1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng chăm sóc bệnh nhân trầm cảm tại bệnh viện tâm thần trung ương 1

36 54 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 483,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm gần đây đã có nhiều nghiên cứu về yếu tố di truyền của bệnh rối loạn trầm cảm, và người ta thấy có sự liên quan giữa trầm cảm với nhiễm sắc thể X, và một số nghiên cứu cũ

Trang 1

BỆNH VIỆN TÂM THẦN TRUNG ƯƠNG 1

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP ĐIỀU DƯỠNG CHUYÊN KHOA CẤP I

NAM ĐỊNH – 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

NGUYỄN THỊ BÌNH MINH

THỰC TRẠNG CHĂM SÓC BỆNH NHÂN TRẦM

CẢM TẠI KHOA BÁN CẤP TÍNH NỮ

BỆNH VIỆN TÂM THẦN TRUNG ƯƠNG 1

Chuyên ngành: ĐIỀU DƯỠNG TÂM THẦN

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP ĐIỀU DƯỠNG CHUYÊN KHOA CẤP I

Giảng viên hướng dẫn: ThS.BS Nguyễn Mạnh Dũng

NAM ĐỊNH – 2017

Trang 3

Để hoàn thành tốt chuyên đề này Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn ThS Bs Nguyễn Mạnh Dũng– Giám đốc trung tâm khảo thí và đảm bảo chất lượng giáo dục – Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã giúp đỡ và hướng dẫn tôi rất tận tình trong suốt thời gian tôi thực hiện chuyên đề này

Xin được cảm ơn các thầy cô giáo trong bộ môn Tâm thần kinh – Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định, các cán bộ y tế trong 10 khoa lâm sàng của Bệnh viện Tâm thần trung ương 1đã giúp đỡ, chia sẻ cho tôi những kinh nghiệm quý báu trong thời gian học tập và làm chuyên đề này

Xin được cảm ơn các bạn trong lớp Chuyên khoa 1, khóa 4, đã cùng vai sát cánh với tôi để hoàn thành tốt chuyên đề này

Xin được cảm ơn những người bệnh, gia đình người bệnh đã thông cảm

và tạo điều kiện cho tôi được thăm khám, tiếp xúc, lắng nghe và thực hiện nghiêm túc những lời khuyên dành cho họ

Xin chân thành cảm ơn mọi người!

Trang 4

Tôi xin cam đoan đây là báo cáo của riêng tôi Các kết quả trong chuyên đề

là trung thực và chưa từng ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Hà nội, ngày 02 tháng 08 năm 2017

Người làm đơn

Nguyễn Thị Bình Minh

Trang 5

- AG: Ảo giác

- TTPL: Tâm thần phân liệt

- ETP: (Ergothérapeute ) Cán bộ liệu pháp

- SSRI: Loại thuốc chống trầm cảm 3 vòng và loại thuốc tái hấp thu chọn lọc Serotonin

- GDSK: Giáo dục sức khỏe

- PHCN: Phục hồi chức năng

Trang 6

STT Nội dung Trang

4 Một số nguyên nhân trầm cảm thường gặp ở Việt nam 13

6 Những dấu hiệu dự đoán về tiến triển của trầm cảm 18

2.1 Nghiên cứu một trường hợp bệnh cụ thể 29

Chương 4 : Giải pháp, kiến nghị, đề xuất, nhằm cải

thiện chăm sóc bệnh nhân trầm cảm

40

4.4 Đối với Bệnh viện Tâm thần trung ương 1 42

Trang 7

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trầm cảm là trạng thái buồn rầu, chán nản, không còn hứng thú gì trong cuộc sống, ngủ không ngon, ăn uống nhạt miệng, làm việc không xong tới chót, mặc cảm thua kém, khi rầu rĩ lâu ngày hay nghĩ đến cái chết Ngoài ra, bệnh nhân hay kèm lo lắng, nặng đầu, đau mỏi vai gáy, ngực hồi hộp, tay chân lạnh Rối loạn trầm cảm là một trạng thái bệnh lý hay gặp trong thực hành tâm thần học cũng như trong thực hành đa khoa Rối loạn trầm cảm có xu hướng gia tăng và chiếm khoảng 20 - 30% dân số, trong đó rối loạn trầm cảm chủ yếu chiếm 4,4% (Mỹ ), 5,2% ( Italie ), 3,4% ( Nam ) và 6 % ( Nữ ) ở ( Pháp ), ( 2,85

% ) ở Việt Nam Hàng năm trên thế giới có tới hàng trăm triệu người được phát hiện là trầm cảm Bệnh thường gặp ở lứa tuổi 18 – 44, tuổi khởi phát trung bình

là 25,6, tỷ lệ nữ bị rối loạn trầm cảm cao gấp 3 lần nam Khoảng 45 – 70% những người tự sát mắc bệnh trầm cảm và 15 % bệnh nhân trầm cảm chết do tự sát Rối loạn trầm cảm có tỷ lệ tái phát cao [ 5 ]

Rối loạn trầm cảm do rất nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra, nhiều tác giả cho là có sự biến đổi của các chất trung gian hóa học trong hệ thống thần kinh trung ương như Noradrenaline và Dopamine Các thay đổi nồng độ một

số Hormone thyroxin, Corticoid, một số chất điện giải, hoặc một số thành phần miễn dịch đều có thể gây ra trầm cảm Trong những năm gần đây đã có nhiều nghiên cứu về yếu tố di truyền của bệnh rối loạn trầm cảm, và người ta thấy có

sự liên quan giữa trầm cảm với nhiễm sắc thể X, và một số nghiên cứu cũng cho thấy có những biến đổi 3 vùng là Hồi Hải Mã, Hạnh nhân và vỏ não ở những bệnh nhân trầm cảm điển hình

