1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tính đa dạng ruồi ký sinh diptera streblidae nycteribiidae ở các loài dơi trong một số khu vực đảo và đất liền việt nam

87 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 3,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT NGUYỄN THANH LƯƠNG NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG RUỒI KÝ SINH DIPTERA: STREBLIDAE, NYCTERIBIIDAE Ở CÁC LOÀI DƠI TRONG MỘT SỐ KHU VỰC ĐẢO VÀ ĐẤT LIỀN VIỆT

Trang 1

VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

NGUYỄN THANH LƯƠNG

NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG RUỒI KÝ SINH (DIPTERA: STREBLIDAE, NYCTERIBIIDAE) Ở CÁC LOÀI DƠI TRONG MỘT SỐ KHU VỰC ĐẢO VÀ ĐẤT LIỀN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Hà Nội - 2017

VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

Trang 2

VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

NGUYỄN THANH LƯƠNG

NGHIÊN CỨU TÍNH ĐA DẠNG RUỒI KÝ SINH (DIPTERA: STREBLIDAE, NYCTERIBIIDAE) Ở CÁC LOÀI DƠI TRONG MỘT SỐ KHU VỰC ĐẢO VÀ ĐẤT LIỀN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC Chuyên ngành: Động vật học

VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để luận văn này đạt kết quả tốt đẹp, tác giả của luận văn đã nhận được sự

hỗ trợ, giúp đỡ từ nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân ở trong nước và bạn bè quốc

tế Với tình cảm sâu sắc, chân thành, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các cá nhân và cơ quan đã tạo điều kiện giúp đỡ trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài

Trước tiên, tác giả xin gửi tới hai thầy giáo hướng dẫn lời chào trân trọng, lời chúc sức khỏe và lời cảm ơn sâu sắc nhất Nhờ có sự quan tâm chỉ bảo, dạy

dỗ, hướng dẫn tận tình của PGS TS Vũ Đình Thống và GS TSKH Vũ Quang

Mạnh, đến nay đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng ruồi ký sinh (Diptera:

Streblidae, Nycteribiidae) ở các loài Dơi trong một số khu vực đảo và đất liền Việt Nam” đã được hoàn thành

Đặc biệt tác giả bày tỏ lòng biết ơn đến thầy giáo PGS TS Tạ Huy Thịnh và

Ks Hoàng Vũ Trụ đã quan tâm giúp đỡ, định hướng nghiên cứu giúp tác giả hoàn thành tốt luận văn trong thời gian qua

Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới TS Phùng Thị Hồng Lưỡng, ThS Đặng Văn An cùng các du học sinh Việt Nam đang học tập và nghiên cứu tại đại học Tokyo Metropolitan University, đã giới thiệu, trợ giúp kinh phí và chỗ ở khi tác giả tham gia khóa thực tập nghiên cứu tại Nhật Bản

Không thể không nhắc tới sự giúp đỡ của thầy giáo Eguchi và các trợ lý ở trường đại học Tokyo Metropolitan University đã tạo điều kiện cho tác giả có một khóa thực tập nghiên cứu thành công để hoàn thành kết quả trong luận văn Bằng sự kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất, tác giả xin được gửi lời cảm ơn đến tập thể Phòng Bảo tàng Động vật, Ban Lãnh đạo Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã giúp đỡ để tác giả có được môi trường làm việc, học tập và nghiên cứu tốt nhất trong thời gian hoàn thành luận văn

Trang 4

Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả luận văn đã nhận được sự giúp đỡ về mẫu vật nghiên cứu, kinh phí của các đề tài cấp viện Hàn Lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, mã số: VAST 04-07/15-16 do PGS TS Lê Đình Thủy chủ nhiệm và mã số VAST04.10/17-18 do PGS.TS Vũ Đình Thống chủ nhiệm; Quỹ phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED) trong đề tài mã số: 106.11-2012.02 do PGS TS Vũ Đình Thống chủ nhiệm, đề tài mã số: 106.NN.05-2015.34 do TS Lê Mạnh Hùng chủ nhiệm; đề tài cấp Bộ Giáo dục

và Đào tạo, mã số: B2015-25-34 do Ths Đào Nhân Lợi chủ nhiệm

Với điều kiện thời gian cũng như kinh nghiệm của một học viên còn nhiều hạn chế, luận văn này không thể tránh được những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo để tác giả thêm trưởng thành trong các nghiên cứu tiếp theo

Xin trân trọng cảm ơn./

Hà Nội, tháng 10 năm 2017

Học viên

Nguyễn Thanh Lương

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Thanh Lương

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

cs cộng sự CLC Cù Lao Chàm KBTB Khu Bảo tồn biển KRĐD Khu Rừng đặc dụng KVNC

VQG

Khu vực nghiên cứu Vườn Quốc gia

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN I LỜI CAM ĐOAN III DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT IV MỤC LỤC V DANH MỤC BẢNG VII DANH MỤC HÌNH VIII

MỞ ĐẦU 1

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 GIỚI THIỆU VỀ RUỒI KÝ SINH Ở DƠI 3

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU RUỒI KÝ SINH Ở DƠI TRÊN THẾ GIỚI 4

1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU RUỒI KÝ SINH Ở DƠI Ở VIỆT NAM 7

CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, VẬT LIỆU 12

2.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN Ở CÁC KHU VỰC NGHIÊN CỨU 12

2.1.1 KRĐD Sốp Cộp 12

2.1.1.1 Vị trí địa lý 12

2.1.1.2 Điều kiện tự nhiên 12

2.1.2 VQG Cát Bà 13

2.1.2.1 Vị trí địa lý 13

2.1.2.2 Điều kiện tự nhiên 13

2.1.3 KBTB Cù Lao Chàm 16

2.1.3.1 Vị trí địa lý 16

2.1.3.2 Điều kiện tự nhiên 16

2.2 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 17

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 17

2.2.2 Thời gian nghiên cứu 18

2.3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

2.3.1 Vật liệu 18

2.3.1.1 Mẫu vật nghiên cứu 18

2.3.1.2 Thiết bị nghiên cứu 18

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu 19

Trang 8

2.3.2.2 Thu mẫu ruồi ký sinh 20

2.3.2.3 Xử lý mẫu vật trong phòng thí nghiệm 20

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 23

3.1 THÀNH PHẦN LOÀI RUỒI KÝ SINH Ở DƠI GHI NHẬN ĐƯỢC TRONG CÁC KHU VỰC NGHIÊN CỨU 23

3.2 MỐI QUAN HỆ CỦA CÁC LOÀI RUỒI KÝ SINH Ở DƠI TRONG CÁC KHU VỰC NGHIÊN CỨU 53

3.2.1 Mối quan hệ của các loài ruồi ký sinh ở dơi tại VQG Cát Bà (Hải Phòng) 53 3.2.2 Mối quan hệ của các loài ruồi ký sinh ở dơi tại KRĐD Sốp Cộp (Sơn La) 55 3.2.3 Mối quan hệ của các loài ruồi ký sinh ở dơi tại KBTB Cù Lao Chàm (Quảng Nam) 56

3.2.4 Mối quan hệ ruồi ký sinh ở dơi và các loài dơi trong các khu vực nghiên cứu 58

3.2.5 Kết quả phân tích định lượng các loài ruồi ký sinh ở dơi trên các loài dơi các khu vực nghiên cứu 61

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65

1 KẾT LUẬN 65

2 KIẾN NGHỊ 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN X PHỤ LỤC ẢNH XI

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Số loài và phân loài thuộc các giống của họ Nycteribiidae ghi nhận

được ở các phân miền địa động vật khác nhau trên thế giới 5

Bảng 1.2 Khu hệ ruồi ký sinh của các nước lân cận Việt Nam 6 Bảng 1.3 Các nghiên cứu về ruồi ký sinh ở dơi tại Việt Nam 9 Bảng 3.1 Danh sách và địa điểm ghi nhận ruồi ký sinh ở dơi trong các KVNC

Bảng 3.4 Các mẫu vật ruồi ký sinh (Nycteribiidae, Streblidae) ở các loài dơi

KBTB Cù Lao Chàm 57

Bảng 3.5 Mối quan hệ giữa ruồi ký sinh và vật chủ dơi ở KVNC 58 Bảng 3.6 Tình trạng nhiễm ruồi ký sinh ở dơi trong các khu vực nghiên cứu

61

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Đặc điểm mặt lưng của Basilia pundibunda 4

