Cùng với sự “già hoá dân số”, mô hình bệnh tật ở Việt Nam cũng đang thay đổi rõ rệt, với sự gia tăng nhanh chóng của các bệnh thoái hoá, trong đó không còn nghi ngờ gì nữa, sa sút trí t
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
Trang 3BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHỆP
THỰC TRẠNG CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH
SA SÚT TRÍ TUỆ
TẠI BỆNH VIỆN TÂM THẦN TRUNG ƯƠNG I
HỌ VÀ TÊN: PHÙNG THỊ KIM LIÊN
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN:NGUYỄN THỊ TUYẾT DƯƠNG
Nam Định, năm 2017
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học trình học tập và hoàn thành khóa luận, tôi đã nhận được
sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè
Tôi xin chân thành cảm ơn: Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo Sau Đại học, Khoa Y học lâm sàng trường Đại học Điều Dưỡng Nam Định cùng các thầy cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Thạc sỹ Nguyễn Thị Tuyết Dương, người thầy đã giành nhiều tâm huyết, trách nhiệm của mình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để tôi hoàn thành chuyên đề một cách tốt nhất Tôi cũng xin cảm ơn các tới Ban Giám đốc Bệnh viện Tâm thần trung ương I đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập thông tin
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới gia đình và bạn bè của tôi - những người đã luôn động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và làm khóa luận
Nam Định, ngày 15 tháng 9 năm 2017
Người làm báo cáo
Phùng Thị Kim Liên
Trang 5MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN
I ĐẶT VẤN ĐỀ 1
II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3
A Cơ sở lý luận 3
1 Định nghĩa, chẩn đoán, phân loại bệnh sa sút trí tuệ 3
1.1 Định nghĩa 3
1.2 Chẩn đoán 4
1.3 Các thể bệnh của sa sút trí tuệ 6
2 Các yếu tố nguy cơ gây sa sút trí tuệ 8
2.1 Các yếu tố nguy cơ do cá nhân, gia đình và nếp sống 8
2.2 Các yếu tố nguy cơ ở mức phân tử 12
3 Nội dung chăm sóc người bệnh sa sút trí tuệ 13
B Cơ sở thực tiễn 16
III LIÊN HỆ THỰC TIỄN 18
A Mô tả thực trạng chăm sóc người bệnh sa sút trí tuệ tại Bệnh viện Tâm thần trung ương I 19
1 Thông tin về đối tượng nghiên cứu 19
2 Thực trạng về chăm sóc người bệnh sa sút trí tuệ 21
2.1 Thực trạng chăm sóc sinh hoạt hàng ngày và vệ sinh cá nhân 21
2.2 Thực trạng chăm sóc về chế độ ăn và dùng thuốc của bệnh nhân 22
2.3 Thực trạng chăm sóc chế độ tập thể dục, tổ chức hoạt động giải trí hàng ngày cho bệnh nhân 23
3 Phân tích thực trạng chăm sóc người bệnh sa sút trí tuệ tại bệnh viện Tâm thần
Trang 6trung ương I 24
3.1 Thực trạng chăm sóc sinh hoạt hàng ngày và vệ sinh cá nhân 24
3.2 Thực trạng chăm sóc về chế độ ăn và dùng thuốc của bệnh nhân 24
3.3 Thực trạng chăm sóc chế độ tập thể dục, tổ chức hoạt động giải trí hàng ngày cho bệnh nhân 24
B Các ưu, nhược điểm 24
1 Ưu điểm 24
2 Nhược điểm 25
3 Nguyên nhân 25
IV GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT 26
