BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH ------ NGUYỄN THỊ HUỆ THỰC TRẠNG CHĂM SÓC PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG TƯ THẾ SỚM CHO NGƯỜI BỆNH ĐỘT QUỴ TẠI BỆNH VIỆN GANG THÉP THÁI NGUYÊ
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
- -
NGUYỄN THỊ HUỆ
THỰC TRẠNG CHĂM SÓC PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG TƯ THẾ SỚM CHO NGƯỜI BỆNH ĐỘT QUỴ TẠI BỆNH VIỆN GANG THÉP THÁI NGUYÊN NĂM 2018
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
NAM ĐỊNH – 2018
Trang 2BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
- -
NGUYỄN THỊ HUỆ
THỰC TRẠNG CHĂM SÓC PHỤC HỒI CHỨC NĂNG VẬN ĐỘNG TƯ THẾ SỚM CHO NGƯỜI BỆNH ĐỘT QUỴ TẠI BỆNH VIỆN GANG THÉP THÁI NGUYÊN NĂM 2018 Chuyên ngành: ĐIỀU DƯỠNG NỘI NGƯỜI LỚN
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP Giảng viên hướng dẫn: TS BS VŨ VĂN THÀNH
NAM ĐỊNH – 2018
Trang 3MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC HÌNH
1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3
2.1 Cơ sở lý luận 3
2.1.1 Định nghĩa đột quỵ 3
2.1.2 Nguyên nhân [15] 3
2.1.3 Phân loại [15] 4
2.1.4 Hậu quả của đột quỵ 5
2.1.5 Chăm sóc người bệnh đột quỵ 5
2.1.6 Phục hồi chức năng cho người bệnh sau đột quỵ 11
2.2 Cơ sở thực tiễn 19
2.2.1 Tình hình đột quỵ trên Thế giới và Việt Nam 19
2.2.2 Tình hình di chứng và tàn tật do đột quỵ 20
2.2.3 Thực trạng chăm sóc phục hồi chức năng vận động tư thế sớm cho người bệnh đột quỵ 21
3 THỰC TRẠNG CHĂM SÓC PHCN VẬN ĐỘNG TƯ THẾ SỚM CHO NGƯỜI BỆNH ĐỘT QUỴ TẠI KHOA NỘI TIM MẠCH BỆNH VIỆN GANG THÉP THÁI NGUYÊN NĂM 2018 25
3.1 Thực trạng chăm sóc PHCN vận động sớm cho người bệnh đột quỵ 25 3.2 Ưu điểm và tồn tại: 28
3.2.3 Nguyên nhân 29
Trang 43.3 Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chăm sóc PHCN vận động tư
thế sớm cho người bệnh đột quỵ 30
3.3.1 Đối với bệnh viện và cán bộ y tế 30
3.3.2 Đối với người bệnh 30
KẾT LUẬN 32
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 61 ĐẶT VẤN ĐỀ
Tai biến mạch máu não (TBMMN), hay còn gọi là đột quỵ, là bệnh lý của hệ thần kinh phổ biến nhất hiện nay và là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ ba sau các bệnh tim mạch và ung thư, nhưng dự đoán nó có thể trở thành căn bệnh có tỷ lệ tử vong hàng đầu [19]
Trên thế giới hiện có khoảng 30,9 triệu người mắc bệnh đột quỵ, các trường hợp tử vong trên 4 triệu người một năm [19] Ở Hoa Kỳ, cứ 100.000 dân thì có 794 người bị đột quỵ, còn ở Pháp, trong 1000 dân có 60 người đột quỵ Qua khảo sát thực tế và đánh giá của nhiều chuyên gia y tế, tỷ lệ đột quỵ
ở những người trẻ và trung niên cũng đang gia tăng mạnh mẽ, chiếm 1/3 tổng
số các trường hợp đột quỵ Hiện con số thống kê cho nhóm đối tượng này khoảng 83.000 người/ năm [4]
Hiện nay, tỷ lệ người bệnh đột quỵ của nước ta đang ngày càng gia tăng
do nhiều nguyên nhân khác nhau như bệnh huyết áp, đái tháo đường, các bệnh van tim, béo phì [4] Đột quỵ biểu hiện đặc trưng các tổn thương cấp tính, có thể gây tử vong nhanh chóng hoặc để lại nhiều di chứng nặng nề bao gồm liệt nửa người, không tự đi lại được, khó khăn trong hoạt động sinh hoạt hàng ngày, phải phụ thuộc hoàn toàn vào sự phục vụ của người khác…[6]; vì vậy, nếu người bệnh đột quỵ không được phục hồi tốt thì di chứng để lại sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người bệnh như: sa sút trí tuệ, giảm hoặc mất khả năng vận động, thậm chí có những người bệnh chỉ nằm một chỗ, vô cảm hoàn toàn với thời gian, kéo theo tình trạng kinh tế gia đình suy sụp, nó thực
