1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiến thức tự chăm sóc của người bệnh đái tháo đường type ii tại khoa nội bệnh viện đa khoa tỉnh nam định

34 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 383,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀ Đái tháo đường ĐTĐ là bệnh rối loạn chuyển hóa do nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên, đặc trưng của bệnh là tăng cường máu mãn tính cùng với rối loạn chuyển hóa carbohydrat,

Trang 1

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

PHẠM THỊ HUYỀN

KIẾN THỨC TỰ CHĂM SÓC CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TYPE II TẠI KHOA NỘI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH NAM ĐỊNH

Chuyên ngành: Nội người lớn

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:

THẠC SỸ: NGUYỄN MẠNH DŨNG

Nam Định – 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và được sự hướng dẫn của Ths Nguyễn Mạnh Dũng Các số liệu, kết quả nêu trong báo cáo hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ các công trình nghiên cứu nào Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo

Tác giả

Phạm Thị Huyền

Trang 3

MỤC LỤC

1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 3

3 THỰC TRẠNG 13

4 GIẢI PHÁP 24

5 KẾT LUẬN 27

6.TÀI LIỆU THAM KHẢO 28

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BVĐK Bệnh viện đa khoa

ĐTĐ Đái tháo đường

IDF Liên đoàn đái tháo đường quốc tế

TPHCM Thành phố Hồ Chí Minh

WHO Tổ chức y tế thế giới

OGTT Oral Glucose Tolerance Test

MODY Maturily – onset diabetes of young IGT Impaired glucose tolerance

BVMTD Bệnh võng mạc tiểu đường

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: Tiêu chuẩn chẩn đoán các dạng tăng glucose máu

Bảng 2: Sự phân bố bệnh ĐTĐ trên Thế giới

Bảng 3: Sự phân bố bệnh ĐTĐ khu vực Tây - Thái Bình Dương

Trang 6

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh rối loạn chuyển hóa do nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên, đặc trưng của bệnh là tăng cường máu mãn tính cùng với rối loạn chuyển hóa carbohydrat, chất béo, protein do thiếu insulin có kèm theo hoặc không kèm theo sự kháng insulin với các mức độ khác nhau Bệnh ĐTĐ đã trở thành căn bệnh phổ biến và đang gia tăng nhanh trên giới ở cả những nước phát triển và những nước đang phát triển.Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã dự đoán ĐTĐ

sẽ là một trong những vấn đề sức khoẻ chính trong thế kỷ 21 và ước tính có 80% tất

cả các ca bệnh mới sẽ là ở những nước đang phát triển.Theo báo cáo của Liên đoàn đái tháo đường quốc tế (IDF) năm 2011 cho thấy trên thế giới có 336 triệu người bị ĐTĐ, tỷ lệ mắc ĐTĐ type II rất cao chiếm 90% tổng số NB mắc ĐTĐ.Tác giả Wild (2004) thì cho rằng số người mắc bệnh ĐTĐ đang gia tăng như hiện nay là do sự phát triển của dân số, sự tăng tuổi thọ, sự đô thị hóa, sự gia tăng tỷ lệ béo phì và cuộc sống không hoạt động thể chất Việc điều trị cho NB ĐTĐ type II cần phối hợp các yếu tố: chế độ ăn uống hợp lý, tránh lối sống tĩnh tại bằng việc vận động cơ bắp và dùng thuốc hạ đường huyết

Việt nam là quốc gia có tốc độ phát triển bệnh đái tháo đường nhanh, năm

2012, theo công bố của Hiệp hội Đái tháo đường Thế giới IDF Diabetes Atlas, Việt Nam là quốc gia có 3,16 triệu người mắc bệnh đái tháo đường (tương đương 5,29% dân số trưởng thành trong độ tuổi từ 20-79 tuổi) Dự đoán đến năm 2030, số người bệnh đái tháo đường sẽ tăng lên 3,4 triệu người (tương đương 6,4% tổng dân số trưởng thành) Rối loạn dung nạp đường được biểu thị bằng lượng đường trong máu cao là yếu tố tiên lượng quan trọng của bệnh đái tháo đường trong vòng 5 năm tới Trong năm 2012, rối loạn dung nạp đường đã ảnh hưởng tới 5,4 triệu người (chiếm 9,5% dân số trưởng thành ở Việt Nam).Tuy nhiên, các nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy tỷ lệ mắc bệnh đái tháo đường ở Việt Nam thực

tế cao hơn: 1,2% trong năm 1994 và 3,8% vào năm 2001 Những dữ liệu mới nhất (2009) từ TPHCM chỉ ra rằng tỷ lệ này đã gần 11%.Đáng lưu ý, ngay cả các bệnh nhân đã được chẩn đoán cũng chưa được điều trị đúng mức và đa số họ đều không đạt được mục tiêu điều trị Những dữ liệu này cũng chỉ ra rằng cứ 10 bệnh nhân được chẩn đoán mắc bệnh thì có 6 người đã có biến chứng của bệnh đái tháo đường.Ở nước ta theo thống kê của bệnh viện nội tiết trung ương tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ năm 2002 là 2,7% , tăng lên 5% vào năm 2008, đến năm 2012 đã phát triển lên đến 6% Chi phí đối với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người bị ĐTĐ lên tới 465 tỷ đô la, trong đó chi phí chủ yếu dành cho điều trị biến chứng của ĐTĐ Tại Việt Nam, theo kết quả nghiên cứu của tác giả Tạ Văn Bình, tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí

Trang 7

Minh vào năm 2001 là 5,4% dân số trưởng thành Tại khoa Nội bệnh viện đa khoa tỉnh NĐ, đang quản lý và điều trị nội trú cho 100 NB ĐTĐ type II Việc phòng ngừa bệnh ĐTĐ được tập trung trên việc phòng ngừa sự phát triển những biến chứng của bệnh Để phòng ngừa được các biến chứng do ĐTĐ gây ra, thì NB ĐTĐ phải có kiến thức hiểu biết về bệnh để biết cách tự chăm sóc bản thân Kiến thức tự chăm sóc của NB ĐTĐ là một trong những điều kiện quan trọng để tiến hành phòng chống bệnh ở cả ba cấp có hiệu quả Không thể “nhờ hết vào thuốc” vì thuốc thang chỉ chiếm một phần nhỏ trong hiệu quả điều trị mà quan trọng nhất là kiến thức tự chăm sóc chiếm đến 50% - 60% hiệu quả điều trị Kết hợp tốt giữa việc tuân thủ điều trị và kiến thức tự chăm sóc của NB ĐTĐ type II sẽ làm giảm 50% - 60% các biến chứng do ĐTĐ gây ra Chúng ta thấy rõ rằng kiến thức tự chăm sóc của NB ĐTĐ là rất quan trọng, làm tăng hiệu quả điều trị, làm giảm nguy cơ biến chứng, giảm chi phí kinh tế, tăng niềm vui lạc quan cuộc sống

Kiến thức tự chăm sóc của người bệnh ĐTĐ type II tại khoa Nội BVĐK tỉnh

NĐ như thế nào? Thực trạng kiến thức tự chăm sóc của NB ĐTĐ type II tại khoa Nội BVĐK tỉnh NĐ có đạt hiệu quả không? Xuất phát từ thực tế trên tôi tiến hành làm chuyên đề “ Kiến thức tự chăm sóc của NB ĐTĐ type II tại khoa Nội BVĐK tỉnh NĐ” với hai mục tiêu sau:

Mục tiêu 1 Đánh giá thực trạng kiến thức tự chăm sóc của NB ĐTĐ type II tại khoa Nội BVĐK tỉnh NĐ

Mục tiêu 2 Đưa ra các giải pháp để nâng cao kiến thức cho NB ĐTĐ type II tại khoa Nội BVĐK tỉnh NĐ

Trang 8

2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

2.1 Cơ sở lý luận

Khái niệm ĐTĐ

Đái tháo đường là một rối loạn mạn tính, có những thuộc tính sau:

1 Tăng glucose máu;

2 Kết hợp với những bất thường về chuyển hóa carbonhydrat, lipid và protein;

3 Bệnh luôn gắn liền với xu hướng phát triển các bệnh lý về thận, đáy mắt, thần kinh và các bệnh tim mạch khác

Tiêu chí phân loại ĐTĐ

Phân loại bệnh ĐTĐ và các mức độ giảm dung nạp glucose hiện đang sử dụng được Hội ĐTĐ Mỹ (American Diabetes Association – ADA) đề xuất năm

1997 và được WHO phê chuẩn vào năm 1999 dựa trên cơ sở cơ chế bệnh sinh gồm

4 thể bệnh ĐTĐ là:

+ Bệnh ĐTĐ type 1:

Bệnh ĐTĐ type 1 chủ yếu xuất hiện ở trẻ em và vị thành niên, chiếm tỷ lệ khoảng 5% trong tổng số các trường hợp ĐTĐ Bệnh ĐTĐ type 1 là hậu quả của sự phá huỷ các tế bào bê-ta tụy do cơ chế tự miễn dịch qua trung gian tế bào đưa tới thiếu insulin – ĐTĐ type là (95%) hoặc vô căn – ĐTĐ type 1b (5%)

Các yếu tố nguy cơ đã được xác định của bệnh ĐTĐ type 2 gồm: tuổi cao, thừa cân-béo phì, ít vận động thể lực, rối loạn chuyển hóa lipid, tăng huyết áp, sử dụng kéo dài các thuốc corticoid, lợi tiểu

Bệnh thường được chẩn đoán muộn hoặc không được chẩn đoán trong nhiều năm do tình trạng tăng đường huyết diễn biến âm thầm, không biểu hiện triệu

Trang 9

chứng lâm sàng Vì vậy, người bệnh thường đã có biến chứng ngay từ khi mới được chẩn đoán