4.1 Đối với bệnh viện: 26
4.2 Đối với cán bộ nhân viên y tế 26
4.2 Đối với người bệnh 26
V KẾT LUẬN - ĐỀ XUẤT………28
5.1 Thực trạng chăm sóc bệnh nhân sa sút trí tuệ tại bệnh viện Tâm thần trung ương I 28
5.2 Giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh sa sút trí tuệ tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương 28
PHỤ LỤC I TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3 1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 19
Bảng 3 2 Tiền sử mắc các bệnh liên quan 20
Bảng 3 3Tiền sử gia đình 20
Bảng 3 4 Tiền sử uống rượu của bệnh nhân trước đây 20
Bảng 3 5 Nhận được sự chăm sóc hàng ngày 21
Bảng 3 6 Đặc điểm chăm sóc về chế độ ăn và dùng thuốc của bệnh nhân 21
Bảng 3 7 Thực trạng chăm sóc chế độ tập thể dục, tổ chức hoạt động giải trí cho bệnh nhân 22
Bảng 3 8 Thái độ của điều dưỡng với việc uống thuốc của người bệnh………22
Bảng 3 9 Thái độ của điều dưỡng khi chăm sóc người bệnh……….22
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 10đến năm 2020 thế giới sẽ có 1,21 tỷ người cao tuổi Đó là sự bùng nổ
chưa từng có về số người cao tuổi trên thế giới [10], [9] Dân số trở nên già hóa, từ đó tần suất, mức độ và tình trạng bệnh tật của người già cũng tăng lên Các bệnh mạn tính không lây truyền và thoái triển sẽ nổi trội hàng đầu gây ảnh hưởng sâu sắc tới khả năng làm việc, sinh hoạt và chất lượng cuộc sống của con người nói chung và tuổi già nói riêng [9], [10], [19]
Trong các bệnh mạn tính không lây truyền, sa sút trí tuệ là một rối loạn khá phổ biến và thường gặp ở người cao tuổi Đây là một chứng bệnh nặng đe dọa cuộc sống và chất lượng cuộc sống của người cao tuổi; đồng thời cũng là gánh nặng với gia đình người bệnh, cộng đồng và xã hội Tỷ lệ mắc ở người từ 65 tuổi trở lên là khoảng 5 đến 10%; trên 80 tuổi là 20% và trên 90 tuổi có thể đến 47% [13] Tuổi càng cao, tỷ lệ mắc bệnh càng nhiều Trung bình cứ sau mỗi khoảng 5 năm, tỷ lệ này lại tăng gấp đôi
Đã có nhiều công trình trên thế giới nghiên cứu về sa sút trí tuệ Tại châu Á, các nghiên cứu dịch tễ học về sa sút trí tuệ của các nước trong khu vực cho thấy ở Hàn Quốc (1999) là 10,6%; ở Đài Loan (1994) là 3,7%; ở Malaixia (2005) là 14,4%; ở Inđônêxia (2006) là70,9%; ở Philippin (2003) là 11,5%; ở Thái Lan (2003) là 11,4% [ 1 3 ]
Trang 11Ở Việt Nam, trong những thập kỷ gần đây, nhờ những thành tựu phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội và y tế nhiều chỉ số phát triển đã được cải thiện, đặc biệt tuổi thọ trung bình trong nửa thế kỷ qua đã tăng lên hai lần (năm 1945 là 32, đến năm 1999 là 67,8) Năm 1950 nước ta chỉ có 1,95 triệu người già (chiếm 6,5% dân số); năm 1979 có 3,7 triệu người trên 60 tuổi chiếm 7,06% tổng dân số Trong 25 năm qua, không những số người cao tuổi đang tăng lên nhanh chóng (4,6 triệu năm 1989, 6,2 triệu năm 1999 và 9,1 triệu năm 2004) mà tỷ lệ người cao tuổi trong dân số cũng tăng lên tương ứng là 7,10%, 8,12% và 8,95% Theo dự báo, trong 25 năm tới, tỷ lệ người cao tuổi sẽ tăng gấp đôi lên tới 16%[15]