sự là gánh nặng cho toàn xã hội [2]
Người bệnh đột quỵ cần được chăm sóc phục hồi chức năng Điều dưỡng trong khoa là người trực tiếp chăm sóc, giúp người bệnh vận động sớm Tại bệnh viện Gang Thép Thái Nguyên, chăm sóc phục hồi chức năng vận động tư thế sớm cho người bệnh đột quỵ còn thực hiện lẻ tẻ và chưa theo một
Trang 7hưởng tới kết quả chăm sóc và điều trị Để nâng cao hiệu quả chăm sóc phục hồi chức năng cho người bệnh đột quỵ và có những đề xuất phù hợp chúng tôi thực hiện chuyên đề: “Thực trạng chăm sóc phục hồi chức năng vận động
tư thế sớm cho người bệnh đột quỵ tại Bệnh viện Gang Thép Thái Nguyên năm 2018”, với hai mục tiêu sau:
MỤC TIÊU
1 Mô tả thực trạng chăm sóc phục hồi chức năng vận động tư thế sớm cho người bệnh đột quỵ tại khoa Nội tim mạch Bệnh viện Gang Thép Thái Nguyên năm 2018
2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả chăm sóc phục hồi chức năng vận động tư thế sớm cho người bệnh đột quỵ tại khoa Nội Tim mạch Bệnh viện Gang Thép Thái Nguyên
Trang 82 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Định nghĩa đột quỵ
Đột quỵ là tình trạng bệnh lý não biểu hiện bởi các thiếu sót chức năng thần kinh xảy ra đột ngột với những triệu chứng khu trú hơn là lan tỏa, tồn tại hơn 24h hoặc tử vong, loại trừ nguyên nhân chấn thương sọ não [3]
2.1.2 Nguyên nhân [15]
2.1.2.1 Nhóm các yếu tố không thể tác động thay đổi được
Tuổi cao, giới tính nam, chủng tộc, yếu tố gia đình hoặc di truyền
Các đặc điểm của các yếu tố nguy cơ nhóm này như sau:
Giới: nam mắc bệnh nhiều hơn nữ trong mọi nhóm tuổi (tỷ lệ nam/nữ là 2,2/1)
Chủng tộc: người da đen có tỷ lệ mắc đột quỵ cao nhất sau đó đến người da vàng và cuối cùng là người da trắng
Khu vực địa lý: Cư dân Châu Á mắc bệnh nhiều hơn Đông Âu, tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn cả là ở các cư dân Tây Âu và Bắc Mỹ Dân thành phố mắc bệnh nhiều hơn nông thôn
Lứa tuổi: Người già mắc bệnh nhiều nhất sau đó đến tuổi trung niên và giảm dần ở lứa tuổi thanh thiếu niên, cuối cùng tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ
em là thấp nhất
2.1.2.2 Nhóm các yếu tố có thể tác động thay đổi được
Tăng huyết áp, đái tháo đường, tăng Cholesterol máu, thuốc lá, Migraine, thuốc tránh thai, béo phì, nghiện rượu, lạm dụng thuốc, ít vận động
Các nguyên nhân hàng đầu của đột quỵ là tuổi cao, vữa xơ động mạch não, cao huyết áp; sau đó, là nguyên nhân từ tim (viêm nội tâm mạc nhiễm
Trang 9khuẩn, hẹp van hai lá, rối loạn nhịp tim), các bệnh gây rối loạn đông máu và một số bệnh nội ngoại khoa khác
2.1.3 Phân loại [15]
Có 2 dạng đột quỵ thường gặp hiện nay:
Đột quỵ do thiếu máu cục bộ: bệnh thường gặp sau một cơn đau hoặc
cục máu đông có thể hình thành trong các mạch máu của não hoặc trong mạch máu dẫn đến não hay trong các mạch máu ở những nơi khác của cơ thể đi đến não; những cục máu đông chặn lưu lượng máu đến các tế bào của não, dạng này chiếm tỷ lệ cao trên 80% các ca đột quỵ do thiếu máu cục bộ