Bệnh trầm cảm để lại gánh nặng cho gia đình và xã hội về sức lao động cũng như về kinh tế Theo nghiên cứu của tổ chức y tế thế giới ( OMS – 1996), Nakajima hơn 1,5 tỷ người có những biểu hiện về rối loạn tâm thần trong đó có khoảng 340 triệu người bị rối loạn trầm cảm sẽ là nguyên nhân gây mất khả năng lao động đứng hàng thứ hai vào năm 2020 Kinh phí chi cho trầm cảm rất lớn, ở Mỹ chi cho trầm cảm là 45 tỷ đô la, cho tâm thần phân liệt là 65 tỷ đô la

và cho tim mạch là 120 tỷ đô la Không những thế nhiều bệnh nhân trầm cảm đã tìm đến cái chết để giải thoát mọi khổ cực và bi quan về cuộc đời do bệnh gây

ra Do vậy nhiều nước đã đưa chương trình phòng và chống bệnh trầm cảm vào chương trình quốc gia trong đó có Việt Nam Bệnh trầm cảm cũng đã được phân loại một cách chi tiết trong Bảng phân loại bệnh Quốc tế năm 1992

( ICD.10 mục F32 ), từ các bệnh trầm cảm điển hình nhất đến các bệnh trầm cảm không điển hình, bị che đậy bởi các thực thể cũng như các giai đoạn tái diễn trầm cảm

Trang 8

Hiện nay người bệnh có rối loạn trầm cảm ngày càng gia tăng, trở thành một vấn đề lớn của xã hội cần phải tập trung giải quyết Đây không phải là vấn

đề riêng của nghành y tế mà đòi hỏi sự tham gia của toàn cộng đồng và xã hội

Do vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu chuyên đề này: “ Thực trạng chăm

sóc bệnh nhân trầm cảm tại Bệnh viện Tâm thần trung ương 1 ”, nhằm mục

Trang 9

Trầm cảm là một loại rối loạn tâm thần thường gặp nhất trong các dạng rối loạn tâm thần, bao gồm nhiều triệu chứng, nhưng hay gặp nhất là sự buồn bã sâu sắc và người bệnh không còn quan tâm hay thích thú đối với tất cả những gì xảy ra xung quanh hoặc đối với bản thân mình Người bệnh luôn cảm thấy mệt mỏi, mất hy vọng vào tương lai, nghĩ rằng thế giới xung quanh dường như lúc nào cũng u ám

Rối loạn trầm cảm có thể xuất hiện bất kỳ lúc nào nhưng thường gặp nhất

là ở lứa tuổi từ 18 – 44, nữ dễ bị trầm cảm gấp đôi nam

Trầm cảm nhiều hơn chỉ là cơn nhảy múa, trầm cảm không phải là điểm yếu, cũng không phải là một cái gì đó mà có thể chỉ đơn giản là thể hiện ra Trầm cảm là một căn bệnh kinh niên thường đòi hỏi phải điều trị lâu dài, như bệnh tiểu đường hoặc huyết áp cao.Nhưng không được nản lòng, hầu hết những người bị trầm cảm cảm thấy tốt hơn với thuốc, tư vấn tâm lý hoặc điều trị khác

1.1: Vài nét về lịch sử nghiên cứu bệnh trầm cảm

Thuật ngữ trầm cảm hay sầu uất “ Melancholie ” được Hippocrate (460 –

377 trước công nguyên ) dùng để mô tả một số rối loạn tâm thần có biểu hiện rối loan khí sắc Năm 1686 Bonet mô tả một bệnh tâm thần mà ông gọi là bệnh hưng cảm – sầu uất “ Maniaco – Melancoliants ” Sau đó E Esquirol tách ra từ các bệnh loạn thần bộ phận ( Folies partielles ) một thể trầm cảm và gọi là cơn hoang tưởng ( HT ) buồn rầu Năm 1882, K Kahlbaum dùng thuật ngữ “ Cyclothymia ” ( Bệnh khí sắc chu kỳ ) mô tả hưng cảm, trầm cảm như các giai đoạn của cùng một bệnh E Kraepelin (1899 ), dựa trên các biểu hiện lâm sàng

và tính chất tiến triển của các bệnh do các nhà tâm thần học Pháp và Đức mô tả, thống nhất lại thành một thể bệnh và gọi là bệnh loạn thần hưng - trầm cảm Trước những năm 80 của thế kỷ XX, rối loạn trầm cảm ( RLTC ) được mô tả như một giai đoạn của bệnh loạn thần hưng – trầm cảm Các tiến bộ quan trọng trong việc mô tả, phân loại các RLTC trong 30 năm qua đã giúp thúc đẩy các

Trang 10

nghiên cứu quan trọng về dịch tễ, bệnh nguyên và bệnh sinh các RLTC này một cách chi tiết, hợp lý [ 5 ]

1.2: Dịch tễ học trầm cảm

1.2.1:Một số nghiên cứu ở các nước trên thế giới

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã dự đoán rằng năm 2020 sẽ có khoảng