Cùng với sự “già hoá dân số”, mô hình bệnh tật ở Việt Nam cũng đang
thay đổi rõ rệt, với sự gia tăng nhanh chóng của các bệnh thoái hoá, trong đó không còn nghi ngờ gì nữa, sa sút trí tuệ thật sự là thảm hoạ đối với người cao tuổi, không những do tỷ lệ mắc bệnh cao ở nhóm tuổi này,
mà còn do bệnh gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng sống của bản thân người cao tuổi cũng như người nhà bệnh nhân
Tuy nhiên, ở Việt Nam đến nay mới chỉ có một số ít công trình nghiên cứu về sa sút trí tuệ ở người cao tuổi tại cộng đồng, các công trình này chủ yếu tập trung nghiên cứu trên lâm sàng, chưa có các số liệu về thực trạng chăm sóc người bệnh sa sút trí tuệ cao tuổi Trong khi đó, các nhà chuyên môn hàng đầu về lão khoa nhận định rằng: Dưới góc độ kinh
tế, sa sút trí tuệ cũng là một trong những bệnh chi phí tốn kém nhất, chỉ đứng sau các bệnh tim - mạch và ung thư Các nghiên cứu dịch tễ học trên thế giới đã chỉ rõ để phòng tránh, chăm sóc và điều trị hiệu quả sa sút trí tuệ, một trong các xu hướng hiện nay là phát hiện sớm và kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ sa sút trí tuệ với hy vọng làm giảm hoặc chậm khởi phát bệnh [41]
Trang 12Từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành chuyên đề nghiên cứu:
Thực trạng công tác chăm sóc người bệnh sa sút trí tuệ tại Bệnh viện tâm thần trung ương I, Nhằm mục tiêu:
- Mô tả thực trạng chăm sóc người bệnh sa sút trí tuệ tại Bệnh viện Tâm thần trung ương I
- Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh sa sút trí tuệ tại Bệnh viện tâm thần trung ương I.
II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
A Cơ sở lý luận
1 Định nghĩa, chẩn đoán, phân loại bệnh sa sút trí tuệ
1.1 Định nghĩa
Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới [44]: "Sa sút trí tuệ là sự phối
hợp rối loạn tiến triển về trí nhớ và quá trình ý niệm hóa, ở mức độ gây tổn hại tới hoạt động sống hàng ngày, xuất hiện tối thiểu từ sáu tháng qua với rối loạn ít nhất một trong những chức năng như ngôn ngữ, tính toán, phán đoán, rối loạn tư duy trừu tượng, điều phối động tác, nhận biết hoặc biến đổi nhân cách"
Đây là một trong những rối loạn ảnh hưởng trầm trọng nhất đến người cao tuổi Người mắc sa sút trí tuệ gặp nhiều trở ngại trong cuộc sống, sinh hoạt và các mối quan hệ của họ Họ cũng mất khả năng giải quyết vấn đề
và kiểm soát xúc cảm, có thể có những thay đổi tính cách và hành vi như
lo âu, hoang tưởng, ảo giác, các rối loạn về ngôn ngữ và rối loạn vận động hữu ý Tình trạng suy giảm nhận thức tiến triển nặng dần, không thể đảo ngược được với biểu lộ nổi bật và xuất hiện sớm nhất là sự suy giảm về trí nhớ [8], [27]
Trang 13Tỷ lệ mắc sa sút trí tuệ tăng nhanh theo tuổi, tăng gấp đôi sau mỗi khoảng
5 năm trong quần thể người trên 60 tuổi Số liệu thống kê của y văn thế giới cho thấy tỷ lệ mắc sa sút trí tuệ khoảng 1% quần thể người từ 60 đến