Trước đây, tuổi phát hiện bệnh ĐTĐ type 2 thường là sau 50 tuổi, nhưng hiện nay, bệnh có thể khởi phát sớm hơn, có thể từ 20-30 tuổi, thậm chí ở trẻ em; đặc biệt trong những cộng đồng dân cư có tỷ lệ mắc bệnh cao

+ Những thể bệnh ĐTĐ đặc biệt:

- Khiếm khuyết chức năng tế bào bêta do di truyền: Bệnh ĐTĐ khởi phát

sớm ở người trẻ, thường < 25 tuổi (Maturity - Onset Diabetes of the Young - MODY) do đột biến gen Sự đột biến ở những gen nào đó liên quan đến điều khiển bài tiết insulin (giảm bài tiết) là nguyên nhân gây tăng đường máu ở những bệnh nhân này Gồm:

 MODY 1: Khiếm khuyết nhiễm sắc thể 20, HNF-4

 MODY 2: Khiếm khuyết nhiễm sắc thể 7, glucokinase

 MODY 3: Khiếm khuyết nhiễm sắc thể 12, HNF-1

 MODY 4: Khiếm khuyết DNA ty lạp thể và các khiếm khuyết khác

- Khiếm khuyết hoạt động của insulin do di truyền: Đặc trưng của nhóm này

là rối loạn bẩm sinh thụ thể insulin làm khả năng gắn insulin vào tế bào đích bị ảnh hưởng Một đặc trưng khác cũng thuộc nhóm này là sự có mặt của kháng thể kháng thụ thể insulin; rối loạn chuyển hoá lipid (lipodystrophy) dẫn đến kháng insulin Gồm kháng insulin type A, leprechaunism, hội chứng Rabson-Mendenhall, bệnh ĐTĐ teo tổ chức mỡ

- Bệnh tuỵ ngoại tiết: Tất cả những tác động gây tổn thương tuỵ có thể gây

bệnh ĐTĐ, như: viêm tụy, chấn thương hoặc cắt bỏ tụy, nhiễm trùng, carcinom tụy, bệnh xơ nang tụy, xơ sỏi tụy, rối loạn chuyển hoá sắt (hemochromatosis) - bệnh ĐTĐ đồng đen

- Các bệnh nội tiết: Một số bệnh nội tiết gây tiết nhiều hormon có tác dụng

đối lập với insulin như: Hội chứng Cushing, acromegaly, glucagonoma, pheochromocytoma (u tăng tiết catecholamin), cường giáp có thể gây bệnh ĐTĐ

- Bệnh ĐTĐ do thuốc, hoá chất: Các chất: Vacor, corticoid, thiazide,

pentamidin, nicotinic-acid có thể gây bệnh ĐTĐ

- Một số bệnh nhiễm trùng: Nhiễm một số loại virus như coxsakie B,

cytomegalovirus, adenovirus, virus quai bị cũng có thể mắc bệnh ĐTĐ

- Một số hội chứng di truyền đôi khi kết hợp với ĐTĐ: Hội chứng Down,

Turner, Klinefelter, Wolfram,…

+ Bệnh ĐTĐ thai kỳ

Trang 10

Bệnh ĐTĐ thai kỳ được định nghĩa là sự rối loạn dung nạp glucose ở bất kỳ mức độ nào, được khởi phát hoặc ghi nhận lần đầu tiên trong thời kỳ có thai Định nghĩa này không loại trừ trường hợp rối loạn dung nạp glucose có thể đã có từ trước khi mang thai nhưng không được biết đến

Những phụ nữ đã được chẩn đoán ĐTĐ từ trước khi mang thai thì không được gọi là ĐTĐ thai kỳ, mà là “ĐTĐ trước khi có thai”

* Tiền ĐTĐ

Năm 2004, ADA đã đề xuất hạ tiêu chuẩn IFG từ 6,1 mmol/l glucose huyết tương tĩnh mạch xuống 5,6 mmol/l glucose huyết tương tĩnh mạch và đưa ra khái niệm “pre-diabetes – tiền ĐTĐ” được quy ước gồm: Rối loạn đường huyết lúc đói (Impaired Fasting Glycemia, IFG) và Giảm dung nạp glucose (Impaired Glucose Tolerence, IGT): Là tình trạng đường huyết cao hơn mức bình thường nhưng chưa đến mức chẩn đoán bệnh ĐTĐ khi làm xét nghiệm đường huyết lúc đói hoặc nghiệm pháp dung nạp glucose

Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh ĐTĐ

Trước năm 1999, bệnh ĐTĐ được xác định khi:

- Glucose huyết tương lúc đói ≥ 7,8 mmol/l (140 mg/ml)

- Hoặc glucose máu toàn phần lúc đói ≥ 6,7 mmol/dl (120 mg/dl)

Năm 1999, nhóm nghiên cứu bệnh ĐTĐ của WHO đề nghị tiêu chuẩn xác định bệnh ĐTĐ mới:

- Glucose huyết tương lúc đói ≥ 7,0 mmol/l (126 mg/ml)

- Hoặc glucose máu toàn phần lúc đói ≥ 6,1 mmol/dl (110 mg/dl)

