MỤC TIÊU Kể được nguyên nhân có thể làm thai chết trong thai kỳ Trình bày được các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng của một thai trên 20 tuần chết lưu.. Định nghĩa về thai chết l
Trang 1THAI CHẾT LƯU
Trang 2MỤC TIÊU
Kể được nguyên nhân có thể làm thai chết trong thai kỳ
Trình bày được các triệu chứng lâm
sàng và cận lâm sàng của một thai trên 20 tuần chết lưu.
Trình bày được tiến triển của một thai chết lưu
Nêu được các phương pháp giúp đưa
một thai chết lưu ra khỏi buồng tử cung
Trang 3Trong thời gian sống trong tử cung, mặc dù
được người mẹ bảo vệ nhưng thai vẫn có thể
bị chết ở bất cứ thời điểm nào Định nghĩa về thai chết lưu không thống nhất giữa các nước, chúng ta quan niệm thai chết lưu là tất cả các trường hợp thai chết mà còn lưu lại trong tử cung trên 48 giờ
Thai chết lưu gây ra hai nguy cơ lớn cho người mẹ
Rối loạn đông máu dưới dạng chảy máu vì đông máu rải rác trong lòng mạch
Nhiễm trùng nhanh và nặng khi ối vỡ lâu
Bên cạnh đó, còn có những ảnh hưởng ít
nhiều đến tâm lý, tình cảm của người mẹ, đặc biệt là những trường hợp hiếm con
Trang 4I NGUYÊN NHÂN
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra thai chết lưu và cũng có rất nhiều trường hợp thai
chết lưu mà không tìm được nguyên nhân
1 Nguyên nhân từ phía mẹ
Bệnh lý mạn tính: viêm thận, suy gan, thiếu máu, lao phổi, bệnh tim, cao huyết áp…
Bệnh nội tiết: Basedow, thiểu năng giáp
trạng, đái tháo đường, thiểu năng hay
cường năng tuyến thượng thận
Tiền sản giật từ thể nhẹ đến thể nặng
đều có thể gây ra thai chết lưu
Bệnh nhiễm ký sinh trùng như sốt rét ( đặc biệt là sốt rét ác tính làm cho thai chết
gần như 100 %) , nhiễm vi khuẩn ( giang mai…), nhiễm virus (viêm gan, quai bị, cúm sởi)
Trang 5Nhiễm độc mạn tính, hay cấp tính, bị chiếu tia xạ, đặc biệt là trong thời gian đầu khi
mới có thai.
Tử cung dị dạng, tử cung nhi tính, tử cung
kém phát triển.
Một số yếu tố thuận lợi làm cho thai chết lưu là:
Tuổi của mẹ: tỉ lệ thai chết tăng cao ở
những người mẹ trên 40 tuổi, nguy cơ thai
chết lưu cao gấp 5 lần so với nhóm phụ nữ trẻ.
Dinh dưỡng kém, lao động vất vả, đời
sống khó khăn.
Trang 62 Nguyên nhân từ phía thai
Rối loạn nhiễm sắc thể: là nguyên nhân chủ yếu của thai dưới 3 tháng bị chết
Thai dị dạng: não úng thủy, vô sọ , phù
nhau thai.
Bất đồng nhóm máu giữa mẹ và con do yếu tố Rh.
Thai già tháng: bánh nhau bị lão hóa,
không bảo đảm nuôi dưỡng thai, dẫn đến thai chết lưu nếu không được xử trí kịp thời.
Đa thai: thai có thể bị chết trong trường hợp truyền máu cho nhau, thai cho máu dễ bị
chết lưu.
Trang 73 Nguyên nhân từ phần phụ
Dây rốn: mọi bất thường ở dây rốn đều có thể làm thai chết lưu Dây rốn thắt nút, dây rốn ngắn, dây rốn quấn quanh cổ, quanh
thân, quanh chi Dây rốn bị chèn ép, đặc
biệt hay gặp trong trường hợp thiểu ối Dây rốn bị xoắn quá mức
Bánh nhau: xơ hóa, bị bong, u mạch máu màng đệm của bánh nhau
Nước ối: đa ối cấp tính hay mạn tính, thiểu ối
Người ta thấy rằng có từ 20 % - 50% số
trường hợp thai chết lưu là không tìm thấy
nguyên nhân, mặc dù có đầy đủ các
phương tiện thăm dò hiện đại
Trang 8II.GIẢI PHẪU BỆNH
Tùy theo giai đoạn thai bị chết , mà có
các hình thái sau:
1 Thai bị tiêu: Thai bị chết trong những
tuần đầu tiên, ở giai đoạn nhau toàn
diện thì thai có thể bị tiêu đi hoàn toàn, chỉ còn để lại một bọc nước.
