6 Khái niệm về rối loạn tâm thần thực tổn 2 7 Nguyên nhân dẫn đến rối loạn tâm thần thực tổn 5 8 Đặc điểm lâm sàng của rối loạn tâm thần thực tổn 6 9 Triệu chứng và các hình thái lâm sàn
Trang 1Trường đại học điều dưỡng nam định
THỰC TRẠNG
TÂM TH BỆNH VI
TỐT NGHIỆ
Nam Đ
Bộ y tế Trường đại học điều dưỡng nam định
- -
ĐOÀN THỊ HẢI
NG CHĂM SểC NGƯỜI BỆNH RỐ TÂM THẦN THỰC TỔN TẠI KHOA 7
NH VIỆN TÂM THẦN TRUNG ƯƠNG I
BÁO CÁO CHUYấN đề
ỆP ĐIỀU DƯỠNG CHUYấN KHOA I
Trang 2Trường đại học điều dưỡng nam định
Chuyên đề tốt nghiệp
THỰC TRẠNG
TÂM TH BỆNH VI
học viên:
lớp: chuyên khoa i tâm thần GIÁO VIấN
Nam Đ
Bộ y tế Trường đại học điều dưỡng nam định
- -
Chuyên đề tốt nghiệp
NG CHĂM SểC NGƯỜI BỆNH RỐ TÂM THẦN THỰC TỔN TẠI KHOA 7
NH VIỆN TÂM THẦN TRUNG ƯƠNG I
ọc viên:ĐOÀN THỊ HẢI
chuyên khoa i tâm thần - khóa 4
VIấNhưỡng dẫn:TS TRƯƠNG TUẤN ANH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học trình học tập và hoàn thành khóa luận, tôi đã nhận được
sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè
Tôi xin chân thành cảm ơn: Ban giám hiệu, Phòng Quản lý Đào tạo Sau Đại học, trường Đại học Điều Dưỡng Nam Định cùng các Thầy, Cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Tiến sĩ Trương Tuấn Anh, người Thầy đã dành nhiều tâm huyết, trách nhiệm của mình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
để tôi hoàn thành khóa luận một cách tốt nhất Tôi cũng xin cảm ơn các tới Ban giám đốc bệnh viện và các khoa, phòng ở bệnh viện Tâm thần trung ương I đã giúp
đỡ tôi trong quá trình thu thập thông tin
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới gia đình và bạn bè của tôi những người đã luôn động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập và làm khóa luận
Nam Định, ngày 15 tháng 09 năm 2017
Người làm đơn
Đoàn Thị Hải
Trang 4LỜI CAMĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là báo cáo của riêng tôi Các kết quả trong chuyên đề
là trung thực và chưa từng ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Nam Định, ngày 15 tháng 09 năm 2017
Người làm đơn
Đoàn Thị Hải
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
- RLTTTT: Rối loạn tâm thần thực tổn
- NB: Người bệnh
- GDSK: Giáo dục sức khỏe
Trang 66 Khái niệm về rối loạn tâm thần thực tổn 2
7 Nguyên nhân dẫn đến rối loạn tâm thần thực tổn 5
8 Đặc điểm lâm sàng của rối loạn tâm thần thực tổn 6
9 Triệu chứng và các hình thái lâm sàng 8
10 Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn tâm thần thực tổn 12
11 Điều trị rối loạn tâm thần thực tổn 13
12 Chăm sóc người bệnh rối loạn tâm thần thực tổn 16
13 Phòng bệnh rối loạn tâm thần thực tổn 18
15 Thực trạng chăm sóc người bệnh rối loạn tâm thần thực tổn tại
16 Nghiên cứu một số trường hợp bệnh cụ thể 20
Trang 718 Ưu điểm 27
21 Chương 4: Giải pháp, kiến nghị, đề xuất nhằm cải thiện chăm
sóc người bệnh rối loạn tâm thần thực tổn 29