121 triệu người mắc bệnh trầm cảm, bệnh này cướp đi mỗi năm trung bình

850 000 mạng người và bệnh này là căn bệnh xếp hạng 2 trong số những căn bệnh phổ biến toàn cầu Thế nhưng, ngày 10/10/2012 ( Ngày Sức khỏe Tâm thần Thế giới) vừa qua, WHO cho biết hiện nay trên thế giới đã có hơn 350 triệu người đang mắc bệnh trầm cảm và mỗi năm có khoảng 1 triệu người tự tử ( trung bình mỗi ngày có 2900 người tự tử ) Điều này cho thấy số người mắc

bệnh trầm cảm trên thế giới đã tăng quá nhanh trong những năm tháng gần đây

Theo The Huffing Post, ngày 27/7/2011 thì: Trung bình tỷ lệ dân số mắc bệnh trầm cảm ở 10 nước giàu là 15% và ở các nước nghèo là 11% Nước Pháp

có tỷ lệ cao nhất là 21%, trong 5 người Pháp thì có một người bị mắc bệnh trầm cảm trong cuộc đời của họ Kế đến là nước Mỹ: 19,2%, Brazil: 18,4%, Hà Lan: 17,9%, NewZealand: 17,8%, Ukraine: 14,6%, Bỉ: 14,1%, Colombia: 13,3%, Lebanon: 10,9 %, Tây Ban Nha: 10,6%, Israel: 10,2%, Đức: 9,9%, Ý: 9,9%, Hàn Quốc: 9,8%, Ấn độ: 9%, Mexico: 8%, Nhật: 6,6%, Trung Quốc: 6,5% Tại Mỹ, hiện nay có khoảng 27 triệu người mắc bệnh trầm cảm ( tăng gấp

3 lần trong 20 năm qua ), mỗi năm có trên 300 000 người tự tử, trong đó chiếm 60% là những người mắc bệnh trầm cảm

Tại Châu Âu, số người mắc bệnh trầm cảm và tự tử tăng đột biến vì khủng hoảng, ¼ dân số Châu Âu tương đương ( 215 triệu người ) sẽ bị rối loạn tâm lý bởi cuộc sống quá khó khăn Số lượng các ca yêu cầu điều trị chống trầm cảm ở Anh đã tăng tới 28%, từ 34 triệu người trong năm 2007 lên 43,4 triệu người trong năm 2011

Với quốc gia Trung Quốc, hàng năm có khoảng 300 000 người tự tử ( thực tế có thể là cao hơn nữa ), đặc biệt tại Trung Quốc khác với các quốc gia khác là nữ tự sát nhiều hơn nam giới theo tỷ lệ 3:1, ở nông thôn tự tử nhiều hơn thành phố theo tỷ lệ 3:1 [6 ], [ 10 ]

1.2.2: Thực trạng về bệnh trầm cảm ở Việt Nam hiện nay

Theo tài liệu của chính phủ Việt Nam thì năm 2000, tỷ lệ mắc bệnh trầm cảm ở nước ta là 2,47% dân số, nhưng hiện nay con số này tăng lên khoảng 15%

Theo báo cáo của buổi hội thảo quốc tế về “ Vấn đề toàn cầu hóa, thành thị hóa và sức khỏe tâm thần ” được tổ chức tại Huế vào ngày 25 đến ngày

Trang 11

27/11/2010 thì hiện nay 20% dân số, tức khoảng 18 triệu người Việt Nam đang mắc các chứng bệnh “ Tâm thần hiện đại ”

Theo tác giả La Đức Cương có khoảng 12 triệu người ( tương đương 15% dân số ) đang có vấn đề về rối loạn tâm thần, trong đó phần lớn là bệnh trầm cảm, sau đó là bệnh nặng hơn như Tâm thần phân liệt, nghiện rượu, lạm dụng rượu, ma túy và chậm phát triển trí tuệ

Theo TS BS Tô Thanh Phương thì có khoảng 15% dân số nước ta có vấn

đề về sức khỏe tâm thần Phần lớn bệnh nhân trầm cảm nặng thuộc lứa tuổi từ

16 – 35 tuổi [ 7 ]

Bệnh trầm cảm là bệnh gây mất sức lao động đứng thứ hai trên thế giới và

là nguyên nhân của 2/ 3 trường hợp tự tử Điều nguy hiểm là do sự mặc cảm hoặc thiếu hiểu biết về căn bệnh này, có đến 60% người mắc bệnh trầm cảm không được phát hiện và điều trị trầm cảm thường gặp ở nữ nhiều hơn nam, xuất hiện ở mọi lứa tuổi Một cuộc điều tra theo diện hẹp do viện quân y 103 tiến hành cho thấy tỷ lệ trầm cảm ở người già cô đơn trên 60 tuổi là 50%

Theo trung tâm phòng chống khủng hoảng tâm lý, có tới 25,4% người dân

có ý định tự tử; 15,6% có kế hoạch tự tử và thực hiện hành vi tự tử là 4,2%, tương đương khoảng 3,78 triệu người Việt nam đã thực hiện hành vi tự tử Trên thực tế bệnh trầm cảm ở Việt nam còn tệ hơn thế nếu có điều tra toàn quốc theo đúng tiêu chuẩn quốc tế

Tại Viêt Nam sau khi nghiên cứu lại các trường hợp trước đây được chẩn đoán là suy nhược thần kinh, các bác sĩ nhận thấy phần lớn các bệnh nhân có đủ tiêu chuẩn để chẩn đoán trầm cảm

