THỰC TRẠNG CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚCNGOÀI TẠI VIỆT NAM I.Tình hình chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam: Tính đến hết năm 2000 đã có 3210 dự án đầu tư trực tiếp n
Trang 1THỰC TRẠNG CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI TẠI VIỆT NAM
I.Tình hình chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam:
Tính đến hết năm 2000 đã có 3210 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại ViệtNam được cấp giấy phép đầu tư, với tổng vốn đầu tư hơn 43 tỷ USD (kể cả những
dự án tăng thêmvốn) Trừ những dựa án kết thúc đúng thời hạnvà bị giải thể trướcthời hạn, còn 2628 dự án còn hiệu lực với vốn đầu tư dăng ký trên 36,2 tỷ USD,trong đó số vốn đầu tư đã thực hiện gần 18 tỷ USD Vốn FDI chiếm gần 30% tổngvốn đầu tư phát triển toàn xã hội hàng năm Các dự án FDI đã góp phần chuyểndịch cơ cấu kinh tế nước ta, tạo ra nhiều ngành nghề mới, năng lực sản xuất mới,góp phần duy trì nhịp độ tăng trưởng ổn định của nền kinh tế, giải quyết việc làmtrực tiếp cho hơn 35000 lao động và gián tiếp tạo việc làm cho khoảng 1 triêụ laođộng khác, thúc đẩy tiến trình hội nhập quốc tế và khu vực, củng cố nâng cao vịthế của Việt Nam trên trường quốc tế Có thể rút ra một số nhận xét sau đây vềhoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài thời gian qua:
Trang 2Thực tế đã chứng minh chủ trương thu hút vốn đầu tư nươc ngoài với việc ra đờicủa Luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam năm 1987 của Đảng và Nhà nước ta thờigian qua là đúng đắn kịp thời, đã bổ xuang nguồn vốn quan trọng cho đầu tư pháttriển , góp phần khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nước,tạo ra thế và lực cho phát triển kinh tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá và hiênđại hoá đất nước ta Vốn đầu tư nước ngoài thực hiện tăng dần qua các năm, thời
kỳ 1991-1995 đạt trên 7 tỷ USD chiếm trên 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, thời
kỳ 1996-2000 đạt khoảng 12 tỷ USD đã đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế
và là nguồn bù đắp quan trọng cho thâm hụt cán cân vãng lai, góp phần cải thiệncán cân thanh toán quốc tế Đầu tư nước ngoài đã khơi thông và phát huy tiềmnăng vốn có của các nguồn lực trong nước về con người, đất đai, tài nguyên đồngthời giúp cho Nhà nước chủ động trong bố trí cơ cấu vốn đầu tư, dành vốn ngânsách cho đầu tư phát triển cơ cấu hạ tầng kinh tế xã hội Bên cạnh sự đóng góp từnguồn nội lực đầu tư nước ngoài đẫ góp phần tạo nên các nét chấm phá trên bứctranh toàn cảnh muôn mầu của nền kinh tế nước ta
1.2.Đầu tư nươc ngoài đã tạo ra một số năng lực sản xuất mới, ngành sản xuất
mới, phương thức quản lý và kinh doanh mới, tạo việc làm, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP.
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tuỷ trọng khá cao trongmột số ngànhnhư: 100% sản lượng dầu thô, ô tô, xe máy, máy lạnh, máy điều hoà nhiệt độ, 50%điện tử gia dụng, 70% sản lượng thép cán, 30% sản lượng xi măng, 32% giầy dépxuất khẩu, 20% sản lượng thực phẩm và đồ uống, 16% sản lượng may mặc, 14%sản lượng ngành hoá chất của cả nước
Bình quân mỗi năm khu vực này đã thu hút thêm 30-35 ngàn lao động trực tiếp
và gián tiếp tạo việc làm cho hàng tăm ngàn lao động khác trong lĩnh vuực dịch vụ,xây dựng…
Trang 3Thông qua các dự án trên chúng ta đã tiếp nhận được một số công nghệ tiến bộtrong nhiều ngành kinh tế quan trọng như bưu chính viễn thông, thăm dò khai thácdầu khí, điện-điện tử, sắt thép, sản xuất và lắp ráp ô tô, xe máy, vật liệu xâydựng…Đồng thời, chúng ta cũng học tập được một số kinh nghiệm quản lý doanhnghiệp làm ăn trên thương trường quốc tế.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo ngành 1988-2000.