64 tuổi, nhưng chiếm 30 đến 50% trong quần thể người trên 85 tuổi Tỷ lệ mắc sa sút trí tuệ trong các viện dưỡng lão từ 60 đến 80%[2]
Cần phân biệt sa sút trí tuệ với quên lành tính của tuổi già là tình trạng giảm trí nhớ sinh lý của người cao tuổi, hệ quả của sự lão hóa trong đó các quá trình hoạt động thần kinh-tâm lý bị chậm đi Người có chứng quên lành tính của tuổi già tiếp thu các thông tin mới và nhớ lại các thông tin mới ghi được chậm hơn người bình thường, tuy nhiên nếu có thêm thời gian để thực hiện những hoạt động này họ vẫn đạt được các thành tích trí tuệ ở mức của người bình thường Các hoạt động thường ngày cũng
tượng; suy giảm phán đoán, nhận xét; các rối loạn khác của chức năng thần kinh cao cấp; biến đổi nhâncách
nhớ
và trí tuệ ở trên gây ra
Trang 14(5) Có sự hiện diện của các yếu tố sau đây:
về trí tuệ và suy giảm về chức năng trí tuệ
Các suy giảm về trí nhớ và chức năng trí tuệ không là hệ quả của một
bệnh tâm thần khác
* Tiêu chuẩn chẩn đoán sa sút trí tuệ theo Sách Thống kê Chẩn
đoán
các Rối loạn tâm thần (DSM-IV) [9], [16]
mất khả năng nhớ lại các thông tin vừa mới tiếpnhận)
do huấn luyện, mặc dù không bị liệt)
giác quan vẫn bình thường)
chức, phân chia giai đoạn, trừu tượng hoá)
Trang 15(3) Các suy giảm ở (l) và (2) gây cản trở lớn cho sinh hoạt thường ngày và giao tiếp xã hội và tình trạng này ngày càng nặng dần
nhân không bị mê sảng
rối loạn nhận thức (ví dụ: Tâm thần phân liệt, trầm cảm)
Việc phân chia các giai đoạn của sa sút trí tuệ có vai trò rất quan trọng trong công tác nghiên cứu, đánh giá và ứng dụng các biện pháp điều trị trong công tác quản lý, chăm sóc bệnh nhân tại bệnh viện và cộng đồng [13] Cách phân chia giai đoạn thích hợp nhất hiện nay là dựa vào những tiêu chí như mức biểu hiện của rối loạn chức năng các nhận thức, mức ảnh hưởng tới các hoạt động sống hàng ngày và điểm thực hiện trắc nghiệm kiểm tra trạng thái tâm trí thu nhỏ của Folstein (MMSE)[34]
* Sa sút trí tuệ giai đoạn sớm (20 - 24 điểm MMSE)
Triệu chứng nổi bật nhất là giảm trí nhớ gần hay trí nhớ ngắn hạn Bệnh nhân thường biểu lộ thiếu sót này dưới hình thức nhắc lại một câu hỏi đã hỏi nhiều lần, thậm chí hai câu hỏi cùng một nội dung được nhắc lại chỉ cách nhau vài phút, hoặc hay đi tìm đồ dùng cá nhân vì không nhớ
đã để ở đâu Vì thế bệnh nhân thường hay có thêm hoang tưởng bị mất cắp Tình trạng quên các từ ngữ dùng thường ngày khiến bệnh nhân phải
Trang 16diễn đạt theo kiểu nói vòng vo, chẳng hạn như không nhớ từ "khăn
quàng", nên phải nói là một vật quấn quanh cổ áo Các sinh hoạt thường
ngày như lái xe, quản lý nhà cửa, quản lý tiền bạc cũng ngày càng trở nên khó khăn [5]
Thay đổi nhân cách, các rối loạn cảm xúc, sự suy giảm khả năng nhận xét và đánh giá cũng xuất hiện trong giai đoạn sớm của sa sút trí tuệ Các rối loạn cảm xúc có thể dao động giữa hai thái cực là trạng thái trầm cảm và trạng thái hưng phấn Bệnh nhân thường có những thay đổi tính tình như trở nên khó tính hơn trước, dễ nóng giận và dễ kích động Trong giai đoạn sớm này, bệnh nhân thường có khả năng bù đắp những thiếu sót