Hiện nay tại Bệnh viện Tâm thần trung ương 1 chưa có công trình nào nghiên cứu về dịch tễ lâm sàng các rối loạn trầm cảm trên quy mô lớn như cấp

bộ, hay toàn quốc Vấn đề nghiên cứu về dịch tễ lâm sàng trầm cảm vẫn chỉ mang tính cục bộ tại một vài địa phương, chưa mang tính đại diện cho tỷ lệ trầm cảm của một quốc gia

1.2.3: Một số nghiên cứu ở trong nước

Hiện nay ở nước ta có một số nghiên cứu về trầm cảm trong nước của một

số tác giả như sau

- Lã Thị Bưởi, Trần Viết Nghị, Nguyễn Viết Thiêm điều tra trầm cảm tại một phường ở Hà Nội

- Trần Văn Cường và cộng sự năm ( 2002 ), rối loạn trầm cảm điển hình chiếm 2,8 % khi điều tra dịch tễ lâm sàng một số bệnh tâm thần thường gặp ở các vùng kinh tế - Xã hội khác nhau ở nước ta hiện nay

Trang 12

- Lâm Xuân Điền điều tra trầm cảm tại một phường của thành phố Hồ Chí Minh

- Tô Thanh Phương nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và điều trị trầm cảm nặng bằng Amitriptyline phối hợp với thuốc chống loạn thần

- Ngô Ngọc Tản, Cao Tiến Đức điều tra trầm cảm tại một phường của Thị

xã Hà Đông – Hà Nội

- Nguyễn Văn Siêm điều tra trầm cảm tại xã Quất động – Thường Tín –

Hà Nội

2: Đặc điểm lâm sàng của trầm cảm

Trầm cảm là một triệu chứng rối loạn tâm thần, có những triệu chứng rõ ràng như: mất ngủ, mệt mỏi, chán ăn, mất hứng thú trong các sinh hoạt, buồn rầu, khó khăn khi tập trung, buông xuôi, vượt xa những cảm xúc buồn bã bình thường mà mỗi người chúng ta thỉnh thoảng đều trải qua

Ở phái nam, trầm cảm dễ bị xảy ra khi bị stress do căng thẳng trong công việc hàng ngày, kinh tế chật vật, ân hận vì lỡ thua cờ bạc, hạnh phúc tan vỡ, người thân mất, thay đổi chỗ ở, chỗ làm việc, tương lai bấp bênh…Nam giới vẫn thường phải chịu áp lực về sự thành đạt trong đời nếu không làm được điều này ( bị nép vế trong gia đình hay ở chỗ làm ), nhiều người ôm nỗi buồn đó một cách lặng lẽ, không muốn ngỏ cùng ai do đó dễ bị stress, người bệnh có những cơn giận dữ đột ngột, không kiểm soát bản thân, không thể quyết định được việc gì

Ở phái nữ, triệu chứng thường thấy là buồn, âu sầu, hay khóc thờ ơ, không thấy thích thú gì với những công việc hàng ngày, kể cả chuyện tình dục, tuyệt vọng hoặc thấy mình chẳng có giá trị gì, ngủ quá nhiều hoặc không ngủ được, ngủ li bì đánh thức cũng không tỉnh; không thèm ăn và gầy đi hoặc ăn quá nhiều

và béo lên; cảm giác mệt mỏi rã rời hoặc uể oải, không tập trung chú ý được và không quyết định được làm việc gì, cảm thấy trên thân thể đau đớn mà điều trị cũng không đỡ

2.1: Các triệu chứng của rối loạn trầm cảm điển hình

Khí sắc trầm cảm: Khí sắc trầm cảm thường gặp là buồn rầu uể oải, chân tay rời rã, cảm giác khó chịu, bất an, đuối sức trước cuộc sống, luôn cảm thấy đau khổ, nét mặt ủ rũ hoặc rơm rớm nước mắt, mệt mỏi, bệnh nhân ( BN ) thấy quá khứ, hiện tại và tương lai chỉ là một màu đen tối, ảm đạm, thê thảm, đôi khi khó tả được cảm giác của mình, cảm thấy mình bị thất bại, hỏng việc, bất lực, tự đánh giá bản thân thấp kém, không có khả năng, là ngõ cụt [ 5 ]

Các rối loạn nhận thức: Quá trình liên tưởng ở BN chậm chạp, hồi ức xuất hiện khó khăn, dòng tư duy bị ngưng trệ, khó diễn đạt ý nghĩ của mình thành lời nói, ít hoặc không nói Cũng có thể là các ý nghĩ tự ti, hèn kém, phẩm chất xấu, phạm nhiều tội lỗi, ý nghĩ bị thiệt hại, hoặc bị truy hại

Trang 13

- Các rối loạn tâm thần vận động: Ở những bệnh nhân RLTC nặng, bệnh nhân ngồi hàng giờ, ít đi lại hoặc nằm im một chỗ ở những nơi yên tĩnh, kín đáo như trong buồng hoặc ở phòng tối, không muốn tiếp xúc với ai, BN cảm thấy nhanh chóng bị kiệt sức khi làm việc gì đó gắng sức, luôn cảm thấy mệt mỏi, suy nhược, mất nghị lực, luôn phàn nàn về sự mệt nhọc, đuối sức