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây chấn thương sọ não, tai biến mạch máu não, các bệnh về não ngày càng nhiều và để lại những di chứng rất nghiêm trọng Hậu quả làm cho người bệnh mất hoặc giảm khả năng nhận thức điều khiển hành vi Công tác điều trị, chăm sóc và quản lý đối tượng này tại khoa 7 Bệnh viện tâm thần Trung ương gặp nhiều khó khăn NB khi vào viện thường là các rối loạn tâm thần thực tổn giai đoạn muộn, nó được biểu hiện bằng nhiều hội chứng và triệu chứng khác nhau Các triệu chứng và hội chứng thường ít gắn bó, không đặc trưng vì nhiều triệu chứng đó cũng có ở các rối loạn tâm thần khác, nhân cách của NB cũng thay đổi
Để điều trị và chăm sóc, quản lý có hiệu quả các rối loạn tâm thần thực tổn cần phải nắm rõ đặc điểm lâm sàng và các yếu tố thúc đẩy bệnh đối với NBnày
Theo thống kê hằng năm của Bệnh viện Tâm Thần Trung Ương I người bệnh
có RLTTTT là: 170 - 200 NB Và tại Khoa 7 của Bệnh viện là: 30 - 40 NB
Chính vì vậy chúng tôi tiến hành làm chuyên đề này: “Thực trạng chăm sóc NB rối loạn tâm thần thực tổn tại khoa 7 Bệnh viện Tâm thần Trung ương I” với 2 mục tiêu
1 Tìm hiểu thực trạng về chăm sóc NBrối loạn tâm thần thực tổn tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương I
2 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả chăm sóc NBrối loạn tâm thần thực tổn tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương I
Trang 9CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Khái niệm
Rối loạn tâm thần thực tổn liên quan trực tiếp đến những tổn thương não,
mà nguyên nhân là bệnh của não (u não, viêm não, thoái hóa…) hay những bệnh ngoài não (bệnh nội khoa, nội tiết, nhiễm trùng, nhiễm độc, rối loạn chuyển hóa…) ảnh hưởng đến chức năng hoạt động của não bộ
Rối loạn tâm thần thực tổn thuộc dương Foo – Fo9 trong phân loại bệnh quốc tế IO, 1992 “các Rối loạn tâm thần thực tổn bao gồm cả rối loạn tâm thần triệu chứng” Thuật ngữ thực tổn nhằm chỉ rối loạn chức năng não liên quan trực tiếp tổn thương tại não Thuật ngữ triệu chứng nhằm chỉ rối loạn chức năng não
là thứ phát sau tổn thương thực thể ngoài não Rối loạn tâm thần thực tổn phát sinh và diễn biến phụ thuộc vào bệnh chính, bệnh cơ thể, phụ thuộc vào mức độ tổn thương nặng nhẹ và vị trí tổn thương não cục bộ hay lan tỏa
Những nét cơ bản của rối loạn tâm thần thực tổn, bao gồm: rối loạn chức năng hiểu biết (trí nhớ, trí tuệ) và rối loạn chức năng nhận biết (rối loạn ý thức
và chú ý) và các hội chứng thuộc về tri giác (ảo giác), tư duy (hoang tưởng), cảm xúc (trầm cảm, hưng cảm lo âu), cũng như rối loạn hành vi và nhân cách
Rối loạn tâm thần thực tổn liên quan đến tất cả các chuyên khoa lâm sàng khác thể hiện mối liên quan không thể chia cắt giữa cơ thể và tâm thần Đòi hỏi các thầy thuốc chuyên khoa tâm thần cần phải có kiến thức vững vàng về bệnh học cơ thể chung, kể cả các thầy thuốc đa khoa cũng cần có những kiến thức cơ bản về tâm thần học để trong thực hành chủ động phát hiện can thiệp sớm toàn diện có hiệu quả Đặc điểm tiến triển hay thoái triển của rối loạn tâm thần thực tổn tùy thuộc vào nhân tố nằm bên dưới (bệnh cơ thể, tổn thương não) [4]