về trí nh`ớ nếu như họđược sinh hoạt trong khung cảnh gia đình đã quen thuộc; tuy nhiên các thiếu sót về nhận thức và hành vi sẽ bộc lộ dễ dàng nếu họ bị rơi vào những tình huống mớigặp
* Sa sút trí tuệ giai đoạn trung gian (10-19 điểmMMSE)
Là giai đoạn tiếp theo trong đó bệnh nhân bắt đầu biểu lộ những biến đổi trong sinh hoạt hàng ngày như tắm rửa, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân, cụ thể là thực hiện khó khăn hay không thực hiện được các hoạt động này như lúc bìnhthường
Bệnh nhân mất hoàn toàn khả năng tiếp thu những thông tin mới, không lưu giữ được các thông tin chủ yếu về môi trường xung quanh do
đó bị rối loạn định hướng nặng về không gian và thời gian Bệnh nhân có thể không nhận biết vị trí ngay cả khi ở trong nhà mình Bệnh nhân dễ té ngã và gặp các tai nạn trong giai đoạn này Các rối loạn hành vi tiếp tục xuất hiện và trở nên nặng hơn Bệnh nhân có nhiều hoang tưởng hơn, đặc biệt hoang tưởng bị ám hại do đó càng nghi kỵ người xung quanh Các rối
Trang 17loạn hành vi khác cũng được gặp như hung dữ tấn công người khác, tình dục bất thường, kích động không điểnhình
* Sa sút trí tuệ giai đoạn nặng (dưới 10 điểmMMSE)
Đây là giai đoạn cuối của diễn biến bệnh trong đó bệnh nhân mất hẳn và toàn bộ các khả năng sinh hoạt thường ngày, hoàn toàn lệ thuộc vào người khác trong các hoạt động thường ngày như ăn uống, đại tiểu tiện, tắm rửa và di chuyển Bệnh nhân mất mọi thể loại trí nhớ gần và xa, không còn nhận biết được người thân trong gia đình nữa Do mất khả năng đi lại nên bệnh nhân nằm liệt giường Tăng nguy cơ thiếu dinh dưỡng và tăng nguy cơ viêm phổi do nuốt nhầm do bị mất các cử động mang tính phản xạ như nhai và nuốt Sự lệ thuộc hoàn toàn vào người khác có khi đưa bệnh nhân đến tình huống phải vào nhà dưỡng lão Các biến chứng của giai đoạn cuối là kiệt nước, thiếu dinh dưỡng, viêm phổi
do nuốt nhầm và loét do tỳ đè, trong chừng mực nào đó có thể phòng ngừa được nhờ chế độ chăm sóc thật tốt Nguyên nhân tử vong hay gặp gồm có nhiễm khuẩn đường hô hấp, tiết niệu và ngoài da[12]
2 Các yếu tố nguy cơ gây sa sút trí tuệ
2.1 Các yếu tố nguy cơ do cá nhân, gia đình và nếp sống
Các yếu tố thuộc cá nhân và gia đình như: tuổi, giới tính, tiền sử gia đình có người mắc sa sút trí tuệ đã được rất nhiều nghiên cứu tìm ra mối liên quan với sa sút trí tuệ[ 5 0 ]
+ Tuổi: sa sút trí tuệ có thể xảy ra ở bất kỳ tuổi nào nhưng hiếm gặp
ở tuổi dưới 60 Người cao tuổi càng nhiều tuổi thì khả năng mắc sa sút trí tuệ càng cao Sa sút trí tuệ tăng gấp đôi sau mỗi độ 5 năm ở lứa tuổi trên
60 Tỷ lệ bệnh ở người từ 65 tuổi trở lên là khoảng 5 đến 10%; trên 80 tuổi là 20% và trên 90 tuổi có thể đến 47% Người ta chưa chứng minh được nguyên nhân của sự tăng tỷ lệ đó là do lão hóa não hay vì những bệnh và những sự kiện phổ biến ở tuổi già [13], [50] Các nghiên cứu