- Các biểu hiện lo âu: BN thường có cảm giác lo lắng, sợ hãi cho các dự định trong tương lai của họ Sự lo lắng của BN xuất hiện dưới dạng căng thẳng

và sự nguy hiểm, chờ đợi điều không mong muốn sắp xảy ra, do vậy họ thường

có phản ứng tấn công người khác, hoặc xung động, lo âu và có thể xuất hiện hành vi tự sát

- Các triệu chứng cơ thể: Các biểu hiện rối loạn cơ thể thường xuyên biến đổi trong ngày, mệt mỏi thường tăng vào buổi sáng, giảm cân đôi khi nặng nề,

có thể giảm tới 10kg trong một vài tháng ( gặp ở nữ ).Giảm trọng lượng có liên quan trực tiếp đến chán ăn, lo âu, tức ngực, chóng mặt, đau vùng trước tim, cảm giác kiến bò, giảm tình dục, rối loạn kinh nguyệt, dễ kích thích căng thẳng Khi trầm cảm nặng BN thường từ chối ăn, đôi khi gặp sự trái ngược là ăn vô độ có thể gây ra tăng cân

- Hành vi tự sát ở bệnh nhân trầm cảm nặng: Có tới 80% BN trầm cảm nặng có ý định tự sát Đặc biệt có thể gặp tự sát trong quá trình tiến triển của trầm cảm khi điều trị chưa đạt kết quả Việc xác định được nguy cơ tự sát không phải là dễ dàng, hơn nữa họ có thể nói dối những ý định tự sát càng làm cho chúng ta không thể phát hiện được những ý nghĩ và hành vi của họ Mức độ nặng nề của nguy cơ tự sát thường có liên quan nhiều giữa cường độ lo âu với mức độ trầm trọng của trầm cảm [ 11]

2.2: Một số rối loạn trầm cảm

- Rối loạn trầm cảm không điển hình Bệnh nhân không có các biểu hiện của RLTC điển hình BN thấy ăn ngon miệng, tăng cân, ngủ nhiều,tăng hoạt động, mệt mỏi kèm theo đau các chi, cảm thấy như bị liệt, dễ tủi thân

-Trầm cảm ẩn Bệnh nhân thường phàn nàn về các triệu chứng cơ thể một cách lờ mờ, không rõ ràng, đau không rõ vị trí, thường kêu đau vùng trước ngực, đau nhức xương khớp…

- Trầm cảm suy nhược.Nổi bật là những nét suy nhược với những ám ảnh

Trang 14

Thường gặp nhất là cường độ trung bình và những trầm cảm này có thể gây ra loạn thần, thường là những hành vi tự sát hoặc muốn chết

- Trầm cảm nội sinh:

Trầm cảm nội sinh là loại trầm cảm có tính chất hệ thống đối lập với trầm cảm tâm căn và đáp ứng tốt với điều trị hóa dược

Một số biểu hiện của trầm cảm nội sinh là

+ Không có phản ứng với biến đổi môi trường

+ Khí sắc thường xấu hơn vào buổi sáng

+ Mất hứng thú quan tâm sở thích

+ Tự buộc tội hoặc bị tội

+ Thức dậy sớm hoặc mất ngủ giữa đêm

- Không có các yếu tố tác động

- Không có tiền sử rối loạn khí sắc và yếu tố gia đình

- Không có các biểu hiện bệnh lý tâm căn trong tiền sử

- Trạng thái suy nhược

- Có một số triệu chứng gợi ý: Lú lẫn, lo âu, tư duy chậm chạp cùng với đau đầu kín đáo, động kinh, run… [ 2 ]

3: Nguyên nhân dẫn đến bệnh trầm cảm

3.1: Nhân tố di truyền

Các rối loạn khí sắc của trẻ, thanh thiếu niên và người lớn hay gặp trong

số thành viên gia đình họ Nếu cha mẹ có một người bị trầm cảm thì nguy cơ con cái mắc bệnh trầm cảm tăng gấp đôi so với con cái của cặp cha mẹ có tiền

sử bình thường Nếu cả hai cha mẹ đều bị trầm cảm thì xác xuất là 4 lần nguy cơ phát triển rối loạn khí sắc ở trẻ em dưới 18 tuổi [ 2 ]

3.2: Nhân tố môi trường

Có ít bằng chứng là vấn đề hôn nhân của cha mẹ, ly thân, ly hôn, anh chị

em, vấn đề cấu trúc gia đình hay kinh tế - xã hội phát hiện ở trẻ em trầm cảm hình như là thứ phát sau trầm cảm sẽ cải thiện sau khi trầm cảm hồi phục bền vững [ 2 ]

3.3: Nhân tố sinh học

Trang 15

Trẻ em trước tuổi dậy thì trong một giai đoạn trầm cảm lớn, có tăng khá

rõ hocmon tăng trưởng trong giấc ngủ so với trẻ em bình thường với các trẻ em

bị rối loạn cảm xúc không trầm cảm Các trẻ em này cũng tiết ít hocmon tăng trưởng khá rõ phản ứng giảm đường huyết do Insulin gây ra so với các bệnh nhân không trầm cảm, hai bất thường trên tồn tại bền vững ba bốn tháng sau khi trạng thái lâm sàng ổn định và trong trạng thái không dùng thuốc [ 2 ]

3.4: Một số thói quen dẫn đến bệnh trầm cảm

Người bị trầm cảm không thể tìm thấy hứng thú trong bất kỳ công việc gì

Có nhiều yếu tố gây ra trầm cảm, một số trong đó là thể chất, còn một số khác thuộc về tâm lý Dưới đây là một số thói quen dễ dẫn đến trầm cảm:

+ Chế độ ăn không hợp lý

Ăn uống lành mạnh không chỉ tốt cho cơ thể mà còn tốt cho trí não, những thực phẩm chứa chất béo omega – 3 được xem là những thực phẩm bổ não vì chúng có vai trò thiết yếu đối với mô não khỏe mạnh

Ngoài ra còn có nhiều chế phẩm bổ sung Mặc dù những chế phẩm này không phải lúc nào cũng ngon miệng, nhưng chúng giúp cho bộ não khỏe mạnh

và ngăn ngừa sự tấn công của bệnh trầm cảm

+ Ngủ không đúng và stress

Nếu bạn thường xuyên để mình bị đói ngủ, thì bạn đang tạo ra hoàn cảnh

lý tưởng cho bệnh trầm cảm Nếu không được ngủ đủ, bạn sẽ dễ trở lên bị kích động và hoang tưởng, là nền tảng cho trạng thái trầm cảm

Hơn nữa, những người không ngủ đủ thường không làm tốt công việc, khiến họ bị stress và càng giảm năng xuất

Khi một người không thể ngủ hoặc không thể làm tốt vai trò của mình, họ

sẽ trở lên thất vọng và cảm thấy bị mắc kẹt thì kết cục là con người sẽ có cảm giác trầm uất Rất ít người biết rằng chỉ cần ngủ đủ là có thể ngăn chặn được bệnh trầm cảm

+ Cuộc sống cô lập

Sống cô lập là con đường chắc chắn dẫn đến trầm cảm Khi bạn lảng tránh bạn bè và người thân vì bất kỳ lý do gì, thì bạn đang tạo ra mảnh đất màu mỡ cho bệnh trầm cảm

Trang 16

+ Tính hay lo nghĩ

Suy nghĩ tiêu cực là một trong những nguyên nhân chính của trầm cảm Thường xuyên nghĩ về các mối đe dọa, sự chối bỏ, mất mát hay thất bại là cách chắc chắn đưa bạn đến với bệnh trầm cảm Với tất cả những áp lực của thế giới ngày nay, lo nghĩ quá nhiều đang trở thành ngòi nổ chính cho bệnh trầm cảm.[2]

4: Một số nguyên nhân trầm cảm thường gặp ở Việt nam

4.1: Trong cuộc sống hàng ngày

+ Lý do kinh tế

Cuối thế kỷ 20 và sang thế kỷ 21 có rất nhiều công ty ( tư nhân ) bị phá sản, có rất nhiều cá nhân hùn tiền vào công ty để hưởng lãi xuất cao, có rất nhiều người dồn tất cả tài sản vào công ty đó với hy vọng làm giàu nhanh chóng Vụ việc vỡ lở khi mọi người biết bị lừa thì đã muộn, một số người cảm thấy thất vọng đã định nhẩy lầu tự tử [ 7 ]

- Tiếp theo là phong trào hụi, họ phát triển mạnh để lừa nhau cũng đã gây thiệt hại nặng về kinh tế và tinh thần cho những người tham gia, chủ họ lớn nhất

ôm tiền bỏ trốn để lại hậu quả cho những chủ họ nhỏ hơn và cho những người tham gia Rất nhiều gia đình tan cửa nát nhà, mất nhà, nợ nần chồng chất, vợ chồng bỏ nhau con cái ly tán do vậy không ít người bị rối loạn tâm thần trong đó

có trầm cảm phải điều trị

- Thời gian gần đây một số người có cả nam và nữ bị một số công ty lừa

đi lao động xuất khẩu ở nước ngoài với mức lương cao, họ nhận tiền đặt cọc của những người dân muốn đi lao động ở nước ngoài, số tiền đặt cọc không giống nhau tùy thuộc vào các quốc gia mà họ muốn đến ( khoảng từ 7000 đến 10000

đô la/ người ) Mỗi đợt khoảng vài chục người chờ đến hạn mà không được đi thì mới biết là mình bị lừa, rất nhiều người đau khổ vật vã vì mất tiền mà không

đi được nước ngoài nhằm đổi đời Mà số tiền đó họ phải đi vay với lãi xuất cao hoặc vay của ngân hàng nên nhiều người rơi vào trạng thái kích động hoặc trầm cảm cần phải điều trị

- Và nạn lô đề với lãi suất tới 70 lần nên có rất nhiều người tham gia không kể lứa tuổi già hay trẻ Họ lao vào như con thiêu thân càng đánh càng say trúng thì ít mà thua thì nhiều, thua nhiều thì mong gỡ Hết tiền thì đánh nợ số tiền nợ ngày càng tăng lên, số tiền mất thì làm cho kinh tế suy kiệt Vấn nạn này cũng gây khủng hoảng cho nhiều gia đình nhẹ thì mất nhà nặng thì bỏ trốn gia đình ly tán để lại gánh nặng cho người ở lại Với sức ép của chủ nợ cộng với sự

ân hận mất tiền nên nhiều người cũng rơi vào trạng thái kích động hoặc trầm cảm cần phải điều trị

+ Lý do về xã hội

Trang 17

- Do thi trượt: Trầm cảm thường gặp ở những bạn trẻ đã thi trượt vào các trường đại học hoặc trung học một vài lần, ít khi gặp ở những bạn thi trượt lần đầu

