1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và mức đạm bón đến sinh trưởng phát triển và năng suất của giống lạc l18 trong điều kiện vụ hè thu năm 2017 tại huyện yên thủy tỉnh hòa bình

97 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 2,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, việc đầu tư nghiên cứu để tăng năng suất và mở rộng diện tích trồng lạc có ý nghĩa hết sức quan trọng, trong đó cần tập trung nghiên cứu mật độ trồng phù hợp và liều lượng bón đạ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HUYỆN YÊN THỦY, TỈNH HÒA BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

THÁI NGUYÊN – NĂM 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Văn Điền

THÁI NGUYÊN – NĂM 2018

Trang 3

i

LỜI CAM ĐOAN

- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày 10 tháng 8 năm 2018

Tác giả luận văn

Vũ Hồng Thanh

Trang 4

ii

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của cơ quan, các thầy cô, bạn bè đồng nghiệp, gia đình

Trước tiên tôi xin bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Văn

Điền người đã tận tình hướng dẫn và đóng góp những ý kiến quý báu trong quá

trình thực hiện và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Nông học và Phòng đào tạo - Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn tới tất cả các đồng nghiệp, bạn bè và người thân

đã luôn động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này

Tác giả luận văn

Vũ Hồng Thanh

Trang 5

iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích và yêu cầu: 2

2.1 Mục đích 2

2.2 Yêu cầu 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài: 3

3.1 Ý nghĩa khoa học 3

3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.1.1 Vai trò của cây lạc trong hệ thống cây trồng 4

1.1.2 Cơ sở khoa học của bón phân đạm cho cây lạc: 5

1.1.3 Cơ sở khoa học xác định mật độ cho cây lạc: 6

1.2 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới và trong nước: 7

1.2.1 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới 7

1.2.2 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam: 8

1.2.3 Tình hình sản xuất lạc của tỉnh Hòa Bình 9

1.2.4 Tình hình sản xuất lạc trên địa bàn huyện Yên Thuỷ 10

1.3 Một số kết quả nghiên cứu về cây lạc trên thế giới và Việt Nam 13

1.3.1 Kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống lạc trên thế giới và Việt Nam 13

1.3.2 Kết quả nghiên cứu về bón phân cho lạc trên thế giới và Việt Nam: 18

Trang 6

iv

1.3.3 Kết quả nghiên cứu về mật độ và khoảng cách trồng cho lạc trên thế

giới và Việt Nam 25

1.4 Điều kiện sinh thái của cây lạc 27

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

2.1 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 30

2.1.1 Vật liệu nghiên cứu 30

2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu: 30

2.2 Nội dung nghiên cứu: 30

2.3 Phương pháp nghiên cứu 31

2.3.1 Bố trí thí nghiệm 31

2.3.2 Quy trình kỹ thuật áp dụng trong thí nghiệm: 32

2.4 Các chỉ tiêu theo dõi 33

2.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi về sinh trưởng, phát triển 33

2.4.2 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 34

2.4.3 Mức độ nhiễm sâu bệnh 35

2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 36

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37

3.1 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng bón đạm đến một số chỉ tiêu sinh trưởng của giống lạc L18 trong điều kiện vụ Hè Thu năm 2017 37

3.1.1 Ảnh hưởng của mật độ và mức đạm bón đến tỷ lệ mọc mầm và thời gian các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của giống lạc L18 37

3.1.2 Ảnh hưởng của mật độ và mức đạm bón đến khả năng phân cành cấp 1 và chiều cao thân chính của giống lạc L18 40

3.1.3 Ảnh hưởng của mật độ và và mức đạm bón đến chỉ số diện tích lá (LAI) giống lạc L18 42

3.1.4 Ảnh hưởng của mật độ và mức đạm bón đến sự hình thành nốt sần hữu hiệu của giống lạc L18 45

Trang 7

v

3.2 Ảnh hưởng của mật độ và mức đạm bón đến mức độ nhiễm sâu bệnh hại

của giống lạc L18 trong điều kiện vụ Hè Thu năm 2017 48

3.3 Ảnh hưởng của mật độ và mức đạm bón đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất giống lạc L18 51

3.4 Hiệu quả kinh tế 57

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 59

1 Kết luận 59

2 Đề nghị 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 60

Trang 8

NSLT Năng suất lý thuyết

NSTT Năng suất thực thu

Trang 9

vii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của các châu lục trên thế giới

năm 2016 7

Bảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc ở Việt Nam 9

Bảng 1.3 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của tỉnh Hoà Bình 10

Bảng 1.4 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của huyện Yên Thủy 11

Bảng 3.1 Ảnh hưởng của mật độ và liều lượng bón đạm đến tỷ lệ mọc và thời gian các giai đoạn sinh trưởng giống lạc L18 38

Bảng 3.2 Ảnh hưởng của mật độ và mức đạm bón đến khả năng phân cành cấp 1 và chiều cao thân chính của giống lạc L18 40

Bảng 3.3 Ảnh hưởng của mật độ và và mức đạm bón đến chỉ số diện tích lá giống lạc L18 43

Bảng 3.4 Ảnh hưởng của mật độ và mức đạm bón đến sự hình thành nốt sần hữu hiệu của giống lạc L18 46

Bảng 3.5 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến khả năng chống chịu sâu bệnh của giống lạc L18 48

Bảng 3.6 Ảnh hưởng của mật độ và mức đạm bón đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất giống lạc L18 52

Bảng 3.7 Ảnh hưởng của mật độ và mức đạm bón đến năng suất 55

Bảng 3.8 Ảnh hưởng của mật độ đến thu nhập thuần của giống lạc L18 58

Trang 10

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây lạc (Arachis hypogaea L.) là cây công nghiệp, cây thực phẩm ngắn

ngày, Từ xưa đến nay, cây lạc đóng vai trị quan trọng trong đời sống và kinh

tế của nhiều quốc gia trên thế giới Cây lạc cung cấp thực phẩm cho con người, thức ăn cho chăn nuôi, cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp

Hạt lạc chứa nhiều khoáng chất Ca, Fe, Mg, P, K, Zn và một lượng vitamin lớn, đặc biệt là vitamin B Dầu của hạt lạc chủ yếu chứa axit béo chưa

no giúp cơ thể con người dễ hấp thụ và hạn chế lượng cholesterol trong máu

Vì thế, ngoài là thức ăn giàu năng lượng, đủ protein, người ta còn quan tâm đến tác dụng chữa bệnh của hạt lạc Bằng những nghiên cứu sâu, y học hiện đại đã cho thấy hạt lạc có tác dụng hạn chế được nhiều loại bệnh Lạc là thức

ăn rất tốt đối với bệnh nhân bị tiểu đường vì nó ngăn cản dinh dưỡng gây tăng nhanh nồng độ đường trong máu, và còn bổ sung sự thiếu hụt niacin cho bệnh nhân bị mắc chứng tiêu chảy mãn tính

Chính vì vậy, cây lạc vẫn giữ một vai trò quan trọng trong số những cây làm thực phẩm cho người Lạc được trồng phổ biến ở nhiều vùng trên thế giới nhất là Châu Phi và Châu Á

Yên Thủy là một trong những huyện trồng lạc trọng điểm của tỉnh Hòa Bình với diện tích hàng năm khoảng 2000ha; trong đó vụ Xuân chiếm 80%

Trang 11

và PTNT, chưa có nghiên cứu tổng hợp nào để làm cơ sở xây dựng quy trình riêng cho cây lạc ở huyện Yên Thủy Do vậy, việc đầu tư nghiên cứu để tăng năng suất và mở rộng diện tích trồng lạc có ý nghĩa hết sức quan trọng, trong

đó cần tập trung nghiên cứu mật độ trồng phù hợp và liều lượng bón đạm hợp

lý là rất cần thiết để tăng hiệu quả năng suất lạc tại huyện Yên Thủy Xuất

phát từ những phân tích trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và mức đạm bón đến sinh trưởng phát triển và năng suất của giống Lạc L18 trong điều kiện vụ Hè Thu năm 2017 tại huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình”

2 Mục đích và yêu cầu:

2.1 Mục đích

Xác định được ảnh hưởng của mật độ trồng và liều lượng đạm bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lạc L18 góp phần hoàn thiện quy trình trồng giống lạc L18 trồng trong điều kiện vụ Hè Thu năm 2017

2.2 Yêu cầu

- Đánh giá được ảnh hưởng của mật độ trồng và liều lượng đạm bón đến sinh trưởng, phát triển của giống lạc L18