Hình 1.2 Các điểm thu mẫu ruồi ký sinh ở dơi ở Việt Nam trước năm 2001 10

Hình 2.1 Các khu vực nghiên cứu 17

Hình 2.2 Thu mẫu dơi ngoài thực địa bằng lưới mờ và bẫy thụ cầm 19

Hình 2.3 Quan sát mẫu vật và xử lý hình ảnh tại phòng thí nghiệm 20

Hình 3.1 Sơ đồ mối quan hệ di truyền giữa một số nhóm loài ở KVNC 25

Hình 3.2 Đặc điểm hình thái của loài Nycteribia sp 27

Hình 3.3 Đặc điểm hình thái của loài Basilia roylii 29

Hình 3.4 Đặc điểm hình thái của loài Basilia burmensis 32

Hình 3.5 Đặc điểm hình thái của loài Basilia pundibunda 34

Hình 3.6 Đặc điểm hình thái của loài Basilia majuscula 36

Hình 3.7 Đặc điểm hình thái của loài Cyclopodia horsfieldi 39

Hình 3.8 Đặc điểm hình thái của loài Leptocyclopodia ferrari 41

Hình 3.9 Đặc điểm hình thái của loài Ascodipteron phyllorhinae 44

Hình 3.10 Đặc điểm hình thái của loài Ascodipteron wenzeli 46

Hình 3.11 Đặc điểm hình thái của loài Brachytarsina amboinensis 48

Hình 3.12 Đặc điểm hình thái của loài Brachytarsina cucullata 50

Hình 3.13 Đặc điểm hình thái của loài Maabella stomalata 52

Hình 3.14 Tỷ lệ nhiễm ruồi ký sinh ở dơi ở KRĐD Sốp Cộp, VQG Cát Bà, KBTB Cù Lao Chàm 62

Hình 3.15 Cường độ nhiễm ruồi ký sinh ở dơi ở KRĐD Sốp Cộp, VQG Cát Bà, KBTB Cù Lao Chàm 63

Hình i Đàn dơi ở hang Trung Trang (VQG Cát Bà) xi

Hình ii Thực địa thu mẫu dơi với các chuyên gia nước ngoài ở Phù Long xi Hình iii Đặt lưới mờ ở Lò Tinh Dầu, VQG Cát Bà xii

Hình iv Nhộng ruồi ký sinh ở dơi ở dưới màng đuôi vật chủ xii

Trang 11

Hình v Nhộng ruồi ký sinh ở dơi bám trên màng đuôi và trên cơ thể vật chủ

xii

Hình vi Ruồi ký sinh không cánh ở bụng và lưng vật chủ dơi xiii Hình vii Nhộng ký sinh trên vùng da mỏng ở cánh của vật chủ xiii Hình ix Phân tích mẫu dơi và xét nghiệm ruồi ký sinh ở dơi ngoài thực địa

xiv

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Ruồi ký sinh ở dơi (Diptera: Streblidae, Nycteribiidae) là nhóm động vật

có nhiều biến đổi trên cơ thể để thích nghi với đời sống ký sinh hút máu vật chủ [14], [15] Nhờ có đôi cánh, ruồi ký sinh ở dơi thuộc họ Streblidae bay từ vật chủ này sang vật chủ khác Ngược lại, ruồi ký sinh không cánh (họ Nycteribiidae) thường gắn bó lâu dài trên một vật chủ dơi, thời điểm để chúng thay đổi vật chủ ký sinh là khi những cá thể dơi ở sát nhau Nhiễm ruồi ký sinh khiến các vật chủ dơi bị mất nhiều năng lượng khi bay và tìm kiếm thức ăn [14] Hơn nữa, các loài ruồi ký sinh ở dơi ưa thích hút máu ký chủ đang trong thời gian mang thai hoặc cho con bú gây ảnh hưởng đến sức khỏe của vật chủ [15] Nghiên cứu mối quan hệ giữa ruồi ký sinh ở dơi với vật chủ có ý nghĩa quan trọng để bảo tồn các loài dơi quý trong các hệ sinh thái, đặc biệt là hệ sinh thái rừng tự nhiên

Cho đến nay, nghiên cứu cơ bản về thành phần loài ruồi ký sinh ở dơi chưa được chú ý nhiều ở nước ta Các cuộc khảo sát trước đây mới chỉ thực hiện

ở một số khu vực trong những phạm vi nghiên cứu hẹp, thời gian ngắn Do đó, việc điều tra nghiên cứu khu hệ ruồi ký sinh ở dơi là định hướng quan trọng trong nghiên cứu và bảo tồn đa dạng sinh học động vật, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Bên cạnh đó, những nghiên cứu trước đây về dịch tễ học cho thấy các loài dơi có thể mang vi-rút của một số bệnh truyền nhiễm (bệnh dại, SARS, EBOLA, MERS) gây nguy hiểm cho người và động vật [34], [35] Trong chu kỳ sống, các ruồi ký sinh hút máu vật chủ dơi Chúng không chỉ bị nhiễm vi-rút từ vật chủ mà còn là véc-tơ để vi-rút lây lan trên diện rộng Nghiên cứu định lượng

về tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm ruồi ký sinh ở dơi góp phần khoanh vùng dịch bệnh để có phương hướng điều trị kịp thời

Vườn Quốc gia Cát Bà, Khu Rừng đặc dụng Sốp Cộp, Khu Bảo tồn biển

Cù Lao Chàm là nơi có điều kiện tự nhiên đa dạng với nhiều kiểu hệ sinh thái:

Trang 13

hang động, rừng trên núi đá vôi, rừng ngập mặn Đó là những sinh cảnh thích hợp với nhiều loài dơi sinh sống Những nghiên cứu trước đây mới tập trung nghiên cứu các loài dơi mà chưa đề cập đến thành phần các loài ruồi ký sinh ở dơi

Chính vì những lý do trên, đề tài “Nghiên cứu tính đa dạng ruồi ký sinh

(Diptera: Streblidae, Nycteribiidae) ở các loài Dơi trong một số khu vực đảo và đất liền Việt Nam” được đề xuất và thực hiện

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Xác định tính đa dạng ruồi ký sinh ở dơi (Diptera: Streblidae, Nycteribiidae) tại 3 địa điểm nghiên cứu

2 Phân tích mối quan hệ giữa ruồi ký sinh với vật chủ dơi (Chiroptera)

3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Đề tài cung cấp dẫn liệu hình thái, sinh học phân tử, danh sách thành phần loài và tính đa dạng ruồi ký sinh ở dơi tại 3 địa điểm nghiên cứu, góp phần nghiên cứu khu hệ ruồi ký sinh Việt Nam, bổ sung thông tin xây dựng khóa định loại ruồi ở Việt Nam, phục vụ cho công tác giảng dạy

Cung cấp những điểm khái quát về mối quan hệ ký sinh - vật chủ, sử dụng các chỉ số tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm, nơi sống trên cơ thể vật chủ của ruồi ký sinh ở dơi góp phần nghiên cứu và phòng ngừa khả năng lây lan các bệnh truyền nhiễm sang người và động vật

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 GIỚI THIỆU VỀ RUỒI KÝ SINH Ở DƠI

Ruồi ký sinh ở dơi thuộc liên họ Hippoboscoidae (Streblidae, Nycteribiidae) trong bộ Hai cánh (Diptera) Chúng tiến hóa chuyên biệt để thích nghi với đời sống ký sinh hút máu ở các loài dơi (Mamalia: Chiroptera) [14] Trên thế giới đã ghi nhận 602 loài ruồi ký sinh ở dơi thuộc 44 giống, 8 phân họ Trong đó, họ ruồi ký sinh không cánh (Nycteribiidae) gồm 275 loài thuộc thuộc

12 giống, 3 phân họ và họ ruồi ký sinh có cánh (Streblidae) có 227 loài thuộc thuộc 32 giống, 5 phân họ [14], [15] Hiện nay chưa có nghiên cứu nào phát hiện

có ruồi ký sinh ở dơi trên các động vật khác [15]

