Theo báo cáo của Liên Hợp Quốc về tình hình sử dụng các biện pháp tránh thai trên thế giới số liệu năm 2011 cho thấy tỷ lệ sử dụng bất kỳ một biện pháp tránh thai hiện đại ở phụ nữ 15-49
Trang 1BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
BÙI LÊ KHÁNH CHI
MÔ TẢ THỰC TRẠNG PHỤ NỮ CÓ THAI NGOÀI Ý MUỐN KHI ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRÁNH THAI TỰ NHIÊN TẠI
BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG NĂM 2018
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
NAM ĐỊNH - 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH
BÙI LÊ KHÁNH CHI
MÔ TẢ THỰC TRẠNG PHỤ NỮ CÓ THAI NGOÀI Ý MUỐN KHI ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP TRÁNH THAI TỰ NHIÊN TẠI
BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG NĂM 2018
Chuyên ngành: Điều dưỡng Sản phụ khoa
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: PGS.TS LÊ THANH TÙNG
NAM ĐỊNH - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là báo cáo chuyên đề của riêng tôi Nội dung trong bài
báo cáo này hoàn toàn trung thực, khách quan và chưa được áp dụng Báo cáo này
do bản thân tôi thực hiện dưới sự giúp đỡ của Giáo viên hướng dẫn Nếu có điều gì sai trái tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Bùi Lê Khánh Chi
Trang 4Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành chuyên đề này, tôi đã nhận được
sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô, các anh chị, bạn bè, đồng nghiệp, những người thân trong gia đình và các cơ quan có liên quan
Tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu, Phòng đào tạo Sau đại học, bộ môn Điều dưỡng Sản phụ khoa, các thầy cô giảng dạy của Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo tôi trong những năm học qua Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn: PGS.TS Lê Thanh Tùng, đã tận tình hướng dẫn, động viên, quan tâm và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học, thực hiện và hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám đốc Bệnh viện Phụ Sản Trung ương, tập thể bác sỹ, hộ sinh, điều dưỡng cán bộ Trung tâm tư vấn sức khỏe sinh sản- Kế hoạch hóa gia đình đã cho tôi cơ hội được đi học chuyên sâu về lĩnh vực điều dưỡng chuyên nghành phụ sản, tạo điều kiện, giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình học tập, công tác và nghiên cứu
Tôi xin bày tỏ sự biết ơn đến bố mẹ, những người thân trong gia đình, bạn
bè, đồng nghiệp và các anh chị em cùng khóa đã động viên, giúp đỡ tôi về tinh thần
để tôi hoàn thành chuyên đề này
Nam Định, tháng năm 2018
Bùi Lê Khánh Chi
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cám ơn
Mục lục
Danh mục chư viết tắt
Danh mục hình, bảng
1 Đặt vấn đề 1
2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 3
2.1 Cơ sở lý luận 3
2.1.1 Kế hoạch hóa gia đình [5] 3
2.1.2 Biện pháp tránh thai [5], [10], [14], [15] 3
2.2.1 Một số quy định về chăm sóc sức khỏe sinh sản ở Việt Nam 7
2.2.2 Tình hình sử dụng biện pháp tránh thai 9
3 Thực trạng có thai ngoài ý muốn tại bệnh viện Phụ sản Trung ương 15
3.1 Trung tâm tư vấn sức khoẻ sinh sản – Kế hoạch hoá gia đình 15
3.2 Tình hình có thai ngoài ý muốn tại Trung tâm tư vấn sức khoẻ sinh sản 17
3.3 Một số nguyên nhân thất bại của việc tránh thai tại Trung tâm 18
4 Giải pháp giảm tỷ lệ có thai ngoài ý muốn 20
5 Kết luận 21 Tài liệu tham khảo
Trang 6
TCTT Thuốc cấy tránh thai
TTTT Thuốc tiêm tránh thai
DCTC Dụng cụ tử cung
SKSS Sức khỏe sinh sản
WHO Tổ chức Y tế thế giới (The World Health Organization) SKSS Sức khỏe sinh sản
Trang 7Bảng 1: Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai ở Việt Nam 12
Bảng 2: Các biện pháp tránh thai hiện đang sử dụng ở Việt Nam 13
Bảng 5: Tỷ lệ có thai ngoài ý muốn khi đang áp dụng các BPTT tháng 7/2018 17
Trang 81 Đặt vấn đề