Trang 12

3

- Đánh giá được ảnh hưởng của mật độ và liều lượng đạm bón đến năng suất, các yếu tố cấu thành năng suất và hiệu quả kinh tế của giống lạc L18

- Xác định ảnh hưởng tương tác giữa mật độ và lượng đạm bón tới một

số chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển của giống lạc L18

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:

Trang 13

4

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Vai trò của cây lạc trong hệ thống cây trồng

Bên cạnh giá trị dinh dưỡng và kinh tế, cây lạc còn đóng vai trò quan trọng trong việc cải tạo đất nhờ khả năng cố định đạm Rễ lạc có thể tạo các

nốt sần do vi sinh vật cộng sinh cố định đạm đó là Rhizobium vigna hình

thành Trong điều kiện thuận lợi có thể cố định được lượng đạm tương đối lớn

từ 200-260 kg N/ha Chính nhờ khả năng cố định đạm, thành phần hoá tính của đất trồng sau khi thu hoạch lạc được cải thiện rõ rệt, lượng đạm trong đất tăng và hệ vi sinh vật hảo khí trong đất được tăng cường có lợi đối với các cây trồng sau, nhất là đối với các loại cây trồng cần sử dụng nhiều N (cây Ngô, cây Mía, cây sắn ) đang trồng phổ biến ở địa phương

Kết quả nghiên cứu cơ cấu cây trồng tại Trung Quốc, đặc biệt là việc thử nghiệm công thức luân canh các cây trồng cạn với lúa đã rút ra những kết luận có ý nghĩa khoa học và thực tiễn là: Khi đưa các cây họ đậu vào luân canh với lúa, giúp cho cải thiện tính chất lý, hoá của đất một cách rõ rệt, làm thay đổi pH của đất, tăng hàm lượng chất hữu cơ, cải tạo thành phần cơ giới, tăng lượng lân, kali dễ tiêu trong đất (Fu Hsiung Lin, 1990) [34]

Các cây trồng luân canh phổ biến ở vùng sản xuất lạc là: lúa nước, mía, ngô… Ở vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ, do vụ hè trùng với mùa mưa, địa hình thuận lợi cho cấy lúa mùa cho nên vùng sản xuất lạc thường trồng lạc xuân luân canh với lúa mùa (2 vụ/năm) hoặc thêm cây vụ đông (ở vùng sản xuất được 3 vụ/năm) Vùng không cấy được lúa thường luân canh lạc với ngô, mía, sắn, vừng …

Trang 14

5

Kết quả nghiên cứu của tác giả (Nguyễn Tiến Mạnh, 1995))[21] cho thấy: trên đất bạc màu nhờ nước trời thì sản xuất lạc đạt hiệu quả kinh tế cao nhất Trên đất cát ven biển trong vụ xuân nếu trồng các cây như lạc, lúa, ngô, khoai lang thì cây lạc có hiệu quả kinh tế cao nhất (Nguyễn Tiến Mạnh, 1995) [21]

1.1.2 Cơ sở khoa học của bón phân đạm cho cây lạc:

Nitơ có vai trò quan trọng đối với sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây lạc nói riêng và cây trồng nói chung; bởi nó tham gia vào thành phần của nhiều hợp chất hữu cơ quan trọng trong các hoạt động sống của cây như: protein, diệp lục, ADN, ARN…

Do đó, thiếu đạm cây sinh trưởng kém, lá vàng, thân có màu đỏ, chất khô tích luỹ bị giảm, số quả và khối lượng quả đều giảm Thiếu đạm nghiêm trọng dẫn tới lạc ngừng phát triển quả và hạt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển

nông thôn, 2005) [2]

Vì vậy, đạm là yếu tố dinh dưỡng có tác dụng rất lớn đối với sự sinh trưởng, phát triển thân, lá, cành của cây lạc và số quả, số hạt và khối lượng hạt nên có ảnh hưởng đến năng suất của cây lạc (Vũ Công Hậu và cs., 1995) [15]

Lạc được cung cấp đạm bởi 2 nguồn: đạm do bộ rễ hấp thu từ đất và đạm cố định ở nốt sần do hoạt động cố định N2 của vi khuẩn cộng sinh cố định đạm Chính nhờ hoạt động cố định đạm của vi khuẩn nốt sần mà nguồn đạm cố định được có thể đáp ứng được 50 - 70% nhu cầu đạm của cây (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2005) Vì vậy, lượng đạm bón cho lạc thường giảm, đặc biệt trên đất có thành phần cơ giới nhẹ, thoát nước tốt và pH trung tính (Lê Song Dự và Trần Nghĩa, 1995)[10]

Lượng đạm Lạc hấp thu rất lớn: để đạt 1 tấn lạc quả khô cần sử dụng tới 50

- 70 kg N Thời kỳ lạc hấp thu đạm nhiều nhất là thời kỳ ra hoa - làm quả và hạt Thời kỳ này chỉ chiếm 25% thời gian sinh trưởng của lạc nhưng hấp thu tới 40 - 45% nhu cầu đạm của cả chu kỳ sinh trưởng (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2005)[2]

Trang 15

6

1.1.3 Cơ sở khoa học xác định mật độ cho cây lạc:

Mật độ và khoảng cách gieo trồng là hai yếu tố ảnh hưởng nhiều đến năng suất lạc Giải quyết tốt vấn đề về mật độ tức giải quyết tốt mối quan hệ giữa sinh trưởng và phát triển của các cá thể làm cho quần thể cây lạc khai thác tốt nhất khoảng không gian (không khí, ánh sáng) và mặt đất (khai thác nước, dinh dưỡng trong đất) nhằm thu được sản lượng cao nhất trên một đơn vị diện tích

Mật độ càng cao mức độ cạnh tranh diễn ra càng quyết liệt Dưới đất cây lạc cạnh tranh nhau về nước, dinh dưỡng trong đất và khoảng trống trong đất để phát triển củ Khi đất không cung cấp đủ cho nhu cầu của cây thì cây sẽ phát triển kém, củ sẽ nhỏ Trên khoảng không gian, để có thể lấy được ánh sáng khi phải cạnh tranh với các cây khác cây sẽ phải tăng trưởng chiều cao một cách tối đa chính vì vậy sẽ làm cho cây yếu, sức chống chịu kém trước các điều kiện ngoại cảnh

Khi trồng ở mật độ thấp cây sẽ không phải cạnh tranh nhau nhiều do vậy cây sẽ có điều kiện phát triển tốt cho năng suất cá thể cao nhưng năng suất quần thể lại giảm, bên cạnh đó cây sẽ bị ảnh hưởng nhiều bởi điều kiện ngoại cảnh do tính quần thể bị giảm, quả của cây sẽ bị phân cành do bộ rễ của cây sẽ phát triển theo chiều ngang vì không phải cạnh tranh nhiều với bộ rễ của các cây khác điều này sẽ làm giảm phẩm cấp của quả lạc Mật độ trồng thích hợp

sẽ giúp cho cây sử dụng được tối đa các điều kiện của đồng ruộng từ đó giúp cây sinh trưởng phát triển tốt, khả năng tích luỹ của cây tăng từ đó có thể tăng năng suất và tăng sản lượng cũng như hiệu quả kinh tế

Để giống phát huy hết tiềm năng, cần nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật phù hợp trong đó mật độ và bón lượng đạm hợp lý góp phần nâng cao năng suất lạc

Trang 16

7

1.2 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới và trong nước:

1.2.1 Tình hình sản xuất lạc trên thế giới

Cây lạc (Arachis Hypogaea L) là cây lấy dầu có giá trị kinh tế cao và

chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế thế giới Cây lạc mặc dù có nguồn gốc từ Nam Mỹ nhưng hiện nay được phân bố rộng trong phạm vi từ 40o vĩ Bắc đến 40o vĩ Nam (Nguyễn Xuân Hồng và Nguyễn Thị Yến, 2000) [17] Tình hình sản xuất lạc trên thế giới được trình bày trong bảng 1.1

Bảng 1.1: Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của các châu lục

trên thế giới năm 2016

(triệu ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (triệu tấn)

Tuy châu Phi có diện tích trồng lạc lớn nhất nhưng năng suất lại thấp nhất trong các châu lục chỉ đạt 9,03 tạ/ha, năng suất cao nhất là châu Mỹ đạt 33,81 tạ/ha Sản lượng châu Á cao nhất đạt 26,6 triệu tấn, thấp nhất là châu

Âu đạt 3,57 triệu tấn

Tóm lại, thành công trong tăng năng suất, sản lượng lạc, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế ở các nước trên thế giới đầu tư cho công tác nghiên cứu