Đột quỵ do xuất huyết não: xảy ra do một mạch máu não bị vỡ, kết quả
là máu thấm vào mô não, gây tổn thương cho các tế bào não, phổ biến nhất của dạng này là kết hợp giữa huyết áp cao với chứng phình động mạch não hay dị dạng mạch máu não bẩm sinh, do rối loạn đông máu hoặc người bệnh đang điều trị bằng thuốc chống đông
Hình 1.1 Các dạng đột quỵ
Tùy thuộc vào sự tổn thương của mạch máu não, có thể do sự tắc nghẽn mạch máu não làm ngưng trệ dòng máu lên nuôi não phía sau chỗ tắc, hoặc
Trang 10do sự vỡ mạch máu trong não làm cho máu trong lòng mạch thoát ra bên ngoài tràn vào trong mô não gây phá hủy và chèn ép mô não Hậu quả là phần não có liên quan bị tổn thương không thể hoạt động được dẫn đến phần cơ thể vùng não đó chỉ huy cũng không thể hoạt động được Không giống như nhiều
bộ phận khác trong cơ thể, tế bào não không được dự trữ năng lượng cho những trạng thái khẩn cấp, mà phụ thuộc hoàn toàn vào sự cấp máu liên tục tới não Do vậy sự gián đoạn cung cấp máu tới tổ chức não càng kéo dài thì tổn thương não càng nhiều và tình trạng người bệnh càng trầm trọng
Khi đột quỵ xảy ra, chết tế bào não đầu tiên xảy ra ở vùng lõi (core) và tiếp tục lan rộng theo thời gian ra vùng lân cận còn gọi là vùng tranh tối tranh sáng (penumbra) được coi là vùng có thể cứu vãn được vì tổn thương có thể đảo ngược được nếu được cung cấp máu nhanh chóng trở lại
2.1.4 Hậu quả của đột quỵ
Đột quỵ là bệnh lý nặng nề, diễn biến phức tạp Ngoài việc gây nên tỷ lệ
tử vong cao, nếu sống sót cũng để lại nhiều di chứng, khiếm khuyết, giảm chức năng và tàn tật, ảnh hưởng lớn cho xã hội, gia đình và chính bản thân người bệnh Theo tổ chức y tế thế giới, có từ 1/3 đến 2/3 người bệnh sống sót sau đột quỵ mang tàn tật vĩnh viễn Người bệnh đột quỵ thuộc loại đa tàn tật
vì ngoài khả năng giảm vận động, người bệnh còn nhiều di chứng khác kèm theo như rối loạn giao tiếp ngôn ngữ, rối loạn cảm giác [20]
2.1.5 Chăm sóc người bệnh đột quỵ
2.1.5.1 Nhận định tình hình
Người bệnh bị đột quỵ thường là một bệnh cấp tính, diễn biến kéo dài,
có thể ngày càng nặng dần tuỳ theo nguyên nhân và mức độ tổn thương, nhiều biến chứng rất nguy hiểm có thể đe doạ tính mạng người bệnh nếu chúng ta không điều trị và chăm sóc chu đáo Vì vậy, người điều dưỡng khi tiếp xúc với người bệnh cần phải nhẹ nhàng, ân cần và biết thông cảm
Hỏi bệnh:
Trang 11Trạng thái tinh thần của người bệnh: lo lắng, sợ hãi
Có biết bị tăng huyết áp không và thời gian bị tăng huyết áp?
Có đi lại được không?
Thuốc và cách điều trị tăng huyết áp như thế nào?
Các bệnh tim mạch đã mắc?
Đã bao giờ bị liệt hay bị yếu tay chân chưa?
Có hay nhức đầu, mất ngủ hay nhìn có bị mờ không?
Gần đây nhất có dùng thuốc gì không?
Có buồn nôn, nôn và rối loạn tiêu hoá không?
Khả năng nói của người bệnh?
Có bị bệnh thận trước đây không?
Có hay bị sang chấn gì không?
Tình trạng đi tiểu: số lượng và màu sắc?
Đánh giá bằng quan sát:
Tình trạng tinh thần của người bệnh: mệt mỏi, tỉnh táo hay hôn mê Quan sát vận động tay chân của người bệnh
Quan sát các tổn thương trên da
Tình trạng miệng và mặt có bị méo không?
Tuổi trẻ hay lớn tuổi?