Việc đề ra tiêu chuẩn mới chẩn đoán bệnh ĐTĐ là để phù hợp giữa đường huyết (ĐH) lúc đói và ĐH sau 2 giờ OGTT (tiêu chuẩn dựa vào ĐH sau 2 giờ OGTT không đổi) sau khi đã tiến hành nhiều nghiên cứu trên cộng đồng Một số nghiên cứu đã chứng minh: glucose huyết tương lúc đói ở mức ≥ 7,0 mmol/l thì nguy cơ mắc bệnh mạch máu đã tăng lên, thậm chí ở cả những người có ĐH 2 giờ OGTT dưới 7,8 mmol/l Tuy vậy, ở một số đối tượng nặng cân, người già, hoặc một số chủng tộc lại có hiện tượng ĐH lúc đói thấp hơn mức chẩn đoán, còn ĐH sau 2 giờ OGTT lại ở mức xác định bệnh ĐTĐ

Chẩn đoán bệnh ĐTĐ có thể dựa vào mức đường trong máu mao mạch (toàn phần và huyết tương), máu tĩnh mạch (toàn phần và huyết tương) Tuy nhiên, đường máu huyết tương tĩnh mạch là chỉ số có giá trị nhất, thường được khuyến cáo sử dụng Các mẫu máu có thể được lấy vào lúc đói (nhịn đói ít nhất 8 tiếng), lấy mẫu bất kỳ (không liên quan đến bữa ăn trước đó), và mẫu máu 2 giờ sau khi uống glucose trong nghiệm pháp dung nạp glucose Dưới đây là tiêu chuẩn chẩn

Trang 11

đoán bệnh ĐTĐ và các dạng rối loạn chuyển hoá glucose được WHO khuyến cáo (1999)

Bảng1: Tiêu chuẩn chẩn đoán các dạng tăng glucose máu

Các dạng

Nồng độ glucose máu

ĐTĐ

Glucose máu sau 2 giờ làm nghiệm pháp

Glucose máu bất kì và kèm theo một số

Trong các nghiên cứu dịch tễ học và sàng lọc ĐTĐ, giá trị đường huyết tương lúc đói hay đường huyết tương 2 giờ sau uống glucose trong nghiệm pháp dung nạp glucose có thể sử dụng để chẩn đoán Tuy nhiên, trong thực hành lâm sàng, chẩn đoán bệnh ĐTĐ cần phải được khẳng định lại bằng cách tiến hành lại xét nghiệm vào một ngày khác sau đó (cũng cho kết quả đường máu cao), trừ khi người bệnh có đường máu cao rõ rệt kết hợp với các triệu chứng của bệnh

Thước đo giá trị liên quan đến bệnh ĐTĐ

Gan sản xuất ra glucose thông qua 2 quá trình:

 Phân huỷ glycogen, cung cấp khoảng 75% glucose sau một đêm nhịn đói

 Tân tạo glucose, tổng hợp glucose từ những tiền chất khác được đưa đến gan

Khi nhịn đói kéo dài việc phân huỷ glycogen giảm xuống đáng kể và quá trình tân tạo đường chiếm ưu thế

Việc sản xuất glucose được điều chỉnh bởi nồng độ insulin, nồng độ glucagon và cơ chế tự điều chỉnh Insulin làm giảm sản xuất glucose, ngược lại glucagon làm tăng sản xuất glucose

Trang 12

Tự điều chỉnh là quá trình qua đó mức glucose trung gian do gan sản xuất độc lập với các hormone kích thích bên ngoài Khi đó lượng insulin giảm xuống trong khi lượng glucagon tăng lên

Nhưng sau bữa ăn nồng độ glucose máu tăng lên kích thích tế bào  tuỵ giải phóng insulin, trong khi đó việc sản xuất glucagon bởi các tế bào  của đảo tuỵ bị

ức chế Insulin qua gan trước tiên, ở đó khoảng 50% bị phá huỷ Phần còn lại đi vào vòng tuần hoàn chung, ở đây, thời gian bán huỷ của insulin khoảng 5 phút Insulin gắn với các receptor đặc hiệu trên bề mặt tế bào gan, cơ và mô mỡ, ở đó chúng phát huy tác dụng trong vài giờ

Vì thế, sau ăn việc sản xuất glucose ở gan giảm đáng kể và glucose đi vào các mô Khoảng 25% carbohydrate trong bữa ăn được dự trữ ở gan, số còn lại đến

mô ngoại vi, chủ yếu ở cơ

Ở người trẻ không bị ĐTĐ, nồng độ đường máu tăng 20-50mg/dl ngay sau

ăn và trở lại bình thường sau 2 giờ Tuổi tăng lên, sự đề kháng insulin tăng dần, nồng độ glucose máu tăng thêm 5mg/dl trong mỗi 10 năm tính từ 50 tuổi trở đi Đường máu lúc đói tăng 1-2 mg/dl trong 1 thập kỷ