2 Thai bị teo đét: Vào tháng thứ 3, thứ
4, thai chết sẽ bị teo đét, khô lại Da thai vàng xám như màu đất, nhăn nheo bọc lấy xương, nước ối ít đi, đặc sánh, vẩn
đục, cuối cùng sẽ khô đi để lại một lớp sáp trắng bệch, bao quanh cái thai.
Trang 93 Thai bị ủng mục: Sau 5 tháng, thai chết sẽ
bị ủng mục Lớp ngoại bì sẽ bị bong, lột dần từ phía chân lên phía đầu thai Lớp nội bì bị thấm hemoglobin nên có màu đỏ tím Các
nội tạng bị rữa nát, làm cho đầu ọp ẹp, các xương sọ chồng lên nhau, ngực xẹp, bụng ỏng Bánh nhau vàng úa, teo đét, xơ cứng lại,
màng nhau vàng úa Nước ối ít dần đi, sánh lại có màu hồng đỏ Dây rốn teo nhỏ lại
4 Thai bị thối rửa: Nếu ối bị vỡ lâu, thai
vẫn nằm lại trong tử cung thì sẽ bị nhiễm
trùng rất nhanh và rất nặng Nhiễm trùng lan tỏa rất nhanh, gây nhiễm độc cho mẹ Có
thể gặp vi khuẩn kỵ khí gây hoại thư sinh hơi ở trong tử cung
Trang 10III TRIỆÄU CHỨNG VÀ CHẨN
ĐOÁN
1 Thai dưới 20 tuần bị chết: Nhiều trường
hợp thai chết lưu âm thầm, không có triệu chứng, làm cho chẩn đoán khó khăn
Trước đó bệnh nhân có những dấu hiệu có thai như: trể kinh, nghén, bụng to dần,
hCG trong nước tiểu dương tính, siêu âm đã thấy thai và hoạt động tim thai.
Ra máu âm đạo tự nhiên, ít một, không đau bụng, máu đỏ xẫm hay nâu đen.
Bệnh nhân thấy bụng bé đi hay không thấy bụng to lên mặc dù mất kinh đã lâu.
Trang 11Khám thấy thể tích tử cung bé hơn so với tuổi thai, mật độ tử cung đôi khi chắc hơn so với tử cung có thai sống.
Xét nghiệm tìm hCG trong nước tiểu chỉ âm
tính sau khi thai đã chết một thời gian
Siêu âm là thăm dò có giá trị , cho chẩn
đoán sớm và chính xác Trên siêu âm có
thể thấy phôi thai rõ ràng mà không thấy
hoạt động tim thai Hoặc chỉ nhìn thấy túi ối mà không thấy phôi thai, còn gọi là hình ảnh túi ối rỗng Hình ảnh túi ối rỗng càng chắc chắn là thai lưu khi túi ối méo mó, không
đều
Trang 122 Thai trên 20 tuần bị chết: Triệu chứng
thường rõ ràng làm thai phụ phải đi khám ngay, nên dễ dàng xác định được thời gian thai đã chết
Trước đó, thai phụ có các dấu hiệu có
thai, đặc biệt là đã thấy thai cử động
Người thầy thuốc đã sờ nắn thấy phần thai, nghe thấy tim thai, đã xác định được
chiều cao tử cung.
Thai phụ không thấy thai cử động nữa
Đây là dấu hiệu chính khiến thai phụ chúù
ý và đi khám.
Trang 13Hai vú tiết sữa non tự nhiên làm cho thai phụ phải chú ý đến hiện tượng này.
Ra máu âm đạo là dấu hiệu hiếm gặp đối với thai trên 20 tuần bị chết
Thai phụ cảm thấy bụng không to lên,
thậm chí bé đi nếu thai đã chết lâu ngày.
Nếu thai phụ có bị một số bệnh kèm
theo như nhiễm độc thai nghén, bệnh tim… thì bệnh sẽ tự thuyên giảm, thai phụ cảm thấy dễ chịu hơn.
