1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy và các tổ hợp phân bón đến sinh trưởng và năng suất của giống lúa tẻ râu vụ mùa 2014 và vụ xuân 2015 tại thành phố lai châu tỉnh lai châu

174 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 174
Dung lượng 1,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn TRƯƠNG THANH NAM NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ CẤY VÀ PHÂN BÓN ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT GIỐNG LÚA TẺ RÂU

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

TRƯƠNG THANH NAM

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ CẤY

VÀ PHÂN BÓN ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG

VÀ NĂNG SUẤT GIỐNG LÚA TẺ RÂU TẠI THÀNH PHỐ

LAI CHÂU - TỈNH LAI CHÂU

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

TRƯƠNG THANH NAM

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ CẤY

VÀ PHÂN BÓN ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG

VÀ NĂNG SUẤT GIỐNG LÚA TẺ RÂU TẠI THÀNH PHỐ

LAI CHÂU - TỈNH LAI CHÂU

Ngành: KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Mã số: 60.62.01.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN ĐỨC THẠNH

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này

đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2015

Tác giả

Trương Thanh Nam

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Trong quá trình học tập và thực hiện đề tài từ năm 2014 đến năm 2015, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của Ban Giám hiệu nhà trường, Phòng Quản lý Đào tạo, Khoa Nông học, cùng các thầy cô giáo và sinh viên Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên; Lãnh đạo Thành ủy, HĐND-UBND thành phố Lai Châu; Phòng Kinh tế, Trạm khuyến nông thành phố Lai Châu; UBND

xã San Thàng và bà con Nhân dân bản Lùng Than xã San Thàng và các đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập

và thực hiện đề tài

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Đức Thạnh Trường đại học nông lâm Thái Nguyên là người thầy đã tận tình trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện đề tài và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Luận văn này khó tránh khỏi còn có những thiếu sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của đồng nghiệp, bạn đọc và xin trân trọng cảm ơn

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2015

Tác giả

Trương Thanh Nam

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH ix

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 3

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 5

1.2 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và ở Việt nam 7

1.2.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới 7

1.2.2 Tình hình sản xuất lúa trong nước 13

1.2.3 Tình hình sản xuất lúa tại Lai Châu 16

1.2.4 Tình hình sản xuất lúa tại thành phố Lai Châu tỉnh Lai Châu 17

1.3 Những kết quả nghiên cứu về mật độ cấy 19

1.3.1 Mật độ cấy ảnh hưởng tới sự sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng lúa 19

1.3.2 Những kết quả nghiên cứu về mật độ cấy trên thế giới 21

1.3.3 Những kết quả nghiên cứu về mật độ cấy ở Việt Nam 23

1.4 Tình hình sử dụng phân bón cho lúa trên thế giới và Việt Nam 25

1.4.1 Cơ sở lý luận của việc bón phân cho cây lúa 25

1.4.2 Tình hình sử dụng phân bón cho lúa ở Việt Nam 27

1.4.3 Phương pháp bón phân cho lúa 27

Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

2.1 Vật liệu nghiên cứu 30

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

2.3 Nội dung nghiên cứu 30

2.4 Quy trình kỹ thuật thí nghiệm 30

2.4.1 Làm đất 30

2.4.2 Thời vụ trồng 30

2.4.3 Mật độ cấy 31

2.4.4 Kỹ thuật ngâm ủ 31

2.4.5 Bón phân 31

2.4.6 Thu hoạch 31

2.5 Phương pháp nghiên cứu 32

2.5.1 Đất đai nơi thí nghiệm 32

2.5.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 32

2.5.3 Phương pháp theo dõi 34

2.6 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp theo dõi 34

2.6.1 Chỉ tiêu về thời gian sinh trưởng 34

2.6.2 Các chỉ tiêu về hình thái, sinh lý 34

2.6.3 Các chỉ tiêu chống chịu 35

2.6.4 Chỉ tiêu về năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất 38

2.7 Phương pháp xử lý số liệu 38

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39

3.1 Ảnh hưởng của mật độ cấy đối với giống lúa Tẻ Râu tại Lai Châu 39

3.1.1 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến thời gian sinh trưởng của giống lúa Tẻ Râu 39

3.1.2 Ảnh hưởng của mật độ đến chiều cao cây của giống lúa Tẻ Râu 41

3.1.3 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến khả năng đẻ nhánh của giống lúa Tẻ Râu 44

3.1.4 Ảnh hưởng của mật độ cấy chỉ số diện tích lá của giống lúa Tẻ Râu 47

3.1.5 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến khả năng tích lũy vật chất khô của giống lúa Tẻ Râu 49

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

lúa Tẻ Râu 52

3.1.7 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa Tẻ Râu 54

3.1.8 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến hiệu quả kinh tế của giống lúa Tẻ Râu 58

3.2 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đối với giống lúa Tẻ Râu tại Lai Châu 60 3.2.1 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón cấy đến thời gian sinh trưởng của giống lúa Tẻ Râu 60

3.2.2 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến chiều cao cây của giống lúa Tẻ Râu 62

3.2.3 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến số nhánh của giống lúa Tẻ Râu tại Lai Châu 63

3.2.4 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến chỉ số diện tích lá của giống lúa Tẻ Râu 65

3.2.5 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến khả năng tích lũy vật chất khô của giống lúa Tẻ Râu 66

3.2.6 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến khả năng chống chịu của giống lúa Tẻ Râu 68

3.2.7 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa Tẻ Râu 70

3.2.8 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến hiệu quả kinh tế của giống lúa Tẻ Râu 73

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 75

1 Kết luận 75

2 Đề nghị 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

PHẦN PHỤ LỤC 80

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Bộ NN & PTNT : Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn

FAO : Tổ chức nông lương thực thế giới

Food and Agriculture Organization of the United Nations

LAI : Chỉ số diện tích lá

NSLT : Năng suất lý thuyết

NSTT : Năng suất thực thu

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Bảng 1.1 Diễn biến diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên thế giới

giai đoạn 1970 - 2013 8

Bảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa gạo của 10 nước đứng đầu thế giới năm 2013 9

Bảng 1.3 Diễn biến diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Việt Nam giai đoạn 1970 - 2013 14

Bảng 1.4 Tình hình sản xuất lúa tại Lai Châu từ năm 2009 - 2014 16

Bảng 1 5.Tình hình sản xuất canh tác lúa tại thành phố Lai Châu từ năm 2009 - 2014 17

Bảng 1.6 Nhu cầu và cân đối phân bón ở Việt Nam đến năm 2020 27

Bảng 3.1 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến thời gian sinh trưởng của giống lúa Tẻ Râu 40

Bảng 3.2 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến chiều cao cây lúa 42

Bảng 3.3 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến số nhánh đẻ cây lúa 46

Bảng 3.4 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến chỉ số diện tích lá 48

Bảng 3.5 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến khả năng tích lũy vật chất khô của giống lúa Tẻ Râu 50

Bảng 3.6 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến khả năng chống chịu của giống lúa Tẻ Râu 53

Bảng 3.7 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa Tẻ Râu 56

Bảng 3.8 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến hiệu quả kinh tế của giống lúa Tẻ Râu 59

Bảng 3.9 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến thời gian sinh trưởng của giống lúa Tẻ Râu 61

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Bảng 3 11 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến số nhánh đẻ của cây lúa 64 Bảng 3.12 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến chỉ số diện tích lá 65 Bảng 3.13 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến khả năng tích lũy vật

chất khô của giống lúa Tẻ Râu 67 Bảng 3.14 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến khả năng chống chịu

của giống lúa Tẻ Râu 69 Bảng 3 15 Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến năng suất và các yếu tố

cấu thành năng suất của giống lúa Tẻ Râu 71 Bảng 3.16 Ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón đến hiệu quả kinh tế của

giống lúa Tẻ Râu 73

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Hình 3.1 Năng suất của giống lúa Tẻ Râu ở các mật độ cấy khác nhau 58 Hình 3.2 Năng suất của giống lúa Tẻ Râu ở các tổ hợp phân bón khác nhau 72