Theo báo cáo mới công bố của Tổ chức Y tế Thế giới, nước có số ca phá thai cao nhất toàn cầu là Trung Quốc (7,93 triệu ca), thứ hai là Nga (2,28 triệu) Việt Nam ở vị trí thứ ba với 1,52 triệu ca Hai vị trí 4, 5 thuộc về Mỹ (gần 1,4 triệu ca)
và Ukraina (hơn 600.000 ca) mỗi năm [13]
Tổ chức Y tế thế giới xếp Việt Nam vào danh sách một trong năm nước có tỷ
lệ phá thai cao nhất thế giới và là nước có tỷ lệ phá thai cao nhất châu Á Mỗi năm Việt Nam có khoảng 250.000-300.000 ca phá thai được báo cáo chính thức [13] Khảo sát mới đây một tổ chức thực hiện với 3.000 thanh niên tại 15 quốc gia,
có đến 64,5% thanh niên có quan hệ tình dục không an toàn Hàng năm thế giới có
208 triệu ca mang thai và 41% trong số đó là mang thai ngoài ý muốn, nửa trong số này sẽ phá thai Ước tính 33 triệu ca mang thai ngoài ý muốn mỗi năm do ngừa thai thất bại hoặc sử dụng biện pháp ngừa thai không đúng cách [3], [13]
Sinh đẻ là thiên chức đặc biệt của người phụ nữ nhưng đồng thời sinh đẻ cũng tiềm tàng nguy cơ cho sức khỏe người phụ nữ, nhất là phụ nữ sinh nhiều con, thời điểm sinh con không hợp lý và khoảng cách giữa các lần sinh quá ngắn Việc áp dụng các biện pháp tránh thai (BPTT) hiệu quả sẽ giúp đảm bảo được khoảng cách sinh con an toàn và phù hợp với điều kiện sinh lý của cơ thể cũng như điều kiện kinh tế, công việc hàng ngày và nuôi dạy con cái
Trong vài thập kỷ vừa qua chương trình kế hoạch hóa gia đình của Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng Đa dạng hóa phương tiện tránh thai,
mở rộng mạng lưới cung cấp phương tiện và dịch vụ tránh thai đã đưa tỷ lệ sử dụng tránh thai của các cặp vợ chồng lên mức trên 75% với khoảng 13 triệu người
sử dụng các biện pháp tránh thai khác nhau Bên cạnh số người đang sử dụng tránh thai cần được tư vấn về sử dụng, hàng năm, có trên một triệu trẻ em gái, trai bước vào độ tuổi trưởng thành về giới tính [1], [2], [9] Họ là những người cần được tư vấn và hướng dẫn để có hiểu biết về các biện pháp tránh thai
Tỷ lệ sử dụng các BPTT chung thay đổi tùy theo từng quốc gia, vùng lãnh thổ Theo báo cáo của Liên Hợp Quốc về tình hình sử dụng các biện pháp tránh thai trên thế giới (số liệu năm 2011) cho thấy tỷ lệ sử dụng bất kỳ một biện pháp tránh thai hiện đại ở phụ nữ 15-49 tuổi có chồng hoặc chung sống như vợ chồng, thấp nhất là
Trang 92
ở Châu Phi (31%) và ít hơn 25% là ở Trung Phi và Tây Phi, và cao nhất là 70% hoặc cao hơn là ở Châu Âu (70%), Châu Mỹ La Tinh (73%) và vùng Caribbean (73%) và Bắc Mỹ (75%) [13]
Ở Việt Nam, trong những năm qua, tỷ lệ sử dụng các BPTT ngày càng tăng lên góp phần quan trọng làm giảm mức sinh Theo kết quả điều tra biến động dân số (BĐDS) năm 2016 cho thấy, tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai) bất kỳ đạt 77,6%, tăng 1,9 điểm phần trăm so với kết quả Điều tra BĐDS 2015 Số liệu của các cuộc Điều tra BĐDS hàng năm cho thấy tỷ lệ sử dụng BPTT bất kỳ của Việt Nam hiện đang ở mức cao Tỷ lệ sử dụng các BPTT hiện đại tại thời điểm 1/4/2016 đạt mức 66,5% [3] Trong đó, tỷ lệ sử dụng BPTT hiện đại ở khu vực nông thôn cao hơn thành thị 5,2% (67,9% so với 66,5%), xu hướng này diễn ra trong suốt thập kỷ vừa qua Dân số Việt Nam đã đi vào ổn định và đạt được mức sinh thay thế (2,09) vào năm 2009 Tuy nhiên, tại mỗi địa phương, tỷ lệ sử dụng các BPTT không đồng đều như nhau Vẫn có những địa phương sử dụng BPTT còn thấp, vẫn có 18/63 tỉnh thành chưa đạt mức sinh thay thế [14], [16]
Mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng phụ nữ có thai ngoài ý muốn khi áp dụng phương pháp tránh thai tự nhiên tại Trung tâm tư vấn sức khỏe sinh sản- Kế hoạch hóa gia đình- Bệnh viện phụ sản Trung ương năm 2018
2 Đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế có thai ngoài ý muốn khi áp dụng phương pháp tránh thai tự nhiên tại Trung tâm tư vấn sức khỏe sinh sản- Kế hoạch hóa gia đình- Bệnh viện phụ sản Trung ương
Trang 102 Cơ sở lý luận và thực tiễn 2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Kế hoạch hóa gia đình [5], [18].