Không giống như các nhóm ký sinh ngoài da khác, ruồi ký sinh ở dơi tiêu giảm cánh và các cơ bay dẫn đến đốt ngực nhỏ hơn so với đốt bụng [44] Các ruồi ký sinh thuộc họ Nycteribiidae hoàn toàn không có cánh, giống nhện, cơ thể dẹt theo hướng lưng - bụng Chân khỏe và các cơ chân phát triển mạnh nên chúng di chuyển rất nhanh trên cơ thể vật chủ Đầu tiêu giảm, thường xuyên gập

về phía lưng, khi hút máu vật chủ, đầu cúi 180o từ phía sau ra phía trước [45] Trên cơ thể ruồi ký sinh không cánh ở dơi có nhiều lông cứng để cài vào lông của vật chủ, giúp chúng bám chắc hơn vào vật chủ ngay cả khi vật chủ đang vận động [14], [15] (hình 1.1) Ruồi ký sinh ở dơi thuộc họ Streblidae vẫn còn tồn tại cánh, chúng có phần lưng và bụng lồi lên so với các phần cơ thể xung quanh Những loài ruồi ký sinh có cánh ở dơi vẫn có cơ quan thăng bằng (halter) dạng vảy ở vị trí sau đôi cánh Cùng với hệ thống lông cứng phát triển, ruồi ký sinh ở dơi thuộc họ Streblidae còn có móng vuốt sắc nhọn, giúp chúng bám chắc vào vật chủ khi bay từ vật chủ này sang vật chủ khác [15]

Đặc điểm sinh sản của các ruồi ký sinh ở dơi là đẻ nhộng, con cái chỉ đẻ

ra một nhộng trong một lần đẻ [44] Điều đặc biệt ở nhóm này là các con cái đẻ nhộng tại các vết loét trên da vật chủ, nhộng phát triển dưới da vật chủ và vũ hóa qua lỗ tròn trên đầu nhộng [15], [44], [45]

Trang 15

Hình 1.1 Đặc điểm mặt lưng của Basilia pundibunda (họ Nycteribiidae),

mã số: EC.220915.1, thước tỷ lệ: 1,0 mm

(Ab = bụng, Th = ngực, Cx = đốt háng, Tr = đốt chuyển, E = mắt, Fe = đùi,

T = đốt bàn, TC = vuốt, Ti = đốt ống)

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU RUỒI KÝ SINH Ở DƠI TRÊN THẾ

Các nghiên cứu về đa dạng ruồi ký sinh ở dơi đã được thực hiện ở nhiều quốc gia và lãnh thổ trên toàn thế giới Theo Marshall (1982), có 687 loài côn trùng ký sinh trên dơi thuộc bộ Cánh da (Dermaptera), Hai cánh (Diptera) và Bọ chét (Siphonaptera) đã được ghi nhận Các loài ruồi ký sinh ở dơi thuộc hai họ:

1,0 mm

Trang 16

hoàn toàn) Phần lớn các loài ruồi ký sinh ở dơi phân bố ở các vùng nhiệt đới và

cận nhiệt đới, chỉ có một số loài ghi nhận ở các vùng ôn đới [45]

Những nghiên cứu mang tính hệ thống đầu tiên về ruồi ký sinh ở dơi được thực hiện bởi Oska Theodor (1898-1987) Nghiên cứu của ông tập trung vào các

họ ruồi ký sinh (Streblidae, Nyeteribiidae) để làm rõ các bậc phân loại, sự phát sinh chủng loại và đặc trưng phân bố của ruồi ký sinh ở các loài dơi Từ 1931-1971, Theodor O đã mô tả các giống mới và loài mới cho khu hệ ruồi ở các nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ Nổi bật trong số đó là bộ sưu tập Nycteribiidae được xuất bản bởi bảo tàng Anh [50], [52] Trong bộ sưu tập này, tác giả đã thống kê số lượng loài và phân loài ruồi ký sinh không cánh thu được ở

5 phân miền địa động vật trên thế giới: Toàn Bắc, Châu Phi, Phương Đông, Thái Bình Dương, Châu Mỹ Số loài và phân loài thuộc họ Nycteribiidae được trình bày tóm tắt trong bảng 1.1

Bảng 1.1 Số loài và phân loài thuộc các giống của họ Nycteribiidae ghi nhận

được ở các phân miền địa động vật khác nhau trên thế giới

năm 1930, Jobling B đã công bố 7 loài mới thuộc giống Raymondia (họ Streblidae) và 15 loài thuộc giống Nycteribosca (Nycteribiidae) ở Ma-lai-xi-a, Ấn

Trang 17

Độ, Ốt-xtra-lia, Anh, Pháp và khu vực Châu Phi [25], [26], [27], [28], [29], [30], [31], [32] Trong khoảng thời gian từ 1962-1969, Maa T C ghi nhận 42 loài ruồi

ký sinh thuộc 53 giống của hai họ Nycteribiidae và Streblidae ở 24 quốc gia và vùng lãnh thổ dọc bờ biển Ấn Độ Dương, Thái Bình Dương, Đại Tây Dương Đặc biệt, trong năm 1965, Maa mô tả 53 giống thuộc hai họ ruồi ký sinh (Streblidae, Nycteribiidae) ở dơi và công bố một phân họ mới (Ascodipterinae) bao gồm 6

giống mới: Ascodipteron, Namrid, Semirasnm, Variisetosam, Brevior, Theodori

cho khu hệ Châu Phi [36], [37], [38], [39], [40], [41], [42], [43]

Khu hệ ruồi ký sinh ở dơi của các nước lân cận Việt Nam đã được quan tâm nghiên cứu nhưng chưa đồng đều ở các quốc gia Các nghiên cứu ở khu vực lân cận Việt Nam được thống kê trong các bảng 1.2

Bảng 1.2 Khu hệ ruồi ký sinh của các nước lân cận Việt Nam

Loài giống Trung Quốc 17 12 Maa T C (1962, 1967, 2011); Theodor O (1963);

Farafonova G V (2001);

Pape & Thompson, (2015)

Cam-Pu-Chia 8 2 Maa T C (1962); Klein J (1970)

Thái Lan 27 8 Maa T C (1962, 1968, 1975); Papp L (2006); Phi-lip-pin 21 8 Theodor (1963); Maa T C (1968);

Ma-lai-xi-a 11 8 Maa T C (1962, 1967, 2011); Theodor (1963);

Azhar I (2015); Pape & Thompson (2015)

Ở khu vực châu Á và Đông Nam Á, Maa T C cùng với Theodor O là những người đầu tiên nghiên cứu khu hệ ruồi ký sinh ở khu vực này, đã thống kê được 27 loài trong 8 giống thuộc liên họ Hippoboscoidae (Streblidae,

Nycteribiidae) tại Thái Lan, bao gồm: 2 loài thuộc giống Ardmoeca, 8 loài thuộc giống Icosta, 3 loài thuộc giống Ornithoponus, 4 loài thuộc giống Lobolepis, 2 loài thuộc giống Ornithomyia, 1 loài thuộc giống Ornithophila, 2 loài thuộc giống Phthona, 2 loài thuộc giống Pseudolynchia, 1 loài thuộc giống

Hippobosca và 2 loài thuộc giống Lipoptena Từ 1963 - 1969, nhiều loài mới

Trang 18

cho khoa học đã được mô tả, gồm có: Ornithoica curvata, Phthona leptoptera,

Phthona modesta, Icosta macclurei, Icosta bucerotina, Icosta corvina, Icosta elbeli, Icosta fenestella, Icosta tarsata, Icosta sensilis sensilis Họ Nycteribiidae

có 6 giống với 15 loài chưa định dạng được tên, họ Streblidae được mô tả 1 loài

(Ascodipteron siamense) trong số 5 loài ruồi ký sinh đã ghi nhận Năm 1962,

Maa đã liệt kê được 8 loài thuộc 2 giống trong họ Nycteribiidae ký sinh trên dơi

ở Cam-pu-chia Chỉ tính riêng loài Nycteribia allotopa và Nycteribia formosana,

Maa đã ghi nhận được từ nhiều quốc gia và khu vực của Châu Á, bao gồm In-đô-nê-xi-a, Ấn Độ, Xri-lan-ka, Trung Quốc (Đài Loan), Phi-lip-pin và Nhật Bản [34], [35], [36], [37], [38], [39], [40]

Đầu thế kỷ XXI, các nghiên cứu về ruồi ký sinh trong khu vực được tiến hành đơn lẻ ở từng quốc gia Năm 2011, Alvarez J đã ghi nhận 20 loài thuộc họ Nycteribiidae ký sinh dơi ở Phi-lip-pin, nâng tổng số loài ruồi ký sinh ở Phi-lip-pin thành 21 loài [24] Năm 2015, Azhar I kết luận có ít nhất 30 loài ruồi ký sinh ở dơi ở Ma-lai-xi-a, tăng hơn 20 loài so với trước đó [9] Đây là những nghiên cứu cập nhật nhất ở khu vực

Nhìn chung nghiên cứu về ruồi ký sinh ở dơi trên thế giới mới chỉ tập trung ở các nước châu Âu và châu Mỹ, chưa có nhiều nghiên cứu mang tính hệ thống ở khu hệ Châu Á và Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam

1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU RUỒI KÝ SINH Ở DƠI Ở VIỆT NAM

Nghiên cứu ruồi ký sinh ở Việt Nam chưa được chú ý Ngoài các công bố

về ruồi nhà và côn trùng y học của Tạ Huy Thịnh, chỉ có số ít ghi nhận về ruồi

ký sinh thuộc về các tác giả nước ngoài [6], [7], [17], [20], [36]

Trước năm 1975, đoàn khảo sát của các nhà khoa học thuộc Bảo tàng Hoàng gia Ontario (ROM), Canada đã tiến hành nghiên cứu đa dạng sinh học ở khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam Những ghi nhận đầu tiên ở huyện

Na Hang, tỉnh Tuyên Quang (22°20'N - 105°25'E) cho thấy có 3 loài ruồi thuộc

các giống Cyclopodia, Raymondia, Basila ký sinh ở các loài dơi thuộc họ Rhinolophidae, Miniopteridae [17] Dựa trên các mẫu vật thu được ở khu vực

Trang 19

này, Hastriter M W & Bush S E (2006) đã ghi nhận các loài: Maabella

stomalata; Ascodipteron wenzeli; Basilia burmensis cho khu hệ ruồi ký sinh ở

dơi ở Việt Nam [18], [19] Năm 1960, các nhà côn trùng học Yoshimoto và Feinstein tiến hành thu thập các mẫu vật ruồi ký sinh ở dơi một số tỉnh thuộc Nam Trung Bộ: Quảng Trị, Phú Yên, Đắc Lắc, Lâm Đồng Ở độ cao khác nhau, các mẫu vật thu được bao gồm 8 cá thể đực và 3 cá thể cái ruồi ký sinh ở dơi của

loài Cyclopodia ferrarii ferrarii ở loài dơi Cynopterus sp Đồng thời, mẫu vật thu được còn có 2 cá thể đực của loài Raymondia pseudopagodarum nhưng chưa

có thông tin về vật chủ [36] Đây là những nghiên cứu đầu tiên rất có ý nghĩa đối với khu hệ ruồi ký sinh Việt Nam

Sau năm 1975, các nghiên cứu về ký sinh trùng học của Việt Nam được quan tâm nhiều hơn Tuy nhiên, các nghiên cứu về ruồi ký sinh ở dơi vẫn chưa được chú ý Năm 2001, nhà Ký sinh trùng Farafonova G V đã công bố những ghi nhận đầu tiên về ruồi ký sinh ở các loài dơi thu được tại VQG Vũ Quang [17] Trong nghiên cứu này, 9 loài ruồi ký sinh ở dơi thuộc họ ruồi ký sinh không cánh (Nycteribiidae) và họ ruồi ký sinh có cánh (Streblidae) được ghi

nhận, trong đó họ Nycteribiidae có 7 loài: Phthiridium fratemum, Basilia roylii,

Basilia magnocula, Basilia majuscula, Eucampsipoda latisterna, Leptocyclopodia ferrarii, Cyclopodia sp.; họ Streblidae có 2 loài: Brachytarsina amboinensis, Raymondia sp Đặc biệt, trong tổng số 9 loài ruồi ký sinh ở 13 loài

dơi ghi nhận tại Vũ Quang có 4 loài mới cho Việt Nam: Phthiridium fraternum,

Basilia magnocula, Basilia majuscula, Cyclopodia sp Hơn nữa, hệ thống danh

lục trực tuyến về bộ Hai cánh (Diptera) của Pape & Thomson (2015) đã cập nhật

3 loài ruồi ký sinh ở dơi (Basilia burmensis, Basilia pudibunda, Brachytarsina

falcozi) của Việt Nam nhưng chưa rõ địa điểm và thông tin vật chủ [46]

Tính đến thời điểm hiện tại có 16 loài ruồi ký sinh thuộc 13 giống được nghiên cứu tại Việt Nam Thống kê cụ thể về các nghiên cứu này ở bảng 1.3

Trang 20

Bảng 1.3 Các nghiên cứu về ruồi ký sinh ở dơi tại Việt Nam

Phú Yên, Lâm Đồng

Leptocyclopodia ferrarii Cynopterus sp

Farafonova G V

(2001)

Hipposideros pomona Macroglossus sobrinus Cynopterus sphinx

Basilia magnocula Myotis siligorensis

Myotis horsfieldi Basilia majuscula Pipistrellus javanicus Eucampsipoda latisterna Eonycteris spelaea Leptocyclopodia ferrarii Myotis siligorensis

Cynopterus sphinx Murina muricola Rhinolophus affinis Cyclopodia sp Megaerops niphane Brachytarsina amboinensis Cynopterus sphinx

Rhinolophus affinis Rhinolophus pusillus Raymondia sp Hipposideros cineraceus

Rhinolophus pusillus Hipposideros pomona Coelops frithii

Ghi chú: *: loài ghi nhận thông qua tài liệu nhưng không có mẫu vật nghiên cứu [19]

** Loài có ghi nhận về địa điểm nhưng không rõ thông tin vật chủ ở Việt Nam [16], [38]

Các nghiên cứu trước đây mới chỉ được tiến hành ở Tuyên Quang và khu vực Nam Trung Bộ; khu vực Miền Nam, Đông Bắc bao gồm các quần đảo chưa được quan tâm nghiên cứu (hình 1.2)

Trang 21

Hình 1.2 Các điểm thu mẫu ruồi ký sinh ở dơi ở Việt Nam trước năm 2001

(Theo Maa T C (1962); Farafonova G V & Borissenko A V (2001); Hastriter

M W & Bush S E (2007)) Như vậy, các nghiên cứu về ruồi ký sinh trước đây được tiến hành chưa toàn diện ở Việt Nam, đặc biệt là các vùng biển và hải đảo Đồng thời, các nghiên cứu này là những phân tích định tính về thành phần loài và phân bố của

Trang 22

ruồi ký sinh ở dơi, còn thiếu những nghiên cứu mang tính định lượng về tỷ lệ nhiễm và cường độ nhiễm của chúng đối với vật chủ dơi

Nghiên cứu về ruồi ký sinh ở dơi tại VQG Cát Bà, KRĐD Sốp Cộp và KBTB Cù Lao Chàm là hướng nghiên cứu mới nhằm bổ sung thêm những phân tích định tính về đa dạng ruồi kí sinh dơi và phân tích định lượng về tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm ruồi ký sinh của các vật chủ dơi

Sự đa dạng ruồi ký sinh ở dơi tại VQG Cát Bà, KRĐD Sốp Cộp và KBTB

Cù Lao Chàm được chú ý bởi đây là các khu vực có điều kiện tự nhiên rất thích hợp cho các vật chủ dơi sinh sống

Trang 23

CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, VẬT LIỆU

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN Ở CÁC KHU VỰC NGHIÊN CỨU

2.1.1 KRĐD Sốp Cộp

2.1.1.1 Vị trí địa lý

KRĐD Sốp Cộp (20°56' - 21°07' vĩ độ Bắc, 103°29' - 103°42' kinh độ Đông), cách thành phố Sơn La 132 km về phía Tây Nam KRĐD Sốp Cộp thuộc địa phận xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp và xã Huổi Một của huyện Sông Mã, phía Nam giáp xã Mường Và và xã Nậm Lạnh của huyện Sốp Cộp, phía Đông giáp

xã Mường Cai - huyện Sông Mã, phía Tây giáp xã Dồm Cang của huyện Sốp Cộp

2.1.1.2 Điều kiện tự nhiên

Địa hình xã Sốp Cộp đa dạng, chủ yếu là núi trung bình, núi thấp uốn nếp, núi tảng, xen kẽ là thung lũng và bồn địa nhỏ hẹp Đất hiện trạng ở KRĐD Sốp Cộp là đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp phân bố không đều ở các KRĐD, rừng phòng hộ và rừng sản xuất Khoáng sản chủ yếu là đá, cát, sỏi, điểm khai thác lớn ở mỏ đá Tà Cọ Tổng diện tích tự nhiên 18.709 ha (trong đó diện tích đất có rừng 12.601 ha chiếm 67% diện tích của Khu bảo tồn Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 5.149 ha, phân khu phục hồi sinh thái 13.541 ha, phân khu hành chính dịch vụ 19 ha) Đây là khu vực bao gồm nhiều dãy núi cao, dốc, địa hình chia cắt phức tạp, hiểm trở đã tạo ra các hệ sinh thái hang động phong phú và độc đáo, là nơi trú ngụ của các loài dơi Sốp Cộp có nhiều thực vật tự nhiên như Trầm hương, Lát hoa, Rổi, Thông dầu, Thông trắng và nhiều loại lâm sản ngoài gỗ khác có nhiều giá trị kinh tế và khoa học Theo thống kê của đại học Tây Bắc, ở KRĐD Sốp Cộp có 27 loài Dơi thuộc 14 giống và 5 họ, trong đó có