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đối với người Việt Nam chúng ta, hay phần lớn dân châu Á nói chung,

cây lúa (Oryza sativa) là một loại thực phẩm hết sức gần gũi và đóng một vai

trò quan trọng trong dinh dưỡng hàng ngày Sản xuất lúa nước là nghề truyền thống của người nông dân Việt Nam nói chung và của các đồng bào dân tộc khu vực miền núi phía Bắc nói riêng Tại nhiều địa phương, đặc biệt là trên các cánh đồng rộng lớn ở vùng miền núi Tây Bắc (Mường Thanh - Điện Biên, Mường Lò - Yên Bái, Mường Than - Lai Châu, ) từ những năm 60 của thế

kỷ trước, khi đồng bào ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng lên xây dựng vùng kinh tế mới, phong trào thâm canh tăng năng suất lúa ngày càng được mở rộng Từ những năm 90 của thế kỷ trước đến nay có nhiều vùng đã dần chuyển sang sản xuất lúa hàng hoá chất lượng cao, như tại cánh đồng Mường Thanh gạo IR64 đã trở thành loại gạo đặc sản được nhiều tỉnh phía bắc biết đến, cánh đồng Mường Lò đã từng bước chuyển đổi mở rộng diện tích cấy các giống lúa thơm như Bắc thơm 7, Chiêm hương, HT1, cánh đồng Mường Than có giống lúa Sén Cù,…

Trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đặc biệt khi Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO), cơ chế thị trường đã thực sự mở cửa, Việt Nam không chỉ chú trọng đến việc sản xuất đủ lương thực mà còn phải nâng cao chất lượng lương thực Trong những năm gần đây, an ninh lương thực của Việt Nam đã tương đối ổn định và Việt Nam đã trở thành nước đứng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo Do vậy vấn đề nâng cao năng suất và chất lượng gạo là một việc làm rất cần thiết để thích ứng ngày càng nhanh với sự cạnh tranh gay gắt của thị trường Tìm ra các giống lúa mới có năng suất cao, chất lượng tốt, kết hợp với các biện pháp kỹ thuật phù hợp với từng tiểu vùng khí hậu đã và đang là

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

nhiệm vụ cấp bách của chúng ta Song song với nó là công tác quy hoạch các vùng sản xuất lúa gạo mang tính chất hàng hoá, phát triển bền vững các giống lúa có khả năng cạnh tranh cao, đồng thời nghiên cứu và xác lập hệ thống thị trường tiêu thụ Như vậy sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng đất và giúp cho nông dân có thêm cơ sở để phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập và cải thiện cuộc sống góp phần tích cực vào việc thực hiện thành công Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới

Thành phố Lai Châu, một trung tâm chính trị của tỉnh Lai Châu, có điều kiện thuận lợi về giao thông có quốc lộ 4D, quốc lộ 12 nối liền hai tỉnh Lào Cai và Điện Biên, thuận tiện cho việc giao lưu trao đổi hàng hóa,

có điều kiện khí hậu thích hợp cho phát triển sản xuất lúa Tẻ Râu, thành phố Lai Châu có diện tích ruộng cấy lúa trên 495 ha, chủ yếu là đất 1 vụ lúa, điều kiện tưới nước phụ thuộc vào nước mưa là chính, việc thâm canh còn hạn chế, tổng sản lượng lúa hàng năm trên 2.290 tấn Tuy nhiên, so với điều kiện lợi thế thì thành phố Lai Châu chưa phát huy được tiềm năng thế mạnh đó, hiệu quả kinh tế mang lại từ sản xuất lúa còn rất thấp, chưa sản xuất lúa thành hàng hóa

Thực tế trong sản xuất nhiều năm qua người nông dân do thói quen và quan niệm lấy lượng bù chất cũng như chưa chủ động áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nên thường cấy với mật độ dầy, việc sử dụng phân bón còn thiếu khoa học và lãng phí Người nông dân mới chỉ quan tâm đến sử dụng phân đạm, lân, một số ít quan tâm đến sử dụng kali Việc sử dụng các loại phân bón không cân đối như lượng đạm bón nhiều, trong khi đó phân kali còn

sử dụng rất thấp hoặc không bón Thời điểm bón phân chưa hợp lý, thường bón muộn, bón rải rác không tập trung nhất là đạm nên cây lúa thường hay bị

đổ, sâu bệnh nhiều ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng, Vì vậy, ngoài các biện pháp kỹ thuật như bố trí thời vụ, kỹ thuật làm đất, tưới nước, phòng

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

trừ sâu bệnh, thì xác định mật độ cấy và các mức phân bón, cách bón là một biện pháp kỹ thuật quan trọng cần được nghiên cứu và áp dụng nhằm làm cho cây lúa sinh trưởng, phát triển tốt hơn, tăng năng suất và hiệu quả kinh tế của sản xuất lúa

Xuất phát từ những thực trạng trên, việc tìm và duy trì giống lúa vừa năng suất cao, chất lượng tốt, thích nghi với điều kiện sinh thái của thành phố Lai Châu và những biện pháp kỹ thuật phù hợp với yêu cầu của giống là nhiệm vụ cấp bách Từ tình hình thực tiễn sản xuất lúa tại địa phương chúng

tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy và các tổ hợp phân bón đến sinh trưởng và năng suất của giống lúa Tẻ Râu vụ Mùa 2014 và vụ Xuân 2015 tại thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu”

2 Mục đích, yêu cầu của đề tài

2.1 Mục đích

Xác định được mật độ cấy và các mức phân bón thích hợp đối với giống lúa Tẻ Râu trồng trong vụ mùa và vụ xuân tại thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu

Xác định được mức phân bón, mật độ cấy cho hiệu quả cao nhất

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

3.1 Ý nghĩa khoa học

Xác định đặc điểm sinh trưởng của giống lúa Tẻ Râu cho năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp với điều kiện sinh thái khu vực thành phố Lai Châu

Xác định liều lượng bón phân và mật độ cấy cho giống lúa Tẻ Râu tại

xã San Thàng thành phố Lai Châu;

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Kết quả nghiên cứu của đề tài đóng góp và bổ xung vào tài liệu phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu và chỉ đạo sản xuất

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Xác định được thời vụ, liều lượng phân bón, mật độ cấy hợp lý cho hiệu quả cao nhất, duy trì được chất lượng của lúa Tẻ Râu để khuyến cáo áp dụng vào thực tiễn sản xuất tại thành phố Lai Châu

Kết quả nghiên cứu góp phần cải thiện quy trình làm tăng năng suất, hiệu quả kinh tế cho sản xuất lúa Góp phần đảm bảo an ninh lương thực, nâng cao chất lượng đời sống của đồng bào dân tộc khu vực thành phố Lai Châu nói riêng và vùng trung du, miền núi phía Bắc nói chung

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Sản xuất lúa gạo đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh

tế nông nghiệp và nông thôn Việt Nam Khoảng 80% trong tổng số 11 triệu

hộ nông dân tham gia sản xuất lúa gạo, chủ yếu dựa vào phương thức canh tác thủ công truyền thống Do sản xuất lúa gạo là nguồn thu nhập và cung cấp lương thực chính của các hộ nông dân, nên chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn gắn liền với phát triển ngành hàng lúa gạo Trong gần ba thập kỷ qua nhờ có đổi mới cơ chế quản lý, Việt Nam đã đạt được những thành tựu lớn trong sản xuất lúa gạo, không những đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước mà hàng năm còn xuất khẩu được 3-4 triệu tấn gạo