Trang 18cũng chỉ ra rằng tỷ lệ mắc sa sút trí tuệ ở nữ giới cao hơn nam giới [20], [50] Điều này được giải thích là do nữ giới có tuổi thọ cao hơn nam giới nên nguy cơ mắc bệnh cũng cao hơn Nghiên cứu ở Nhật Bản cho thấy bệnh Alzheimer gặp nhiều ở nữ giới, còn sa sút trí tuệ mạch máu gặp nhiều ở nam giới[42]
+ Về mối liên quan với tiền sử gia đình, người ta nhận thấy tỷ lệ mắc bệnh cao hơn ở những người có họ hàng gần với người mắc sa sút trí tuệ Hiệp hội nghiên cứu bệnh Azheimer đã báo cáo rằng những người mắc hội chứng Down có tỷ lệ tiến triển bệnh ở tuổi trung niên cao hơn Điều này có thể do sự khác biệt về gien Một số nghiên cứu tìm ra một
số tiền liên quan trên nhiễm sắc thể 1, 14, 21 [35] Con có bố hoặc mẹ mang gien đột biến có khoảng 50% nguy cơ khởi phát bệnh Azheimer sớm Tuy nhiên vẫn chưa có một đáp án chính xác về mối liên quan này + Các yếu tố tiền sử bệnh tật: Một số nghiên cứu đã tìm ra yếu tố nguy cơ của sa sút trí tuệ là đái tháo đường, tăng huyết áp, tai biến mạch não, chấn thương sọ não, bệnh Parkinson [36] Các nghiên cứu cho thấy xấp xỉ 1/3 những người sống sót đến tháng thứ ba sau tai biến mạch não mắc sa sút trí tuệ[38];tỷ lệ mắc sa sút trí tuệ cao hơn ở những người có tiền sử bị chấn thương sọ não hay bệnh Parkinson Người già bị trầm cảm
có nguy cơ mắc sa sút trí tuệ cao hơn từ hai đến ba lần so với dự kiến Tuy nhiên người ta vẫn chưa biết liệu trầm cảm là một nhân tố gây bệnh hay chỉ đơn giản là một triệu chứng của sa sút trí tuệ
- Các yếu tố tâm lý - xã hội: Các nghiên cứu dịch tễ đã gợi ý rằng một số yếu tố tâm lý - xã hội như học vấn, hoạt động xã hội, giải trí, hoạt động thể lực có vai trò nhất định trong phát triển sa sút trí tuệ
+ Học vấn: Tỷ lệ mắc sa sút trí tuệ ở những người có trình độ văn
hóa thấp lớn hơn ở những người có trình độ cao [40]
Trang 19+ Hoạt động xã hội: Các nghiên cứu dọc cho thấy mạng lưới tổ chức xã hội kém hoặc cách ly xã hội có liên quan đến suy giảm nhận thức
và sa sút trí tuệ Liên quan sa sút trí tuệ tăng lên ở những người già bị cô lập về mặt xã hội, ít tiếp xúc với người thân và bạn bè.Các tổ chức xã hội cung cấp sự hỗ trợ xã hội tốt hơn, kích thích tinh thần và trí thông minh có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ thông qua con đường hành vi, tâm lý và sinh lý[49]
+ Hoạt động giải trí: Các nghiên cứu quan sát cho thấy những người càng tham gia tích cực các hoạt động kích thích tâm trí càng ít mắc sa sút trí tuệ Những người ít tham gia hoạt động xã hội khi về già và giảm tham gia hoạt động xã hội từ tuổi trung niên đến tuổi già có liên quan mắc sa sút trí tuệ cao gấp đôi Do sự khác nhau về văn hoá và sở thích cá nhân về các hoạt động, có thể sử dụng thang điểm để tổng hợp các hoạt động khác nhau[47]