Tự đi lại được hay phải giúp đỡ?
Người bệnh mập hay gầy?
Trang 12Khám dấu cơ lực và trương lực của người bệnh Khám mắt và các thương tổn khác
Ngoài ra cần chú ý các dấu chứng khác như: tình trạng tim mạch, các dấu ngoại biên, số lượng nước tiểu, tình trạng phù
Tham khảo hồ sơ bệnh án
Kiểm tra các xét nghiệm, các thuốc và cách sử dụng các thuốc nếu có Thu thập thông tin qua gia đình, hồ sơ bệnh án
2.1.5.2 Chẩn đoán điều dưỡng
Một số chẩn đoán điều dưỡng có thể gặp ở người bệnh bị đột quỵ: Nhức đầu do tăng huyết áp
Mất khả năng vận động do liệt
Khả năng giao tiếp bằng lời giảm do đột quỵ
Nguy cơ loét ép do chăm sóc không tốt
Nguy cơ nhiễm trùng hô hấp do nằm lâu
2.1.5.3 Lập kế hoạch chăm sóc
Qua khai thác các dấu chứng trên giúp cho người điều dưỡng có được các chẩn đoán điều dưỡng Người điều dưỡng cần phân tích, tổng hợp và đúc kết các dữ kiện để xác định nhu cầu cần thiết của người bệnh, từ đó lập ra kế hoạch chăm sóc cụ thể Khi lập kế hoạch chăm sóc phải xem xét đến toàn trạng người bệnh, đề xuất vấn đề ưu tiên, vấn đề nào cần thực hiện trước và vấn đề nào thực hiện sau tuỳ từng trường hợp cụ thể
Chăm sóc cơ bản:
Để người bệnh nghỉ ngơi, nằm ở tư thế đầu cao, nằm nghiêng về một bên
Giải thích cho người bệnh và gia đình về tình trạng bệnh tật
Ăn đầy đủ năng lượng và nhiều hoa quả tươi
Vệ sinh sạch sẽ hàng ngày
Trang 13Hướng dẫn gia đình tự theo dõi các tác dụng phụ của thuốc, biểu hiện bất thường
Theo dõi các nguyên nhân gây đột quỵ
Theo dõi một số xét nghiệm như: bilan lipid máu, điện tim, siêu âm, soi đáy mắt
Theo dõi tác dụng phụ của thuốc
Theo dõi các biến chứng
Giáo dục sức khoẻ:
Người bệnh và gia đình cần phải biết các nguyên nhân, các yếu tố thuận lợi gây đột quỵ cũng như cách phát hiện các hiệu dấu đột quỵ, cách phòng, điều trị và theo dõi người bệnh đột quỵ
2.1.5.4 Thực hiện kế hoạch chăm sóc
Đặc điểm của người bệnh đột quỵ là tiến triển kéo dài và ngày càng nặng dần Bệnh để lại di chứng rất nặng nề nếu không được điều trị và chăm sóc một cách đúng đắn Người bệnh có thể tử vong do những biến chứng của bệnh, hoặc do tai biến điều trị
Thực hiện chăm sóc cơ bản:
Đặt người bệnh nằm nghỉ ngơi đầu cao và nghiêng về một bên
Tránh lao động trí óc căng thẳng, lo lắng quá độ
Vận động và xoa bóp tay chân
Thay đổi tư thế mỗi 2 giờ /lần
Động viên, trấn an người bệnh để người bệnh an tâm điều trị
Trang 14Theo dõi các dấu hiệu sinh tồn, đặc biệt là tình trạng tăng huyết áp Tuỳ theo từng trường hợp cụ thể để theo dõi có thể từ 15 phút cho đến 2 giờ đo một lần
Hút đờm dãi khi có ứ đọng đờm dãi
Luôn giữ ấm cơ thể người bệnh
Ăn uống đủ năng lượng, nhiều sinh tố và hạn chế muối dưới 5g/ngày, hạn chế mỡ, các chất béo động vật, kiêng rượu, thuốc lá, chè đặc Đặt sonde
dạ dày nuôi dưỡng nếu người bệnh không có khả năng nuốt
Tránh các yếu tố kích thích cho người bệnh
Vệ sinh sạch sẽ: hàng ngày vệ sinh răng miệng và da để tránh các ổ nhiễm khuẩn, phát hiện sớm các ổ nhiễm trùng để có hướng điều trị cho người bệnh áo quần, vải trải giường và các vật dụng khác phải luôn được sạch sẽ