Tuy nhiên ngành lúa gạo Việt Nam vẫn còn có nhiều khó khăn và thách thức, trong khi dân số thế giới tiếp tục gia tăng thì diện tích đất dùng cho trồng lúa lại không tăng, và xu thế có chiều hướng giảm theo thời gian vì phải nhường đất cho một số công trình giao thông (đường cao tốc Cuôn Minh - Hải Phòng), các khu công nghiệp, Hiện nay năng suất lúa bình quân chung của cả nước đạt khoảng 4,5 tấn/ha, song giữa các vùng sinh thái khác nhau lại

có sự chênh lệch đáng kể về năng suất lúa Ở các vùng đồng bằng một số hộ nông dân trồng lúa đã đạt được năng suất rất cao, 10-12 tấn/ha, trong khi đó năng suất lúa ở các vùng trung du miền núi thường lại rất thấp, chỉ đạt bình quân khoảng trên 2 tấn/ha Do đó, vấn đề lương thực từng được đặt ra như là một mối đe dọa đến sự an ninh và ổn định của thế giới trong tương lai Theo

dự đoán của các chuyên gia về dân số học, nếu dân số thế giới tiếp tục gia tăng trong vòng 20 năm tới, thì sản lượng lúa gạo phải tăng 80% mới đáp ứng cho nhu cầu sống còn của cư dân mới Trong điều kiện eo hẹp đó, người ta phải suy nghĩ đến một chiến lược để tăng sản lượng lúa gạo thông qua một số biện pháp kỹ thuật canh tác

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Quan hệ giữa năng suất cá thể (khóm lúa, bông lúa) với năng suất quần thể ruộng lúa là rất chặt chẽ Trên một đơn vị diện tích nếu mật độ càng cao (gieo cấy dầy) thì số bông nhiều song số hạt trên bông càng ít (bông bé), tốc

độ giảm số hạt trên bông mạnh hơn tốc độ tăng của mật độ Vì vậy, gieo cấy dầy quá sẽ làm cho năng suất giảm nghiêm trọng Nếu gieo cấy quá thưa nhất

là giống có thời gian sinh trưởng ngắn rất khó hoặc không thể đạt được số bông tối ưu Vì vậy, khi các khâu kỹ thuật khác được duy trì thì chọn mật độ vừa phải là phương án tối ưu để đạt được số lượng hạt thóc nhiều nhất trên một đơn vị diện tích gieo cấy Trong quá trình sinh trưởng và phát triển cây lúa cần một lượng dinh dưỡng nhất định, đặc biệt là phân đạm lượng dinh dưỡng này một phần có sẵn ở trong đất, phần lớn còn lại là do con người cung cấp hợp lý sẽ làm cho cây lúa sinh trưởng tốt đạt năng suất cao

Khi nghiên cứu về vai trò của đạm đối với cây trồng nói chung, với cây lúa nói riêng, nhiều tác giả đã ghi rõ: Đạm tham gia cấu tạo nên cơ thể thực vật, đạm có trong protein, đạm điều tiết các hoạt động sống của cây, tham gia vào các chất kích thích sinh trưởng các Xytokinin, vitamin Đạm có hoạt tính sinh học cao, làm tăng hay giảm các hoạt động sinh lý của cây Người ta còn thấy đạm có trong các enzim xúc tiến các quá trình biến đổi sinh hóa trong cơ thể cây Đặc biệt đạm có mặt trong diệp lục tố, vì thế lúa được bón đạm sẽ khác hẳn như: lá to, dài, xanh, quang hợp tốt, đẻ nhiều Nếu thiếu đạm lá vàng, nhỏ, đẻ ít, bông nhỏ, nhưng nếu quá nhiều đạm lúa sẽ lốp đổ, sâu bệnh nhiều, hạt lép (Nguyễn Thị Lẫm, 1994) [13]

Trong cây lúa tính theo chất khô, tỷ lệ kaki nguyên chất (K2O) chiếm khoảng 0,6-1,2% trong rơm rạ và khoảng 0,3-0,45% trong hạt gạo Khác với đạm và lân, kali không tham gia vào thành phần bất kỳ một hợp chất hữu cơ nào mà chỉ tồn tại dưới dạng ion trong dịch bào và một phần nhỏ kết hợp với chất hữu cơ trong tế bào chất của cây lúa Cũng như đạm, lân và kali chiếm tỉ

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

lệ cao hơn tại các cơ quan non của cây lúa Kali còn tồn tại dưới dạng ion nên nhờ vậy mà kali có thể len lỏi vào giữa các bào quan, xúc tiến quá trình vận chuyển dinh dưỡng, giúp cho cây lúa tăng cường hô hấp Kali còn giúp thúc đẩy tổng hợp protit, do vậy nó hạn chế việc tích lũy nitrat trong lá, hạn chế tác hại của việc bón thừa đạm cho lúa Ngoài ra kali còn giúp bộ rễ tăng khả năng hút nước và cây lúa không bị mất nước quá mức ngay cả trong lúc gặp khô hạn Kali làm tăng chống hạn và chống rét cho cây lúa Cây lúa được bón đầy

đủ kali sẽ phát triển cứng cáp, không bị đổ ngã, chịu hạn và chịu rét tốt Cây lúa thiếu kali lá có màu lục tối, mép lá có màu nâu hơi vàng Thiếu kali nghiêm trọng trên đỉnh lá có vết hoại tử màu nâu tối trong khi các lá già phía dưới thường có vết bệnh tiêm lửa Khi tỉ lệ kali trong cây giảm xuống chỉ còn bằng 1/2-1/3 so bình thường thì mới thấy xuất hiện triệu chứng thiếu kali trên

lá, cho nên khi triệu chứng suất hiện thì năng suất đã giảm nên việc bón kali không thể bù đắp được Do vậy không nên đợi đến lúc xuất hiện triệu chứng thiếu kali rồi mới bón bổ sung kali cho cây Trong sản xuất, khi bón kali cho lúa, lượng kali clorua bao giờ cũng ít nhất trong 3 loại phân bón chính và thường sử dụng để bón thúc cùng với phân đạm [12]

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ làm cơ sở cho các công trình nghiên cứu sau này nhằm góp phần xác định mật độ cấy và mức phân bón hợp lý cho giống lúa thuần Tẻ Râu Khẳng định được vai trò của khoa học kỹ thuật đối với sản xuất, đặc biệt là việc tìm ra các công thức mật độ và phân bón có hiệu quả thâm canh để tăng năng suất cây trồng và giữ được cân bằng sinh thái của ruộng lúa

1.2 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và ở Việt nam

1.2.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới

Hiện nay thế giới có trên 100 nước trồng lúa ở hầu hết các châu lục Tuy nhiên, sản xuất lúa gạo vẫn tập trung chủ yếu ở các nước châu Á nơi

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

chiếm tới 90% diện tích gieo trồng và sản lượng Biến động về diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên toàn thế giới trong vài thập kỷ gần đây thể hiện qua bảng 1.1

Bảng 1.1 Diễn biến diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên thế giới

giai đoạn 1970 - 2013

(nghìn ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (triệu tấn)

(Nguồn: FAO STAT, 2015) [30]

Bảng 1.1 cho thấy: Diện tích canh tác lúa trên thế giới trong vài thập kỷ gần đây có xu hướng tăng Song tăng mạnh nhất vào những thập niên 70, 90 của thế kỷ XX và có xu hướng ổn định từ những năm đầu của thế kỷ XXI, năm 2000 có diện tích lúa là 154.056 nghìn ha, đến năm 2013 là 166.085 ha