(Tính tới ngày 32/12/2000 – chỉ tính các dự án còn hiệu lực).
Nguồn: Vụ QLDA- Bộ Kế hoạch và Đầu tư
1.3.Thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế và kim ngạch xuất khẩu của đất nước tăng thêm nguồn thu cho ngân sách:
Trang 4Thực tế, từ năm 1991 đến nay, tốc độ tăng bình quân giá trị sản xuất công nghiệpcủa khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 22% một năm (năm 1996 đạt 21,7%,năm 1997 đạt 23,2%, năm 1998 đạt 23,3% năm 1999 đạt 20,0%, năm 2000 đạt21,8%).
Đóng góp của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài trong tổng sản phẩm quốc nội(GDP) không ngừng tăng từ 6,3% năm 1995 lên 7,4% năm 1996, 9,1% năm 1997,10,1% năm 1998, 10,3% năm 1999, 10,4% năm 2000 Năm 1996, trong lĩnh vựccông nghiệp, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp 24,8% giá trị tổng sảnlượng, tỷ trọng này đã tăng lên 28,2% năm 1997, 30% năm 1998, 35% năm 1999
và 38%năm 2000
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không chỉ đóng góp tích cực vàoviệc tăng nhanh tổng sản phẩm quốc nội mà còn góp phần đáng kể và làm tăng kimngạch xuất khẩu của nước ta Hiện kim ngạch xuất khẩu của khu vực có vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài chiếm khoảng 24% kim ngạch xuất khẩu toàn quốc, không kểdầu khí Tốc độ xuất khẩu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ngàymột tăng qua các năm, trong 5 năm 1991-1995 đạt 1,12 tỷ USD, riêng năm 1997đạt 1,79 tỷ USD (năm 1998 bằng 110% so với năm 1997, năm 1999 đạt 130% năm
1998, năm 200 đạt bằng 128% năm 1999) Thời kỳ 1996-2000, giá trị xuất khẩuđạt trên 10,5 tỷ USD tăng gấp 8 lần so với tổng kim ngạch xuất khẩu của 5 nămtrước Trong số 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam thì xuất khẩu khuvực đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng đáng kể (hàng giầy dép chiếm 42%, hàng dệtmay chiếm 25% và hàng điện tử, linh kiện và máy vi tính chiếm 84%) Tuy vậy,các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đang bị cạnh tranh gay gắt do thông tin thịtrường còn hạn hẹp, tình trạng gian lận thương mại còn xẩy ra…
Tỷ lệ xuất khẩu so với tổng doanh thu của khu vực có vốn đầu tư nước ngoàinăm 1995 đạt 30%, năm 1996 đạt 37%, năm 1997 đạt 49%, năm 1998 đạt 51%,năm 1999 đạt 56%, năm 2000 đạt 58% Như vậy, giá trị tuyệt đối cũng như tỷ
Trang 5trọng xuất khẩu so với doanh thu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàităng nhanh trong những năm gần đây Điều đó khẳng định việc thu hút đầu tưhướng về xuất khẩu của ta đang từng bước đạt tới mục tiêu đã đặt ra Sản phẩmxuất khẩu chủ yếu thời gian qua chủ yếu là hàng tiêu dùng như hàng dệt may, dagiầy, điện tử, hàng nông lâm thuỷ sản chế biến Mặt khác, thông qua việc nậo cácloại thuế, các doanh nghiẹp có vốn đầu tư nước ngoài đã có đóng gópđáng kể chongân sách nhà nước
Hiện nay phần lớn các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vẫn đang trongthời kỳ miẽn giảm thuế thu nhập dong nghiệp hoặc chưa thực sự có lãi Phần lớnvật tư nhập khẩu để tạo tài sản cố định hình thành doanh nghiệp được miễn giảmthuế nhập khẩu Nhiều doanh nghiệp thời gian gần đây được điều chỉnh giảm tiềnthuê đất Vì vậy, đóng góp của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (trừ dầuthô) cho ngân sách Nhà nuớc mới chỉ đạt 6-7% số thu ngân sách hàng năm