Có 5 cơ chế giải thích ảnh hưởng của tuổi tác lên chuyển hoá carbohydrate: chế độ ăn nghèo nàn, ít hoạt động thể lực, giảm khối lượng cơ dự trữ carbohydrate, suy giảm bài tiết insulin và đề kháng insulin:

* Ăn ít carbohydrate chỉ giải thích một phần nhỏ của vấn đề Những nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng những người có tuổi, chịu khó rèn luyện cơ thể không thấy rối loạn dung nạp đường huyết

* Ít hoạt động thể lực đóng vai trò quan trọng trong mối liên quan giữa tuổi

và rối loạn đường huyết

* Khối cơ của cơ thể giảm xuống theo tuổi và sự phân bố lại mô không giải thích được mối liên quan giữa tuổi với thay đổi chuyển hoá carbohydrate

* Sự bài tiết insulin đáp ứng với glucose không suy giảm theo tuổi Hầu hết các nghiên cứu về sự đáp ứng tiết insulin với các kích thích khác nhau (uống hoặc truyền glucose, amino acids, hay tolbutamide) chỉ ra sự bình thường, thậm chí làm tăng mức insulin ở người già Mặc dù nhiều người già đáp ứng chậm với glucose đường uống, ý nghĩa của đáp ứng chậm này là chưa chắc chắn

* Sự đề kháng insulin kết hợp với tuổi, đặc biệt tuổi > 60 kèm không thường xuyên tập luyện Cơ chế còn chưa biết rõ Vị trí đề kháng insulin có thể nằm trong

tế bào của mô nhạy cảm với insulin, khiếm khuyết trong việc gắn insulin với receptor chức năng không giải thích được sự đề kháng

Biến chứng ĐTĐ:

Các biến chứng cấp tính:

Trang 13

 Hôn mê nhiễm toan ceton: Xảy ra ở người ĐTĐ type 1- nguyên nhân do thiếu Insulin

 Hôn mê nhiễm toan lactic: Hay gặp ở người ĐTĐ type 2, có suy giảm chức năng gan thận, sử dụng Biguamid (glucophage)

 Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu: Gặp ở người ĐTĐ type 2

 Hôn mê hạ đường máu: Có thể do dùng thuốc quá liều hoặc do thực hiện chế

độ ăn kiêng quá nghiêm khắc gây thiếu năng lượng

 Biến chứng mạch máu lớn: Mạch não, mạch vành, hệ thống mạch ngoại vi

 Gây nhiễm trùng, hoại tử chi, lao phổi

 Tổn thương bàn chân ở người ĐTĐ

mù với 10% bị hư hỏng thị giác Bệnh thận do ĐTĐ là nguyên nhân đơn độc thường nhất gây ra suy thận giai đoạn cuối Bệnh tim và đột quỵ gây ra 75%

Trang 14

nguyên nhân tử vong ở những người bị ĐTĐ ở các nước phát triển Tuổi thọ trung bình của người mắc ĐTĐ trung bình thấp hơn từ 5 đến 10 năm so với tuổi thọ của cộng đồng

2.2 Cơ sở thực tiễn

Tình hình bệnh ĐTĐ trên Thế giới

Bệnh ĐTĐ là một trong những bệnh không lây phổ biến nhất hiện nay trên toàn cầu, theo báo cáo của Liên đoàn ĐTĐ thế giới (IDF), năm 2000 có khoảng 151 triệu người tuổi 20 - 79 mắc bệnh ĐTĐ, chiếm tỷ lệ 4,6% Nơi có tỷ lệ ĐTĐ cao nhất là khu vực Bắc Mỹ, Địa Trung Hải và Trung Đông, với tỷ lệ tương ứng là 7,8% và 7,7%, tiếp đến khu vực Đông Nam Á: 5,3%, Châu Âu: 4,9%, Trung Mỹ: 3,7%, Tây Thái Bình Dương: 3,6%, Châu Phi 1,2%

Hiện khu vực Tây Thái Bình Dương và khu vực Đông Nam Á là hai khu vực

có số người mắc ĐTĐ đông nhất tương ứng là 44 triệu người và 35 triệu người Những báo cáo mới đây của IDF cũng khẳng định tỷ lệ bệnh ĐTĐ type 2 chiếm khoảng 85% - 95% tổng số bệnh nhân ĐTĐ ở các nước phát triển và tỷ lệ này thậm chí còn cao hơn ở các nước đang phát triển

Bệnh ĐTĐ có tốc độ phát triển nhanh, tỷ lệ bệnh tăng theo thời gian và sự tăng trưởng kinh tế Đầu thế kỷ 20, tần xuất mắc bệnh ĐTĐ trên Thế giới còn ở mức thấp, WHO ước tính năm 1985 mới có khoảng 30 triệu người trên Thế giới mắc bệnh ĐTĐ, năm 1994 có 110 triệu người mắc bệnh ĐTĐ Đến năm 1995 đã có