Về năng suất của lúa cũng tăng dần qua các năm và tăng nhanh nhất vào thập niên 70, 80 Đến thập niên 90 và những năm đầu của thế kỷ XXI năng suất lúa tăng chậm lại song nhìn chung năng suất tăng gần gấp đôi từ 23,81 tạ/ha năm 1970 lên 44,87 tạ/ha vào năm 2013 Điều này cho thấy “cuộc Cách mạng xanh” từ giữa thập niên 60 đã ảnh hưởng tích cực đến sản lượng lúa của thế giới nói chung và của châu Á nói riêng, những tiến bộ kỹ thuật mới nhất là giống mới, kỹ thuật thâm canh tiên tiến được áp dụng đã góp phần làm cho

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

sản lượng lúa tăng lên đáng kể Châu Á gồm 8 nước có sản lượng cao nhất đó

là Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh, Thái Lan, Việt Nam, Myanma

và Nhật Bản Năm 2013 châu Á có diện tích lúa cao nhất với 146,2 triệu ha, sản lượng 674,8 triệu tấn

Bảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa gạo của 10 nước

đứng đầu thế giới năm 2013 Tên nước Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)

(Nguồn: FAO STAT, 2015) [30]

Qua Bảng 1.2 cho thấy: Ấn Độ là nước có diện tích trồng lúa lớn nhất thế giới với diện tích năm 2013 là 43.500 nghìn ha, tuy nhiên do năng suất lúa của nước này thấp (chỉ đạt 36,598tạ/ha) nên sản lượng lúa của Ấn Độ đứng thứ 2 thế giới là 159.201 nghìn tấn, chiếm 21,08% tổng sản lượng của thế giới Trung Quốc có diện tích trồng lúa đứng thứ 2 thế giới, trong vài thập niên gần đây Trung Quốc có nhiều thành tựu trong cải tiến giống lúa, trong đó đặc biệt quan tâm đến sử dụng ưu thế lai ở lúa do đó năng suất bình quân năm

2012 đạt 67,257 tạ/ha, sản lượng đạt 203.291 nghìn tấn (đứng đầu về sản lượng lúa trên thế giới) Tuy nhiên trong những năm gần đây diện tích canh tác lúa của Trung Quốc giảm do quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa tăng nhanh bên cạnh đó nguồn nước ngọt không đủ và phân bố không đều Đây cũng là trở ngại lớn trong việc nâng cao năng suất và sản lượng lúa của Trung

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Quốc Tuy Ấn Độ và Trung Quốc là hai nước có diện tích trồng lúa cao nhất thế giới nhưng năng suất lúa của nước Australia cao nhất, năm 2013 đạt 102,177 tạ/ha, gấp 2,28 lần năng suất lúa bình quân của thế giới, gấp 2,21 lần năng suất lúa bình quân của châu Á Ả Rập là nước có năng suất lúa đứng thứ

2, năm 2013 đạt 96.429 tạ/ha, gấp 2,16 lần năng suất lúa bình quân của thế giới, gấp 2,1 lần năng suất lúa bình quân của châu Á Thái Lan là nước xuất khẩu gạo hàng đầu Thế giới Nước này cũng được thiên nhiên ưu đãi với những vùng châu thổ trồng lúa phì nhiêu, diện tích canh tác lớn (chiếm khoảng 40% diện tích tự nhiên), điều kiện thời tiết thuận lợi, mưa thuận gió hòa thích hợp cho phát triển cây lúa nước Vì vậy, cây lúa là cây trồng chính trong sản xuất nông nghiệp của Thái Lan với diện tích năm 2013 là 12.373.163 ha, năng suất bình quân 31.348 tạ/ha, sản lượng 38.787.391 tấn Các trung tâm nghiên cứu giống lúa được thành lập ở nhiều tỉnh và khu vực Tiêu chí chọn giống lúa của các nhà khoa học Thái Lan là các giống phải có thời gian sinh trưởng trung bình đến dài ngày (vì phần lớn lúa ở Thái Lan chỉ trồng được 1 vụ/năm) hạt gạo dài và trong, ít dập gãy khi xay sát, có hương thơm, coi trọng chất lượng hơn là năng suất điều này giải thích tại giá gạo xuất khẩu của Thái Lan luôn cao hơn của Việt Nam Theo hướng này Thái Lan đã tạo ra các giống lúa chất lượng nổi tiếng Thế giới, trong đó phải kể đến các giống như: Khao đomali, Jasmin (Hương nhài) Theo dự báo của Ban Nghiên cứu Kinh tế, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ dự báo trong giai đoạn 2007 -

2017, các nước sản xuất gạo ở Châu Á sẽ tiếp tục là nguồn cung cấp gạo xuất khẩu chính của thế giới: Bao gồm Thái Lan, Việt Nam, Ấn Độ Riêng xuất khẩu gạo của hai nước Thái Lan và Việt Nam sẽ chiếm khoảng nửa tổng lượng gạo xuất khẩu của thế giới Việt Nam xuất khẩu gạo hạt dài là chủ yếu Thái Lan xuất khẩu gạo thơm, gạo hạt dài đặc biệt và gạo dính Một số nước khác cũng sẽ đóng góp giúp tăng sản lượng gạo thế giới như: Ấn Độ, các tiểu

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

vùng Saharan Châu Phi, Bangladesh, Philippines, Brazil Ấn Độ dự báo vẫn đứng ở vị trí thứ tư trong số các nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới Xuất khẩu gạo của Ấn Độ thất thường Gạo Ấn Độ xuất khẩu chủ yếu là gạo basmati Tuy nhiên trong những năm gần đây, lũ và hạn hán xảy ra ở nước này gây thiệt hại lớn về sản lượng lương thực, giá lúa mỳ tăng cao đã đẩy nhu cầu tiêu thụ gạo tăng Chính phủ nước này đang xem xét ban hành chính sách cấm xuất khẩu các loại gạo thường không phải basmati Theo dự báo của USDA trong thập kỷ tới, dự báo xuất khẩu gạo Ấn Độ sẽ tăng trưởng hơn 30%, thị phần xuất khẩu gạo của Ấn Độ sẽ tăng từ 16% năm 2007/08 lên khoảng 17% đến năm 2016/17

Trung Quốc xuất khẩu trung bình 2,6 triệu tấn gạo trong giai đoạn 1998 -

2003, từ đó xuất khẩu gạo của Trung Quốc tiếp tục giữ ổn định ở mức 1 triệu tấn gạo Khối lượng gạo xuất khẩu của Trung Quốc giảm từ năm 2004 do diện tích lúa thu hẹp lại dẫn đến nguồn cung trong nước hạn chế Diện tích sản xuất lúa được dự báo là giảm nhẹ, bù lại năng suất tăng lên Trung Quốc xuất khẩu gạo chất lượng cao, gạo hạt ngắn và trung bình tới thị trường bắc Á và gạo chất lượng thấp, hạt dài tới thị trường Sahara Châu Phi và một số thị trường có thu nhập thấp của Châu Á Năm 2013, sản xuất lúa gạo trên thế giới nhìn chung không có thay đổi lớn so với năm 2012 nhưng nhóm các nước tiêu dùng lớn như: Trung Quốc, Indonesia, Philippines đang đẩy mạnh chiến lược tự cân đối nhu cầu trong nước, do đó thị trường thế giới sẽ chỉ có đột biến khi bất ổn về thiên tai xảy ra Đầu năm 2013, lượng cung thương mại gạo toàn cầu vẫn khá dồi dào, trong khi đó, nhu cầu thế giới chưa có dấu hiệu khan hiếm; do đó, thị trường gạo toàn cầu chỉ chịu tác động trong hai trường hợp: Nếu các nước vừa chịu ảnh hưởng nặng nề về hạn hán và lũ lụt như Trung Quốc, ấn Độ, Philippines tăng lượng dự trữ thông qua nguồn cung trong nước hoặc mua bổ sung vào lượng dự trữ; hoặc thiên tai bất ngờ xảy ra tại các nước sản xuất gạo