Trang 17

8

và ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất, trong đó chú trọng tới yếu tố giống mới năng suất, chất lượng và thích nghi tốt với điều kiện sinh thái Đồng thời áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật thâm canh tăng năng suất như: phân bón, mật độ, phương thức gieo

1.2.2 Tình hình sản xuất lạc ở Việt Nam:

Ở nước ta, cây lạc được trồng rộng rãi khắp các vùng trong cả nước, trên nhiều loại đất và địa hình khác nhau Diện tích trồng lạc nhìn chung có

xu hướng giảm Năm 2007, diện tích trồng lạc của cả nước đạt cao nhất 254,5 nghìn ha, tuy nhiên theo số liệu sơ bộ năm 2016, diện tích lạc của nước ta chỉ còn 191,3 nghìn ha (Tổng cục thống kê, 2018) [28]

Năng suất lạc ở Việt Nam còn ở mức thấp so với các nước trồng lạc trên thế giới cũng như trong khu vực Đông Nam Á Tuy nhiên, năng suất lạc trong giai đoạn 2007 - 2016 có chiều hướng gia tăng và đạt 23,1 tạ/ha năm 2016

Sản lượng lạc ở nước ta trong giai đoạn 2007- 2016 có sự biến động do

sự thay đổi năng suất Năm 2008 sản lượng lạc của cả nước đạt cao nhất là 530,2 nghìn tấn, tăng 49,2% so với năm 2000 (sản lượng 355,3 nghìn tấn), sau đó sản lượng lạc có xu hướng giảm; sơ bộ năm 2016, sản lượng lạc của Việt Nam chỉ đạt 441,1 nghìn tấn (Tổng cục thống kê, 2018) [28]

Sản xuất lạc được phân bố ở trên tất cả các vùng sinh thái nông nghiệp Việt Nam Theo tổng cục thống kê những vùng trồng lạc chính của nước ta hiện nay là Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (92,7 nghìn ha năm 2013), Trung du và miền núi phía Bắc (38,2 nghìn ha), Đồng Bằng sông Hồng (19,3 nghìn ha), Tây Nguyên (11,3 nghìn ha) và Đông Nam Bộ (19,4 nghìn ha) Các tỉnh có diện tích trồng lạc trên 10 nghìn ha năm 2013 là Nghệ An (19,6 nghìn ha), Hà Tĩnh (17,3 nghìn ha), Thanh Hoá (13,5 nghìn ha) và Bắc Giang (11,7 nghìn ha) Các tỉnh có sản lượng lạc hàng năm lớn nhất là Nghệ An (44,5 nghìn

Trang 18

9

tấn năm 2013), Hà Tĩnh (40,8 nghìn tấn), Bình Định (30 nghìn tấn), Bắc Giang (28,8 nghìn tấn), Thanh Hoá (27,6 nghìn tấn) (Tổng cục thống kê, 2018) [28] Năng suất lạc ở phía Bắc thường thấp hơn năng suất lạc ở các tỉnh phía Nam Tuy nhiên, bước đầu đã có một số tỉnh đạt năng suất lạc bình quân cao như: Nam Định 39,2 tạ/ha nhờ áp dụng giống mới và kỹ thuật che phủ nilon; Tuyên Quang 25,7 tạ/ha

Bảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc ở Việt Nam

1.2.3 Tình hình sản xuất lạc của tỉnh Hòa Bình

Tại Hoà Bình, theo số liệu của tổng cục thống kê, sản xuất lạc của tỉnh trong những năm qua có xu hướng giảm về diện tích và tăng về năng suất, sản lượng Nhìn chung, năng suất lạc của tỉnh đạt trung bình so với mặt bằng cả nước Năm 2012, năng suất lạc bình quân toàn tỉnh đạt 14,9 tạ/ha và đến năm

2016 đạt 18,5 tạ/ha, tăng 24,2% so với năm 2012 Có được kết quả này là do tỉnh Hoà Bình đã có nhiều chính sách đầu tư phát triển nông nghiệp nói chung

Trang 19

10

và sản xuất lạc nói riêng Đưa nhiều giống mới như L14, L18, L23, MD7, TB25 vào cơ cấu giống lạc của tỉnh Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu cụ thể cho từng giống và liều lượng phân bón cụ thể Vì vậy quy trình sản xuất lạc vẫn chung cho cả tỉnh, chưa xây dựng được quy trình kỹ thuật sản xuất lạc áp dụng cho từng giống và vùng sinh thái khác nhau trên địa bàn tỉnh

Trong quá trình sản xuất thực tiễn, hầu hết các giống lạc nêu trên đều thích nghi tốt với điều kiện thâm canh, chủ động nước tưới, tuy nhiên khi trồng tại các vùng phụ thuộc nước trời đã bộc lộ nhiều hạn chế như: chịu hạn kém, nhiễm sâu bệnh nhiều dẫn tới năng suất thấp

Bảng 1.3 Diện tích, năng suất và sản lượng lạc của tỉnh Hoà Bình

(Niên giám thống kê Hoà Bình, 2018)[24]

Qua bảng trên cho ta thấy, diện tích trồng lạc tại tỉnh Hoà Bình luôn duy trì ổn định diện tích 4.400 - 4.500 ha, năng suất, sản lượng tăng dần theo các năm, vì vậy nghiên cứu áp dụng giống năng suất, chất lượng và lượng phân bón phù hợp cho điều kiện sinh thái từng vùng trong tỉnh là rất cần thiết

1.2.4 Tình hình sản xuất lạc trên địa bàn huyện Yên Thuỷ

Đối với huyện Yên Thuỷ cây Lạc là một trong những cây trồng chính được trồng với diện tích lớn trong vụ Xuân đặc biệt là ở những vùng đất một

vụ lúa một vụ màu Diện tích trồng lạc hàng năm của huyện khoảng 2.000 ha

Về thời vụ: lạc được gieo trồng ở 2 vụ: Lạc xuân (vụ chính) và vụ hè thu

Trang 20

(Niên giám thống kê Hoà Bình, 2018)[24]

Qua bảng trên ta thấy huyện Yên Thủy về diện tích xu hướng tăng giảm không ổn định ước tính năm 2018 chỉ còn 1.910,9 ha, nhưng đổi lại nhờ có những biện pháp kĩ thuật thâm canh canh tác tốt như bón phân, mật độ thời vụ làm năng suất Lạc huyện Yên Thủy tăng đáng kể qua các năm cụ thể năm 2012 đạt 11,61 tạ/ha ước tính đến năm 2018 đạt 24,62 tạ/ha Sản lượng tăng mạnh từ năm 2012 đến 2017 đạt 2.428,6 tấn – 5.001,7 tấn tuy nhiên theo ước tính năm 2018 sản lượng lạc giảm xuống còn 4.705,6 tấn

Vụ lạc xuân: gieo từ 25/1 - 20/2, thu hoạch 25/5 - 20/6 Đầu vụ thường gặp rét và hạn làm ảnh hưởng xấu đến khả năng nảy mầm và tỷ lệ mọc của cây lạc Cuối vụ có mưa lụt và nhiệt độ cao dễ làm cho lạc nảy mầm ngay trên ruộng, gây ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng và việc thu hoạch, bảo quản lạc

Vụ lạc hè thu gieo từ 25/6 - 20/7, thu hoạch trong tháng 10, đây là thời

vụ không thuận lợi cho lạc sinh trưởng phát triển do gặp mưa nhiều, nhiệt độ cao, nhiều sâu bệnh hại, do đó năng suất thấp hơn lạc xuân

Trang 21

12

Về cơ cấu giống lạc: trước đây trồng rất nhiều giống lạc nên năng suất, sản lượng rất thấp Từ năm 2005 - nay, huyện Yên Thuỷ đã đưa nhiều giống lạc mới có năng suất cao vào trồng khảo nghiệm trên địa bàn như: L08, L14, L20, L23 L18, MD7, TB25 và đã chọn được 3 giống đưa vào cơ cấu chính

là L18, L14 và TB25 (giống L18 chiếm 80% diện tích) Song chưa có một nghiên cứu chính thức nào để tìm ra quy trình kỹ thuật cho từng giống cụ thể

và mật độ trồng và mức phân bón hợp lý cho năng suất, hiệu quả kinh tế cao nhất trên đất trồng lạc của huyện Phần lớn nông hộ sản xuất theo kinh nghiệm địa phương không theo quy chuẩn nhất định nào, do đó năng suất, sản lượng không ổn định 100% người trồng lạc bón phân hữu cơ cho lạc với lượng từ 6 - 10 tấn/ha; 60% nông hộ bón phân đạm cho lạc với lượng 60 - 80

kg urê/ha, 40% bón với lượng thấp hơn, bón thúc chủ yếu vào giai đoạn làm

cỏ đợt 1; 30% nông hộ bón phân lân cho lạc với lượng 300 - 400 kg super lân/ha, bón lót toàn bộ; 85 % nông hộ bón phân kali cho lạc với lượng từ 60 -