5 loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam [1]

Nguồn nước phục vụ cho sản xuất và đời sống của nhân dân trong xã được khai thác theo các nguồn nước tự nhiên như: nguồn nước mặt (suối Nậm

Trang 24

Ban, suối Nậm Lạnh, suối Nậm Ka, suối Nậm Công) đây là nguồn nước chủ yếu phục vụ cho sản xuất Đặc biệt, suối Nậm Công là nơi được bao quanh bởi núi

đá vôi, có nhiều hang đá là nơi ở của các loài dơi

Sốp Cộp nằm ở vị trí địa lý chịu ảnh hưởng của hai kiểu khí hậu khác nhau từ phía Bắc (Trung Quốc) và lục địa phía Tây (Lào) Nhiệt độ trung bình hàng năm ở Sốp Cộp là 22,4°C Mùa nóng nhiệt độ tăng cao từ tháng 4 đến tháng 5, mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau nhiệt độ xuống rất thấp Tuy nhiên, Sốp Cộp vẫn có những đặc trưng của kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa Mùa khô từ tháng 9 đến tháng 5 năm sau; mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mưa nhiều nhất vào tháng 6, 7, 8; lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.185 mm - 1.900 mm Do địa hình ở vùng núi cao, ở đây có xuất hiện các hiện tượng thời tiết đặc trưng ở địa phương như: mưa phùn, dông, mưa đá, lũ quét, rét đậm, rét hại, gây ảnh hưởng lớn tới cây cối, hoa màu và các loài động vật Do đó, kiểu khí hậu này tác động lớn đến sự phân bố của các loài côn trùng nhạy cảm với môi trường, trong đó phải kể đến ruồi ký sinh ở dơi

2.1.2 VQG Cát Bà

2.1.2.1 Vị trí địa lý

VQG Cát Bà (20°44' - 20°52' vĩ độ Bắc; 106°59' - 107°06' kinh độ Đông) Phía Đông, Đông Nam và Đông Bắc giáp vịnh Hạ Long được ngăn cách bởi lạch Ngăn và lạch Đầu xuôi của tỉnh Quảng Ninh Phía Tây và Tây Nam là cửa

sông Bạch Đằng, sông Cấm và biển Hải Phòng - Đồ Sơn

2.1.2.2 Điều kiện tự nhiên

Diện tích quy hoạch VQG Cát Bà là 17.362,96 ha (trong đó diện tích phần đảo là 10.912,51 ha, diện tích phần biển là 6.450,45 ha), bao gồm: phân khu bảo

vệ nghiêm ngặt (4.788,24 ha), phân khu bảo vệ nghiêm ngặt biển (322,40 ha),

phân khu phục hồi sinh thái (12.146,42 ha), phân khu hành chính (105,90 ha)

Đảo Cát Bà có độ cao trung bình khoảng 100 m so với mực nước biển, địa hình cao nhất là đỉnh Cao Vọng (322 m) Các đảo nhỏ mang đặc trưng địa hình của núi đá vôi trên biển Nhìn chung Cát Bà có các kiểu địa hình chính như: địa

Trang 25

hình núi đá vôi, địa hình đồi đá phiến, địa hình thung lũng giữa núi, địa hình bồi tích ven biển Điều kiện địa hình núi đá vôi và khí hậu nhiệt đới ẩm đã hình thành tại Cát Bà những loại đất chính như: đất Feralit đỏ nâu phát triển trên đá vôi, đất Feralit nâu đỏ tụ ở chân núi đá vôi, đất Feralit nâu vàng phát triển từ các sản phẩm phong hóa đá vôi dốc tụ hỗn hợp, đất dốc tụ thung lũng, đất bồi chua mặn, đất mặn Sú vẹt VQG Cát Bà nằm trong đới khí hậu nhiệt đới gió mùa và chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu đại dương, có gió mùa Tây Nam về mùa hạ

và gió mùa Đông Bắc về mùa đông nên ít khắc nghiệt hơn các vùng có cùng vĩ

độ trong đất liền Nhiệt độ trung bình năm 23,6oC, mùa nóng bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Giữa hai mùa chênh lệch từ 11 - 12oC Lượng mưa trung bình cả năm từ 1.500 - 2.000 mm/năm Một năm có hai mùa rõ rệt Mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng

11 đến tháng 4 năm sau) Độ ẩm không khí trung bình cả năm là 86%

Tổng kết các nghiên cứu trước đây và cho đến nay đã ghi nhận được tại VQG Cát Bà 1588 loài, thuộc 850 chi, 187 họ, 5 ngành thực vật Trong đó bao gồm cả một số loài thực vật nông nghiệp gây trồng phổ biến (245 loài), cùng một số loài cây rừng được đem về gây trồng thuộc nhiều vùng sinh thái khác

nhau như: sao đen (Hopea odorata), dầu con rái (Dipterocarpus alatus),

Cùng với rừng trên núi đá vôi, rừng ngập mặn là một tài nguyên quý giá tại đảo Cát Bà Hệ sinh thái rừng ngập mặn của Cát Bà đã tạo nên nét đặc biệt cho VQG Cát Bà so với nhiều VQG khác Qua quá trình điều tra, thống kê được 30 loài thực vật ngập mặn ở đây chiếm 1,45% tổng số loài của VQG Khu hệ động vật ở VQG Cát Bà cũng rất đa dạng về thành phần loài Những dẫn liệu năm 2013 đã cho thấy, VQG Cát Bà có 343 loài động vật có xương sống ở cạn Trong đó có

58 loài thú thuộc 19 họ, 9 bộ, 205 loài chim, 55 loài bò sát và 25 loài ếch Năm

2015, Vũ Đình Thống và cs đã ghi nhận được 15 loài dơi ở VQG Cát Bà [4] Đây là những ghi nhận quan trọng tạo cơ sở nghiên cứu ruồi ký sinh ở dơi tại khu vực này

Trang 26

Cát Bà là quần đảo đá vôi, hệ thống sông suối trên đảo không nhiều, những dòng chảy tạm thời chỉ xuất hiện trong cơn mưa và ngừng ngay sau khi mưa Vào mùa mưa, nước đọng lại ở một số vùng nhỏ, thấm dột trong những hang động Tuy rất ít, nhưng đây lại là nguồn nước khá thường xuyên cho động thực vật trên đảo Cát Bà có các túi nước ngầm, nguồn gốc thấm đọng từ nước mưa (đã khai thác 6 giếng khoan, trữ lượng khoảng 1500 - 2000 m3/ngày, mức độ khai thác cho phép khoảng 1000 m3/ngày) Hệ thống thủy vực nước ngọt gồm các suối (suối Thuồng Luồng, suối Trung Trang, suối Treo Cơm), ao (Ao Ếch), hồ Đáng kể đến là địa danh Đập Nước thuộc thị trấn Cát Bà - nơi có hang dơi và là nơi kiếm ăn của một

Dòng chảy vùng đảo Cát Bà khá phức tạp, tốc độ trung bình 8 - 12 cm/s

và có thể đến 50 cm/s ở các lạch hẹp, chịu ảnh hưởng của dòng chảy mùa, nên

có độ đục cao vào mùa hè do dòng nước đục từ Đồ Sơn lên (hướng Tây Nam) Nhìn chung điều kiện khí tượng thủy văn bao gồm cả thủy văn biển ở đây thuận lợi cho việc phát triển kinh tế và dịch vụ du lịch của quần đảo Cát Bà Trong tương lai đảo Cát Bà và vịnh Hạ Long sẽ trở thành vùng kinh tế - du lịch và môi trường phát triển mạnh nhất, có tầm cỡ quốc gia và quốc tế

Những đặc điểm tự nhiên nêu trên có tác động trực tiếp và gián tiếp đến nhiều sinh cảnh có dơi sinh sống và kiếm ăn như hệ sinh thái rừng ngập mặn, nguồn thức ăn của những một số loài dơi ăn động vật thủy sinh, sự đa dạng của các loài dơi là yếu tố quan trọng cho phân bố của các loài ruồi ký sinh ở dơi