Trang 14Thăm khám thấy:
Tử cung bé hơn so với tuổi thai, đặc biệt có
giá trị nếu thấy chiều cao tử cung giảm đi qua hai lần đo khác nhau, do cùng một người đo
Khó sờ nắn thấy phần thai
Không nghe thấy tiếng tim thai
Siêu âm cho kết quả chính xác Không quan sát thấy hoạt động của tim thai Đầu méo mó, có thể thấy dấu hiệu hai vòng ở xương sọ thai do
da đầu bị bong ra Nước ối có thể thấy ít, thậm chí không còn
Các phương pháp thăm dò X quang như chụp
bụng không chuẩn bị, chụp buồng ối… ngày nay
ít còn được sử dụng Các phương pháp này có thể gây hại cho mẹ, nhất là cho thai nếu thai
còn sống Do đó người ta chỉ áp dụng các
phương pháùp này khi đã chẩn đoán là thai lưu hay khi thai đã gần đủ tháng
Trang 15Trên phim chụp không chuẩn bị có thể
thấy:
Xương sọ bị chồng lên nhau (dấu hiệu Spalding I)
Cột sống thai bị gấp khúc (dấu hiệu Spalding II)
Vòng sáng quanh đầu thai (dấu hiệu Devel)
Bóng hơi trong buồng tim hay mạch máu lớn
(dấu hiệu Roberts)
Định lượng fibrinogen trong máu: để đánh giá
ảnh hưởng của thai chết lưu lên quá trình đông máu Nếu thai chết vẫn còn ở trong tử cung thì phải định lượng fibrinogen máu hàng tuần Đây là xét nghiệm quan trọng không thể thiếu được trước khi can thiệp cho thai ra
Trang 16CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT
Đối với thai trên 20 tuần chết lưu, chẩn
đoán phân biệt ít đặt ra Đối với thai dưới
20 tuần chết lưu, có thể bị nhầm với:
Thai ngài tử cung vì có ra máu đen ở âm
đạo, tử cung nhỏ hơn tuổi thai Thai chết lưu khi sắp bị sẩy cũng gây đau bụng.
Thai trứng, đặc biệt là nhầm với thai
trứng thoái triển Nhiều khi không thể
phân biệt được nếu dựa trên lâm sàng và siêu âm Chỉ khi nạo và xét nghiệm giải phẫu bệnh lý tổ chức nạo ra mới cho
chẩn đoán xác định được.
Trang 17Tử cung có u xơ, khám thấy tử cung to hơn
bình thường kèm theo ra máu âm đạo bất
thường
Thai còn sống, đây là vấn đề hết sức lưu
ý vì lúc nào cũng có thể bị nhầm, nhất là khi vội vàng trong chẩn đoán Tất cả các
triệu chứng cơ năng hay thực thể , kể cả
thăm dò siêu âm để chẩn đoán thai chết lưu đều có thể bị nhầm Cách tốt nhất để
tránh nhầm lẫn đáng tiếc này là chúng ta không nên vội vàng, hấp tấp trong chẩn
đoán, trong xử trí Nhiều khi phải thăm khám, thăm dò nhiều lần, bằng nhiều người để có chẩn đoán chính xác
Trang 18 Mất đi một đứa con đang được mong đợi Hậu quả tâm lý này càng nặng nề
ở những người hiếm con, vô sinh…
Tâm lý lo sợ khi mang cái thai đã chết.