80 kg kaliclorua/ha, chủ yếu bón thúc khi làm cỏ đợt 1 Ngoài ra 40 - 60% hộ

sử dụng bón phân NPK tổng hợp với lượng từ 20 - 25kg/sào Bắc Bộ Lượng vôi bột cũng được bà con nông dân sử dụng khác nhau, 70% nông hộ bón vôi trước khi trồng với lượng 300 kg/ha, có 20% hộ không sử dụng vôi, còn lại là mức bón không xác định

Về phòng trừ sâu bệnh: Các loại sâu hại gồm: Sâu cuốn lá, sâu xanh, sâu khoang, sâu xám; các loại bệnh hại gồm: Bệnh gỉ sắt, bệnh thối đen cổ rễ, bệnh héo xanh vi khuẩn, bệnh đốm lá (đốm nâu, đốm đen) Bệnh thối đen cổ

rễ, bệnh héo xanh vi khuẩn gây hại lạc từ khi cây lạc được 3 - 4 lá đến ra hoa, bệnh đốm lá (đốm nâu, đốm đen), bệnh gỉ sắt gây hại lạc từ khi lạc bắt đầu ra hoa đến khi quả chín

Về cơ cấu luân canh: Lạc xuân – Lúa mùa chiếm 80%; 20% còn lại cơ cấu cây màu vụ xuân (ngô, vừng, họ bầu bí) – Lạc Hè thu

Trang 22

13

1.3 Một số kết quả nghiên cứu về cây lạc trên thế giới và Việt Nam

1.3.1 Kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống lạc trên thế giới và Việt Nam

1.3.1.1 Kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống lạc trên thế giới

Giống là một trong những yếu tố giữ vai trò quan trọng hàng đầu góp phần nâng cao năng suất Việc cải tiến giống lạc, tạo ra các giống mới có năng suất cao, phẩm chất tốt, kháng được sâu bệnh, thích ứng rộng với điều kiện ngoại cảnh đã góp phần đáng kể vào việc tăng năng suất và sản lượng lạc trên thế giới Do đó, việc nghiên cứu về chọn tạo giống lạc đang ngày càng được chú trọng Về tập đoàn giống lạc: Mỹ là nước có tập đoàn lạc phong phú nhất (29.000 mẫu giống); sau đó là ICRISAT (14.310 mẫu giống) thu thập từ 92 nước trên thế giới; Australia cũng là nước có tập đoàn lạc đa dạng (12.160 mẫu giống); Ân Độ, Trung Quốc hàng năm vẫn duy trì 5.000 - 6.000 mẫu giống

Từ nguồn vật liệu đa dạng và phong phú, các nhà chọn tạo giống đã sử dụng trong công tác cải tiến giống theo các mục tiêu khác nhau: Chọn tạo giống chín sớm cho vùng tăng vụ, né tránh thiên tai; giống chịu hạn cho vùng nước trời; giống kháng sâu bệnh; giống năng suất cao; giống có hàm lượng dầu cao

Trong các mẫu giống đã thu thập, bằng các đặc tính hình thái - nông học, sinh lý - sinh hoá và khả năng chống chịu sâu bệnh ICRISAT đã phân lập theo các nhóm tính trạng khác nhau phục vụ cho nghiên cứu chọn tạo giống như: nhóm kháng bệnh, nhóm chống chịu hạn, nhóm hàm lượng dầu cao, nhóm chín trung bình, nhóm chín muộn, nhóm chín sớm…

Trung Quốc là nước có nhiều thành tựu trong công tác chọn tạo giống lạc Trong hai năm 2003 và 2004, Trung Quốc đã công nhận 17 giống lạc mới, trong đó điển hình là các giống Yueyou 13, Yueyou 29, Yueyou 40, 01-

2101, Yuznza 9614, 99-1507, R1549 có năng suất trung bình là 46-70 tạ/ha (ICRISAT, 2005)[38]

Trang 23

14

Sử dụng nguồn gen để mở rộng nền tảng di truyền của lạc trồng, Upadhyaya HD và cộng sự đã sử dụng thành công phương pháp lai hữu tính

để cải tiến các đặc điểm nông học như chín sớm, tăng khối lượng 100 hạt và

năng suất trong tạo giống kháng sâu bệnh (Upadhyaya H D et al., 2008)[42]

Các nhà khoa học ở Brazil, ICRISAT, Mỹ, Pháp, Senegal và Đan Mạch lai hữu tính nhân tạo để đưa các alen của lạc dại vào lạc trồng bằng việc tạo ra các dòng lạc có đoạn nhiễm sắc thể thay thế Nghiên cứu chọn tạo giống chịu hạn, các nhà khoa học ở trường đại học Kasetsart, Thái Lan cho rằng điều kiện hạn không ảnh hưởng đến kiểu phân bố hoa nhưng làm chậm sự xuất hiện của những hoa lứa đầu và thời gian hoa nở Qua đánh giá 12 dòng lạc cho thấy sự suy giảm năng suất khác nhau ở các dòng lạc trong điều kiện hạn phụ thuộc nhiều vào tập tính ra hoa khac nhau Những giống lạc ra hoa lượng lớn tập trung vào lứa hoa đầu cho năng suất cao hơn

Mỹ đã đưa vào sản xuất 16 giống lạc mới (9 giống thuộc loại hình Runer, 5 giống thuộc loại hình Virginia, 2 giống thuộc loại hình Spanish)

(Progrees report January - June, 2009)[40] Hiện đang có 3 chương trình

nghiên cứu sử dụng lạc dại lai với lạc trồng để tạo ra giống chống chịu sâu bệnh ở Carolina Oklahoma và Texas

Kết quả sàng lọc các kiểu gen lạc được lai tạo ở Mỹ giữa giống lạc địa phương Nama của Burkina Faso với giống lạc Texas bằng phương pháp công nghệ sinh học nhằm tạo giống kháng bệnh lá Kết quả kiểm tra trong điều kiện đồng ruộng ở Burkina Faso cho thấy một số giống trình diễn tốt hơn giống địa phương, có những giống năng suất tương đương nhưng kháng bệnh tốt

Các nhà khoa học của Trường Đại học nông nghiệp Acharya NG Ranga, Ấn Độ và Trường đại học A&M Florida, Mỹ đã chọn tạo ra giống lạc K1375 qua lai tạo giữa giống lạc Kadiri 4 X Vemana Giống lạc này đã giúp

Trang 24

15

bảo đảm năng suất ổn định trong vùng bị hạn của Ấn Độ (Naik KSS, 2008)

Holbrook C.C và cộng sự đã sử dụng sự chọn lọc có trợ giúp của chỉ thị phân tử để tạo giống kháng bệnh với tỷ lệ O/L (axit oleic/linoleic) cao Sự phối hợp chặt chẽ giữa các nhà chọn giống truyền thống và các nhà di truyền học phân tử là cần thiết để sử dụng công cụ di truyền hiện đại có hiệu quả trong phát triển giống lạc (Holbrook CC1 etal, 2009)[36]

Những cố gắng trong chọn tạo giống lạc bằng kết hợp phương pháp truyền thống và phân tử ở Ghana nhằm cải tiến các giống lạc địa phương có năng suất thấp và nhiễm với các bệnh đốm lá, đốm hoa thị (Asibuo JY et al, 2009)[32]

Nhóm nghiên cứu của 2 trường đại học ở Ai Cập đã nghiên cứu cải tiến năng suất lạc trong điều kiện đất nhiễm mặn qua đột biến 4 giống lạc Giza 5, Giza 6, NC 9 và Gregory bằng tia Gamma và hoá chất NaN3 Thế hệ M6 chọn được 3 dòng M6-13, M6-18 và M6 - 30 cho năng suất cao, nhiều quả và hạt trên cây hơn giống mẹ

1.3.1.2 Kết quả nghiên cứu về chọn tạo giống lạc ở Việt Nam

Trong những năm vừa qua, công tác chọn tạo giống ở Việt Nam đã thu được nhiều thắng lợi Nhiều giống mới đã được tạo ra và đưa vào sản xuất góp phần làm tăng năng suất và sản lượng lạc trong cả nước