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Hiện tại, nhu cầu lúa gạo về phẩm chất rất khác nhau tùy từng vùng và tập quán Các nước Nhật, Triều Tiên, Trung Quốc, Âu Mỹ thích gạo mềm, ướt, hơi dẻo (giống Japonica) Ngược lại Ấn Độ, Pakixtan, Việt Nam lại thích gạo nở, cơm khô Trên thị trường gạo thế giới, chiều dài hạt, phẩm chất gạo rất được quan tâm Về chiều dài hạt, Viện IRRI chia ra làm 4 cấp: hạt rất dài (trên 7,5 mm), hạt dài (6,6 - 7,5 mm), hạt trung bình (5,5 - 6,5 mm) và hạt ngắn (dưới 5,5 mm) Về màu sắc gạo, phổ biến nhất là màu trắng ngà, song cũng có màu đỏ hoặc hơi đen Về hướng phát triển gạo của các nước cũng rất khác nhau, tùy vào thị trường tiêu thu ̣ của mình mà các nước xuất khẩu gạo lớn hiện nay tập trung phát triển các loại gạo có chất lượng khác nhau: Thái Lan tập trung sản xuất phát triển các giống lúa có kiểu hạt dài, chất lượng cao; tại Mỹ phát triển các giống có kiểu hạt tròn và hạt dài nhưng có chất lượng cao; trong khi đó Ấn Độ lại phát triển các giống có năng suất cao để xuất khẩu sang các nước nghèo như các nước ở Châu Phi (Bộ Nông nghiệp Hoa

Kỳ, 2011) [1], (Bùi Huy Đáp 1999) [3]

Trong xã hội hiện nay khi mức sống của đại bộ phân người dân đã được nâng cao thì nhu cầu về sản phẩm gạo có chất lượng cao đặc biệt là các loại lúa đặc sản ngày một tăng lên Theo nhận xét của S.Tang và Z.Wang, 2001: lúa đặc sản chất lượng là cơ sở vật chất quan trọng cho công tác cải tiến các giống lúa mới

Còn theo định nghĩa của Ceng Y.M; Chen Y (1998) thì lúa đặc sản là những loại lúa đặc biệt, không giống như các loại lúa phổ biến thông thường Chúng được xác định bởi sự khác biệt về một vài đặc điểm theo những chỉ tiêu quan trọng quy định chung cho phần lớn các nước châu Á và Châu Phi: hình dáng, kích cỡ, hàm lượng Amylose, màu nội nhũ và mùi thơm

Ceng Y.W; Chen Y và Dai L.Y (1998) cho rằng lúa nếp hoặc lúa Waxy, lúa thơm, lúa màu (lúa đỏ, lúa tím, lúa đen), lúa nương-japonica, lúa dẻo (soft

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

rice), lúa boutique, lúa nấu rượu, lúa vô cơ, lúa có phẩm chất dinh dưỡng, đều thuộc lúa đặc sản và khái niệm về lúa đặc sản cổ truyền, lúa đặc sản cải tiến là khái niệm để phân biệt lúa đặc sản bản địa và lúa đặc sản mới chọn tạo

1.2.2 Tình hình sản xuất lúa trong nước

Nước ta thuộc vùng nhiệt đới nằm ở toạ độ 8030’ - 23022’ vĩ tuyến Bắc,

102010’ - 109029’ kinh tuyến Đông, thuộc vùng khí hậu nhiệt đới Với đặc điểm khí hậu này đã phần nào khẳng định thêm Việt Nam là cái nôi hình thành cây lúa Là một nước có nền nông nghiệp với khoảng 80% dân số làm nghề nông, chính vì vậy mà trải qua 4000 năm lịch sử cây lúa luôn gắn liền với sự phát triển của dân tộc Địa hình nước ta trải dài từ Bắc vào Nam hình thành nên những vùng đồng bằng rộng lớn tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển của cây lúa nước Lúa là cây lương thực quan trọng hàng đầu trong sản xuất nông nghiệp của nước ta, hàng năm cây lúa cung cấp 85 - 87% tổng sản lượng lương thực trong nước, tuy rằng diện tích tự nhiên của Việt Nam chỉ đạt 33,1 triệu ha, đất sử dụng cho nông nghiệp là 7,4 triệu ha chiếm 22% diện tích tự nhiên, trong đó diện tích trồng lúa là 4,25 triệu ha chiếm 76,9%, còn lại là cây trồng cạn và cây lương thực khác Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam trong những năm gần đây thể hiện qua số liệu bảng 2.3 cho thấy, diện tích trồng lúa tăng trong thập kỷ 80 và 90 Diện tích trồng lúa năm 1970

là 4.724.400 ha, năm 2000 đạt 7.666.300 ha Từ năm 2000 đến nay diện tích trồng lúa biến động không nhiều Năm 2013 cả nước trồng được 7.899.400

ha, tăng 233.100 ha so với năm 2010

Năng suất lúa của nước ta cũng tăng rất nhanh theo thời gian Từ những năm 1970 đến 1980 năng suất lúa rất thấp và biến động không nhiều, đạt xấp

xỉ 20 tạ/ha Năm 1990 năng suất lúa đã tăng lên 31,81 tạ/ha, năm 2000 là 42,43 tạ/ha, năm 2010 năng suất lúa đạt 53,22 tạ/ha và năm 2012 có năng suất lúa cao nhất là 56,32 tạ/ha, tăng 13,89 tạ/ha so với năm 2000 và tăng 35,52

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

tạ/ha so với năm 1980 Tuy nhiên đến năm 2013 năng suất lúa lại giảm nhẹ so với năm 2013, đạt 55,8 tạ/ha

Bảng 1.3 Diễn biến diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Việt Nam

giai đoạn 1970 - 2013 Năm Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)

(Nguồn: FAO STAT, 2015) [30]

Do diện tích và năng suất tăng lên sản lượng tăng khá cao, năm 2012 đạt 436.658.140 tấn, năm 2013 đạt 440.786.520 tạ/ha Có được thành tựu trên nhờ chúng ta không ngừng cải thiện công tác giống trong sản xuất lúa, đây cũng chính là chiến lược sản xuất của Việt Nam trong thời gian tới, phấn đấu đạt và duy trì sản lượng lúa hàng năm là 45 triệu tấn/năm, đẩy mạnh sản xuất giống lúa có chất lượng cao xuất khẩu hàng năm từ 5 - 6 triệu tấn Như vậy việc nghiên cứu, chọn lọc, lai tạo và nhập khẩu các loại giống lúa có chất lượng cao phục vụ cho yêu cầu sản xuất là một nhiệm vụ sống còn và phải đặt thành chương trình cấp Quốc gia và phải huy động cả “4 nhà”(Nhà nước, Nhà

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

khoa học, Nhà nông và nhà Doanh nghiệp) cùng tham gia thì mới có hy vọng đạt kết quả như mong muốn

Ngoài hàng loạt những biện pháp đổi mới của Chính Phủ, công tác cải tiến giống lúa có vai trò quan trọng và sau đó là những thay đổi kỹ thuật trồng lúa như việc chuyển đổi mùa vụ, giải quyết vấn đề thủy lợi để tưới tiêu, cải tạo đất phèn ở ĐBSCL Năng suất và sản lượng lúa tăng còn do tăng diện tích gieo trồng Đặc biệt việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật, mở rộng diện tích giống lúa lai, lúa thuần có năng suất cao kết hợp với các biện pháp thâm canh tổng hợp đã góp phần chủ yếu làm tăng năng suất lúa với tốc độ cao ổn định Tỷ lệ diện tích gieo cấy bằng các giống lúa lai, lúa thuần có năng suất cao tăng từ 50% (1991-1995) lên 80% thời kỳ 1996-2000 và trở thành yếu tố cơ bản làm tăng năng suất lúa Hiện nay các giống lúa mới chiếm khoảng 65% diện tích gieo trồng của cả nước Những năm gần đây chúng ta

có chính sách mở cửa nên nhập nội một số giống lúa từ các Viện lúa quốc tế (IRRI), CIAT và của một số nước khác đặc biệt là Trung Quốc