135 triệu người mắc bệnh ĐTĐ (chiếm 4% dân số toàn cầu) Dự báo đến năm 2010

sẽ là 221 triệu người mắc bệnh ĐTĐ ; Năm 2025 là 330 triệu người mắc bệnh ĐTĐ (chiếm 5,4% dân số toàn cầu)

Bảng 2: Sự phân bố bệnh ĐTĐ trên Thế giới

Địa điểm Dân số

(triệu người)

Số người mắc bệnh ĐTĐ (triệu người)

Trang 15

Nguồn: Amos A, Mc Carty D, Zimmet P (1997), “The rising global burden of diabetes and its complications: estimates and projections to the year 2010”, Diabetic Med 11, pp 85-9

Dự kiến trong vòng 15 năm (1995 - 2010), số người mắc ĐTĐ ở Châu Á, Châu Phi sẽ tăng lên 2 tới 3 lần so với hiện nay Cụ thể: vùng Tây Á, số người mắc

sẽ tăng từ 3,6 triệu lên 11,4 triệu ; Đông Á, số người mắc sẽ tăng từ 21,7 triệu lên

44 triệu; Đông Nam Á sẽ là 8,6 lên 19,5 triệu và khu vực Bắc Á số người mắc ĐTĐ

sẽ tăng từ 28,8 triệu lên 57,5 triệu

Tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ ở 2 nhóm nước trong khu vực Tây Thái Bình Dương như sau (Bảng 1.2)

Bảng 3: Sự phân bố bệnh ĐTĐ khu vực Tây - Thái Bình Dương

Tình hình bệnh ĐTĐ tại Việt Nam

Ở Việt Nam, tình hình mắc bệnh ĐTĐ trong thời gian gần đây đang có chiều hướng gia tăng, đặc biệt là tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ type 2 tại các thành phố lớn

Phan Sĩ Quốc, Lê Huy Liệu và CS thực hiện điều tra ngẫu nhiên trên 4912 đối tượng từ 15 tuổi trở lên, sống ở hai khu vực nội thành và ngoại thành Hà Nội, theo các tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐ của WHO năm 1985 (ĐH đói trên 7,8 mmol/l

và ĐH 2 giờ sau OGTT trên 11 mmol/l) đã thu được kết quả: tỷ lệ mắc ĐTĐ chung

ở Hà Nội, năm 1991 là 1,1% (nội thành 1,44% ; ngoại thành 0,96%), tỷ lệ IGT là 1,6%

Mai Thế Trạch và CS đã thực hiện một cuộc điều tra trên 5416 người từ 15 tuổi trở lên tại Tp Hồ Chí Minh, kết quả tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ chung ở Tp Hồ Chí Minh, năm 1992: 2,52%

Năm 2000, tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ ở Hà Nội đã là 3,62% Năm 2001, tỷ lệ này tại khu vực nội thành của bốn thành phố lớn (Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Tp Hồ Chí Minh) là 4,1%, tỷ lệ IGT là 5,1%

Trang 16

Những số liệu về bệnh ĐTĐ ở Việt nam mới chỉ giới hạn ở một số thành phố lớn, điều đó cho chúng ta thấy tình hình quản lý bệnh ĐTĐ ở Việt nam còn nhiều hạn chế kể cả về số lượng và chất lượng Mạng lưới y tế quản lý bệnh ĐTĐ mới chỉ tập trung ở một vài trung tâm y tế lớn của quốc gia; số cán bộ y tế có khả năng khám và điều trị bệnh ĐTĐ không chỉ thiếu về mặt số lượng mà còn không được phổ cập những kiến thức mới về bệnh ĐTĐ; trang thiết bị để chẩn đoán và theo dõi bệnh nhân thiếu và lạc hậu; chất lượng điều trị chưa tốt; chi phí điều trị bệnh rất tốn kém do chi phí đi lại ăn ở của bệnh nhân và người nhà, do bệnh được phát hiện muộn nên có nhiều biến chứng

Công tác phòng bệnh hầu như chưa được đề cập do chưa đánh giá hết được tình hình bệnh tật cũng như quan niệm và thực hành phòng bệnh ĐTĐ còn chưa đúng, nhận thức của cộng đồng về bệnh ĐTĐ và khả năng phòng bệnh còn thấp ĐTĐ là một bệnh mạn tính, có yếu tố di truyền, do hậu quả của thiếu insulin tuyệt đối hoặc tương đối Đặc trưng bởi tình trạng tăng đường huyết với các rối loạn sâu

xa về chuyển hóa đường, đạm, mỡ, chất khoáng Các rối lọan này có thể dẫn đến các biến chứng cấp hoặc mãn tính.Bệnh ĐTĐ thay đổi theo từng vùng lãnh thổ và phụ thuộc vào từng nhóm tuổi cũng như chủng tộc Tỷ lệ bệnh ĐTĐ ngày càng tăng nhanh Theo WHO năm 1994 có 98,9 triệu người mắc ĐTĐ, riêng châu Á có 62,8 triệu người mắc, ở Việt Nam năm 1990 tại Hà Nội tỷ lệ mắc ĐTĐ là 1,1% và năm 1999 tăng lên 2,68% (Nguyễn Huy Cường và Nguyễn Quang Bảy) Bệnh ở khu vực thành thị cao hơn nông thôn, theo cuộc điều tra của Ts Tạ Văn Bình và cộng sự thì tỷ lệ ĐTĐ năm 2001 ở các thành phố lớn của Việt Nam là 4,9% và tình trạng RLDNG là l5,9% ở tất cả các đối tượng Riêng ở nhóm có nguy cơ cao thì tỷ