Các giống mới có năng suất cao (L23, L18, L14, L02) đã phát triển trên quy mô hàng trăm ngàn ha; giống có thời gian sinh trưởng ngắn (L05); giống

có chất lượng phục vụ xuất khẩu (L26); giống kháng bệnh héo xanh vi khuẩn (MD7); giống kháng bệnh trên lá (L02); giống chịu hạn khá như V79, L12

đã góp phần tăng năng suất lạc cả nước; Nguyễn Văn Thắng và cs, 2002 [26]; Nguyễn Văn Thắng và cs, 2004 [27]; Nguyễn Thị Chinh và cs, 2008) [3]

Những thành tựu đáng ghi nhận trong công tác chọn tạo giống ở Việt Nam đã và đang tập trung vào các mục tiêu: năng suất cao thích hợp với từng

Trang 25

16

vùng sinh thái, thời gian sinh trưởng khác nhau phù hợp với các công thức luân canh cây trồng trong đó chú trọng giống có thời gian sinh trưởng ngắn (dưới 120 ngày), giống có khả năng kháng/chống chịu với bệnh trên lá (gỉ sắt, đốm đen), với bệnh héo xanh vi khuẩn, giống có khả năng chịu hạn, giống kháng

bệnh mốc vàng (Aspegillus ssp), giống chịu sâu, giống có chất lượng cao phục

vụ cho ép dầu và xuất khẩu hạt (Nguyễn Thị Dần và Thái Phiên, 1991) [8]

Giống lạc L18 được Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Đậu đỗ chọn

ra từ tập đoàn nhập nội, đã được công nhận giống năm 2009 Giống có thân đứng, tán gọn, chống đổ tốt; quả to vỏ lụa màu hồng sáng, tiềm năng năng suất quả 50-70 tạ/ha, kháng bệnh lá và héo xanh vi khuẩn trung bình (Nguyễn Văn Thắng và cs., 2004) [27]

Giống lạc L23 được Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Đậu đỗ chọn lọc

ra từ tập đoàn nhập nội năm 2001 Giống lạc L23 thân đứng, tán gọn, chống đổ tốt, lá xanh đậm, sinh trưởng khoẻ, ra hoa kết quả tập trung, kháng bệnh lá (đốm nâu, đốm đen, gỉ sắt) và kháng héo xanh vi khuẩn (chết ẻo) và chịu hạn khá, tiềm năng năng suất từ 50 - 55 tạ/ha, chịu thâm canh cao Giống L23 có thể trồng được cả 2 thời vụ trong năm (vụ xuân và vụ thu đông) (Nguyễn Thị Chinh và cs, 2008) [3]

Kết quả bước đầu khả quan trong công tác chọn tạo giống lạc bằng công tác lai hữu tính và đột biến ở Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Đậu

đỗ, năm 2008 đã chọn ra được nhiều dòng ưu tú (từ thế hệ F5-F8) theo các hướng: năng suất cao, khả năng chống chịu bệnh héo xanh vi khuẩn, khả năng chịu hạn Vụ xuân 2008 đã chọn được 4 dòng (D8, 0401.66, D8.1 và ĐBĐ0401.8) có năng suất cao hơn giống đối chứng L14 và 02 dòng (0403.1

và ĐBĐ 0301.16.1) năng suất cao hơn đối chứng L18, 33 dòng ưu tú ở thế hệ thấp hơn có thời gian sinh trưởng trung bình cho năng suất cao hơn đối chứng L14 và L18 Vụ thu đông 2008 đã chọn được 16 dòng lạc có năng suất vượt

Trang 26

17

đối chứng (L12, L14 và L18) đây là những dòng lạc có triển vọng đang đề nghị khảo nghiệm và nghiên cứu ở các vụ tiếp theo Đã đánh giá khả năng kháng nhiễm bệnh héo xanh vi khuẩn của 94 dòng giống lạc và tìm ra được 5 giống kháng cao và trung bình

Kế thừa các kết quả nghiên cứu từ năm 2001, năm 2008 Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Đậu đỗ đã xác định được một số giống lạc mới, triển vọng cho ra sản xuất giai đoạn 2010-2015 như dòng lạc 0401.57.3 (L19) được chọn tạo từ tổ hợp lai L18 /L16 có năng suất cao hơn giống L18 trong điều kiện thâm canh Dòng 0009.9.1 được chọn tạo từ tổ hợp lai QĐ9 (L15)/V79, có năng suất cao hơn giống L12 và L14 từ 16-28% trong điều kiện canh tác nước trời (Ngô Thế Dân và cs., 2000)[7]

Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Bắc Trung Bộ đã tập trung nghiên cứu lai tạo và tuyển chọn bộ giống lạc có năng suất cao và chất lượng cao phù hợp với sinh thái của vùng Đến năm 2008, đã xác định được bộ

giống lạc thích hợp cho vùng bao gồm các giống: L08, L14, L20, L23 và V79

Tại miền Nam, kết quả đánh giá 15 giống ngắn ngày của Viện Khoa học Nông nghiệp Miền Nam cho thấy, 3 giống: ICGV87883, 87391, 90068 là những giống có triển vọng Tại Viện Cây có dầu Miền Nam, Ngô Thị Lâm Giang và cs (1999)[14] đã đánh giá trên 400 mẫu giống nhập nội, lai tạo và chọn lọc ra một số giống có triển vọng là: VD1, VD2, VD3, VD4, VD5, VD9

(Dẫn theo Nguyễn Thị Dần và cs., 1991)[8]

Xuất phát từ quan điểm nhập công nghệ tiên tiến từ nước ngoài để cải tiến, áp dụng phục vụ phát triển sản xuất, thời gian qua trong khuôn khổ chương trình đậu đỗ Quốc gia đã nhập nội hàng nghìn mẫu giống với các đặc tính quí, trong đó có những giống đặc biệt ưu việt như: Năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn, chất lượng xuất khẩu cao, kháng bệnh héo xanh vi khuẩn…đã góp phần quan trọng trong công tác cải tiến giống lạc trong nước

Trang 27

18

Giống lạc L08 được chọn lọc theo phương pháp chọn lọc quần thể từ dòng lạc mang tên QĐ2 trong tập đoàn nhập nội của Trung Quốc năm 1996 Giống lạc L08 đã được Hội đồng Khoa học Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật năm 2004 Ở hầu hết các điểm khảo nghiệm, giống L08 có ưu điểm nổi bật so với các giống khác là có tỷ

lệ nhân, khối lượng 100 quả và khối lượng 100 hạt cao, hạt to đều, vỏ lụa hồng cánh sen đẹp đạt tiêu chuẩn xuất khẩu và thích hợp với thị hiếu người tiêu dùng Giống L08 có năng suất cao và thích hợp với chân đất có thành phần cơ giới nhẹ,

tơi xốp và có thể thâm canh (Nguyễn Xuân Hồng và cs., 2003)[18]

Mặt khác, từ những nguồn vật liệu nhập nội, nhiều giống mới đã được cải tiến bằng con đường lai hữu tính đã có những đóng góp nhất định trong sản xuất lạc như: Giống lạc Sen lai 75/23 được chọn tạo từ tổ hợp lai giữa Trạm Xuyên x Mộc Châu trắng; Giống lạc L12 được chọn lọc từ tổ hợp lai giữa V79 x ICGV 87157 năm 1992, được công nhận giống Quốc gia năm

2004 (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2005)[2], (Nguyễn Văn

Thắng và cs., 2002)[26]

Lê Song Dự và Trần Nghĩa (1995)[10] đã nghiên cứu thành công giống lạc V79 bằng cách dùng tia Rơnghen gây đột biến giống Bạch Sa (Trung Quốc) Giống lạc V79 thuộc nhóm chín trung bình, năng suất cao hơn giống địa phương từ 15 - 25%, vỏ mỏng, tỷ lệ nhân cao như Sen Nghệ An, thích hợp trên chân đất cát pha, phụ thuộc nước trời Giống lạc V79 được Hội đồng khoa học Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là giống Quốc gia năm 1995

1.3.2 Kết quả nghiên cứu về bón phân cho lạc trên thế giới và Việt Nam:

1.3.2.1 Kết quả nghiên cứu về bón phân cho cây lạc trên thế giới

Các nghiên cứu về phân bón cho lạc bao gồm cả liều lượng, kỹ thuật bón và loại phân bón ở các điều kiện đất đai trồng trọt khác nhau cũng được

Trang 28

19

tiến hành Điều này góp phần đáng kể trong việc nâng cao năng suất, sản lượng lạc của các nước trên thế giới

- Những nghiên cứu về liều lượng đạm bón: Xung quanh vấn đề này

còn nhiều điều đang còn tranh cãi Các nhà khoa học đều khẳng định, cây lạc cần một lượng N lớn để sinh trưởng, phát triển và tạo năng suất, lượng N này chủ yếu được lấy từ quá trình cố định đạm sinh học ở nốt sần