Trang 27

2.1.3 KBTB Cù Lao Chàm

2.1.3.1 Vị trí địa lý

CLC ở vị trí 15°57′2″ vĩ độ Bắc - 108°30′44″ kinh độ Đông, có địa giới hành chính thuộc xã Tân Hiệp, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam Quần đảo CLC nằm cách thành phố Hội An khoảng 15 km từ Cửa Đại về hướng Đông

2.1.3.2 Điều kiện tự nhiên

Tháng 10 năm 2003, KBTB Cù Lao Chàm được thành lập để giữ gìn sinh vật hoang dã trên đảo và là một trong 15 KBTB của Việt Nam Tổng diện tích của KBTB Cù Lao Chàm bao gồm 8 đảo: Hòn Lao, Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn Khô

Mẹ, Hòn Khô con, Hòn Lá, Hòn Tai, Hòn Ông và 5.175 ha mặt nước biển Trong quần đảo CLC, cư dân tập trung ở đảo Hòn Lao với khoảng 3.000 người được chia thành hai cụm cộng đồng dân cư Bãi Làng và Bãi Hương

CLC có nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, đặc biệt là các nguồn lợi về biển và rừng Tại CLC có 10 loài Thú thuộc 7 giống, 6 họ và 3 bộ , trong đó có 7 loài dơi sinh sống ở đây [5] Tài nguyên biển rất đa dạng, có 188 loài san hô, 66

loài thân mềm, 4 loài tôm Hùm (Panulirus longipes, P ornatus, P stimpsoni, P

versicolor) và một loài cua Charybdis feriata được tìm thấy trên các rạn san hô

Rạn san hô ở đây rất đa dạng về chủng loại, là nơi sinh sống của 200 loài cá

Thực vật ở CLC chủ yếu là cây bụi, đồi núi thấp Tuy nhiên, các loài thực vật ở dưới biển lại rất đa dạng về thành phần: có 47 loài thuộc 26 giống tảo lớn sống liên kết với các rạn san hô được tìm thấy trên đá cuội và san hô tại các vùng nước nông từ 0 - 5 m ở Bãi Bấc

KBTB Cù Lao Chàm nằm trong vùng biển Miền Trung, hàng năm hứng chịu nhiều cơn bão nên tài nguyên đa dạng sinh học cũng chịu ảnh hưởng nặng

nề Vùng nước xung quanh KBTB Cù Lao Chàm cũng phải đối mặt với ảnh hưởng của lũ lụt do mưa lớn gây xói lở vùng bờ từ đó dẫn đến suy thoái rạn và giảm sút nguồn lợi thủy sản sống trong rạn san hô và làm thay đổi cấu trúc quần

xã sinh vật vùng triều, đặc biệt là vùng triều bờ đá Hiện tượng nước biển dâng,

Trang 28

dẫn đến suy thoái mắt xích đầu tiên của chuỗi thức ăn cho động vật nổi, làm giảm nguồn thức ăn chủ yếu của các động vật tầng giữa và tầng trên, từ đó ảnh hưởng tới tập tính kiếm ăn của các loài động vật trên quần đảo

Sự suy thoái về hệ sinh thái và tác động của du lịch đã làm ảnh hưởng tới tập tính kiếm ăn và tập tính bầy đàn của các loài động vật trong đó có dơi và ruồi ký sinh ở dơi

2.2 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu

Tổng số 22 điểm thu mẫu dơi và ruồi ký sinh ở dơi được tiến hành ở 3 khu vực nghiên cứu Trong đó, 10 điểm ở VQG Cát Bà (xã Trân Châu), 4 điểm ở KRĐD Sốp Cộp (xã Sốp Cộp), 8 điểm ở KBTB Cù Lao Chàm (xã Tân Hiệp) Các điểm thu mẫu tập trung ở VQG Cát Bà vì sự đa dạng hơn về thành phần loài dơi so với hai khu vực còn lại [1], [2], [4], [5]

Hình 2.1 Các khu vực nghiên cứu

Trang 29

2.2.2 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trong hai năm từ tháng 10 năm 2015 đến tháng

10 năm 2017, các đợt thu mẫu ruồi ký sinh ở dơi tại mỗi địa điểm nghiên cứu được tiến hành như sau:

KRĐD Sốp Cộp: tháng 7/2017;

VQG Cát Bà: tháng 8/2015, tháng 10/2016;

KBTB Cù Lao Chàm: tháng 5 - tháng 6/2015, tháng 6 - tháng 7/2016 Thời gian còn lại, tác giả tiến hành thu thập tài liệu, phân tích mẫu vật, xử

lý số liệu và viết báo cáo

2.3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3.1 Vật liệu

2.3.1.1 Mẫu vật nghiên cứu

Nghiên cứu này được thực hiện dựa trên kết quả phân tích và định loại 40

cá thể ruồi ký sinh thu được ở 131 cá thể dơi Trong đó có 24 cá thể ruồi thu được ở VQG Cát Bà, 13 mẫu vật thu được ở KRĐD Sốp Cộp, 3 cá thể thu được

ở KBTB Cù Lao Chàm Các mẫu vật hiện được lưu trữ trong các tuýp bằng nhựa hoặc thủy tinh ở phòng Bảo tàng Động vật, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

2.3.1.2 Thiết bị nghiên cứu

Thiết bị thu mẫu dơi gồm có: lưới mờ, bẫy thụ cầm, vợt cầm tay, thước kẹp Panme, kính lúp cầm tay, túi đựng, găng tay, dụng cụ chứa mẫu (bình nhựa hoặc thủy tinh), máy ảnh, máy ghi siêu âm

Thiết bị thu mẫu ruồi ký sinh gồm có: cồn tuyệt đối 90%, chlorofom, tăm bông, găng tay y tế, tuýp đựng mẫu (bằng nhựa hoặc thủy tinh), kính lúp soi nổi, giấy ghi nhãn, bút ghi nhãn (mực không phai trong cồn), đĩa petri, kẹp mẫu, sổ ghi thực địa, GPS (Garmin, Japan) , và nhiều thiết bị để tách chiết trong phân tích DNA

Trang 30

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu

2.3.2.1 Thu và định loại vật chủ dơi

Các điểm thu mẫu ruồi ký sinh ở dơi dựa vào khu vực phân bố của dơi chủ yếu như: hang núi đá vôi, vườn cây ăn quả, rìa sông suối, rừng trồng, ao hồ, rừng ngập mặn

Phương pháp thu mẫu dơi trên thực địa được thực hiện theo Vũ Đình Thống và Neil M Furey (2008) [2], Vũ Đình Thống (2013) [3], Vũ Đình Thống

và cs (2015), (2016) [4], [5], [54] Dơi được bắt bằng bẫy thụ cầm (kích thước 1,2 x 1,5 m, bao gồm 4 khung kim loại) và lưới mờ có kích thước khác nhau (12,0 x 2,4 m; 12,0 x 4,0 m; 6,0 x 2,4 m; 6 x 3,2 m; 3,0 x 3,2 m; 3,0 x 2,4 m) Những thiết bị này được giăng trước cửa hang động nhỏ, lối mòn và suối cạn thuộc khu vực nghiên cứu Bẫy và lưới được mở và kiểm tra thường xuyên trong suốt khoảng thời gian từ khoảng 17h00 đến 22h30 hàng ngày để bắt kịp thời, tránh gây tổn thương đối với dơi Sau khi định loại sơ bộ và thu mẫu ruồi ký sinh trên thực địa, một số cá thể trưởng thành thuộc mỗi loài được giữ lại làm mẫu vật nghiên cứu ở Bảo tàng Động vật, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật Những cá thể cái đang trong thời kỳ mang thai hoặc cho con non bú được thả ngay sau khi bắt từ bẫy hoặc lưới, đảm bảo tính nhân đạo trong nghiên cứu động vật hoang dã, không gây ảnh hưởng đến con non và tỷ lệ sinh sản của dơi ở khu vực nghiên cứu [4], [54].