1.4 Góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, tăng thu nhập quốc dân nội địa:
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Ngân hàng Thế giới, tính đến cuối năm 2000khu vực FDI đã thu hút 350000 lao động trực tiếp làm việc tại các doang nghiệp vàgián tiếp tạo việc làm cho khoảng 1 triệu lao động trong các lĩnh vực dịch vụ, xâydựng, cung ứng vật tư, bán hàng…Tại các doanh nghiệp có vốn đầu tư FDI cókhoảng 6000 cán bộ quản lý, 25000 cán bộ kỹ thuật và 150000 công nhân lànhnghề Số người do các dong nghiệp tự đào tạo tay nghề chiếm hơn 60% tổng số laođộng Khoảng 73% số lao động làm việc trong các khu vực sản xuất công nghiệp.Cũng theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, với mức lương bình quân xấp xỉ 70USD/người/tháng, tổng thu nhập của người lao động trong khu vực này lên đến
300 triệu USD/năm
Trang 61.5 Đầu tư nước ngoài góp phần tích cực vào công cuộc đổi mới và quá trình hội nhập quốc tế của nước ta:
Trước và một vài năm sau khi có luật đầu tư nước ngoài (1987-1990), nước tađứng trước những thách thức kho khăn cực kỳ to lớn (Hệ thống xã hội chủ nghĩaĐông Âu tan rã, các nguồn viện trợ từ các nước xã hội chủ nghĩa đặc biệt từ Liên
Xô chấm dứt, Mỹ vẫn tiếp tục bao vây cấm vận, cơ sở vật chất kỹ thuật của nước tacòn hết sức nghèo nàn, lạc hậu…) Trong bối cảnh đó, cùng với chính sách đốingoại đúng đắn của Nhà Nuớc ta, đầu tư nước ngoài đã góp phần tạo ra thế và lựcmới cho đất nước Trong thời kỳ 1991-2000 đầu tư trực tiếp nước ngoài trở thànhmột động lực quan trọng thúc đẩy quá trình phát triển, đổi mới và hội nhập thứ giớicủa nước ta Nhờ có hoạt động FDI, các mối liên hệ kinh tế song phương, đaphương của Việt Nam với các nước, khu vực trên thế giới đã đựoc thiết lập vàcủng cố Với sự ra đời của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,Việt Namđang từng bước tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế, qua đó có cơhội tiếp cận thị trường quốc tế, từng bước đi vào quỹ đạo, hoà nhập nền kinh tế thếgiới Điều này có vai trò đặc biệt quan trọng khi Việt Nam đang trong quá trìnhchuyển đổi và phát triển kinh tế thị trường
2 Những mặt hạn chế:
2.1 Một số mục tiêu trước mắt và lâu dài trong thu hút sử dụng vốn FDI chưa thực hiện được:
Về xuất khẩu, mặc dù các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã có nhiều
cố gắng trong việc tìm kiếm thị trường xuất khẩu sản phẩm, tỷ lệ xuất khẩu so vớitổng doanh thu còn thấp Hiện nay, chính sách của Nhà Nước ta vẫn thiên vềkhuyến khích sản xuất hàng thay thế nhập khẩu, chưa thưcj sự khuyến khích xuấtkhẩu nên chưa khai thác hết tiềm năng xuất khẩu của các doanh nghiệp Trước tìnhhình sức tiêu thụ của thi trường Việt Nam giảm, sức mua còn thấp, các nhà đầu tưnước ngoài có xu hướng thu hẹp sản xuất và ngần ngại bỏ tiếp vốn vào đầu tư các
Trang 7công trình sản xuất sản phẩm chưa tìm được đầu ra, đòi hỏi Nhà nước phải cóchính sách khuyến khích hơn nữa xuất khẩu.