Theo William (1979), trong điều kiện tối ưu, cây lạc có thể cố định được 200 - 260 kg N/ha, do vậy có thể bỏ hẳn lượng N bón cho lạc Nghiên cứu của Reddy và CS (1988) [41], thì lượng phân bón là 20kg N/ha trên đất Limon cát có thể đạt năng suất 3,3 tấn quả/ha trong điều kiện các yếu tố khác tối ưu và chỉ khi nào muốn đạt được năng suất cao hơn mới cần bón thêm đạm

- Những nghiên cứu về bón lân cho lạc:

Lân là yếu tố dinh dưỡng cần thiết đối với cây lạc, đem lại năng suất

cao và chất lượng tốt Theo Nasr-Alla et al [39], khi tăng tỷ lệ P và K riêng lẻ

hoặc phối hợp thì sẽ làm tăng số cành trên cây và năng suất quả trên cây

Tương tự, Ali và Mowafy cũng chỉ ra rằng khi bón thêm phân lân làm tăng đáng kể năng suất hạt và tất cả những thuộc tính của nó [31] Thêm vào đó, El-far and Ramadan [33] cũng cho biết, khi tăng lượng lân bón sẽ làm tăng trọng lượng thân cây, tăng số lượng và khối lượng của quả và hạt trên cây, trọng lượng 100 hạt và tỷ lệ dầu trong hạt cũng tăng Khi tăng lượng phân lân từ 30-60 kg P2O5/fad làm tăng đáng kể trọng lượng khô của toàn cây Điều này được giải thích do hàm lượng lân giúp cho hệ rễ lạc phát triển mạnh hơn, tăng khả năng hút nước và chất dình dưỡng Từ đó, giúp đồng hóa tốt hơn thể hiện ở sự gia tăng sinh khối Về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất lạc thì khi tăng lượng lân từ 30-60kg P2O5/fad thì làm tăng số quả và số hạt/cây, tăn trọng lượng quả và hạt/cây, trọng lượng 100 hạt

Trang 29

20

và tỷ lệ dầu trong hạt cũng tăng cao Điều này được lý giải là do hiệu quả của lân liên quan đến việc gia tăng số lượng và kích thước nốt sần từ đó giúp cho quá trình đồng hóa N tốt hơn Hơn nữa, lân là thành phần quan trọng trong cấu trúc của axit nucleic, giúp hoạt hóa các quá trình hoạt hóa trao đổi chất

Sử dụng 46,6 kg/fad P2O5 và 36 kg/fad K2O đã cho hiệu quả cao nhất về năng suất và tất cả các thuộc tính của nó (El-Far, I.A and B.R Ramadan, 2000) [33]

Tại tất cả các vùng của Ấn Độ khi bón kết hợp 30 kg/ha N và 20kg/ha

P làm tăng năng suất lạc lên gấp hai lần so với bón riêng 30kg N/ha (Kanwar

JS, 1978) [37] Tại Senegan phân lân bón cho lạc có hiệu lực trên nhiều loại đất khác nhau bón với lượng 12 - 14 kg P2O5/ha đã làm tăng năng suất quả lên 10 - 15% so với không bón Phân lân không có hiệu quả chỉ khi hàm lượng lân dễ tiêu trong đất đạt >155 ppm Ở Trung Quốc thường bón supe photphat và canxi photphat Phân lân Supe photphat có 18% hàm lượng nguyên chất, phân giải nhanh Loại phân này bón trên đất trồng lạc

có độ phì trung bình và mang tính kiềm thì sẽ đạt năng suất cao Phân canxi photphat, phân giải chậm phù hợp với đất trồng lạc có độ phì trung bình, đất chua (Ngô Thế Dân và CS, 1999) [6]

- Nghiên cứu về bón kali cho lạc: Bón kali cho đất có độ phì từ trung

bình đến giàu đã làm tăng khả năng hấp thu N và P của cây lạc Theo Ngô Thế Dân và CS, 1999 [6], bón 25 kg K/ha cho lạc đã làm tăng năng suất lên 12,7 % so với không bón Suba Rao (1980) cho biết ở đất cát cát của Ấn Độ bón với tỷ lệ K:Ca:Mg là 4:2:0 là tốt nhất Theo Reddy (1988) [41] trên đất limon cát vùng Tyrupaty trồng lạc trong điều kiện phụ thuộc vào nước trời, năng suất tăng khi bón kali với lượng 66 kg K2O/ha Mức bón để có năng suất tối đa là 83,0kg K2O/ha và có hiệu quả nhất là bón 59,9 kg K2O/ha

- Nghiên cứu về bón Canxi (Ca) cho lạc: vôi là một nhân tố không thể thiếu khi trồng lạc, vôi làm thay đổi độ chua của đất Đất trồng lạc thiếu Ca sẽ

Trang 30

21

dẫn đến giảm quá trình hình thành hoa và tia, dẫn đến củ bị ốp và cũng làm phôi hạt bị đen Ca làm giảm hiện tượng phát triển không đầy đủ của noãn, tăng số quả/cây,dẫn đến tăng năng suất

Theo Ngô Thế Dân và CS, 1999 [6], ở Trung Quốc vôi bón cho đất chua làm trung hòa độ pH của đất, cải thiện phần lý tính của đất và ngăn ngừa

sự tích lũy của độc tố do Al và các nhân tố khác gây nên Bón vôi với liều lượng 375 kg/ha cho đất nâu ở Weihai đã làm tăng năng suất quả lạc 4,61 tấn/ha, tăng 11,8% so với đối chứng không bón vôi

Có thể thấy có rất nhiều nghiên cứu về việc sử dụng riêng lẻ từng yếu

tố phân bón cho cây lạc Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu mới đây cho thấy bón phân cân đối mang lại hiệu quả kinh tế cao ở nhiều nước cho nhiều loại cây trồng nói chung trong đó có lạc Theo kỹ thuật này, việc bón N-P-K cân đối

về liều lượng, dựa theo yêu cầu của cây trồng, khả năng cung cấp của đất và hiệu ứng của phân bón

1.3.2.2 Kết quả nghiên cứu về bón phân cho lạc tại Việt Nam

Lạc là cây có khả năng cố định đạm nhưng giai đoạn đầu cây rất cần đạm do lượng dự trữ trong hạt không đáp ứng được nhu cầu phát triển bình thường của cây Tuy nhiên, việc bón đạm phải có chuẩn mực, vì bón đạm quá ngưỡng thân lá phát triển mạnh làm ảnh hưởng xấu đến quá trình hình thành quả và hạt dẫn đến năng suất thấp Kết quả nghiên cứu của Viện nông hoá thổ nhưỡng trên đất bạc màu Bắc Giang, trên nền 8- 10 tấn phân chuồng, lượng bón thích hợp là 30 kg N/ha, nếu tăng lên 40 kg N/ha thì năng suất không tăng

và hiệu lực giảm đi rõ rệt (Ngô Thế Dân, 2000) [7]

Theo Vũ Hữu Yêm, lượng đạm yêu cầu bón cho lạc không cao, thường bón sớm khi lạc có 2 - 3 lá thật, bón với lượng tùy theo đất đai khác nhau thường bón từ 20 - 40 kg N/ha [29]

Trang 31

22

Theo Nguyễn Danh đông (1984) [12], ở nước ta trên các loại đất nghèo đạm như đất bạc màu, đất cát ven biển bón đạm có hiệu quả làm tăng năng suất, hiệu lực 1 kg N ở đất bạc màu Hà Bắc có thể đạt 5 - 25 kg lạc vỏ Theo tác giả nếu lượng đạm ít, phân hữu cơ ít thì nên tập trung bón lúc gieo, nếu phân hữu cơ tốt và nhiều có thể bón thúc vào thời kỳ 4 - 5 lá lúc đang phân hoá mầm hoa

Nguyễn Thị Dần, Thái Phiên, 1991 [8], lượng N thích hợp đối với lạc trên nền (20 tấn phân chuồng + 60 P2O5 + 30 K2O trên đất nhẹ là 30 N)/ha, năng suất 16 - 18 tạ/ha Nếu N tăng lên thì năng suất có xu hướng giảm rõ rệt

Theo các tác giả hiệu lực 1 kg đạm trên đất bạc màu và đất cát ven biển thay đổi 6 - 10 kg lạc Đỗ Thị Dung (1994) [11], Ngô Thế Dân (2000) [7] đều cho rằng, để việc bón đạm thực sự có hiệu quả cao, cần bón kết hợp các loại phân khoáng khác như lân, canxi và phân vi lượng khác