- Do thất nghiệp: Một số người sau khi đã tốt nghiệp nhưng không tìm được việc làm theo đúng nghành nghề, hoặc bị áp lực là không muốn về nông thôn hoặc miền núi mà chấp nhận ở lại thành phố để được làm bất cứ công việc

gì Họ mong trụ lại ở thành phố và có việc làm để nuôi sống bản thân và trang trải trong cuộc sống thường ngày

- Một số cô gái trẻ con nhà nghèo qua công ty môi giới để lấy được chồng nước ngoài, nhưng khi đến nhà chồng thì cuộc sống lại không được như mong muốn họ coi như là Ôsin trong nhà, bị quản thúc như tù giam lỏng mất tự do Vỡ mộng họ tìm cách trốn về nước và không ít người trong số họ bị trầm cảm cần phải điều trị

- Do ly hôn: Nhiều cặp vợ chồng trẻ ở các thành phố lớn họ sống theo kiểu phương tây yêu rất nhanh và cưới gấp sẵn sàng ly hôn và có xu hướng ly hôn ngày càng nhiều Chính nguyên nhân này ảnh hưởng đến bộ phận giới trẻ trong xã hội

- Do nghiện ma túy - HIV: Hiện nay tình hình người nghiện ma túy và nhiễm HIV ngày càng tăng cao trong cộng đồng mặc dù nhà nước có rất nhiều biện pháp giáo dục và tuyên truyền đến từng xã, phường, người dân Nhưng tỷ lệ vẫn không ngừng gia tăng có rất nhiều người nhiễm HIV đã tìm đến cái chết nhằm giải thoát cho bản thân cũng như gia đìnhcủa họ[7]

4.2: Trong các bệnh viện đa khoa, phòng khám đa khoa

Khá nhiều bệnh nhân nghĩ rằng mình bị bệnh, họ đã đến các bệnh viện để khám, bác sĩ cho đơn thuốc nhưng bệnh chỉ ổn một thời gian ngắn rồi bệnh lại như cũ Họ lại khám ở các bệnh viện khác hoặc tìm tới các giáo sư nổi tiếng, tìm các loại thuốc tốt nhất nhưng bệnh cũng không khỏi, mặc dù họ làm đủ các loại xét nghiệm nhưng kết quả trả lời là bình thường, chỉ đến khi họ tìm đến bác sĩ tâm thần và được là chẩn đoán là trầm cảm thì bệnh mới ổn định

Ở Việt nam hiện nay còn ảnh hưởng nặng nề bởi định kiến bị tâm thần (vì nếu đó là cô gái trẻ mà mang tiếng bị bệnh tâm thần thì khó xin việc cho bản thân và khó lấy chồng , khi cô gái trẻ mà phải điều trị trầm cảm ở bệnh viện tâm thần thì gia đình họ sẽ dấu không cho ai biết hoặc là nói đang điều trị ở bệnh viện đa khoa trung ương nào đó, không bao giờ họ họ nói là con họ điều trị ở bệnh viện tâm thần) do vậy người dân rất ngại đến với bác sĩ tâm thần vì họ sợ

bị mang tiếng là bị bệnh tâm thần Việc dấu bị bệnh tâm thần đã làm cho nhiều bệnh nhân trầm cảm trở thành mạn tính, vì vậy trong suốt thời gian dài họ không thể làm được gì mà lúc nào cũng chỉ muốn tìm các bệnh viện tốt, các giáo sư và thầy thuốc giỏi Khi đã đi nhiều nơi và không còn ai để hỏi nữa hoặc bệnh ngày càng nặng thì họ mới đến với bác sĩ tâm thần Mặt khác các bác sĩ đa khoa hầu như ít phát hiện ra trầm cảm đối với bệnh nhân này Do vậy gần đây, được sự

Trang 18

quan tâm của nhà nước nên nghành tâm thần đã tăng cường tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, các hội nghị, hội thảo có mời đông đảo các bác sĩ đa khoa tham dự để bổ xung thêm cho họ kiến thức về trầm cảm [ 7 ]

4.3: Trong các bệnh viện tâm thần

Trong các bệnh viện chuyên khoa tâm thần thì bệnh tâm thần phân liệt thường chiếm tỷ lệ lớn, việc phân biệt giữa trầm cảm và TTPL nhiều khi còn khó khăn và khó khăn nhất là bệnh viện tâm thần tuyến tỉnh hoặc khoa tâm thần nằm trong bệnh viện đa khoa )

Có thể là do 2 lý do sau

- Khó phân biệt giữa triệu chứng âm tính của TTPL với trầm cảm

- Các bác sĩ trẻ mới ra trường và các bác sĩ ở xa trung ương nên không có các thông tin có tính cập nhật về trầm cảm, thâm niên làm trong nghành tâm thần còn ít…cho nên chưa có nhiều kinh nghiệm, họ thường nghĩ là bệnh nhân

bị TTPL thì yên tâm điều trị theo hướng TTPL mà chính họ không nghĩ là bệnh nhân bị cả bệnh trầm cảm, nghĩa là theo họ thì bệnh nhân hoặc là bị TTPL hoặc

là bị trầm cảm Do vậy trong quá trình điều trị các bệnh nhân TTPL có trầm cảm

mà không biết thường điều trị rất dai dẳng, bệnh nhân thường xuyên kích động hoặc thậm chí tự sát nhưng vẫn cho là tự sát do các triệu chứng của TTPL hoặc

do chán sống tâm lý Vậy việc trang bị cho bác sĩ tâm thần ( nhất là bác sĩ trẻ ) kiến thức đồng bệnh lý giữa trầm cảm và TTPL là cần thiết [ 7 ]