lệ bệnh ĐTĐ là 10,5% và RLDNG là 13,8% Các YTNC cao gây ra bệnh như: Lối sống công nghiệp, tình trạng béo phì, tình trạng cao huyết áp (HA), đây là yếu tố có thể can thiệp được, còn các yếu tố như di truyền, tuổi thọ là khó phòng được Tỷ lệ bệnh giữa nam và nữ gần tương đương nhau: Nam 5,4% và nữ 6,1% (Ts Tạ văn Bình, Ts nguyễn Thanh Hà và cộng sự năm 2001)

Dinh dưỡng không hợp lý, ít vận động thể lực dẫn đến thừa cân, béo phì và rối lọan chuyển hóa (RLCH) là một trong những YTNC quan trọng dẫn tới RLDNG và bệnh ĐTĐ Những người có thói quen thường xuyên ăn nhiều mỡ, ít rau, thường xuyên uống ruợu bia có tỷ lệ mắc ĐTĐ cao hơn nhóm người ăn ít mỡ, nhiều rau, không thường xuyên uống rượu bia.Sự biến đổi mạch máu thứ phát bao gồm sự bất thường ở mạch máu nhỏ (microangiopathy) và mạch máu lớn (macroangiopathy); bệnh mạch máu nhỏ như bệnh lý võng mạc và bệnh thận do ĐTĐ; bệnh lý mạch máu lớn dẫn đến đột quỵ, nhồi máu cơ tim và bệnh mạch máu ngoại vi; các bất thường ở hệ thần kinh ngoại vi do ĐTĐ: hàng đầu là do rối loạn chuyển hoá, mặc dù một số có thể do sự biến đổi mạch máu

Trang 17

Tình hình mắc bệnh ĐTĐ tại tỉnh Nam Định

Theo công bố của Sở Y tế Nam Định tại tỉnh Nam định đề án phòng chống đái tháo đường đã được triển khai và thực hiện với nhiều hoạt động sàng lọc, điều tra…từ cuối năm 2009 Theo kết quả sàng lọc 3 năm từ 2009 đến 2011: tỷ lệ người

bị ĐTĐ chiếm 9,12 %, kết quả điều tra tỷ lệ ĐTĐ chiếm 9,0 %.Tại NĐ bệnh ĐTĐ ngày càng trở thành gánh nặng cho bản thân người bệnh, gia đình họ và cả xã hội Tỉnh NĐ đã phải chi trả ngân sách khá lớn cho ngành y tế, để điều trị bệnh ĐTĐ

và các biến chứng của nó Một đặc điểm riêng biệt NĐ là sự tăng nhanh số lượng người mắc bệnh ĐTĐ lại thường gặp ở nhóm tuổi lao động từ 20 - 64 tuổi

Tại khoa Nội BVĐK tỉnh Nam Định số người bệnh đến điều trị chủ yếu là ĐTĐ type 2 chiếm 80 - 90% Đây là bệnh do tác động qua lại của cả 2 yếu tố là di truyền và môi trường Việc loại trừ các yếu tố nguy cơ hoàn toàn có thể ngăn ngừa, làm chậm phát triển bệnh, làm chậm biến chứng bệnh như thay đổi lối sống, kiểm soát tốt đường huyết, HbA1C huyết áp cao, rối loạn lipid máu đã được chứng minh

rõ ràng qua nhiều nghiên cứu khác nhau của các cán bộ y tế tỉnh Nam Định.Do ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ, phát triển kinh tế xã hội, xu hướng ngày càng tăng nhanh của ĐTĐ, cũng như khả năng phòng chống bệnh hữu hiệu ĐTĐ là bệnh có khả năng phòng được, Khoa Nội BVĐK tỉnhNĐđã đề ra những chiến lược thích hợp để phòng và chống bệnh ĐTĐ Bước đầu tiên của chiến lược này phải đánh giá được thực trạng kiến thức tự chăm sóc của NB ĐTĐ type II tại khoa Nội BVĐK tỉnh NĐ Từ đó đưa ra những giải pháp để nâng cao kiến thức cho NB ĐTĐ type II tại khoa Nội BVĐK tỉnh NĐ