Hình 2.2 Thu mẫu dơi ngoài thực địa bằng lưới mờ và bẫy thụ cầm

Trang 31

2.3.2.2 Thu mẫu ruồi ký sinh

Mẫu ruồi ký sinh được thu bằng cách sử dụng tăm bông thấm đều chloroform lên vùng lông của dơi có quan sát thấy ruồi ký sinh; phổ biến ở gốc lông phần nách, sau loa tai và mặt dưới màng cánh Tất cả các mẫu được bảo quản trong ống nhựa hoặc thủy tinh chứa cồn 70% theo Hutson (1984) [14] Mẫu ruồi ký sinh thu được ở mỗi cá thể dơi được gắn ê-ti-ket và bảo quản riêng trong từng ống nghiệm tại Phòng Bảo tàng Động vật, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật Trong phạm vi của nghiên cứu này chỉ tập trung nghiên cứu và định loại những mẫu ruồi ký sinh trưởng thành

2.3.2.3 Xử lý mẫu vật trong phòng thí nghiệm

Phương pháp phân tích mẫu vật và xử lý hình ảnh

Các mẫu vật ruồi ký sinh ở dơi được cố định trong các lọ cồn 70% Sau khi làm sạch bằng dung dịch KOH, ruồi ký sinh được đưa ra đĩa petri trong đó có chứa cát mịn để giữ cho bề mặt của mẫu vật luôn ẩm ướt và cố định vị trí quan sát Mẫu vật được quan sát dưới kính hiển vi soi nổi Nikon SMZ1270 để mô tả các đặc điểm hình thái Việc định loại căn cứ vào mô tả và minh họa trong những tài liệu đã công bố có ghi nhận về các loài ngoại ký sinh ở dơi của Việt Nam và các nước lân cận [17], [35], [42], [46], [50], [51], [53]

Hình 2.3 Quan sát mẫu vật và xử lý hình ảnh tại phòng thí nghiệm

Trang 32

Bộ máy xử lý hình ảnh gồm: Kính hiển vi soi nổi Nikon AZ100 kết nối với máy ảnh siêu room Nikon NY1S Mỗi ảnh được chụp tương ứng với một độ phân giải khác nhau thông qua kính hiển vi Xử lý chồng ảnh bằng phần mềm photoshop Helicon Focus 6 bản Pro unlimited trên hệ điều hành Window 10 professional

μL 10% dung dịch Chelex-TE và 5 μl Qiagen Proteinase K) và ủ ở 56oC trong

24 giờ, sau đó được giữ nhiệt độ ở 99oC trong 10 phút để ngừng hoạt động Qiagen Proteinase K trong buồng trích ly

Khoảng 658 bp của vùng mã vạch DNA tiêu chuẩn gần đầu 5' của gen COI (gen ti thể) được khuếch đại bằng cách sử dụng bộ mồi LCO-EG/HCO-EG (Eguchi et al (2016)):

TTTCAACAAATCACAAAGAYATYGG,

TAAACTTCAGGRTGACCRAAAAATCA

Mỗi chu trình PCR chứa 5 μL dung môi 2xPCR, 2 μL dNTPs (0.4 mM), 0.3

μL 10 pmol/μL về phía trước và mồi ngược (0.3 μm kết thúc), 0.2 μL 1.0 U/μL DNA polymerase (KOD FX Neo TOYOBO KFX-2015), và 1,0 μL mẫu DNA Chế độ nhiệt PCR bao gồm một chu trình 2 phút ở 94°C; 5 chu kỳ với 10 giây ở 98°C, 30 giây ở 45°C và 45 giây ở 68°C; 40 chu kỳ với 10 giây ở 98°C, 30 giây

ở 48,5°C và 45 giây ở 68°C; và một chu kỳ cuối 7 phút ở 68°C Sản phẩm PCR được kiểm tra bằng phương pháp điện di trên gel agarose 2.0%, sau đó được ủ ở 37°C trong 15 phút và 80°C trong 15 phút để loại bỏ các đoạn mồi và các nucleotide còn sót lại Giải trình tự sử dụng máy giải trình tự tự động ABI

Trang 33

PRISM 3100 Trình tự ADN được đọc và phân tích sử dụng phần mềm ChromasPro 1.7.6 (Technelysium Pty Ltd., Australia) và MEGA 7 (Kumar và cs., 2016)

Chỉ số khoảng cách di truyền p-distance (tỉ lệ số lượng nucleotide khác nhau trên tổng số nucleotide được so sánh) được xây dựng và phân tích sử dụng phần mền Mega 7 Cây phát sinh dựa trên mô hình khoảng cách K2P được tạo ra thông qua phần mềm MEGA 7

Trang 34

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN

3.1 THÀNH PHẦN LOÀI RUỒI KÝ SINH Ở DƠI GHI NHẬN ĐƯỢC TRONG CÁC KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Cho đến nay, đã ghi nhận ở VQG Cát Bà, KRĐD Sốp Cộp, KBTB Cù Lao

Chàm có 12 loài thuộc 7 giống ruồi ký sinh ở dơi: Nycteribia sp., Basilia roylii,

Basilia pundibunda, Basilia burmensis, Basilia majuscula, Leptocyclopodia ferrari, Cyclopodia horsfieldi , Ascodipteron phyllorhinae, Ascodipteron wenzeli, Brachytarsina amboinensis, Brachytarsina cucullata, Maabella stomalata

Trong đó, có 6 loài mới ghi nhận ở Việt Nam: Nycteribia sp., Basilia roylii,

Basilia burmensis, Basilia majuscula, Basilia pundibunda, Cyclopodia horsfieldi

(họ Nycteribiidae), 1 loài thuộc họ Streblidae: Brachytarsina cucullata Kết quả

về thành phần loài và địa điểm ghi nhận ruồi ký sinh (Diptera: Streblidae, Nycteribiidae) ở khu vực nghiên cứu được tổng kết ở bảng 3.1

Bảng 3.1 Danh sách và địa điểm ghi nhận ruồi ký sinh ở dơi trong các KVNC

S

T

Địa điểm ghi nhận

Trang 35

*: loài mới ghi nhận ở Việt Nam VQGCB: Vườn Quốc gia Cát Bà, KRĐDSC: Khu

Rừng đặc dụng Sốp Cộp, KBTBCLC: Khu Bảo tồn biển Cù Lao Chàm

Kết quả nghiên cứu cho thấy, họ Nycteribiidae có 7 loài, có số lượng loài

nhiều hơn so với họ Streblidae (5 loài) tại KVNC Trong đó, giống Basilia có 4

loài (33,33%) chiếm ưu thế tuyệt đối trong danh sách, điều này hoàn toàn phù hợp

vì các loài trong giống đều có phân bố rộng trong khu vực và trên thế giới Tiếp

đến là giống Ascodipteron và Brachytarsina; mỗi giống chỉ có 2 loài (16,67%),

các loài trong giống này đều đã có ghi nhận tại Hà Tĩnh (Vũ Quang), Tuyên

Quang (Na Hang) [16], [19] Các giống còn lại (Nycteribia, Leptocyclopodia,

Cyclopodia, Maabella) mỗi giống chỉ có 1 loài, chiếm 8,33%

Tỷ lệ các loài ruồi ký sinh không cánh (Nycteribiidae) và các loài ruồi ký

sinh có cánh (Streblidae) cân bằng ở khu vực nghiên cứu Có 7 loài (Nycteribia sp., Basilia roylii, Basilia pundibunda, Basilia burmensis, Basilia majuscula,

Leptocyclopodia ferrari, Cyclopodia horsfieldi)thuộc họ Nycteribiidae và 5 loài

(Ascodipteron phyllorhinae, Ascodipteron wenzeli, Brachytarsina amboinensis,

Brachytarsina cucullata, Maabella stomalata) thuộc họ Streblidae Tỷ lệ này

không chênh lệch bằng khu hệ Vũ Quang (Hà Tĩnh) nhưng cao hơn các khu hệ miền Trung và Tây Nguyên [17], [20], [21] Hầu hết các loài ruồi ký sinh ở dơi

ở khu vực nghiên cứu là các loài đã ghi nhận ở Việt Nam và các nước lân cận

Tổng số 5 loài ruồi ký sinh ở dơi phân bố ở hai trong ba khu vực nghiên cứu (bảng 3.1) Trong đó có 2 loài cùng phân bố ở VQG Cát Bà và KBTB Cù Lao Chàm, 2 loài cùng phân bố ở KRĐD Sốp Cộp và VQG Cát Bà, 1 loài cùng phân

bố ở KRĐD Sốp Cộp và KBTB Cù Lao Chàm Đây cũng là những loài có ghi nhận phân bố rộng trong khu vực, điều này cũng phù hợp với sự phân bố của các vật chủ dơi Số lượng loài ruồi ký sinh ở các khu vực nghiên cứu chênh lệch