Thực tế còn cho thấy có những trường hợp Rối loạn tâm thần thực tổn bị
bỏ sót trong quá trình theo dõi, chuẩn đoán và điều trị ở các cơ sở tâm thần không phải do thầy thuốc tâm thần không đủ kiến thức y học nói chung mà do thăm khám không tỷ mỷ hoặc “ám ảnh phân liệt hóa” nhiều loại bệnh tâm thần trong đó có Rối loạn tâm thần thực tổn Mặt khác trong thực hành lâm sàng người ta cũng nhận thấy rằng không phải bất cứ rối loạn tâm thần nào trên bệnh nhân bị bệnh cơ thể đều là Rối loạn tâm thần thực tổn Nhiều trường hợp bệnh cơ
Trang 10thể chỉ là một trong những yếu tố thúc đẩy quá trình rối loạn tâm thần nội sinh,
vốn tiềm tàng nay được bộc lộ rõ
VD: Theo V.M Morkovkin A,V.Kortelisev (1988) cứ một trường hợp
bệnh tâm thần phân liệt có biểu hiện lâm sàng rõ thì có 3 trường hợp khác bệnh
đang tiềm ẩn, luôn luôn có nguy cơ bùng phát khi gặp tác nhân thuận lợi như
chấn thương sọ não, nhiễm khuẩn, nhiễm độc…
Tiến triển của Rối loạn tâm thần thực tổn cũng như các bệnh cơ thể khác
là cấp tính trong mãn tính tùy thuộc khả năng phục hồi của các triệu chứng rối
loạn tâm thần, vào phương thức khởi bệnh từ từ hay đột ngột và vào thời gian
kéo dài của bệnh
Khái niệm cấp tính hay mạn tính cũng rất tương đối bởi vì chúng có thẻ
chuyển từ loại này sang loại kia trong quá trình tiến triển của bệnh chính
1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu Rối loạn tâm thần thực tổn
Bệnh tâm thần xuất hiện từ rất sớm, ngay từ khi bắt đầu có loài người Sự
phản ứng sớm nhất và sơ khai nhất về bệnh tâm thần là người ta cho rằng do ma
quỷ ám ảnh, do giận dữ của thần, thánh, tổ tiên gây ra
Thuật ngữ Psychiatry (tâm thần học) trong tiếng Anh xuất phát từ tiếng
Hy Lạp “Psy” có nghĩa là tâm hồn và “Iotros” là chữ bệnh
Đến năm 1973 Philip Pinel (1745-1826) là người đầu tiên xóa bỏ xiềng
xích, trói buộc cho những người bệnh tâm thần ở pháp
Thể kỷ XX đến nay tâm thần học phát triển ngày một hoàn thiện hơn cả về
thực nghiệm và lâm sàng, có rất nhiều những nghiên cứu có giá trị
- Nghiên cứu điện não đồ của H.Berger (1924)
- Các nghiên cứu về bệnh mất trí tuổi già của Alzheiner (1907)
- Nghiên cứu về bệnh tâm thần phân liệt của E.Blealer 1911
- Nghiên cứu của Janet về suy nhược thần kinh, nghiên cứu của Ganuskin về
nhân cách bệnh
- Theo I.N.Dukenxkain (1986) số bệnh nhân rối loạn tâm thần do (CTSN)
điều trị ở các dixpanxe chiếm 8%, ở các bệnh viện tâm thần chiếm 4%
- Theo Fraldlk (1988) người có rối loạn tâm thần liên quan đến tội phạm,
gặp ở nhiều nhóm bệnh như rối loạn nhân cách, nghiện chất, chậm phát triển tâm
Trang 11thần, tâm thần phân liệt Trong số đó có nhiều trường hợp tái phạm tội, hậu quả gây
ra khó lường trước