Trên đất nghèo dinh dưỡng, hiệu lực của lân càng cao khi bón 60 kg

P2O5/ha sẽ cho hiệu quả kinh tế cao nhất và bón ở mức 90 kg P2O5/ha cho năng suất cao nhất trên nhiều loại đất (Nguyễn Thị Dần và Thái Phiên, 1991) [8] Trung bình hiệu suất 1kg P2O5 là 4-6kg lạc vỏ Nếu bón 90kg P2O5 năng suất cao nhưng hiệu quả không cao (Ngô Thế Dân và CS 2000) [7]

Theo Võ Minh Kha, 1996 [19], đối với lạc bón thermophotphat trên đất xám ở Quảng Ngãi cho hiệu suất 2,8 - 3,0kg lạc vỏ/1 kg P2O5, trên đất phù sa Sông Hồng đạt 5 kg lạc vỏ/1 kg P2O5

Theo Lê Song Dự, Nguyễn Thế Côn và CS.,(1979) [9], phân kali thường có hiệu lực cao đối với lạc trồng trên các loại đất có thành phần cơ giới nhẹ và nghèo dinh dưỡng như: đất cát thô ven biển, đất bạc màu Hiệu lực 1 kg K2O trong các thí nghiệm biến động từ 5,0 - 11,5 kg quả khô Lượng kali bón thích hợp cho lạc ở các tỉnh phía Bắc là 40 kg K2O trên nền 20 kgN

và 80 kg P2O5 Nhiều thí nghiệm cho thấy với lượng 90 kg P2O5, bón với kali

Trang 32

23

cho lạc tỷ lệ P:K là 3:2 năng suất tăng 1,1 tạ/ha so với tỷ lệ 2:1 và năng suất cao so với 3:1 là 2,2 tạ/ha Hiệu suất 1 kg kali sunphat trên đất cát biển trung bình là 6 kg lạc, đất bạc màu từ 8 - 10 kg lạc

Bón phân cân đối là biện pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả của phân bón và nâng cao năng suất lạc Theo Nguyễn Thị Dần và Thái Phiên (1991) [8], trên đất cát ven biển Thanh Hoá bón 10 tấn phân chuồng và 30 kg N + 90

kg P2O5 + 60 kg K2O/ha làm tăng năng suất lạc 6,4 – 7,0 tạ/ha so với không bón Kết quả nghiên cứu trên đất đồi Thái Nguyên, vụ xuân nếu bón riêng rẽ từng loại phân N, P, vôi thì năng suất lạc tăng 14 - 31,5%, khi kết hợp lân với vôi năng suất tăng 64,9%, lân với đạm năng suất tăng 110,5%, nếu bón kết hợp cả lân, đạm, vôi thì năng suất tăng 140,3% so với không bón

Ngô Thế Dân và CS., (2000) [7] cho rằng, trên đất bạc màu Bắc Giang, bón nền (8 tấn phân chuồng + 30 kg K2O + 30 kg N) và 90 kg P2O5, hiệu suất

là 3,6 - 5 kg , nếu bón nền + 60 kg P2O5 thì hiệu suất là 4- 6 kg Lê Văn Quang, Nguyễn Thị Lan, 2007 [25], nghiên cứu xác định liều lượng Kali và Lân bón cho lạc Sen lai vụ xuân 2006 trên đất cát huyện Nghi Xuân nhận xét: bón (90 kg P2O5 + 60 kg K2O)/ha trên nền (10 tấn phân chuồng + 30 kg N + 800 kg vôi bột)/ha cho năng suất lạc cao nhất (23,02 - 24,92 tạ/ha) Hiệu suất bón cao nhất đạt 9,17 kg/1 kg P2O5 lạc vỏ ở liều lượng bón 60 kg P2O5/ ha, 7,62 kg/1 kg K2O lạc vỏ ở liều lượng 60 kg K2O/ ha

Bón vôi không chỉ kiểm soát và quản lý độ chua của đất mà còn là một trong những biện pháp quan trọng nhất để làm tăng năng suất lạc Vôi làm tăng trị số pH của đất từ đó tạo môi trường thuận lợi cho vi khuẩn cố định đạm, và là chất dinh dưỡng cần thiết cho quá trình ra hoa, tạo quả của lạc Tác dụng của vôi được xác định ở tất cả các loại đất trồng lạc ở nước

ta, kể cả các loại đất có pH tương đối cao (pH = 6), vai trò của vôi là cung cấp

Ca cho lạc và nâng cao pH đối với đất chua Những thí nghiệm về bón vôi

Trang 33

24

được thực hiện tại trường đại học Nông nghiệp I cho thấy: bón vôi làm tăng

rõ rệt lượng Ca trong cây, tăng cường khả năng dinh dưỡng N và hoạt động của vi khuẩn nốt sần đến tăng năng suất do tăng số hoa, số quả và trọng lượng quả (Lê Song Dự, Nguyễn Thế Côn, 1979) [9]

Trên đất bạc màu trồng lạc ở Ba Vì, những kết quả thí nghiệm cho thấy, năng suất lạc tăng từ 0,2 - 0,4 tấn/ha, khi bón 300 - 600 kg vôi trên nền 8 tấn phân chuồng + 90kg P2O5 và 40kg K2O (Nguyễn Thị Dần và CS., 1991) [8]

Theo Ngô Thị Lâm Giang (1999) [14], ở vùng đông Nam Bộ, bón vôi đã làm tăng năng suất 2 giống lạc hạt to VD3 và VD4 lên 3 - 11% Bón lót 300 kg và thúc 300 kg vôi không những cho năng suất cao nhất (3,37 tấn/ha) vượt đối chứng 11% mà lãi suất đầu tư một đồng vôi cũng cao nhất (3,58 đồng) Bón 500 kg vôi chia 2 lần, tại vùng đất đồi Chương mỹ, Hà Tây

và sử dụng rơm phủ cho đất sau khi gieo lạc đã làm tăng sức chống chịu bệnh cho cây từ đó giảm nhiễm nấm và tăng năng suất lạc (Nguyễn Xuân Hồng, Nguyễn Thị Ly và CS., 2003)[18]

Nguyễn Thị Chinh và CS., 2002 [4] cho rằng, lượng vôi phù hợp với chân đất vùng đồng bằng sông Hồng là 400 kg vôi/ha chia 2 lần bón (bón lót

và sau khi ra hoa) có thể làm tăng năng suất lạc từ 13- 26% so với đối chứng không bón

Để đưa ra mức phân bón N, P, K thích hợp cho giống lạc L18, Nguyễn Văn Thắng và cs đã tiến hành nghiên cứu các mức bón khác nhau cho L18 từ: 0kg N, 15kg N, 30kg N, 45kg N, 60kg N, 75kg N phối hợp với

P, K theo tỷ lệ 1N: 3P: 2K kết hợp bón với 20 tấn phân chuồng + 500 kg vôi bột cho 1 ha ở cả 2 vụ xuân và thu đông Kết quả cho thấy ở mức phân bón 45kg N + 135kg P2O5 + 90kg K2O giống L18 cho năng suất cao nhất trong

thí nghiệm (Nguyễn Văn Thắng và cs, 2004) [27]

Trang 34

Mật độ trồng là một trong số những yếu tố cấu thành năng suất lạc, nhiều nghiên cứu đã chứng minhh rằng tác động vào mật độ trồng là một trong những yếu tố kỹ thuật quan trọng nhất để tăng năng suất lạc Tùy thuộc vào các điều kiện canh tác, điều kiện mùa vụ và các giống lạc khác nhau thì mật độ khoảng cách trồng lạc là khác nhau A’Brook (1996) [30] cho rằng mật độ trồng lạc quá cao, trồng dày làm tỷ lệ bệnh hại lá, và môi giới truyền bệnh tăng, năng suất không tăng so với trồng ở mật độ trung bình

Theo lời dẫn của Nguyễn Thị Hiền (2008) [16], tại Ấn Độ (Kumar và Ventakachary, 1971), họ cho rằng trồng lạc trong điều kiện nhờ nước trời thì khoảng cách 30,0 cm x 7,5 cm là tốt nhất Ở Mỹ cho rằng lạc có năng suất cao nhất khi trồng với khoảng cách (45 - 68cm) x (10 - 15 cm) Trong điều kiện có tưới thì khoảng cách trồng là (22,5 x 10 cm) tương đương mật độ 44 cây/m2 đạt năng suất cao nhất