Mục tiêu chuyển dần từ lắp ráp linh kiện nước ngoài sang lắp ráp các linh kiệntrong nước chưa đủ điều kiện thực hiện được Chương trình nội đia hoá trong lĩnhvực sản xuất điện tử, ô tô, xe máy hầu như không tiến triển được Chính sách thuếcòn bất hợp lý, không khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư sản xuất linhkiện, phụ tùng trong lhi các doanh nghiệp trong nước chưa đử khả năng sản xuất Mục tiêu tăng dần tỷ lệ góp vốn của bên Việt Nam trong các liên doanh gặpnhiều trở ngại, do khả năng tài chính của các doanh nghiệp Việt nam còn quá nhỏ
bé Hiện nay, bên Việt nam chủ yếu góp vốn liên doanh bằng giá trị quyền sử dụngđất, tài nguyên và nhà xưởng có sẵn, phần góp vốn bằng tiền chỉ chiếm chưa quá10% Trong điều kiện nhiều doanh nghiệp liên doanh bị thua lỗ trong những nămđầu, bên Việt nam không những không có khả năng tăng tỷ lệ góp vốn của mà cònphải bán bớt cổ phần cho phái nứoc ngoài để bảo toàn vốn, dẫn đến xu hướngchuyển doanh nghiệp liên doanh thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngaòi
Việc thu hút công nghệ cao qua các dự án FDI chưa có kết quả Số hợp đồngđược phê duyệt chuyển giao công nghệ còn quá ít Thực tế Nhà nước chưa cóchính sách khuyến khích thoả đáng đối với dự án sử dụng công nghệ cao để tạo rasản phẩm có giá trị Việc giám định, đánh giá công nghệ, thiết bị nhập khẩu đang
là vấn đề khó khăn do thiếu chuyên gia có năng lực và am hiểu trong lĩnh vực này.Nguy cơ ngày càng tụt hậu về công nghệ đang là một thực tế đáng lo ngại
2.2 Vấn đề lao động và tiền lương còn nhiều bất cập:
Công tác chuẩn bị đội ngũ lao động cung ứng cho các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài chưa được các ngành và các địa phương quan tâm đúng mức Cơquan làm nhiệm vụ cung ứng lao động thường không chịu trách nhiệm về phẩmchất người lao động nên không có uy tín đối với doanh nghiệp Do vậy, hầu hết cácdoanh nghiệp đều đòi hỏi được tự tuyển lao động Chất lượng lao động của ta còn
Trang 8thấp, trình độ học vấn chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp và thiếu khảnăng đáp tiếp nhận công nghệ mới Mâu thuẫn giữa việc áp dụng công nghệ tiêntiến với việc giải quyết việc làm cho người lao động ddang trở nên nan giải đối vớinhiều doanh nghiệp liên doanh.
Hiện nay, do thuế thu nhập cá nhân quá cao, đồng thời chi phí đào tạo công nhânViệt Nam lớn, nên tuy tiền lương danh nghĩa người lao động nhận được hàng thángthấp nhưng chi phí lao động ở Việt Nam đã vào mức cao so với các nước trong khuvực, làm giảm sức cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài
Đội ngũ cán bộ quản lý Việt nam trong các nghiệp liên doanh (Tổng giám đốc,phó tổng giám đốc, kế toán trưởng) chưa được đào tạo đầy đủ về chuyên môn,pháp luật và ngoại ngữ (do cơ chế cứ có đất là liên doanh với nước ngoài khôngphân biệt ngành nghề kinh doanh) nên không quản lý được doanh nghiệp liêndoanh, bị bên nước ngoài chèn ép, từ đó làm nẩy sinh mâu thuẫn nội bộ khó hoàgiải, ảnh hưởng xấu tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
2.3 Đầu tư nước ngoài còn tập trung chủ yếu vào một số địa phương có điều kiện kinh tế và cơ sở hạ tầng thuận lợi, một số lĩnh vực dễ sinh lời:
Hai vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và phía Bắc thu hút hơn 80% vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài thời gian qua Riêng hai trung tâm lớn Hà Nội và thành phố
Hồ Chí Minh thu hút hơn 50% vốn FDI cả nước
Lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp thu hút được quá ít dự án đầu tư nước ngoài sovới tiềm năng của nước ta Do rủi ro cao và chưa có chính sách hỗ trợ thoả đángcủa Nhà nuớc
2.4 Quản lý Nhà nước đối với hoạt động FDI còn nhiều khiếm khuyết:
Hệ thống pháp luật nước ta còn đang trong quá trình hoàn chỉnh nên thiếu đồng
bộ Việc thi hành pháp luật còn tuỳ tiện Trong những năm đầu, do thiếu kinhnghiệm và không nhận thức đầy đủ tính phức tạp của vấn đề nên chưa coi trọngđúng mức công tác quản lý Nhà nước đối với hoạt động quản lý Nhà nước đối với
Trang 9hoạt động FDI Do đó, đã để xảy ra tình trạng lúng túng trong xử lý vấn đề phátsinh hàng ngày khi số dự án FDI tăng nhanh; phân công, phân nhiệm không rõ; cóhiện tượng buông lỏng quản lý vừa can thiệp sâu vào hoạt động của doanh nghiệp.Chế độ thông tin báo cáo chưa vào nền nếp nên cơ quan quản lý các cấp thiếu phốihợp chặt chẽ và không nắm chắc được tình hình doanh nghiệp, chậm chạp trong sử
lý các kiến nghị của doanh nghiệp
2.5 Môi trưòng đầu tư ở Việt Nam còn nhiều rủi ro:
Chính sách của nhà nước hay thay đổi, thiếu rõ ràng, cơ sở hạ tầng yếu kém, chiphi sinh hoạt thay đổi và không bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong nước vớicác doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chuyển đổi ngoại tệ còn nhiểutở ngại,phiền hà Chúng ta chưa có chính sách ưu đãi riêng đối với các tập đoàn lớn,xuyênquốc gia đã có nhiều dự án đầu tư tại Việt Nam nhằm duy trì, đẩy mạnh đầu tư củacác tập đoàn này tại Việt Nam, trên cơ sở đó lôi kéo theo các nhà đầu tư có tiềmnăng khác
II.Thực trạng các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam:
1.Hình thức doanh nghiệp Liên doanh:
1.1 Những đóng góp:
Doanh nghiệp liên doanh là hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu, chiếmtới 50,2% số dự án 64,7% vốn đầu tư đã được cấp giấy phép Quy mô vốn đầu tưbình quan mỗi dự án là 18,7 triệu USD, trong đó có những dự án đầu tư đòi hỏihàng tỷ USD như dự án liên doanh lọc dầu Việt – Xô tại Quảng Ngãi có vốn đầu tư1,3 tỷ USD, dự án khu đô thị Nam Thăng Long Hà Nội vốn đầu tư tới 2,1 tỷ USD Đến hết tháng 12 năm 2000 đã có 1035 dự án Liên doanh đựoc cấp giấy phépvới tổng vốn đầu tư gần 22 tỷ USD, trong đó vốn đã thực hiện đạt hơn 9,7 tỷ USD,tạo ra gần 150000 việc làm Xuất phát từ định hướng thu hút đầu tư của Nhà nước,
Trang 10hầu hết các doanh nghiệp lớn hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế quan trọng nhưsản xuất xi măng, sắt thép, phân bón, hoá chất, lắp ráp ô tô, xe máy, điện tử đều làdoanh nghiệp liên doanh Các doanh nghiệp liên doanh đã góp phần vực dậy nhiềungành công nghiệp Việt Nam bị suy thoái do mất thị trường Liên Xô (cũ) và Đông
Âu tan rã, chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt nam theo hướng công nghiệp hoá, cungcấp nhiều sản phẩm quan trọng cho nền kinh tế mà trước đây vẫn phải nhập khẩu.Thông qua việc cử cán bộ tham gia vào các doanh nghiệp liên doanh, Việt nam đãtiếp thu được công nghệ mới, kiến thức và kinh nghiệm quản lý của nước ngoài.Đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật của Việt nam làm việc trong các doanhnghiệp liên doanh đã trưởng thành nhanh chóng về mọi mặt và thích nghi với cơchế thị trường Nhiều cán bộ sau khi làm việc trong các doanh nghiệp liên doanh
đã được bổ nhiệm nắm giữ các chức vụ chủ chốt trong các cơ quan quản lý vàdoanh nghiệp Nhà Nước
Với cơ chế doanh nghiệp Việt nam góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất, Nhànước cho doanh nghiệpp Việt Nam nhận nợ, những khi doanh nghiệp Việt Namchưa được chia lãi hoặc liên doanh thua lỗ thì Nhà Nước không thu được tiền thuêđất để góp vốn, trong khi đó, nếu cho doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thuê đấtthì Nhà nước thu ngay được tiền thuê đất Ngoài ra với cơ chế hiện nay, doanh
Trang 11nghiệp nào có quyền sử dụng đất thì doanh nghiệp đó có thể liên doanh với nướcngoài thậm chí ngành nghề chuyên môn không phù hợp với mục tiêu hoạt động củaliên doanh.