Việt Nam vẫn là một trong những nước xuất khẩu gạo lớn nhất và được chứng minh bằng việc Việt Nam tiếp tục giành nhiều lợi thế cạnh tranh trong sản xuất gạo so với những nhà sản xuất khác và lợi thế này ngày càng mạnh đối với sản phẩm gạo chất lượng cao Tuy nhiên vẫn còn những câu hỏi đặt ra

là làm thế nào để gạo đạt được chất lượng cao và duy trì tốc độ xuất khẩu như hiện nay Cộng đồng quốc tế đánh giá cao những thành tựu của Việt Nam trong việc giải quyết các vấn đề an ninh lương thực Có được sự tăng tiến như trên chủ yếu vẫn nhờ vào công tác cải tiến giống Chọn tạo giống được coi là giải pháp hữu hiệu nhất để nâng cao sản lượng lúa vì đầu tư thấp nhưng hiệu quả cao, vì vậy công tác chọn tạo giống lúa phải được tiến hành thường xuyên

và liên tục

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Để có một Ngành nông nghiệp như ngày nay, đã có nhiều thế hệ nhà khoa học đóng góp công sức, trí tuệ để nghiên cứu ra các công trình khoa học nông nghiệp có giá trị, phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước từ những năm trước giải phóng cho tới nay, sau thành công về sản lượng lúa chúng ta cần có một cách nhìn toàn diện hơn về sản xuất lúa gạo của Việt Nam trong đó vấn

đề chất lượng của lúa gạo cần đặc biệt quan tâm

1.2.3 Tình hình sản xuất lúa tại Lai Châu

Cùng với sự phát triển của nghề trồng lúa trong cả nước, tỉnh Lai Châu trong những năm gần đây đặc biệt quan tâm phát triển sản xuất lúa và đã thu được nhiều kết quả nhất định nhờ có các thành tựu khoa học kỹ thuật mới, được nông dân ứng dụng mạnh mẽ vào sản xuất nên diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên địa bàn toàn tỉnh tăng nhanh trong những năm gần đây

Bảng 1.4 Tình hình sản xuất lúa tại Lai Châu từ năm 2009 - 2014

(nghìn ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (nghìn tấn)

(Nguồn Cục thống kê Tỉnh Lai Châu - 2014)

Qua bảng 1.4 cho thấy: Từ năm 2009 đến năm 2014 diện tích canh tác lúa của tỉnh Lai Châu tăng từ 30,20 ha đến 30,44 ha Năng suất lúa của tỉnh tăng đều từ 37,04 tạ/ha năm 2009 lên 41,74 tạ/ha vào năm 2014, tăng 4,7 tạ/ha

so với năm 2009 Sản lượng tăng từ 111,86 nghìn tấn năm 2009 lên 127,09 nghìn tấn vào năm 2014, tăng 15,23 nghìn tấn so với năm 2014 Tuy nhiên năng suất lúa của tỉnh Lai Châu vẫn thấp hơn nhiều so với năng suất lúa của cả nước, năng suất lúa hiện tại của tỉnh chỉ bằng 64,57% năng suất lúa của cả nước Sản lượng lúa năm 2014 đạt 127,09 nghìn tấn Điều này chứng tỏ trong

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

những năm gần đây việc canh tác lúa đã được Đảng bộ và chính quyền tỉnh đặc biệt chú trọng quan tâm và đầu tư phát triển đã đạt được những thành tựu như vậy đó chính là nhờ áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất lúa như: Sử dụng các giống mới, kỹ thuật canh tác Tuy nhiên sản xuất lúa ở Lai Châu cần được quan tâm và đầu tư phát triển nhiều hơn, mạnh hơn nữa như: Tăng diện tích canh tác ruộng 1 vụ, ruộng 2 vụ Sử dụng giống mới, thâm canh tăng năng suất nhằm khai thác tối đa tiềm năng đất sẵn có của tỉnh

1.2.4 Tình hình sản xuất lúa tại thành phố Lai Châu tỉnh Lai Châu

Thành phố Lai Châu là một thành phố trẻ mới được thành lập theo Nghị quyết số 131/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2013, có 05 phường, 02 xã,

có 35.596 nhân khẩu; Tổng diện tích đất tự nhiên là 7.077,44 ha, trong đó đất nông nghiệp trên 2752,8 ha, diện tích đất ruộng cấy lúa trên 495 ha, chủ yếu

là đất 1 vụ lúa, điều kiện tưới nước phụ thuộc vào nước mưa là chính, việc thâm canh còn hạn chế Tuy nhiên, trong những năm gần đây cùng với sự phát triển cây lương thực nói chung của thành phố Lai Châu, cây lúa cũng rất được quan tâm phát triển sản xuất và đã thu được nhiều kết quả nhất định

Bảng 1 5.Tình hình sản xuất canh tác lúa tại thành phố Lai Châu

từ năm 2009 - 2014

(nghìn ha)

Năng suất (tạ/ha)

Sản lượng (nghìn tấn)

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Nhờ có các thành tựu khoa học kỹ thuật mới được nông dân ứng dụng mạnh mẽ vào sản xuất canh tác lúa nên diện tích, năng suất và sản lượng lúa trên địa bàn thành phố cũng đã tăng nhanh

Qua bảng 1.5 cho thấy: Từ năm 2009 đến năm 2014 diện tích canh tác lúa của thành phố Lai Châu tăng từ 0,43 nghìn ha đến 0,48 nghìn ha Năng suất lúa của thành phố ổn định qua các năm đều ở mức 45,32 - 46,40 tạ/ha Sản lượng lúa tăng từ 1,99 nghìn tấn năm 2009 lên đến 2,18 nghìn tấn vào năm 2014, tăng 0,19 nghìn tấn so với năm 2009 Điều này chứng tỏ trong những năm gần đây ở tỉnh Lai Châu nói chung, thành phố Lai Châu nói riêng cây lúa đã được đảng bộ và chính quyền thành phố đặc biệt chú trọng đầu tư phát triển Đạt được những thành tựu như vậy đó chính là nhờ

áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất canh tác lúa như:

Sử dụng một số tập đoàn các giống mới, áp dụng kỹ thuật canh tác tốt Sử dụng giống mới, thâm canh tăng năng suất nhằm khai thác tối đa tiềm năng đất sẵn có của thành phố từ sự phát triển đó đã phần nào đảm bảo được cuộc sống cho đồng bào vùng sâu vùng xa, đảm bảo được an ninh lương thực cho toàn thành phố

Ngoài việc canh tác lúa ở những xã thuận lợi, cần tăng cường sử dụng các giống lúa địa phương ở những xã khó khăn, nhằm tăng năng suất, sản lượng và chất lượng, nâng cao hiệu quả kinh tế, góp phần xóa đói giảm nghèo cho nông dân Đặc biệt phải tiến hành nghiên cứu các tổ hợp phân bón cho giống lúa địa phương, kết hợp nghiên cứu mật độ nhằm khuyến cáo đến bà con nông dân kỹ thuật canh tác giống lúa bản địa góp phần đảm bảo nhu cầu an ninh lương thực, đồng thời nâng cao được chất lượng lương thực cho đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao, nâng cao hiệu quả kinh tế của toàn thành phố

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

1.3 Những kết quả nghiên cứu về mật độ cấy

1.3.1 Mật độ cấy ảnh hưởng tới sự sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng lúa

Mật độ là một kỹ thuật làm tăng khả năng quang hợp của cá thể và quần thể ruộng lúa, do tăng khả năng tiếp nhận ánh sáng, tạo số lá và chỉ số diện tích lá thích hợp cho cá thể và quần thể ruộng lúa, ảnh hưởng đến khả năng đẻ nhánh và số nhánh hữu hiệu/khóm, khả năng chống chịu sâu bệnh…từ đó mà ảnh hưởng mạnh mẽ đến năng suất lúa