Ở miền Bắc Trung Quốc mật độ thích hợp của giống lạc thuộc kiểu hình Virginia được gieo trồng trong vụ xuân như: Luhua 4, Hua 17 trên đất có

độ phì trung bình thì mật độ khoảng 220.000 - 270.000 cây/ha, còn đối với đất giàu dinh dưỡng mật độ là 200.000 - 240.000 cây/ha Các giống lạc thuộc loại hình Spanish như Baisha 1016, Luhua 8, 12, 13 và 15 thì mật độ trồng là 360.000 - 420.000 cây/ha Trong điều kiện trồng phụ thuộc vào nước trời mật

độ là 300.000 - 380.000 cây/ha (Ngô Thế Dân và CS, 1999) [6]

Trang 35

26

Miền Nam Trung Quốc với giống đứng cây trồng trong vụ xuân trên, đất đồi hoặc trong vụ lạc thu ở đất lúa mật độ trồng thích hợp là 270.000 - 300.000 cây/ha (Ngô Thế Dân và CS, 1999) [6]

Thái Lan hiện nay đang áp dụng phương pháp gieo thích hợp là khoảng cách hàng 30 – 60, khoảng cách cây là 10 – 20 cm, gieo 1 – 2 hạt/hốc, mật độ gieo 150000 – 250000 cây/ha áp dụng kĩ thuật trồng lạc với luống hẹp giúp cho việc tưới tiêu nước hiệu quả hơn và làm tăng năng suất 10 %, biện pháp kỹ thuật này hiện được áp dụng phổ biến ở Trung Quốc (XuZeyong 1992) [44]

Qua kết quả nghiên cứu về mật độ trồng lạc ở một số nước thấy rằng việc trồng dày không làm tăng năng suất quả đối với các loại hình Viginia thân bụi và thân bò, nhưng lại làm tăng năng suất loại hình Spanish thân bụi

cm x 2 hạt/hốc đối với giống lạc VD1 (Ngô Thị Lâm Giang và CS 1999) [14]

Trang 36

27

Các giống lạc hiện đang gieo trồng ở nước ta chủ yếu thuộc kiểu hình Spanish và một số thuộc Valencia, thời gian sinh trưởng tương đối ngắn, khối lượng chất khô tích luỹ thấp cho nên thường phải gieo với mật độ tương đối cao (Đoàn Thị Thanh Nhàn và CS,1996) [23]

Nguyễn Thị Ngọc Lan (2008) [20], khi nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật góp phần nâng cao năng suất lạc vùng đồi, huyện Chương Mỹ, Hà Tây đối với giống lạc L14 đã kết luận rằng, gieo ngày 28 tháng 2 năm 2008 trồng với mật độ 40 cây/m2 cây sinh trưởng, phát triển tốt hơn so với các giống khác trong cùng điều kiện, năng suất thực thu đạt được 27,9 tạ/ha

Theo Vũ Đình Chính (2008) [5] với mật độ gieo 40 cây/m2 đã cho năng suất của giống L14 đạt cao nhất 28,05 tạ/ha, trong khi mật độ 20 cây/m2 chỉ đạt 23,89 tạ/ha, với mật độ gieo 30 cây/m2 năng suất đạt 26,00 tạ/ha, 50 cây/m2 26,25 tạ/ha, 60cây/m2 năng suất đạt 25,3 tạ/ha

Theo Đoàn Tiến Mạnh (2008) [22], khi nghiên cứu một số biện pháp

kỹ thuật góp phần nâng cao năng suất lạc tại Việt Yên – Bắc Giang đã có kết luận thời vụ và mật độ trồng nghiên cứu cho giống lạc L14 điều kiện có che phủ nilon là trồng từ ngày 5 đến 15 tháng 2 và mật độ 35 đến 45 cây/m2 là thích hợp

Theo Nguyễn Thế Anh (2010) [1], giống TB25 đạt năng suất và thu nhập thuần cao nhất khi trồng ở mật độ 40 cây/m2 và lượng phân bón 30N- 90P2O5-60K2O+ nền; tiếp đó đến mật độ 35 cây/m2 và lượng phân bón 35N- 105P2O5-70K2O + nền

1.4 Điều kiện sinh thái của cây lạc

Trong các yếu tố sinh thái, nhiệt độ và chế độ nước ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng, phát triển và khả năng cho năng suất của lạc Các yếu tố khí hậu

là nhân tố quyết định sự phân bố lạc trên thế giới

Trang 37

28

Nhiệt độ

Nhiệt độ là yếu tố ngoại cảnh chủ yếu có tương quan đến thời gian sinh trưởng của cây lạc Là cây có nguồn gốc nhiệt đới, nhiệt độ trung bình thích hợp cho suốt đời sống cây lạc là 25-30oC Tích ôn hữu ích của lạc 2600-

4800oC thay đổi tùy thuộc vào giống

Thời kỳ nảy mầm cần tích ôn 250-320oC Nhiệt độ trung bình thích hợp 25-30oC Trong điều kiện đồng ruộng, nhiệt độ 28-30oC là thích hợp nhất đối với quá trình nảy mầm

Thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng, tích ôn tổng số yêu cầu 700-1000oC Nhiệt độ trung bình 20-30oC Nhiệt độ trung bình tối thích là 25oC Nhiệt độ không khí 30-35oC và 18-20oC làm ức chế sinh trưởng và phát triển của cây lạc

Thời kỳ ra hoa, kết quả là thời kỳ yêu cầu nhiệt độ cao nhất Thời kỳ này chỉ chiếm 1/3 chu kỳ sinh trưởng của lạc nhưng đòi hỏi tích ôn bằng 2/3 tổng tích ôn của cả đời sống cây lạc Nhiệt độ tối thấp sinh học cho sự hình thành các cơ quan sinh thực của lạc là 15-20oC

Thời kỳ chín đòi hỏi nhiệt độ thấp hơn so với thời kỳ trước

Ánh sáng

Cây cần ánh sáng để nảy mầm, phát triển rễ, sinh trưởng và quang hợp

để tích lũy chất khô vào hạt Thiếu ánh sáng cây mọc vống, kéo dài thời gian sinh trưởng, ra hoa chậm và rải rác Riêng quả lạc chỉ phát triển trong điều kiện bóng tối (dưới đất)

Nói chung, trong các yếu tố khí hậu ánh sáng là yếu tố ít ảnh hưởng đến

sự sinh trưởng và khả năng cho năng suất của lạc hơn các yếu tố sinh thái khác

Lượng mưa

Lượng mưa trung bình thích hợp cả năm khoảng 1000-1300mm, riêng trong vụ trồng lạc 500-700mm và được phân bố đều Thời kỳ ra hoa kết quả

Trang 38

- Rễ phát triển mạnh cả chiều sâu và chiều ngang

- Đủ oxy cho vi sinh vật nốt sần phát triển và hoạt động cố định N

- Tia quả đâm xuống đất dễ dàng

- Dễ thu hoạch

Trang 39

- Phân bón:

Sử dụng các loại phân: phân chuồng hoai mục, vôi bột, phân đạm ure (46% N), Super lân (16% P2O5), Kaliclorua (60% K2O)

2.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu:

- Địa điểm nghiên cứu

Khu phố 1, thị trấn Hàng Trạm, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình

- Thời gian nghiên cứu:

Đề tài được thực hiện trong vụ Hè Thu từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2017

2.2 Nội dung nghiên cứu:

- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và liều lượng bón đạm đến một số chỉ tiêu sinh trưởng của giống lạc L18 trong điều kiện vụ Hè Thu năm 2017

- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và liều lượng đạm bón đến mức độ nhiễm sâu bệnh hại

- Nghiên cứu ảnh hưởng tương tác của mật độ và liều lượng đạm bón đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất;

- Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và liều lượng đạm bón đến hiệu quả kinh tế

Trang 40

- Diện tích ô lớn: cho nhân tố đạm bón: 40 m2

- Diện tích ô nhỏ: Cho nhân tố mật độ: 10 m2

Nhân tố A là lượng phân đạm bố trí ở ô lớn, có 3 mức như sau:

Mức 20 KgN/ha; 40Kg N/ha; 60KgN/ha

Trên nền: 90 Kg P2O5 + 60 K2O +8 tấn phân hữu cơ + 500 kg vôi bột

Nhân tố B là mật độ trồng, bố trí ở ô nhỏ Có 4 mức như sau:

+ M1:mật độ 22 cây/m2, khoảng cách trồng 30 cm x 15 cm/ 1 hạt + M2: mật độ 28 cây/m2, khoảng cách trồng 30 cm x 12 cm/ 1 hạt

Ngày đăng: 24/02/2021, 13:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w