Trang 19Rối loạn đông máu: Rối loạn đông máu là
một biến chứng nặng của thai chết lưu
Thromboplastin có trong nước ối, có trong tổ
chức thai chết đi vào tuần hoàn người mẹ Đặc biệt là khi tử cung có cơn co hay can thiệp vào buồng tử cung , hoạt hóa quá trình đông máu, gây ra đông máu rải rác trong lòng mạch
Đông máu rải rác trong lòng mạch này có đặc điểm là quá trình tiêu sinh sợi huyết thứ phát chiếm ưu thế, dẫn đến biểu hiện lâm sàng là chảy máu, fibrinogen trong máu tụt thấp hay
không có Quá trình đông máu rải rác trong
lòng mạch có thể diễn ra từ từ Người ta thấy rằng nếu thời gian thai chết lưu lại trên 4 tuần và thai càng lớn thì nguy cơ rối loạn đông máu càng cao
Trang 20Nhiễm trùng khi ối vỡ lâu: Không sợ
nhiễm trùng khi còn màng ối, nhưng khi ối đã vỡ, nhiễm trùng sẽ rất nhanh và nặng Ngoài các vi khuẩn hay gặp như: tụ cầu, trực khuẩn, proteus … còn có thể gặp vi khuẩn yếm khí
như Clostridium perfringens Nhiễm trùng nặng,
lan rộng có thể làm cho mẹ bị choáng nội
độc tố, đặc biệt là do vi khuẩn gram âm
Một số đặc điểm chuyển dạ của thai
chết lưu
Đầu ối hình quả lê, lòi qua cổ tử cung, thòng vào trong âm đạo là do màng thai không còn khả năng chun giãn Đầu ối quả lê không
giúp ích cho cổ tử cung mở, làm chẩn đoán nhầm độ mở cổ tử cung Tuy nhiên không bao giờ được bấm ối khi cổ tử cung chưa mở hết
Trang 21Nước ối có màu đỏ hồng, đôi khi lẫn rất
nhiều phân su nếu thai bị chết vì suy thai
trường diễn
Dù là ngôi gì thai cũng có thể đẻ đường
dưới được Nếu thai ở tư thế ngang, cột sống
bị gấp lại cho phép thai lọt và sổ được Một khi cần giúp đỡ cho thai ra thì dùng các thủ thuật hủy thai như chọc óc, kẹp sọ, cắt thai
Sau khi sổ nhau phải tiến hành kiểm soát tử cung một cách chủ động, có hệ thống vì bao giờ cũng bị sót nhau
Chú ý cho bệnh nhân sử dụng kháng sinh để tránh nhiễm khuẩn
Trang 22Fibrinogen truyền tĩnh mạch
Máu tươi toàn phần
Các thuốc chống tiêu sợi huyết như EAC,
transamine …
Nong cổ tử cung, nạo: Nạo được áp dụng cho
các trường hợp thai lưu mà thể tích tử cung nhỏù hơn tử cung có thai 3 tháng, hay bề cao tử cung
dưới 8 cm Phải giảm đau cho bệnh nhân trước khi nạo, dùng thuốc co tử cung và kháng sinh sau thủ thuật Cần chú ý theo dõi chảy máu sau nạo
Trang 23 Gây sẩy thai, gây chuyển dạ: Gây sẩy thai,
gây chuyển dạ được áp dụng cho tất cả các trường hợp thai chết lưu to hơn, không thể nong, nạo được Có nhiều phương pháp để cho thai ra.
Phương pháp đặt túi nước
Phương pháp Stein:
Dùng Benzogynestryl 10mg/ngày, trong 3 ngày liền.
Đến ngày thứ tư truyền Oxytocin tĩnh mạch gây cơn co tử cung Liều Oxytocin truyền mỗi ngày tối đa là 30 đơn vị , truyền từng đợt trong 3 ngày liền Giữa các đợt cách nhau 7 ngày, thông thường thai bị tống xuất trong 1 đến 2 ngày
truyền đầu tiên.
Trang 24Truyền Oxytocin tĩnh mạch đơn thuần :
Bệnh nhân được truyền Oxytocin tĩnh mạch ngay mà không có chuẩn bị trước Cũng với cách thức truyền như trong
phương pháp Stein Kết quả cũng như của phương pháp Stein.Ưu điểm của phương
pháp này là không phải dùng Estrogen, rút ngắn được thời gian nằm viện.
Dùng Prostaglandin là phương pháp được
ưa chuộng nhất hiện nay Các thuốc hay được dùng là thuốc nhóm Prostaglandin E2như Prostin, Nalador, Cervageme Đường
dùng thuốc có thể là đặt âm đạo, tiêm bắp, truyền tĩnh mạch Phải giữ màng ối đến khi cổ tử cung mở hết
Hiện nay tại Việt Nam nhiều cơ sở đã dùng viên Cytotec uống hay đặt âm đạo để gây sẩy thai.
Trang 25VII DỰ PHÒNG
Điều trị và theo dõi sát những thai phụ có bệnh lý có thể đe dọa thai (tiểu
đường, cao HA, nhiễm trùng).
Thai quá ngày phải được xử lý kịp
thời
Thai phụ có tiền sử thai chết lưu phải được theo dõi cẩn thận Chấm dứt thai kỳ khi thai đủ trưởng thành hay ngay khi thai nhi bắt đầu bị đe dọa