Một trong những mục tiêu liên doanh là đưa cán bộ vào tham gia quản lý, điềuhành doanh nghiệp nhằm dảm bảo lợi ích của doanh nghiệp Việt Nam, của Nhànước, tiếp thu kinh nghiệm quản lý Tuy nhiên, một bộ phận cán bộ trên chưa đủnăng lực chuyên môn, trình độ ngoại ngữ, phẩm chấtchính trị nên không phát huyđược tác dụng đại diện cho doanh nghiệp Việt nam, hoặc là nặng về lo thu vénlợiích cá nhân, thụ động theo sự điều hành của bên nước ngoài, thậm chí vì lợi íchriêng nên đã bỏ qua lợi ích chung của đất nước, đứng về phía lợi ích của bên nướcngoài
Các đối tác liên doanh có xu hướng khai tăng các chí phí đầu tư Bên nước ngoàinâng giá thiết bị, máy móc góp vốn và nguyên liệu đầu vào, hạ giá đầu ra thôngqua chuyển giá với công ty mẹ để thu lợi nhuận từ bên ngoài ngay từ đầu, hạchtoán lỗ cho liên doanh mà bên Việt Nam trong liên doanh không có khả năng kiểsoát được
Ngoài ra, bên nước ngoài có mục tiêu lâu dài là chiếm lĩnh thị phần, nên họ thựchiện chính sách khuyến mại, tiếp thị, quảng cáo với chi phí lớn và giá bán thấpnhằm cạnh tranh, thậm chí chấp nhận lỗ trong những năm đầu Bên Việt Namtrong liên doanh không đủ năng lực tài chính theo đuổi chiến lược đó nên khôngkiểm soát được các hoạt động này của bên nước ngoài Trong khi đó, nước ta chưa
có luật chống độc quyền, chống bán phá giá nhằm đảm bảo môi trường kinh doanhlành mạnh Giữa các bên liên doanh nẩy sinh bất đồng hàng loạtcác vấn đề chiếnlược kinh doanh, phương thức quản lý và điều hành doanh nghiệp, tài chính, quyếttoán công trình Từ đó dẫn đến tình trạng mâu thuẫn trong các liên doanh diễn rakhá phổ biến, ảnh hưởng đến việc triển khai dự án, và là nguyên nhân chủ yếu dẫnđến sự đổ vỡ của các dự án
Trang 12Những hạn chế nêu trên phát sinh từ cách nhìn nhận khác nhau về doanh nghiệpliên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài ở Việt Nam trong những nămđầu hợp tác đầu tư với nước ngoài, do quan niệm đầu tư theo hình thức doanhnghiệp liên doanh có nhiều ưu thế hơn hình thức doanh nghiệp 100% vốn nướcngoài, Nhà nước Việt Nam chủ trương hướng nhà đầu tư nước ngoài đầu tư theohình thức doanh nghiệp liên doanh kèm theo một số chính sách ưu đãu hơn hìnhthức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, nhưng lại ràng buộc những quy địnhchặt chẽ hơn nhằm bảo vệ quyền lợi của các đối tác Việt Nam trong các doanhnghiệp liên doanh.
Ví dụ, Luật đầu tư nước ngoài tại Viêt Nam (1996) quy định các vấn đề quantrọng nhất trong tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp liên doanh bao gồm: bổnhiệm, miễn nhiệm Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc thứ nhất, Kế toán trưởng,sửa đổi bổ sung điều lệ doanh nghiệp, duyệt quyết toán thu chi tài chính hàng năm
và quyết toán công trình, vay vốn đầu tư do Hội đồng quản trị quyết định theonguyên tắc nhất trí giữacác thành viên Hội đồng quản trị có mặt tại cuộc họp Tổnggiám đốc hoặc Phó tổng giám đốc thứ nhất phải là người của bên Việt Nam và làcông dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam Phó tổng giám đốc thứ nhất ngườiViệt Nam có quyền hạn hầu như ngang với Tổng giám đốc của bên nước ngoài Trong nhiều trường hợp nhà đầu tư nước ngoài còn bị áp đặt về đối tác Việt Nam(chủ yếu là doanh nghiệp Nhà Nước), tỷ lệ góp vốn, địa điểm đầu tư, chịu sự quản
lý quá sâu của các bộ chuyên ngành và cơ quan quản lý cấp trên của đối tác ViệtNam vào quá trình snả xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Theo nghị định 10/1998/ NĐCP ngày 23 tháng 1 năm 1998 của Chính Phủ, một
số lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân chỉ thu hút đầu tư nuớc ngoài theo hình thứcliên doanh, bao gồm:
-Khai thác, chế biếndầukhí, khoáng sản quý hiếm
Trang 13-Xây dựng, kinh doanh hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu côngnghệ cao.