Kế hoạch hóa gia đình là nỗ lực của Nhà nước, xã hội để mỗi cá nhân, cặp vợ chồng chủ động quyết định số con, thời gian sinh con và khoảng cách giữa các lần sinh nhằm bảo vệ sức khỏe, nuôi dạy con có trách nhiệm, phù hợp với chuẩn mực
xã hội và điều kiện gia đình
Phạm vi của Kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) không đồng nghĩa với kiểm soát và hạn chế sinh đẻ mà còn bao gồm nội dung điều chỉnh khả năng sinh sản, giải quyết vấn đề vô sinh đối với các cặp vợ chồng do có những vấn đề thuộc bộ máy và chức năng sinh sản Tuy nhiên hiện nay chương trình KHHGĐ ở nước ta mới chỉ đề
cập đến một số nội dung có liên quan đến việc kiểm soát và hạn chế sinh
Nguyên tắc của KHHGĐ:
- Có sự kết hợp giữa 4 yếu tố: Tự nguyện, lựa chọn khi đã đầy đủ thông tin,
có đầy đủ các BPTT, được cung cấp dịch vụ an toàn và thuận tiện
- Khách hàng có quyền tự quyết định sử dụng BPTT
- Kín đáo và tôn trọng khách hàng, không phân biệt tôn giáo, thành phần xã
hội, tuổi hay hoàn cảnh kinh tế
- Được cung cấp dịch vụ tránh thai an toàn, có chất lượng để phòng tránh các
nguy cơ, trong đó có cả nguy cơ mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục
- Khuyến khích trách nhiệm của nam giới (chồng hoặc mẹ chồng) và những
nhà lãnh đạo cộng đồng vào chương trình KHHGĐ
- Tuyên truyền, giáo dục để khách hàng và cộng đồng hiểu về những lợi ích đáng kể về mặt sức khỏe cũng như lợi ích khác ngoài lợi ích tránh thai của công tác KHHGĐ
2.1.2 Biện pháp tránh thai [5], [10], [14], [15]
Biện pháp tránh thai (BPTT) là các biện pháp can thiệp tác động lên cá nhân nhằm ngăn cản việc thụ thai ở người phụ nữ Các BPTT thường áp dụng là thuốc, hóa chất, thiết bị đưa vào cơ thể, các thủ thuật ngoại khoa cắt đứt đường đi, ngăn cản tinh trùng gặp trứng, hoặc các nỗ lực của các cá nhân nhằm tránh thụ thai Biện
pháp tránh thai giúp cho cá nhân và các cặp vợ chồng thực hiện KHHGĐ
Trang 114 Phân loại các BPTT: Các nhà quản lý KHHGĐ thường phân BPTT thành 2 loại:
- BPTT hiện đại là biện pháp có sự can thiệp của khoa học kỹ thuật gồm có: vòng tránh thai (VTT) hay còn gọi là dụng cụ tử cung, thuốc viên tránh thai, thuốc tiêm tránh thai (TTTT), thuốc cấy tránh thai (TCTT), miếng dán tránh thai, bao cao
su, màng ngăn âm đạo, triệt sản nam và nữ, thuốc diệt tinh trùng
- BPTT truyền thống là các biện pháp không có sự can thiệp của khoa học kỹ
thuật gồm có: tính vòng kinh, xuất tinh ngoài âm đạo, vô kinh do con bú
Trong thực tế người ta còn phân loại BPTT lâm sàng và BPTT phi lâm sàng
- BPTT lâm sàng là các BPTT có sự can thiệp của cán bộ y tế gồm có: vòng tránh thai, triệt sản nữ, triệt sản nam, thuốc tiêm tránh thai, thuốc cấy tránh thai
- BPTT phi lâm sàng là các BPTT không cần có sự can thiệp của cán bộ y tế
gồm có: viên uống tránh thai, thuốc diệt tinh trùng, bao cao su
Bên cạnh đó các BPTT còn được phân loại theo hiệu quả tránh thai theo thời
gian:
- Các BPTT vĩnh viễn: như triệt sản nam, triệt sản nữ Biện pháp này chỉ sử dụng cho những cặp vợ chồng đã có đủ số con mong muốn và không có nhu cầu sinh thêm con Trước khi tiến hành triệt sản, các cặp vợ chồng phải được cung cấp đầy đủ thông tin, tư vấn kỹ và đảm bảo các điều kiện chỉ định, chống chỉ định về mặt y tế, về các mặt khác như văn hóa, xã hội để tránh rủi ro và hạn chế nhu cầu tái
tử cung và phương pháp kết hợp thân nhiệt và triệu chứng (sympto-thermal
Trang 12method) Phương pháp xuất tinh ngoài âm đạo (coitus interruptus/withdrawal) và vô kinh khi cho bú (lactational amenorrhea) cũng được xếp vào TTTN
Hai biện pháp TTTT phổ biến tại Việt Nam trong suốt 40 năm qua là: tính vòng kinh (calendar/rhythm, trước đây quen gọi là biện pháp Ogino-Knauss) và xuất tinh ngoài âm đạo
Khi đánh giá kết quả các chương trình KHHGĐ người ta thường xem xét hai tiêu chí sau: tỷ lệ sử dụng tránh thai (CPR) và tổng tỷ suất sinh (TFR) Tiêu chí “tỷ
lệ sử dụng tránh thai” là kết quả đầu ra (output) của chương trình, còn “tổng tỷ suất sinh” là tiêu chí đo tác động (impact) của chương trình Trong bài này chúng tôi chỉ bàn đến tỷ lệ sử dụng tránh thai (contraceptive prevalence rate/CPR) hay tỷ lệ phần trăm phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (15-49 tuổi hay 15-44 tuổi), hiện có chồng (MWRA) và đang sử dụng biện pháp tránh thai vào thời điểm điều tra (Tất cả các cuộc điều tra DHS ở Việt Nam, chỉ phỏng vấn phụ nữ 15-49 tuổi, hiện có chồng)
Tỷ lệ sử dụng tránh thai thu thập được qua các cuộc điều tra chọn mẫu, thường có tính đại diện của quốc gia hay vùng lãnh thổ Đó là các cuộc điều tra về sử dụng tránh thai(Contraceptive Prevalence Survey/CPS) trước đây hay các cuộc điều tra nhân khẩu học và sức khoẻ (Demographic and Health Survey/DHS) trong hai thập
kỷ gần đây Có những cuộc điều tra DHS người ta phỏng vấn cả những phụ nữ
15-49 tuổi, hiện không có chồng vào thời điểm điều tra Tuy rằng trong nhiều cặp vợ chồng/bạn tình, nam giới sử dụng tránh thai là chính (bao cao su, triệt sản nam), nhưng theo qui ước thường chỉ có phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, hiện có chồng là được phỏng vấn trong các cuộc điều tra nhân khẩu học và sức khoẻ Các thông tin
về biện pháp tránh thai do nam giới sử dụng đều được thu thập qua phỏng vấn phụ
nữ, và qui về phụ nữ được phỏng vấn Theo qui ước, các biện pháp tránh thai tự nhiên phải được tính vào tỷ lệ sử dụng tránh thai nói chung (CPR), và thể hiện trong
cơ cấu các biện pháp tránh thai (contraceptive method- mix)
Ưu điểm của các biện pháp tránh thai tự nhiên, về cấp độ người sử dụng, là không mất tiền mua, không phải đến cơ sở y tế Do vậy mà đảm bảo tính kín đáo riêng tư cho người sử dụng, và không có các tác dụng phụ (như thường gặp trong khi đặt dụng cụ tử cung hay dùng các hoóc-môn tránh thai) Về cấp độ chương
Trang 136 trình, TTTN không tốn kém về vật chất hay nhân lực và các chi phí trong điều trị tác dụng phụ của các biện pháp tránh thai hiện đại