Ngày đăng: 24/02/2021, 14:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Bộ môn Nội, Trường Đại học Y Hà Nội (2005), "Bệnh đái đường", Bệnh học Nội khoa sau đại học, tr. 214-229 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh đái đường
Tác giả: Bộ môn Nội, Trường Đại học Y Hà Nội
Năm: 2005
4. Bộ Y tế, Bệnh viện Nội tiết (2004), Tài liệu tập huấn khám sàng lọc bệnh đái tháo đường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn khám sàng lọc bệnh đái tháo đường
Tác giả: Bộ Y tế, Bệnh viện Nội tiết
Năm: 2004
5. Bộ Y tế (2007), Hội nghị Tổng kết 5 năm hoạt động chương trình phòng chống một số bệnh không lây nhiễm giai đoạn 2002-2006, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị Tổng kết 5 năm hoạt động chương trình phòng chống một số bệnh không lây nhiễm giai đoạn 2002-2006
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2007
6. Tạ Văn Bình (2003), Thực hành quản lý và điều trị bệnh đái tháo đường, Nhà xuất bản y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành quản lý và điều trị bệnh đái tháo đường
Tác giả: Tạ Văn Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2003
7. Tạ Văn Bình (2004), Phòng và quản lý bệnh đái tháo đường tại Việt nam, Phần 2 - Thực hành lâm sàng chăm sóc bệnh đái tháo đường, Nhà xuất bản y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và quản lý bệnh đái tháo đường tại Việt nam, Phần 2 - Thực hành lâm sàng chăm sóc bệnh đái tháo đường
Tác giả: Tạ Văn Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2004
11. Trần Hữu Dàng và cộng sự (2007), "Nghiên cứu tình hình đái tháo đường ở người 30 tuổi trở lên tại Thành phố Quy Nhơn", Hội nghị khoa học toàn quốc chuyên ngành nội tiết và chuyển hoá lần thứ 3, tr. 648-660 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tình hình đái tháo đường ở người 30 tuổi trở lên tại Thành phố Quy Nhơn
Tác giả: Trần Hữu Dàng và cộng sự
Năm: 2007
12. Hoàng Thị Đợi, Nguyễn Kim Lương (2007), "Nghiên cứu thực trạng bệnh đái tháo đường týp 2 đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên", Hội nghị khoa học toàn quốc chuyên ngành nội tiết và chuyển hoá lần thứ 3, tr. 900-911 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng bệnh đái tháo đường týp 2 đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên
Tác giả: Hoàng Thị Đợi, Nguyễn Kim Lương
Năm: 2007
13. Trần Thừa Nguyên, Trần Hữu Dàng (2006), "Nghiên cứu hội chứng chuyển hoá ở người béo phì với BMI ≥ 23", Tạp chí Y học thực hành, (548), tr. 412-413 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu hội chứng chuyển hoá ở người béo phì với BMI ≥ 23
Tác giả: Trần Thừa Nguyên, Trần Hữu Dàng
Năm: 2006
14. Nguyễn Thị Nhạn (2006), "Đái tháo đường ở người già", Tạp chí Y học thực hành, (548), tr. 75-83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đái tháo đường ở người già
Tác giả: Nguyễn Thị Nhạn
Năm: 2006
19. Barnard, N. (2007). The impact of a low-fat vegan diet on people with type 2 diabetes. Diabetes Voice. 52 (2). pp 12-15 Trích từ: http://www.kilobooks.com 20. American Diabetes Association – ADA (hội ĐTĐ Mỹ năm 1997) Link
1. Bs CK I: Đặng Quang Sinh – Khoa Răng Hàm Mặt – Bệnh viện Đa khoa Nam Định, Đánh giá hiệu quả chăm sóc và điều trị răng miệng ở bệnh nhân đái tháo đường tại Bệnh viện Đa khoa Nam Định Khác
2. Quy trình đánh giá sự hài lòng của người bệnh – Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định năm 2016 Khác
8. Tạ Văn Bình (2006). Thực trạng bệnh đái tháo đường và những nguy cơ tại 4 thành phố lớn Việt nam - Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng.http: //www.benhviennoitiet.org.vn Khác
9. Tạ Văn Bình, Phạm Thị Lan, Đào Tố Hoan (2006). Đánh giá kiến thức, thái độ thực hành của người bệnh đái tháo đường trước và sau khi được giáo dục tự chăm sóc. http: //www.benhviennoitiet.org.vn Khác
10. Trần Hữu Dàng (1996). Study about Diabetes in Hue City on subjects over 15 years old, effective diagnosis method and prevention Khác
15. Mai Thế Trạch và cộng sự (1994). Epidemiologic and basis investigation about diabetes in Ho Chi Minh City. Medical Journal Ho Chi Minh City, 1, pp 25-28 Khác
16. Ambigapathy, R., Ambigapathy, S., &amp; Ling, H. M. (2003). Knowledge, Attitude, and practice study of diabetes mellitus among patients attending Klinik Kesihatan Seri Manjung Malaysia Khác
17. Bazzano, L. A., Serdula, M., &amp; Liu, S. (2005). Prevention of Type II Diabetes by Diet and Lifestyle Modification. American College of Nutrition, 24 (5), pp 310- 319 Khác
18. Baradaran, H. (2003). Assessing the knowledge, attitude, and understanding of type diabetes among ethnic group in Glasgow, Scotland Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w