- Từ năm 1973 Kielholz mô tả một hình thái trầm cảm phát sinh sau một bệnh cơ thể mạn tính, ông gọi là trầm cảm thực tổn Trầm cảm thứ phát sau một bệnh cơ thể chiếm 20-80% các trường hợp trầm cảm trên lâm sàng Trầm cảm do nguyên nhân thực tổn phần lớn gặp ở các bệnh cơ thể mạn tính Tỷ lệ trầm cảm ở bệnh nhân Alzheimer là 15 – 40%, khoảng 50% bệnh nhân đột quỵ cấp có dấu hiệu trầm cảm
Năm 1992 WHO đưa ra bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10, bao gồm các rối loạn tâm thần Trong đó có rối loạn trầm cảm xuất hiện thứ phát sau bệnh lý của não hoặc bệnh cơ thể gọi là “trầm cảm thực tổn”
Theo nguyễn Đăng Dung (1976) nghiên cứu ở một số trại cải tạo thuộc bộ nội vụ cho kết quả tỷ lệ bị bệnh tâm thần là 15% số tù nhân
Theo Trần Văn Cường (1996) trong giám định pháp y tâm thần gặp nhiều thể bệnh Trong đó rối loạn khí sắc gặp 2,25%
Theo Ngô Ngọc Tản (1995) tỷ lệ các thể bệnh trong bệnh tâm thần phân liệt gặp trong giám định pháp y tâm thần trong quân đội F200 (51,00%), F21.1 (23,00%) các thể khác (18%)
Theo Trần Văn Cường (2011) phân tích kết quả ở 295 trường hợp giám định pháp y tâm thần tại tổ chức giám định pháp y tâm thần trung ương trong 5 năm từ năm 1995 đến năm 2000 cho kết quả bệnh động kinh chiếm tỷ lệ 12,25%
Theo Nguyễn Đức Thịnh (2006) nghiên cứu đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân rối loạn tâm thần, sau chấn thương sọ não giai đoạn muộn cho thấy phân nhóm chuẩn đoán (rối loạn tâm thần) theo ICD 10 thì hội chứng khác sau chấn động não F07.2 (32,08%) các rối loạn khí sắc, chiếm (20,75%), rối loạn nhân cách thực tổn chiếm (13,31%)
1.2 Dịch tễ học
Một số nghiên cứu chuyên biệt cho thấy tỷ lệ rối loạn trầm cảm trong bệnh Alzheimer 15 – 40%, trong đột quỵ 50%, trong các bệnh lý cơ thể 20 – 80% (Phạm Khuê, 2000) Nghiên cứu của Almeida OP và Xiao.J (2007) tỷ lệ sa
Trang 12sút trí tuệ sau 3 tháng nhồi máu não là 13,6 – 31,8% Sau 5 năm 32% theo dõi trên 1129 bệnh nhân tai biến mạch máu não sau 10 năm, chho thấy mất trí 12%, sảng 7,6%, loạn thần 6,7%, trầm cảm 5,5% Các rối loạn tâm thần phần lớn, xuất hiện trong vòng 6 tháng sau tai biến mạc máu não Ngoài ra, các rối loạn tâm thần cũng thường gặp trong các bệnh lý viêm não, u não, chấn thương não.[4]
2 Nguyên nhân gây Rối loạn tâm thần thực tổn
Có nhiều nguyên nhân gây ra Rối loạn tâm thần thực tổn Tùy thuộc vào phương thức tiến triển, vào biểu hiện lâm sàng mà người ta thường chú ý đến các nguyên nhân sau đây:
2.1 Các nguyên nhân tổn thương ở não
- Chấn thương sọ não
- Tai biến mạch máu não
- Sơ vữa động mạch não
- U não, áp xe não
- Viêm não, viêm màng não
- Giang mai não
- Thoái hóa não như các bệnh (Alzheimer, Pick, bệnh Wilson, Creutzfedt - Jacob )
- Ngộ độc Cabon Monoxide, ngộ độc Chì, Thủy Ngân
- Nhiễm độc rượu mãn tính (Nghiện rượu mãn tính, sảng rượu, ảo giác, hoang tưởng do rượu, Korsakoff do rượu )
- Người nghiện ma túy
- Viêm phổi do siêu vi trùng
- Viêm, sơ gan
- Bệnh lao nặng
- Nhiễm trùng hậu sản
- Nhiễm HIV/AIDS
Trang 13* Các bệnh chuyển hóa, nội tiết:
- Bệnh Basedow (Cường giáp)
- Bệnh đường tiêu hóa: Loét dạ dày tá tràng, viêm đại tràng mãn tính