Bùi Huy Đáp (1999) [3] cho rằng: Đối với lúa cấy, số lượng tuyệt đối

về số nhánh thay đổi nhiều qua các mật độ nhưng tỷ lệ nhánh có ích giữa các mật độ lại không thay đổi nhiều Theo tác giả thì các nhánh đẻ của cây lúa không phải nhánh nào cũng cho năng suất mà chỉ những nhánh đạt được thời gian sinh trưởng và số lá nhất định mới thành bông

Về khả năng chống chịu sâu bệnh đã có rất nhiều nghiên cứu của nhiều tác giả và đều chung nhận xét rằng: gieo cấy với mật độ dầy sẽ tạo môi trường thích hợp cho sâu bệnh phát triển vì quần thể ruộng lúa không được thông thoáng, các lá bị che khuất lẫn nhau nên bị chết lụi đi nhiều

Một trong những biện pháp canh tác phòng trừ sâu bệnh và cỏ dại trong nông nghiệp là gieo cấy với mật độ thích hợp với từng giống lúa, tránh gieo cấy quá dầy sẽ tạo điều kiện cho bệnh khô vằn, bệnh đạo ôn và rầy nâu phát triển mạnh

Mật độ và năng suất lúa có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Việc tăng mật độ cấy trong giới hạn nhất định thì năng suất sẽ tăng Vượt quá giới hạn

đó thì năng suất sẽ không tăng mà thậm chí có thể giảm đi

Theo Nguyễn Văn Hoan (1995) [8] thì trên một đơn vị diện tích nếu mật

độ càng cao thì số bông càng nhiều, song số hạt trên bông càng ít Tốc độ giảm

số hạt/bông mạnh hơn tốc độ tăng của mật độ, vì thế cấy quá dầy sẽ làm cho năng suất giảm nghiêm trọng Tuy nhiên nếu cấy mật độ quá thưa đối với các giống có thời gian sinh trưởng ngắn rất khó hoặc không đạt được số bông tối ưu

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Về ảnh hưởng của mật độ cấy đến khối lượng 1000 hạt, Bùi Huy Đáp (1999) [3] đã chỉ ra rằng khồi lượng 1000 hạt ở các mật độ từ cấy thưa đến cấy dày không thay đổi nhiều

Khi nghiên cứu về mật độ, cách cấy của các ruộng lúa năng suất cao tác giả Đào Thế Tuấn (1963) [25] cho biết: Mật độ là một trong những biện pháp ảnh hưởng đến năng suất lúa vì mật độ cấy quyêt định diện tích lá và sự cấu tạo quần thể, đến chế độ ánh sáng và sự tích lũy chất khô của ruộng lúa một cách mạnh mẽ nhất

Theo Nguyễn Văn Hoan (2004) [10] thì tùy từng giống để chọn mật độ thích hợp vì cần tính đến khoảng cách đủ rộng để làm hàng lúa đủ thông thoáng, các khóm lúa không chen nhau Cách bố trí khóm lúa theo hình chữ nhật (hàng sông rộng hơn hàng con) là phù hợp nhất vì như thế mật độ trồng được đảm bảo nhưng lại tạo ra sự thông thoáng trong quần thể, tăng khả năng quang hợp, chống bệnh tốt và tạo ra hiệu ứng rìa sẽ cho năng suất cao hơn

Theo Trương Đích (1999) [4], mật độ cấy còn phụ thuộc vào mùa vụ và giống: Vụ xuân hầu hết các giống cải tiến cấy mật độ thích hợp 45-50 khóm/m2 nhưng vụ mùa thì cấy 55-60 khóm/m2

Dựa vào sự phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành năng suất, Đinh Văn Lữ (1978) [15] đã đưa ra lập luận là các yếu tố cấu thành năng suất

có liên quan chặt chẽ với nhau, muốn năng suất cao phải phát huy đầy đủ các yếu tố mà không ảnh hưởng lẫn nhau Theo ông, số bông tăng lên đến một phạm vi mà số hật/bông và tỷ lệ hạt chắc giảm ít thì năng suất đạt cao, nhưng nếu số bông tăng quá cao, số hạt/bông và tỷ lệ hạt chắc giảm nhiều thì năng suất thấp Trong 3 yếu tố cấu thành năng suất: số bông/m2, số hạt chắc/bông

và khối lượng 1000 hạt thì 2 yếu tố đầu giữ vai trò quan trọng và thay đổi theo cấu trúc của quần thể còn khối lượng 1000 hạt của mỗi giống ít biến động Vì vậy năng suất sẽ tăng khi tăng mật độ cấy trong một phạm vi nhất định Phạm

vi này phụ thuộc nhiều vào đặc tính của giống, đất đai, phân bón và thời tiết

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Như vậy mật độ cấy có ý nghĩa quan trọng đến cấu trúc quần thể ruộng lúa Một quần thể ruộng lúa tốt phải đảm bảo được những chỉ tiêu nhất định

về độ thông thoáng trong suốt thời kỳ sinh trưởng và phân bố không gian trên một ruộng lúa, đặc biệt là thời kỳ sinh trưởng mạnh nhất Mật độ thích hợp tạo cho cây lúa phát triển tốt, tận dụng hiệu quả chất dinh dưỡng, nước và ánh sáng Mật độ thích hợp còn tạo nên sự tương tác hài hòa giữa cá thể cây lúa và quần thể ruộng lúa và mục đích cuối cùng là cho năng suất cao trên một đơn

vị diện tích

Mật độ thích hợp còn hạn chế được quá trình đẻ nhánh lai rai, hạn chế được thời gian đẻ nhánh vô hiệu, lãng phí chất dinh dưỡng Cấy dầy các cây con cạnh tranh nhau về dinh dưỡng, ánh sáng sẽ vươn cao lá nhiều, rậm rạp ảnh hưởng đến hiệu suất quang hợp thuần, sâu bệnh phát triển nhiều, cây có khả năng chống chịu kém và năng suất cuối cùng không cao Hạt chín không đều, mầm mống sâu bệnh trên hạt có thể tăng do độ ẩm hạt tăng nhanh trong quá trình bảo quản… ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng hạt lúa

1.3.2 Những kết quả nghiên cứu về mật độ cấy trên thế giới

“Mật độ cấy là số cây, số khóm được trồng cấy trên một đơn vị diện tích Với lúa cấy mật độ được tính bằng số khóm/m2 còn với lúa gieo thẳng được tính bằng số hạt mọc/m2” (Nguyễn Văn Hoan, 2004) [10] Về nguyên tắc thì mật độ gieo hoặc cấy càng cao thì số bông càng nhiều Trong một giới hạn nhất định, việc tăng số bông không làm giảm số hạt trên bông nhưng nếu vượt quá giới hạn đó thì số hạt/bông bắt đầu giảm đi do lượng dinh dưỡng phải chia sẻ cho nhiều bông Theo tính toán thống kê cho thấy tốc độ giảm số hạt/bông mạnh hơn tốc độ tăng của mật độ cấy, vì vậy cấy dầy đối với lúa lai gây giảm năng suất nhiều hơn so với lúa thường Tuy nhiên nếu cấy quá thưa đối với giống có thời gian sinh trưởng ngắn thì khó đạt được số bông tối ưu cần thiết theo dự định

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Mật độ cấy là một biện pháp kỹ thuật quan trọng, nó phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, dinh dưỡng, đặc điểm của giống… Khi nghiên cứu về vấn

đề này Sasato (1966) đã kết luận: Trong điều kiện dễ canh tác, lúa mọc tốt thì nên cấy mật độ thưa ngược lại phải cấy dầy Giống lúa cho nhiều bông thì cấy dày không có lợi bằng giống to bông Vùng lạnh nên cấy dày hơn so với vùng nóng ẩm, mạ dảnh to nên cấy thưa hơn mạ dảnh nhỏ, lúa gieo muộn nên cấy dầy hơn so với lúa gieo sớm