+ Hoạt động thể lực: Một tổng hợp phân tích gần đây [65] cho thấy hoạt động thể lực có liên quan đến giảm sa sút trí tuệ Luyện tập đều đặn ngay cả các hoạt động thể lực có cường độ thấp như đi bộ cũng phối hợp với giảm sa sút trí tuệ và suy giảm nhận thức Tác dụng bảo vệ rõ rệt của luyện tập thể lực đều đặn cũng đã được báo cáo, đặc biệt ở những người mang gien APOE4 Lợi ích của các chương trình luyện tập thể lực ngắn hạn lên chức năng nhận thức vẫn chưa được khẳng định rõ Thời gian luyện tập ngắn có thể không có lợi ích rõ rệt lên nhận thức tổng thể, nhưng có thể có ích với một vài lĩnh vực nhận thức[23], [30]
- Các yếu tố thuộc nếp sống như uống rượu, hút thuốc lá và chế độ
ăn có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người đặc biệt là người cao tuổi [30]
Trang 20+ Hút thuốc lá: Theo Suh G-H và cộng sự tại Hàn Quốc [50], hút thuốc lá làm tăng nguy cơ mắc sa sút trí tuệ do mạch máu Một số nghiên cứu tiến cứu cho thấy có tăng liên quan mắc bệnh Alzheimer ở người hút thuốc [15]
+ Uống rượu: Uống rượu quá mức có thể gây sa sút trí tuệ do rượu
và có thể làm tăng liên quan sa sút trí tuệ do mạch máu Nghiện rượu nặng ở tuổi trung niên phối hợp với tăng liên quan sa sút trí tuệ khi về già, đặc biệt ở những người có mang apolipoprotein E4 [24]
+ Chế độ dinh dưỡng: Acid béo có thể tác động lên sự phát triển của bệnh Alzheimer qua nhiều cơ chế khác nhau như vữa xơ động mạch
và viêm Một nghiên cứu gợi ý có sự phối hợp giữa chế độ ăn nhiều mỡ bão hoà với tăng liên quan mắc bệnh Alzheimer, trong khi ăn nhiều cá và acid béo không bão hoà n-3 làm giảm liên quan mắc bệnh Alzheimer [43]
Các yếu tố nguy cơ bệnh lý về tim - mạch và chuyển hóa
trung niên phối hợp với tăng liên quan sa sút trí tuệ, thậm chí bệnh Alzheimer Tăng huyết áp có liên quan đến các dấu ấn thoái hoá thần kinh trong não, gợi ý rằng tăng huyết áp mạn tính có thể có vai trò trong bệnh sinh của bệnh Alzheimer [41]
mối liên quan giữa béo phì và sa sút trí tuệ Chỉ số khối cơ thể cao ở tuổi trung niên có liên quan đến tăng liên quan mắc sa sút trí tuệ khi về già[22]
tăng liên quan cả sa sút trí tuệ do mạch máu lẫn do thoái hoá Đái tháo
Trang 21đường giới hạn và giảm dung nạp glucose cũng phối hợp với tăng liên quan sa sút trí tuệ và bệnh Alzheimer[25]
và bệnh Alzheimer, đặc biệt ở những người có bệnh mạch ngoại vi, gợi ý rằng vữa xơ động mạch ngoại vi lan toả là một yếu tố nguy cơ của sa sút trí tuệ [28]
đột quỵ não ở vị trí chiến lược là những yếu tố nguy cơ chính gây sa sút trí tuệ sau đột quỵ não Đột quỵ não thầm lặng và các tổn thương chất trắng thấy trên phim chụp cắt lớp vi tính não phối hợp với tăng liên quan sa sút trí tuệ và suy giảm nhận thức [47] Cục máu tắc ở não tự phát có liên quan đến cả sa sút trí tuệ lẫn bệnh Alzheimer, và một số nghiên cứu báo cáo về
sự phối hợp của đột quỵ não với bệnh Alzheimer và suy giảm nhận thức Những tổn thương mạch não có thể tác động qua lại với những tổn thương thoái hoá thần kinh để gây nên hội chứng sa sút trí tuệ ở những người mà những tổn thương này không đủ để biểu hiện thành sa sút trí tuệ [32], [47]