-Kinh doanh xây dựng
-Vận tải hàng không, đường sắt, đường biển, vận tải hành khách công cộng,xây dựng ga hàng không
-Sản xuất xi măng, sắt thép
-Sản xuất thuốc nổ công nghiệp
-Trồng rừng, trồng cây công nghiệp lâu năm
-Du lịch lữ hành
-Văn hoá, thể thao, giải trí
Thực tế, trong nhiều lĩnh vực doanh nghiệp Việt Nam không có vốn để tham gialiên doanh, nên một thời gian triển khai dự án đã phải chuyển nhượng toàn bộ phầnvốn góp cho đối tác nước ngoài để chuyển thành doanh nghiệp 100% vốn nướcngoài Tỷ lệ đổ vỡ của các dự án liên doanh khá cao
2 Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài:
Hình thức doanh ngh1ệp 100% vốn nước ngoài chiếm hơn 55% số dự án vàkhoảng 29% vốn đầu tư Trong những năm gần đây, nhất là sau khi ban hành luậtđầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996, đầu tư theo hình thức này gia tăngnhanh chóng
Đầu tư trực tiếp nước ngoài theo hình thức đầu tư 1988-2000.
(Tính tới ngày 31 tháng 12 năm 2000) (Chỉ tính các dự án còn hiệu lực)
Hình thức đầu tư Số dự án TVĐT Vốn pháp định Vốn thực hiện
Hợp đồng hợp tác
kinh doanh 130 3.789.394.746 3.192.672.560 2.653.655.547100% vốn nước
ngoài 1459 10.669504.330 4.687.507.991 5.284.834.802
Trang 14Liên doanh 1035 21.417.003.561 8.272.209.327 9.740.363.765
Tổng số 2628 36.291.027.637 16.283.419.878 17.715.966.614
Nguồn: Vụ QLDA- Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Tính đến hết năm 2000 có 1459 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Namđược cấp phép theo hình thức đầu tư doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, với tổngvốn đăng ký hơn 10,6 tỷ USD, trong đó số vốn đã thực hiện đạt hơn 5,2 tỷ USD, đãtạo ra khoảng 200000 việc làm Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài tập trung chủyếu vào các ngành công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu như dệt may, giầy dép.Phần lớn các doanh nghiệp này nằm trong các khu công nghiệp và khu chế xuất.Nhìn chung tốc độ triển khai thực hiện dự án của các doanh nghiệp 100% vốn nướcngoài nhanh hơn các doanh nghiệp liên doanh Tỷ lệ các dự án thất bại thấp hơnnhiều so với các hình thức đầu tư khác Đến hết năm 2000 chỉ có 95 dự án đầu tưtheo hình thức này phải giải thể trước thời hạn, chiếm 6,5%
Đối với hình thức đầu tư doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, nhà đầu tư đượcchủ động hơn trong việc lựa chọn địa điểm thực hiện dự án, trong điều hành sảnxuất kinh doanh Nhiều doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thực chất là các chinhánh, các công ty con trong mạng lưới kinh doanh toàn cầu của các công ty đaquốc gia, nên có nhiều thuận lợi trong tiếp cận với thị trường thế giới Nhiều tậpđoàn có chiến lược địa phương hoá nhân viên quản lý để tiết kiệm chi phí Ngoàimột số ít vị trí do phía nước ngoài nắm giữ, họ có chủ trương đào tạo, sử dụngngười Việt Nam quản lý, điều hành doanh nghiệp Một số doanh nghiệp 100% vốnnước ngoàiđã chuyển dần cho người Việt Nam quản lý toàn bộ hoạt động Nhưvậy, đầu tư theo hình thức 100% vốn nước ngoài vẫn tạo điều kiện cho việc thu hútvốn, kinh nghiệm quản lý, giải quyết việc làm cho người lao động, tiếp cận thịtrường thế giới Tuy nhiên, vì toàn bộ quá trình hoạt động kinh doanh do nhà đầu
tư nước ngoài chi phối, nên cần có các quy định ngăn ngừa họ gian lận thương mại,cạnh tranh không lành mạnh, chèn ép các doanh nghiệp trong nước