- Bệnh gan: Xơ gan thoái hóa
- Bệnh thận: Suy thận, tăng Ure huyết
- Bệnh tim: Suy tim, nhồi máu cơ tim
- Bệnh máu: Thiếu máu nặng
- Bệnh suy dinh dưỡng, thiếu vitamin PP, B12
3 Đặc điểm lâm sàng của Rối loạn tâm thần thực tổn
Tùy thuộc vào mức độ tổn thương và các giai đoạn phát triển của bệnh chính (tại não hoặc ngoài não), biểu hiện lâm sàng thường chia làm 2 loại cấp và muộn (hoặc kéo dài)
3.1 Rối loạn tâm thần thực tổn cấp
Rối loạn tâm thần thực tổn cấp thường được biểu hiện bằng các hội chứng tâm thần sau:
3.1.1 Các hội chứng rối loạn ý thức
Rối loạn tâm thần thực tổn cấp thường diễn ra với tình trạng rối loạn ý thức u ám, mê sảng, mê mộng, lú lẫn, hoàng hôn hoặc bán hôn mê Người bệnh rối loạn các năng lực định hướng, hoạt động tâm thần bị chậm lại, ý thức bị trống rỗng, tri giác sự vật và hiện tượng xung quanh không rõ ràng, khó đầy đủ
Nét mặt thờ ơ, bàng quan, lờ đờ Trong những trường hợp nặng, người bệnh mất khả năng phản ứng với môi trường xung quanh, giảm hoặc mất các phản xạ thần kinh, xuất hiện nhiều rối loạn thần kinh thực vật nội tạng trầm trọng
3.1.2 Kích động giống động kinh
Trang 14Thường trong trạng thái mù mờ ý thức người bệnh có kích động, giống động kinh Kích động mãnh liệt mang tính chất xung động, vùng bỏ chạy chốn người truy hại mình, kèm theo người bệnh sợ hãi, la hét, vẻ mặt hoảng hốt lo âu
Trạng thái này diễn ra trong một thời gian ngắn, rồi đột nhiên chấm dứt
3.1.3 Rối loạn trí nhớ (hội chứng Korsakop nhất thời)
Rối loạn trí nhớ trong rối loạn tâm thần thực tổn, thường xuất hiện, sau chấn thương sọ não biểu hiện rối loạn trí nhớ về những sự việc mới xảy ra (rối loạn trí nhớ gần) do ghi nhận kém và dẫn đến mất định hướng do quê Thay vào chỗ quên có thể có bịa chuyện Rối loạn trí nhớ chỉ xuất hiện nhất thời và có khả năng hồi phục được
3.1.4 Suy giảm nhận thức
Người bệnh khó tập trung chú ý, định hướng xung quanh không đầy đủ dẫn đến khó khăn để lĩnh hội kiến thức mới Sự suy yếu về tư duy và năng lực phán đoán suy luận giảm sút nên khả năng tính toán học tập sút kém
Trong một số trường hợp người bệnh có sự suy thoái về tính kiềm chế, cảm xúc, không ổn định hoặc kích thích giận dữ hoặc bàng quan vô cảm Người bệnh không thể giải quyết những công việc trong cuộc sống hằng ngày của cá nhân
3.2 Rối loạn tâm thần thực tổn muộn (hoặc kéo dài)
Khi có sự kết hợp với các hoàn cảnh bất lợi, một số bệnh cơ thể có thể trở nên mạn tính hoặc tùy theo mức độ, phát triển của bệnh chính hội chjwngs rối loạn ý thức được thay thế bằng các hội chứng quá độ diễn biến không có rối loạn
ý thức Trong những trường hợp như vậy gọi là Rối loạn tâm thần thực tổn muộn hoặc kéo dài Biểu hiện lâm sàng bằng các triệu chứng, hội ch ứng như ảo giác hoang tưởng, trầm cảm hoang tưởng, hưng cảm, lo âu và trong trạng thái cuối có hội chứng tâm thần thực tổn với sự bieensdodoir nhân cách đáng kể
3.2.1 Hội chứng ảo giác – hoang tưởng