5: Tiêu chẩn chuẩn đoán trầm cảm

Để được chẩn đoán là trầm cảm, phải đáp ứng được các tiêu chí triệu chứng nêu ra trong chẩn đoán thống kê Manual of Mental Disorders ( DSM ) Thống kê này được công bố bởi hiệp hội Tâm thần Mỹ và được sử dụng bởi các nhà cung cấp sức khỏe tâm thần để chẩn đoán các điều kiện tinh thần

Để được chẩn đoán là trầm cảm phải có năm hoặc nhiều hơn các triệu chứng sau đây Ít nhất một trong các triệu chứng phải là tâm trạng chán nản, thất thoát một quan tâm hay niềm vui Các triệu chứng có thể dựa vào cảm xúc của riêng bản thân hoặc có thể dựa trên các quan sát của người khác Chúng bao gồm:

- Sự yếu tâm trạng nhất trong ngày, gần như mọi ngày, chẳng hạn như cảm thấy buồn, trống giỗng hoặc rơi lệ

- Giảm hoặc cảm thấy không có niềm vui trong tất cả hoặc gần như tất cả các hoạt động trong ngày, gần như mỗi ngày

- Giảm cân đáng kể khi không ăn kiêng, tăng cân, giảm hoặc tăng cảm giác ngon miệng gần như mỗi ngày (ở trẻ em, không đạt được trọng lượng như mong đợi có thể là một dấu hiệu của trầm cảm )

- Mất ngủ hoặc làm tăng ham muốn ngủ gần như mỗi ngày

- Kích động hoặc trở lên chậm chạp

- Mệt mỏi hay mất năng lượng gần như mỗi ngày

Ngày đăng: 24/02/2021, 14:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đăng Dung, Nguyễn Văn Siêm ( 1991 ), Rối loạn trầm cảm, Bách khoa thư bệnh học, Hà nội, tr. 215 – 218 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rối loạn trầm cảm
5. Nguyễn Văn Ngân ( 1996 ), Rối loạn trầm cảm, Một số chuyên đề tâm thần học, Học viện quân y, Hà Nội, tr 62 – 63, 66 – 67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rối loạn trầm cảm
8. Nguyễn Văn Siêm và cộng sự. Kết quả xây dựng mô hình chăm sóc bệnh nhân trầm cảm tại cộng đồng, Nội san tâm thần học, Thường Tín 1. 2002, tr. 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nội san tâm thần học
9. Quản Trường Sơn. Tổ chức các hoạt động phục hồi chức năng và tái thích ứng xã hội, Nội dung tập bài giảng PHCN, Hà nội 1- 2011, tr.4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nội dung tập bài giảng PHCN
13. Trần Đình Xiêm. Vấn đề bệnh nguyên - bệnh sinh trầm cảm, Tâm thần học. 1995, tr. 319 – 321.* Tiếng Pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm thần học
1. Attar DL. ( 1995 ), Dépressions saisonnières , Les maladies depressives, Medecine – Sciences – Flammarion, p 209 – 214 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dépressions saisonnières
2. Beaufils B. ( 1991 ), Neuro – endocrinologie de la dépression, La dépression , Masson, pp. 196 – 211 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Neuro – endocrinologie de la dépression
3. Carvanho de W. Cohen D. ( 1995 ), Étsats dépressifs chez L ’ Adulte, Les maladies despressives, Mesdecine – Sciences – Flammarion, pp. 3 – 16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: tsats "dépressifs" chez L"’"Adulte
2. Phan Ngọc Hà. Nhận xét lâm sàng trầm cảm trầm cảm trong bệnh tâm thần phân liệt theo ICD – 10 ở Quảng Nam – Đà Nẵng, Hà nội 11 – 1995, tr. 57 Khác
3. Đỗ Thúy Lan. ( 1994 ), " Chăm sóc sức khỏe tại cộng đồng&#34 Khác
4. Trần Văn Long. ( 2009 ), " Bài giảng GDSK dành cho đối tượng cao đẳng, đại học &#34 Khác
6. Trần Viết Nghị, Nguyễn Văn Siêm, Nguyễn Viết Thiêm, Trần Văn Cường ( 2001 ), " Nghiên cứu dịch tễ - lâm sàng các rối loạn trầm cảm tại một số quần thể cộng đồng’’, Nội san tâm thần học, Hội tâm thần học, số 5, Hà nội, tr. 21 -22 Khác
7. Tô Thanh Phương. ( 2006 ). Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng rối loạn trầm cảm nặng và điều trị bằng Amitriptyline phối hợp với thuốc chống loạn thần. Luận án Tiến sĩ y học. Học viện Quân Y Khác
10. Nguyễn Viết Thiêm, Trần Viết Nghị, Trần Văn Cường. Dịch tễ lâm sàng các rối loạn trầm cảm.Chăm sóc sức khỏe tâm thần tại cộng đồng cho các bệnh tâm thần mạn tính, Hà nội 8. 2000, tr. 59 Khác
11.Phan Xuân Trung. Trầm cảm, truy cập từ: http:// www.ykhoa.net/yhocphothong/tamthan.htm Khác
12. Cao Văn Tuân. Rối loạn trầm cảm ở trẻ em và thanh thiếu niên theo quan điểm của bác sĩ tâm thần nhi. Nội san tâm thần học, Thường Tín 2. 2002, tr. 7 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w