Trang 36

Cộp (6 loài), KBTB Cù Lao Chàm chỉ có 3 loài Những nghiên cứu trước đây

cũng chỉ ra VQG Cát Bà có số lượng các loài dơi phong phú hơn so với các khu

vực còn lại Tuy nhiên, các xét nghiệm trên 131 vật chủ dơi ở 3 khu vực nghiên

cứu mới chỉ là những ghi nhận bước đầu

Kết quả phân tích trình tự DNA trên đoạn gen COI kích thước 658bp, cho

thấy mối quan hệ của 12 loài ruồi ký sinh ở dơi trong các KVNC (hình 3.1) Kết

quả này tương tự với kết quả phân tích các đặc điểm hình thái trong phân loại

học

Hình 3.1 Sơ đồ mối quan hệ di truyền giữa một số nhóm loài ở KVNC

(Nhóm A: các loài ruồi ký sinh không có cánh, nhóm B: các loài ruồi ký sinh có

cánh)

Kết quả cho thấy các loài ruồi ký sinh ở dơi tại KVNC được chia thành

hai nhóm lớn Nhóm A bao gồm các loài ruồi ký sinh không có cánh: Nycteribia

sp., Basilia roylii, Basilia pundibunda, Basilia burmensis, Basilia majuscula,

Leptocyclopodia ferrari, Cyclopodia horsfieldi Nhánh 1 chỉ có loài Basilia

pundibunda thể hiện sự giống nhau về mặt di truyền của các cá thể cùng loài Giữa

Trang 37

nhánh 1 và nhánh 2 có sự khác biệt giữa các giống Basilia và Leptocyclopodia,

Cyclopodia Ngay trong một nhánh, loài Leptocyclopodia ferrari và loài Cyclopodia horsfieldi được tách thành hai nhánh riêng biệt Nhánh 3 có quan hệ

không gần gũi với hai nhánh trên nhưng lại thể hiện sự rõ gần gũi trong quan hệ

của loài Basilia majuscula Đáng lưu ý, loài Nycteribia sp cũng nằm trong nhánh này nhưng hoàn toàn tách ra một nhánh nhỏ so với Basilia majuscula

Nhóm B gồm các loài ruồi ký sinh có cánh: Ascodipteron phyllorhinae,

Ascodipteron wenzeli, Brachytarsina amboinensis, Brachytarsina cucullata, Maabella stomalata Các loài Ascodipteron phyllorhinae, Ascodipteron wenzeli, Brachytarsina amboinensis, Brachytarsina cucullata được xếp riêng một nhánh

Chỉ riêng loài Maabella stomalata bị tách thành một nhánh độc lập

Như vậy, phần lớn các loài được phân tích di truyền đã được ghi nhận ở Việt Nam, việc phân tích gen COI có thể phù hợp với một nhóm loài mà không đặc hiệu với những nhóm loài khác

Họ NYCTERIBIIDAE

Giống Nycteribia Latreille, 1976

a) Nycteribia sp

Vật chủ: Rhinolophus pusillus (họ Rhinolophidae), mã số DC.22062014.2

Vật mẫu nghiên cứu: Mã số: EC.22062014.2 (♂), địa điểm: Sơn La (KRĐD

Sốp Cộp)

Mô tả:

Thân dài từ 3,0 - 5,0 mm Cơ thể màu nâu, dẹt theo hướng lưng-bụng Đầu: Dạng thon dài Phía trên đỉnh đầu có 2 lông dài, xung quanh được phủ nhiều lông ngắn Hai mắt màu đen, cách xa nhau Hai hàng 6-8 lông setae xếp phía sau đầu tạo thành khoảng trống ở giữa Labella của vòi hút ngắn hơn so với theca (hình 3.2C)

Ngực: Dạng dẹt, khoảng cách bề ngang lớn hơn khoảng cách chiều dài của phần ngực Trên ngực có hai rãnh chéo nhau một góc 95o là phần thân của

Trang 38

mesopleural sutures và mesonotum là notopleural suture, đây là đường màu nâu sẫm xuất phát từ phía cơ quan thăng bằng (haltere) kéo dài về phía đầu Trên phần thân mesopleural sutures có từ 6 - 11 lông cứng xếp thành hàng Đỉnh nhọn mesopleural sutures phát triển mạnh về phía gắn các đôi chân trên phần ngực Cẳng chân hình ống, chiều dài gấp 4 - 5 lần chiều rộng, trên đó có nhiều lông mềm (hình 3.2A, 3.2B)

Hình 3.2 Đặc điểm hình thái của loài Nycteribia sp (A: mặt lưng, B: mặt bụng,

C: đầu, D: cơ quan sinh dục đực, thước tỷ lệ 0,5 mm)

Bụng

Bụng con đực: Phần bụng ngắn, đốt ngực thứ nhất lõm về phía sau có một

hàng lông hoặc gai ngắn ở phía trên Trên đốt bụng thứ 2 và thứ 3 được xếp các hàng lông có kích thước ngắn hoặc trung bình Đốt bụng thứ 4 đến thứ 6 ngắn có

2 - 4 lông dài xen vào giữa hàng lông có độ dài trung bình Hậu môn hình nón, mặt dưới được che bởi một hàng lông mềm Phía mặt dưới, các tấm sternite 1+2 rộng hơn các tấm còn lại, ngăn cách với tấm sternite thứ 3 bởi một hàng khoảng

45 lông ctenidium rất cứng, màu đen; tấm sternite thứ 4 chỉ có một hàng gai

0,5 mm

D

Trang 39

ngắn và nhọn cho đến rất nhọn Tấm Sternite thứ 5 được xếp hai hàng khoảng

15 gai ngắn ở rìa sau (hình 3.2A, 3.2B)

Bộ phận sinh dục đực: Dài bằng 2/3 chiều dài phần bụng Bao gồm hai

nhánh clasper màu vàng nhạt, mảnh hơn ở các loài cùng giống Nycteribia, hơi cong xuống phía bụng nhưng không cong bằng các loài thuộc giống Basilia,

dương vật (aedeagus) ngắn ẩn bên dưới clasper và nằm chính giữa hai paramere hình bầu dục, nhọn về phía đỉnh (hình 3.2D)

Phân bố:

Việt Nam: Sơn La (Sốp Cộp)

Ghi chú: Trong nghiên cứu này, mẫu vật nghiên cứu Nycteibia sp gồm 1 cá thể

đực ở loài dơi Rhinolophus pusillus, Nycteribia sp là loài mới ghi nhận cho khu

hệ ruồi ký sinh ở dơi ở Việt Nam

Giống Basilia Miranda Ribeiro, 1903

b) Basilia roylii (Westwood, 1835)

Synonym:

Nycteria roylii Westwood, 1835

Cyclopodia roylii (Westwood, 1835)

Paracyclopodia roylii (Westwood, 1835)

Basilia (Paracyclopodia) roylii (Westwood, 1835)

Vật chủ: Hipposideros alongensis (họ Hipposideridae), mã số: T.300915.1;

Rhinolophus pusillus (họ Rhinolophidae), mã số: T.180717.2

Vật mẫu nghiên cứu: EC.300915.1 (♀), địa điểm: Hải Phòng (Cát Bà);

EC.180717.2 (♂), địa điểm: Quảng Nam (Cù Lao Chàm)

Mô tả:

Cơ thể dài từ 2,5 - 3,0 mm Toàn bộ cơ thể màu nâu, dẹt theo hướng

lưng-bụng

Trang 40

Đầu: dạng thon dài Phía trên đỉnh đầu được phủ nhiều lông ngắn Một hàng 6-8 lông setae xếp phía sau đầu tạo thành khoảng trống Labella của vòi hút ngắn hơn so với theca (hình 3.3C)

Ngực: dạng dẹt, khoảng cách bề ngang lớn hơn khoảng cách chiều dài của phần ngực Trên ngực có hai rãnh chéo nhau một góc 95o là phần thân của mesopleural sutures phát triển thành 3 nhánh về phía hai chi sau Ngăn cách giữa mesopleural sutures và mesonotum là notopleural suture, đây là đường màu nâu sẫm xuất phát từ phía cơ quan thăng bằng (haltere) kéo dài về phía đầu Trên phần thân mesopleural sutures có từ 6 - 11 lông cứng xếp thành hàng Đỉnh nhọn mesopleural sutures phát triển mạnh về phía gắn các đôi chân trên phần ngực Cẳng chân dài gấp 4 - 5 lần chiều rộng, trên đó có 3 hàng lông cứng ngắn xếp dọc theo chiều gấp của cẳng chân (hình 3.3A, 3.3B)

Hình 3.3 Đặc điểm hình thái của loài Basilia roylii (A: mặt lưng, B: mặt bụng,

C: đầu, D: cơ quan sinh dục đực, thước tỷ lệ 0,5 mm)

0,5 mm

C

D

Ngày đăng: 24/02/2021, 13:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w