Trong rối loạn tâm thần thực tổn kéo dài thường gặp, các hoang tưởng bị theo dõi, hoang tưởng liên hệ hoặc bị hại, kèm theo ảo giác và ảo tưởng lời nói Trong một số trường hợp, trạng thái này có thể phát triển thành hiện tượng tâm thần tự động hoặc có thể mất đi khi thay đổi hoàn cảnh Một số trường hợp khác
có thể chuyển thành trạn thái vô cảm
Trang 153.2.2 Hội chứng trầm cảm
Hội chứng trầm cảm trong Rối loạn tâm thần thực tổn kéo dài mang tính chất không điển hình Người bệnh trầm cảm kèm theo kích thích vật vã, lo âu, rối bời lặp đi lặp lại một vài lời, vài câu
Khi bệnh cơ bản nặng lên, trạng thái trầm cảm chuyển thành trầm cảm hoang tưởng
- Trí nhớ khả năng ghi nhớ và chú ý giảm sút, đãng trí, hồi ức, kém các sự kiện quá khứ gần, các biểu hiện cũ bị mất dần
- Nhận thức suy yếu: Người bệnh rối loạn các năng lực định hướng, tư duy nghèo nàn, ngây độn, khó lĩnh hội, giảm khả năng phán đoán và suy luận, liên tưởng chậm
- Cảm xúc không ổn định và dễ thay đổi, nôn nóng, giận dữ, mất hứng thú với những công việc trước đây, ăn mặc trở nên cẩu thả, không chú ý đến vệ sinh thân thể Cuối cùng khi hội chứng tâm thần thực tổn nặng hơn người bệnh biến đổi nhân cách trầm trọng và trở nên sa sút tâm thần[ 3 ]
4 Triệu chứng và các hình thái lâm sàng
4.1 Triệu chứng lâm sàng
Sự đa dạng về mức độ tiến triển các triệu chứng lâm sàng Rối loạn tâm thần thực tổn phụ thuộc không chỉ vào vị trí, mức độ tổn thương của não nặng hay nhẹ, lan tỏa hay khu trú, mà còn cả vào thể, các yêu tố tác động của môi trường xung quanh đến từng cá thể trước khi bị bệnh
Trang 16Bệnh cảnh lâm sàng của các trạng thái rối loạn tâm thần trong tổn thương thực tế não phụ thuộc không chỉ vào sự tiến triển của bệnh chính, vào mức độ phá hủy của tổ chức thần kinh não bộ mà còn vào nhiều yếu tố tác động tâm lý, môi trường khác nữa Sức đề kháng của cơ thể yếu, môi trường tâm lý không thuận lợi, nhân cách của người bệnh không bền vững, suy đồi, yếu ớt… Đều là các nhân tố thúc đẩy quá trình bệnh lý, làm cho các triệu chứng lâm sàng chủ yếu có thể bị che lấp hoặc bị cường điệu quá mức
Mộ số bệnh tâm thần và cơ thể khác vốn tiềm tàng, nay được dịp thuận lợi bùng phát, làm cho bệnh cảnh lâm sàng phức tạp hơn, gây nhiều trở ngại cho công tác theo dõi chuẩn đoán và điều trị
Trên cơ sở tiêu chuẩn phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 (ICD 10) 1992 về các rối loạn tâm thần thực tổn thì Rối loạn tâm thần thực tổn do tổn thương não
có những hình thái lâm sàng sau:
4.1.1 Các rối loạn tâm thần khác do tổn thương não và rối loạn chức năng não
và bệnh cơ thể:
* Ảo giác thực tổn
Trạng thái ảo giác dai dẳng hoặc tái diễn, thường là ảo thanh hoặc ảo thị, xảy ra trong trạng thái ý thức sáng sủa mà bệnh nhân có thể hay không thừa nhận Hoang tưởng có thể hình thành từ các ảo giác, nhưng thường sự thấu hiểu vẫn được duy trì
* Rối loạn căng trương lực thực tổn
Trạng thái sững sờ hoặc kích động tâm thần vận động kết hợp với các triệu chứng căng trương lực, các cực của Rối loạn tâm thần thực tổn vận động có thể xen kẽ nhau