Nhược điểm của biện pháp TTTN về cấp độ cá nhân là: phải kiêng giao hợp trong một số ngày nhất định của vòng kinh (với phương pháp tính vòng kinh) hay ảnh hưởng đến quá trình khi giao hợp (với phương pháp xuất tinh ngoài âm đạo) Nhược điểm chính của phương pháp TTTN là có tỷ lệ thất bại cao hơn nhiều so với các biện pháp tránh thai hiện đại, nên dẫn đến tỷ lệ có thai ngoài ý muốn cao hơn,
và cũng góp phần làm cho tỷ lệ phá thai cao hơn Theo một số tài liệu nước ngoài,
tỷ lệ thất bại của biện pháp tính vòng kinh là 10-30% và của biện pháp xuất tinh ngoài âm đạo là 5-25% Thậm chí theo một tài liệu mới đây, tỷ lệ thất bại của tránh thai tự nhiên rất cao: 14-57% (tính vòng kinh) và 15-28% (xuất tinh ngoài âm đạo)
Do vậy, nhiều chương trình KHHGĐ đã không khuyến khích sử dụng các biện pháp tránh thai này Có lẽ cũng vì lý do này mà chương trình KHHGĐ của Việt Nam trong suốt 40 năm qua không tuyên truyền về biện pháp này cũng như khuyến khích việc sử dụng chúng
Tránh thai không tự nhiên
Trước khi các BPTT hiện đại được phát minh và sử dụng rộng rãi, phụ nữ sống trong các nền văn hóa đã sử dụng nhiều chất khác nhau có trong tự nhiên hoặc các loại thảo dược có tác dụng tránh thai hoặc gây sẩy thai Tuy vậy hiệu quả tránh thai của các phương pháp cổ điển này không chắc chắn và đôi khi gây nguy hiểm, thậm chí gây chết người
Một trong những cách tránh thai đầu tiên được ghi nhận là do phụ nữ Ai Cập
cổ đại sử dụng Họ bôi phân cá sấu vào âm đạo như một chất diệt tinh trùng Phương pháp này đã được khoa học hiện đại giải thích về sự tạo thành lactic acid - một chất có khả năng diệt tinh trùng
Ở Ấn Độ, văn bản cổ điển của Vatsyayana (thế kỷ thứ 2 sau Công nguyên) đã trình bày nhiều phương pháp tránh thai khác nhau liên quan đến việc kiểm soát sự giải phóng tinh dịch
Thực vật đã được sử dụng để tránh thai ở Hy Lạp cổ đại từ thế kỷ thứ 7 trước Công nguyên trở đi và được ghi chép bởi nhiều nhà văn cổ về phụ khoa , chẳng hạn
Trang 14như Hippocrates Nhà thực vật học Theophrastus đã ghi lại việc sử dụng Silphium , một loại cây nổi tiếng với tính chất tránh thai và phá thai của nó
Bao cao su xuất hiện lần đầu tiên ở thế kỷ 16, nhà giải phẫu người Italy tên là Fallopius đã mô tả việc sử dụng bao bằng lanh để ngăn ngừa sự lây nhiễm của bệnh giang mai trong quan hệ tình dục Nó không đặc biệt phổ biến, cũng không có hiệu quả cao như các loại bao cao su latex hiện đại, nhưng đã được sử dụng như là một biện pháp tránh thai cũng như cho hy vọng tránh giang mai, từng là một chứng bệnh ghê gớm trước khi các loại thuốc kháng sinh được tìm ra Bao cao su làm bằng ruột cừu được một bác sĩ người Anh sống trong thời đại vua Charles II phát minh Năm
1884, bao cao su được bắt đầu sử dụng rộng rãi như là một biện pháp tránh thai
Dụng cụ tử cung (DCTC) đã được phát minh dựa trên kinh nghiệm của người Ả Rập và thời cổ đại Họ đưa những hòn đá nhỏ, nhẵn vào trong tử cung của những con lạc đà cái để tránh cho những con lạc đà này có thai trong những hành trình dài xuyên sa mạc Năm 1838, màng ngăn âm đạo bằng cao su được một bác sĩ người Đức phát minh Năm 1860, mũ cổ tử cung ra đời, ngay sau đó được sử dụng rộng rãi ở châu Âu, tuy nhiên cuối những năm 1980 mới được chấp nhận sử dụng tại Mỹ