Chăm sóc chống loét bằng đệm hơi hoặc đệm nước, xoay trở người mỗi
2 giờ kèm xoa bóp, tránh viêm phổi (ứ đọng đờm dễ gây viêm phổi) bằng vỗ rung ngực Chống nhiễm trùng hô hấp hoặc đường tiểu do xông tiểu
Theo dõi tình trạng liệt
Theo dõi tình trạng thông khí
Theo dõi tình trạng loét ép do nằm lâu
Trang 15Phòng bệnh
Có rất nhiều yếu tố nguy cơ, song đáng chú ý nhất là tăng huyết áp và
xơ vữa động mạch, rất thường gặp ở lứa tuổi từ 50 trở lên, nên có thông tin rộng rãi để các đối tượng trên theo dõi huyết áp đều đặn và áp dụng các biện pháp phòng tăng huyết áp như tránh ăn mặn, hạn chế những căng thẳng về mặt tinh thần, tránh ăn nhiều gây mập phì, tránh các chất kích thích như rượu,
cà phê, thuốc lá, tránh gió lùa, mặc ấm khi thay đổi thời tiết, nhất là từ nóng chuyển sang lạnh, đang nằm trong chăn ấm tránh ra lạnh đột ngột
Ngoài ra cần phòng thấp tim một cách hiệu quả như tránh ở nơi ẩm thấp, giữ ấm khi trời lạnh để tránh viêm họng, khi bị thấp tim phải được theo dõi và điều trị đúng để tránh tổn thương van tim
Phòng bệnh cấp 1:
Khi có yếu tố nguy cơ phải điều trị để tránh xảy ra tai biến như: theo dõi và điều trị tăng huyết áp, chống ngưng tập tiểu cầu bằng aspirin 150-300 mg/ngày hay disgren 300 mg /ngày khi có xơ vữa động mạch, điều trị hẹp hai lá bằng chống đông khi có rung nhĩ hay nong van hoặc thay van Phòng bệnh cấp 2:
Khi đã xảy ra tai biến nhất là tai biến thoáng qua phải tìm các yếu tố nguy cơ trên để can thiệp tránh xảy ra tai biến hình thành Nếu đã xảy ra tai
Trang 16biến hình thành thì tránh tái phát bằng cách điều trị các bệnh nguyên cụ thể cho từng cá thể
Phòng bệnh cấp 3:
Thay đổi tư thế kèm xoa bóp mỗi 1 - 2 giờ hay nằm đệm nước để tránh loét Vận động tay chân để tránh cứng khớp Kết hợp với khoa phục hồi chức năng hay khoa y học dân tộc để luyện tập, châm cứu cho người bệnh đồng thời hướng dẫn cho thân nhân tập luyện tại nhà
2.1.5.5 Đánh giá quá trình chăm sóc
Tình trạng người bệnh sau khi đã thực hiện y lệnh, thực hiện kế hoạch chăm sóc so với lúc ban đầu của người bệnh để đánh giá tình hình bệnh tật: Đánh giá công tác chăm sóc và thực hiện các y lệnh đối với người bệnh Đánh giá tình trạng liệt có cải thiện không
Trang 17và giảm chức năng gây nên giúp cho người tàn tật có thể sống độc lập tối đa, tái hòa nhập xã hội, có cơ hội bình đẳng và tham gia vào các hoạt động xã hội [19]
2.1.6.2 Mục đích của phục hồi chức năng sau đột quỵ
Giúp người bệnh tự mình di chuyển và đi từ nơi này đến nơi khác,
Giúp người bệnh tự làm được những công việc trong đời sống và sinh hoạt hàng ngày
Giúp người bệnh thích nghi với những di chứng còn lại
Giúp người bệnh trở lại với nghề cũ hoặc có nghề mới thích hợp với hoàn cảnh hiện tại của họ
2.1.6.3 Nguyên tắc phục hồi chức năng sau đột quỵ
PHCN nên bắt đầu càng sớm càng tốt sau đột quỵ, khi tình trạng toàn thân cho phép
Tập vận động phải cân xứng 2 bên, không sử dụng vận động bên lành
bù trừ hoặc thay thế cho bên liệt
Điều chỉnh trương lực cơ trở lại bình thường hoặc gần bình thường bằng kỹ thuật kích thích hay ức chế
Sử dụng các kỹ thuật tạo thuận lợi trong tập luyện giúp người bệnh cảm nhận vận động bình thường