*Rối loạn hoang tưởng thực tổn (giống tâm thần phân liệt)
Rối loạn trong đó các hoang tưởng dai dẳng hoặc tái diễn chiếm ưu thế trên bệnh cảnh lâm sàng Các hoang tưởng có thể kèm theo các ảo giác như không hạn chế vào nội dung của ảo giác Những nét gợi ý bệnh tâm thần phân liệt như ảo giác
kỳ lạ, hoang tưởng kỳ quái hoặc rối loạn tư duy cũng có thể có
* Các rối loạn khí sắc thực tổn
Các rối loạn được đặc trưng bởi sự thay đổi khí sắc hay cảm xúc, thường kèm theo sự thay đổi mức hoạt động toàn bộ Tiêu chuẩn duy nhất để xếp trạng
Trang 17thái trên vào phần này là nguyên nhân được coi là trực tiếp của nó gây nên bởi một bệnh não hoặc rối loạn cơ thể khác, và sự tồn tại của bệnh và rối loạn đó phải được chứng minh một cách độc lập hoặc xác định trên cơ sở các thông tin bệnh sử thích hợp Rối loạn cảm xúc, phải tiếp sau nhân tố được xem là thực tổn
và phải được nhận định không phải là một đáp ứng cảm xúc của một bệnh nhân biết mình bị bệnh, hoặc có những triệu chứng của một bệnh não trùng hợp
Phần này được mã hóa với các biểu hiện lâm sàng sau:
+ Fo6.30: Rối loạn hưng cảm thực tổn
+ F06.31: Rối loạn lưỡng cực thực tổn
+ F06.32: Rối loạn trầm cảm thực tổn
+ F06.33: Rối loạn cảm xúc hỗn hợp thực tổn
* Rối loạn lo âu thực tổn:
Nét chính là các cơn tái diễn lo âu trầm trọng (hoảng sợ) hoặc lo âu lan tỏa và dai dẳng nhưng không khu trú vào hoặc hơn nữa không trội lên mạnh mẽ trong bất kỳ hoàn cảnh môi trường đặc biệt nào (nghĩa là lo âu tự do – lơ lửng) Như trong các rối loạn lo âu khác, các triệu chứng ưu thế rất thay đổi, nhưng phổ biến bệnh nhân, phàn nàn luôn cảm thấy lo lắng, run rẩy căng thẳng cơ bắp, ra
mồ hôi, đầu óc trống rỗng, đánh trống ngực, chóng mặt, khó chịu vùng thượng
vị Sợ bản thân hoặc người thân thích sẽ sớm mắc bệnh hoặc bị tai nạn thường biểu hiện đồng thời với các loại lo âu và linh tinh điềm gở Nhưng những đặc điểm trên phải là hậu quả của một bệnh thực tổn có khả năng gây loạn chức năng não
* Rối loạn phân ly thực tổn
* Rối loạn cảm xúc không ổn định (suy nhược) thực tổn
Rối loạn được đặc trưng bởi cảm xúc không kiềm chế hoặc cảm xúc không ổn định rõ rệt và dai dẳng, sự mệt mỏi và một số cảm giác cơ thể khó chịu
và các chứng đau được coi là do các bệnh lý thực tổn Rối loạn này thường được cho là xuất hiện có liên quan với bệnh lý mạch máu não hoặc cao huyết áp hơn là
do các nguyên nhân khác
* Rối loạn nhận thức nhẹ
Rối loạn này có thể xảy ra trước, đồng thời hoặc tiếp theo nhiều bệnh lý nhiễm trùng và bệnh cơ thể, cả bệnh não lẫn bệnh hệ thống Biểu hiện thần kinh
Trang 18trực tiếp của rối loạn nào không nhất thiết phải có, tuy nhiên có thể gây đau buồn
và gây trở ngại cho các hoạt động thông thường Ranh giới của loại rối loạn này còn phải xác định một cách chặt chẽ, khi bệnh cơ thể kết hợp đã hồi phục, rối loạn nhận thức nhẹ không kéo dài thêm hơn vài tuần