Năm 1960, thuốc tránh thai ra đời và được sử dụng rộng rãi ờ Mỹ từ năm
1965 Thập kỷ 1980, thuốc tránh thai khẩn cấp được sử dụng rộng rãi ở châu Âu cho cả mục đích tránh thai và phá thai, đến năm 1998 nó đã được chấp nhận sử dụng tại Mỹ Hiện nay có khoảng 100 triệu phụ nữ trên thế giới sử dụng thuốc tránh thai
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Một số quy định về chăm sóc sức khỏe sinh sản ở Việt Nam
Qui định về chăm sóc sức khỏe sinh sản
Nghị định 104/2003/NĐ-CP ngày 16/9/2003 của Chính phủ quy định chi tiết
và hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh Dân số [7]
- Điều 8: Các loại dịch vụ dân số “Cung cấp phương tiện tránh thai; dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình…”
- Điều 14: Mục tiêu chăm sóc sức khoẻ, kế hoạch hoá gia đình
- Điều 15: Biện pháp chăm sóc sức khoẻ sinh sản kế hoạch hoá gia đình
Trang 158
- Điều 18: Hình thức, tổ chức thực hiện việc tuyên truyền, vận động, giáo dục,
tư vấn về dân số, sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình
- Điều 19: Trách nhiệm của cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình
- Điều 20: Các hình thức cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình
Chiến lược Dân số Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010:
Phần thứ ba - Mục IV - điểm 3: Chăm sóc SKSS/KHHGĐ đã nêu rõ “Nâng cao chất lượng chăm sóc SKSS/KHHGĐ với các nội dung chủ yếu và phù hợp trong khuôn khổ chăm sóc sức khoẻ sinh sản ban đầu, tiến tới thoả mãn nhu cầu của khách hàng về SKSS/KHHGĐ, hạn chế đến mức thấp nhất có thai ngoài ý muốn, giảm nhanh nạo phá thai, góp phần nâng cao chất lượng dân số”
Qui định về nạo phá thai
“Chiến lược quốc gia về chăm sóc sức khoẻ sinh sản giai đoạn 2001-2010”: Phần thứ ba - Mục II - điểm 1.3: Nạo phá thai an toàn, xử lý tốt các biến chứng và chăm sóc sau nạo phá thai Có đủ cán bộ chuyên môn vững tay nghề và các điều kiện vật chất trang thiết bị thuốc men cần thiết để thực hiện nạo phá thai an toàn, điều trị các tai biến do nạo phá thai và thực hiện tốt các chăm sóc và tư vấn sau nạo phá thai
Qui định về giáo dục giới tính và chăm sóc sức khỏe sinh sản
Chiến lược Dân số Việt Nam giai đoạn 2001: Phần thứ ba - Mục IV - điểm 2.3: Mở rộng và nâng cao chất lượng các hình thức giáo dục dân số, SKSS/KHHGĐ, giới và giới tính trong và ngoài nhà trường Mở rộng nội dung và thực hiện đổi mới phương pháp giáo dục dân số, SKSS/KHHGĐ, giới và giới tính trong và ngoài nhà trường ở mọi cấp học và ngành học trong hệ thống giáo dục quốc dân với những hình thức thích hợp theo hướng cung cấp kiến thức, tạo nhận thức và hành vi đúng đắn, xây dựng kỹ năng sống phù hợp về dân số và phát triển bền vững, SKSS/KHHGĐ, giới và giới tính
Quy định về sử dụng biện pháp tránh thai
Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày 22/3/2005 của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình đã chỉ rõ nhiệm vụ và một số giải pháp chủ yếu, trong đó xác định nhiệm vụ "Hoàn thiện hệ thống dịch vụ