Sử dụng các bài tập liên quan, gần gũi với cuộc sống sinh hoạt thường ngày của người bệnh
Phát huy tính tích cực, chủ động của người bệnh và gia đình trong tập luyện, hướng dẫn người bệnh và gia đình để họ có thể thực hiện các bài tập vận động Sau khi ra viện người bệnh cần tiếp tục tập luyện tại nhà với sự giúp đỡ của người thân trong gia đình
2.1.6.4 Quá trình phục hồi chức năng sau đột quỵ [12]
Việc phục hồi chức năng cần toàn diện, sớm và tuỳ thuộc vào giai đoạn tiến triển của bệnh Ở giai đoạn cấp của bệnh, việc chăm sóc chiếm vị trí quan
Trang 18trọng, phục hồi chức năng cũng đồng thời phải tiến hành ngay Nội dung các hoạt động này bao gồm: giữ tư thế tốt và đúng để tránh cứng khớp và biến dạng khớp, tập luyện để duy trì và tăng cường sức mạnh cơ, giúp người bệnh độc lập tối đa trong sinh hoạt hàng ngày nhờ dụng cụ trợ giúp
* Đặt tư thế người đột quỵ
Người bệnh cần được đặt ở tư thế đúng để giảm bớt mẫu co cứng, đề phòng biến dạng khớp Có các tư thế đặt người bệnh sau:
Nằm ngửa
Vai và hông bên liệt được kê gối mềm, khớp
gối gập nhẹ; cổ chân được kê vuông góc với
cẳng chân để tránh biến dạng gập bàn chân về
phía lòng bàn chân
Hình 1.2 Nằm ngửa
Nằm nghiêng sang bên liệt
Vai bên liệt gập, cánh tay duỗi vuông
góc với thân, thân mình nửa ngửa, chân liệt
duỗi Tay lành để trên thân hoặc gối đỡ phía
lưng Chân lành gập ở háng và gối
Hình 1.3 Nằm nghiêng sang bên
liệt
Nằm nghiêng sang bên lành
Vai và cánh tay bên lành để tự do Chân lành
để duỗi, thân mình vuông góc với mặt giường
Tay liệt có gối đỡ để vuông góc với thân
Chân liệt có gối đỡ ở tư thế gập háng và gối
Hình 1.4 Nằm nghiêng sang bên
lành
Trang 19* Cách lăn trở người bị đột quỵ
Nên hướng dẫn để’ người bệnh tự lăn trở, nếu khó khăn trong giai đoạn đầu người nhà có thể hỗ trợ người bệnh lăn trở, cách hỗ trợ như sau:
Lăn sang bên liệt
Nâng tay và chân lành lên Đưa chân và
tay lành về phía bên liệt Xoay thân mình
sang bên liệt
Hình 1.5 Lăn sang bên liệt
Lăn sang bên lành:
Cài tay lành vào tay liệt Giúp người bệnh,
gập gối và háng bên liệt Dùng tay lành
kéo tay liệt sang phía tay lành Đẩy hông
người bệnh xoay sang bên lành Hình 1.6 Lăn sang bên lànhNgồi dậy từ tư thế nằm ngửa:
Người nhà ngồi bên cạnh người
bệnh Người bệnh bám hai tay vào cánh
tay của người thân Một tay người nhà
quàng và đỡ vai người bệnh Đỡ người
bệnh ngồi dậy từ từ
Hình 1.7 Ngồi dậy từ tư thế nằm ngửa
Trang 20* Tập hoạt động, sinh hoạt hàng ngày
- Thay quần áo
- Cài khuy áo, buộc dây giày, dép
Di chuyển từ giường sang ghế (xe lăn) và
ngược lại
Giúp người bệnh nâng mông lên khỏi mặt
giường xoay sang phía bên liệt đê ngồi xuống
xe lăn hoặc ghế
Để người bị liệt ngồi ở mép giường Xe lăn để
sát cạnh ghế về phía bên liệt
Mặt giường chỉ cao bằng ghế (xe lăn)
Hình 1.8 Di chuyển từ giường sang xe lăn và ngược lại
Đứng dậy
Khi mới tập đứng dậy từ tư thế ngồi,
người bệnh thường có xu hướng đứng lên bằng
chân lành, khi ấy chân liệt đưa ra phía trước Do
vậy, cần chú ý sửa sao cho khi đứng dậy, người
bệnh phải dồn trọng lượng đều xuống cả hai