* Các rối loạn tâm thần biệt định khác do tổn thương và rối loạn chức năng não
vi di chứng hoặc đồng thời ấy có thể gợi ý về một thể loại hoặc khu trú của bệnh
lý trong não
* Rối loạn nhân cách thực tổn
Rối loạn này được đặc trưng bởi các biến đổi đáng kể các mô hình, hành
vi quen thuộc đối với người bệnh trước khi bị bệnh Sự thể hiện của cảm xúc, nhu cầu và xung đột đặc biệt bị tổn thương
Các chức năng nhận thức có thể bị thiếu sót phần lớn hoặc chỉ riêng trong lĩnh vực xây dựng kế hoạch cho các hoạt động của mình và không tiên đoán được những hậu quả cho cá nhân và xã hội
* Hội chứng sau viêm não
Hội chứng bao gồm sự biến đổi hành vi di chứng sau hồi phục khỏi bệnh viêm não do vi rút hoặc do vi khuẩn Các triệu chứng đều không đặc hiệu và thay đổi tùy theo từng người, tùy tác nhân nhiễm khuẩn và nhất là tùy độ tuổi của người bệnh ở thời điểm, nhiễm khuẩn Sự khác biệt chính giữa rối loạn này và rối loạn nhân cách thực tổn là nó thường có khả năng hồi phục
* Hội chứng sau chấn động não
Hội chứng xảy ra sau chấn thương ở đầu (mức độ trầm trọng đủ gây trạng thái mất ý thức) và một số triệu chứng tản mạn như đau đầu, choáng váng, mệt mỏi dễ cáu kỉnh, khó tập trung tư tưởng và khó hoạt động trí não, suy giảm trí
Trang 19nhớ mất ngủ, và giảm sự chịu đựng và stress, kích thích cảm xúc hoặc rượu Những triệu chứng này có thể kèm thêm các cảm xúc trầm cảm hoặc lo âu hậu quả của sự mất tự tin, và sự tổn thương não vĩnh viễn
* Các rối loạn nhân cách và hành vi thực tổn khác do bệnh não, tổn thương não hoặc rối loạn chức năng não
Bệnh não, tổn thương não hoặc rối loạn chức năng não có thể gây ra một loạt các rối loạn về nhận thức, cảm xúc, nhân cách và hành vi nhưng không phải tất cả các bệnh lý ấy đều có thể xếp theo các mục trên Tuy nhiên vì các quy ước
về đặc điểm bệnh học của các hội chứng có thể xếp trong phần này là không chắc chắn, chúng phải được ghi mã khác
* Rối loạn hành vi và nhân cách thực tổn
Không biết định do bệnh não, tổn thương não, hoặc rối loạn chức năng não.[ 3 ]
5 Tiêu chuẩn chẩn đoán RLTTTT
Có bằng chứng khách quan (từ khám cơ thể, khám thần kinh và các xét nghiệm) hoặc có tiền sử bệnh não, tổn thương hoặc rối loạn chức năng não hoặc
có tiền sử bệnh hệ thống được biết là gây ra các rối loạn chức năng não, bao gồm các rối loạn hoocmon (không phải là các rối loạn liên quan đến rượu hoặc các chất tác động tâm thần) và các tác dụng của thuốc không gây tác động tâm thần
Có một sự liên quan được thừa nhận giữa sự tiến triển, sự trầm trọng đáng kể của bệnh lý tiềm ẩn, các thương tổn, rối loạn chức năng và rối loạn tâm thần, các triệu chứng của nó có thể có sự khởi phát tức thời hoặc bị trì hoãn
Có sự hồi phục hoặc cải thiện đáng kể của rối loạn tâm thần sau khi nguyên nhân gây bệnh tiềm ẩn được loại bỏ hoặc cải thiện
Không có đủ bằng chứng của một nguyên nhân khác gây rối loạn tâm thần VD: Có tiền sử gia đình rất nặng nề về một bệnh có liên quan hoặc có biểu hiện lâm sàng tương tự như vậy