cholesterol máu ở tuổi trung niên với bệnh Alzheimer khi về già[48]
vào quá trình xơ vữa động mạch Do vậy, các dấu ấn viêm trong huyết thanh có thể phối hợp với sa sút trí tuệ [31]
2.2 Các yếu tố nguy cơ ở mức phân tử
Cơ chế bệnh học của bệnh Alzheimer dựa trên giả thuyết “bậc thang
amyloid” Giả thuyết này cho rằng amyloid-42 (A42) là dẫn xuất thủy
phân của phân tử protein xuyên màng tiền thân amyloid (APP), đóng
Trang 22vai trò quan trọng trong tất cả các trường hợp mắc bệnh Alzheimer [33]
Tại Việt Nam, nghiên cứu về yếu tố nguy cơ ở mức phân tử, Trần Viết Lực đã tiến hành nghiên cứu đánh giá vai trò của các dấu ấn sinh học trong chẩn đoán sa sút trí tuệ Kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy vai trò của beta amyloid 1-40 và amyloid 1-42 cùng với protein tau dịch não-tủy trong chẩn đoán sa sút trí tuệ [11]
3 Nội dung chăm sóc người bệnh sa sút trí tuệ
Cải thiện chức năng hàng ngày và chất lượng sống có thể làm chậm mức độ tàn tật và nhu cầu nhập viện của bệnh nhân Những bệnh nhân có biểu hiện trầm cảm nặng cần được điều trị Điều trị trầm cảm sẽ cải thiện
sự chú ý, tập trung và mức năng lượng và đôi khi giảm tàn tật ở bệnh nhân sa sút trí tuệ Duy trì khả năng độc lập của người bệnh trong hoạt động hàng ngày bằng cách:
nhân
nước hoa cho họ ngửi mùi, giúp họ gọi tên và nhớ lại cách sử dụng hoàn cảnh sử dụng các chất đó
mà người bệnh đã quen, khuyến khích người bệnh nhớ lại và liên hệ các hoàn cảnh hay gặp
chuyện, trình bày các suy nghĩ của mình, không ngắt lời họ khi giao tiếp Hướng dẫn họ làm việc bằng các câu đơn giản, ví dụ như “Ông ăn cơm
Trang 23đi”, “Ông đi ra bàn” Khuyến khích họ tham gia các hoạt động chung với người khác
thúc đẩy xuất hiện các hành vi đó để loại bỏ yếu tố thúc đẩy, kiên nhẫn và đánh lạc hướng họ sang một việc khác
* Chế độ ăn[29],[37]: Đảm bảo chế độ ăn điều độ hợp lý, sẽ làm
giảm nguy cơ các bệnh mạch não, bệnh tim mạch, bệnh chuyển hóa Thực hiện chế độ ăn điều độ, hợp lý bằng cách tăng lượng rau quả, giảm mỡ và chất béo, ăn chất đạm vừa đủ theo nhu cầu Chế độ ăn hạn chế muối sẽ làm giảm đáng kể huyết áp, bổ sung đầy đủ các vitamin B12, B6, folat trong khẩu phần ăn sẽ làm giảm nồng độ homocystein Việc bỏ hút thuốc lá, hạn chế uống rượu, bia sẽ làm giảm thiểu nguy cơ tim mạch và tai biến mạch não
* Tập thể dục [37]: Tập thể dục đều đặn thường xuyên giúp cải
thiện trí nhớ và làm chậm quá trình lão hóa
bộ, chơi các môn thể thao phù hợp lứa tuổi
nghiên cứu khoa học
- Tham gia các hoạt động tập thể và các hoạt động xã hội: dưỡng sinh, âm nhạc, hội họa, khiêu vũ, thơ, nuôi động vật cảnh…
nhận thức khác bằng cách duy trì đọc sách báo, tập nhớ lại những thông tin, các sự kiện trước đây, lập kế hoạch, thực hiện công việc, cố gắng làm theo thời gian biểu đã lập hàng ngày hoặc hàng tuần và đề ra những phần việc quan trọng cần chú ý để thực hiện