oxy theo mạch đập (SpO2)
- Chăm sóc về tuần hoàn: theo dõi xem mạch có đập đều hay không đều, số lần mạch đập/1 phút, đo huyết áp tối đa và huyết áp tối thiểu Nếu trong quá trình
Trang 21theo dõi thấy mạch tăng dần, huyết áp giảm dần, da và niêm mạc nhợt nhạt thì có khả năng bị chảy máu sau phẫu thuật Cần phải báo cáo ngay với thầy thuốc Tuần hoàn: mạch, nhịp tim, huyết áp, áp lực tĩnh mạch trung ương
- Chăm sóc về nhiệt độ: bình thường sau phẫu thuật độ tăng từ 0,50C đến 10 C Sau phẫu thuật người bệnh có thể sốt cao nguyên nhân do nhiễm trùng - nhiễm độc, rối loạn nước điện giải trầm trọng Trường hợp này cần chườm mát vùng cổ, nách, bẹn, cở bỏ bớt quần áo, báo cáo thầy thuốc dùng thuốc hạ sốt Tuy nhiên người bệnh có thể hạ nhiệt độ nguyên nhân do sốc truyền máu - truyền dịch, sốc nhiễm trùng - nhiễm độc nặng Trường hợp này phải ngừng truyền dịch, truyền máu, ủ ấm, dùng thuốc theo y lệnh
- Thần kinh: Bệnh nhân tỉnh hay mê
- Theo dõi mạch, nhiệt, huyết áp, nhịp thở 15 - 30 phút một lần cho đến khi
ổn định (huyết áp trên 90/60mmHg), sau đó mỗi giờ một lần
- Những trường hợp đặc biệt cần theo dõi sát: rối loạn hô hấp, tím tái, chảy máu ở viết thương
- Ngày nay tại các phòng hồi tỉnh có các phương tiện theo dõi, nhưng thăm khám, kiểm tra không nên hoàn toàn tin tưởng vào các chỉ số trên màn hình
Cho chỉ thị nhịn hay chế độ ăn sớm
nên cân bệnh bệnh nhân trong một số trường hợp cần thiết
Nước tiểu
Theo dõi lượng nước tiểu sau mổ đặc biệt một số trường hợp bệnh nặng hoặc chưa có nước tiểu 6 -8 giờ sau mổ, dùng thuốc lợi tiểu
Ống dẫn lưu