Nghiên cứu về khả năng đẻ nhánh S Yoshida (1985) [21] đã khẳng định: Trong ruộng cấy, khoảng cách thích hợp cho lúa đẻ nhánh khỏe và sớm thay đổi

từ 20×20 cm đến 30×30 cm Theo ông việc đẻ nhánh chỉ xảy ra đến mật độ 300 cây/m2, nếu tăng số dảnh cấy lên nữa thì chỉ có những dảnh chính cho bông Năng suất hạt tăng lên khi mật độ cấy tăng lên 182-242 dảnh/m2 Số bông trên đơn vị diện tích cũng tăng theo mật độ nhưng lại giảm số hạt trên bông Mật độ cấy thực tế là vấn đề tương quan giữa số dảnh cấy và sự đẻ nhánh Thường gieo cấy thưa thì lúa đẻ nhánh nhiều còn cấy dày thì đẻ nhánh ít

“Các tác giả sinh thái học đã nghiên cứu mối quan hệ giữa năng suất và quần thể ruộng cây trồng và đều thống nhất rằng: Các giống khác nhau phản ứng với các mật độ khác nhau, việc tăng mật độ ở một giới hạn nhất định thì năng suất tăng còn tăng quá năng suất giảm xuống" (Suichi Yoshida, 1985) [21] Holiday (1960) cho rằng: Quan hệ giữa mật độ và năng suất cây lấy hạt

là quan hệ parabol, tức là mật độ lúc đầu tăng thì năng suất tăng nhưng nếu tiếp tục tăng mật độ quá thì năng suất lại giảm

Trong phạm vi khoảng cách 50×50 cm đến 10×10 cm khả năng đẻ nhánh có ảnh hưởng đến năng suất Năng suất của hạt giống IR-154-451 (Một giống đẻ nhánh ít) tăng lên so với việc giảm khoảng cách 10×10 cm Còn giống IR8 (Giống đẻ nhánh khỏe) năng suất cực đại ở khoảng cách cấy là 20×20 cm

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

1.3.3 Những kết quả nghiên cứu về mật độ cấy ở Việt Nam

Mật độ cấy luôn là vấn đề được quan tâm của bà con nông dân, từ rất lâu vấn đề cấy thưa hay cấy dầy thì tốt hơn luôn là hai quan điểm được tranh nhiều nhất Cho đến nay các nhà khoa học đã nghiên cứu và chỉ ra rằng: cấy dầy hợp lý làm tăng năng suất rõ rệt Tuỳ theo chân đất, tuổi mạ, giống lúa, tập quán canh tác, mức phân bón, thời vụ mà xác định mật độ cấy cho phù hợp Theo Nguyễn Công Tạn (2002) [23], các giống lai có thời gian sinh trưởng trung bình có thể cấy thưa ví dụ Bắc ưu 64 có thể cấy 35 khóm/m2 Các giống có thời gian sinh trưởng ngắn như Bồi tạp Sơn thanh, Bồi tạp 77 cần cấy dày 40-45 khóm/m2

Theo kết quả đạt được trên những ruộng lúa thâm canh năng suất đạt được được 300kg/sào thì khóm lúa cần có 7-10 bông (thí nghiệm trên Sán ưu quế 99) thì mật độ là: Với 7 bông/khóm cần cấy 43 khóm/m2; với 8 bông/khóm cần cấy 38 khóm/m2 với 9 bông/khóm cần cấy 33 khóm/m2; với

10 bông/ khóm cần cấy 30 khóm/m2 [18]

Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy và liều lượng đạm tới sinh trưởng của lúa ngắn ngày thâm canh Nguyễn Như Hà (2005) [6] kết luận: Tăng mật độ cấy làm cho việc đẻ nhánh của một khóm giảm so sánh số dảnh trên khóm của mật độ cấy thưa 45 khóm/m2 và mật độ cấy dầy 85 khóm/m2thì thấy số dảnh đẻ trong một khóm lúa ở công thức cấy thưa lớn hơn 0,9 dảnh - 14,8% ở vụ xuân, còn ở vụ mùa lên tới 1,9 dảnh/khóm - 25% Về dinh dưỡng đạm của lúa có tác động đến mật độ cấy tác giả kết luận tăng bón đạm

ở mật độ cấy dầy có tác dụng tăng tỷ lệ dảnh hữu hiệu Tỷ lệ dảnh hữu hiệu tăng tỷ lệ thuận với mật độ cho đến 65 khóm/m2 ở vụ mùa và 75 khóm/m2 ở

vụ xuân Tăng bón đạm ở mật độ cao trong khoảng 55-65 khóm/m2 làm tăng

tỷ lệ dảnh hữu hiệu

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Một yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến mật độ của ruộng lúa là số dảnh cấy/khóm Số dảnh cấy phụ thuộc vào số bông dự định phải đạt/m2 trên cơ sở mật độ cấy đã xác định Việc xác định số dảnh cấy/khóm cần đảm bảo nguyên tắc chung là dù ở mật độ nào, tuổi mạ bao nhiêu, sức sinh trưởng của giống mạnh yếu thì vẫn phải đạt được số dảnh thành bông theo yêu cầu, độ lớn của bông không giảm, tổng số hạt chắc/m2 đạt được số lượng dự định

Theo Nguyễn Công Tạn và cộng sự (2002) [23] thì sử dụng mạ non để cấy (mạ chưa đẻ nhánh) thì sau cấy, lúa thường đẻ nhánh sớm và nhanh Nếu cần đạt 9 bông hữu hiệu/ khóm với mật độ 40 khóm/m2, chỉ cần cấy 3-4 dảnh, mỗi dảnh đẻ 2 nhánh là đủ, nếu cấy nhiều hơn, số nhánh đẻ có thể tăng nhưng

tỷ lệ hữu hiệu giảm

Khi sử dụng mạ thâm canh, mạ đã đẻ 2-5 nhánh thì số dảnh cấy phải tính cả nhánh đẻ trên mạ Loại mạ này già hơn 10-15 ngày so với mạ chưa đẻ,

vì vậy số dảnh cấy cần phải bằng số bông dự định hoặc ít nhất cũng phải đạt trên 70% số bông dự định Sau khi cấy các nhánh đẻ trên mạ sẽ tích lũy, ra lá, lớn lên và thành bông Thời gian đẻ nhánh hữu hiệu chỉ tập trung vào khoảng 8-15 ngày sau cấy Vì vậy cấy mạ thâm canh cần có số dảnh cấy/khóm nhiều hơn cấy mạ non

Nguyễn Văn Hoan (2002) [9], cho rằng ở mật độ cấy dày trên 40 khóm/m2 thì để đạt 7 bông hữu hiệu trên khóm cần cấy 3 dảnh (nếu mạ non) Với loại mạ thâm canh số nhánh cần cấy trên khóm được định lượng theo số bông cần đạt nhân với 0,8

Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của số dảnh và mật độ cấy đến khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống lúa Việt lai 20 của Tăng Thị Hạnh (2003) [7] cho thấy mật độ cấy ảnh hưởng không nhiều đến thời gian sinh trưởng, số lá và chiều cao cây Nhưng mật độ có ảnh hưởng đến khả năng

đẻ nhánh, hệ số đẻ nhánh (hệ số đẻ nhánh giảm khi tăng mật độ cấy) Mật độ

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

cấy tăng thì diện tích lá và khả tích lũy chất khô tăng lên ở thời kỳ đầu, đến giai đoạn chín sữa khả năng tích lũy chất khô giảm khi tăng mật độ cấy

Qua các kết quả nghiên cứu trên, mật độ và số dảnh cơ bản cấy/ khóm

là một biện pháp kỹ thuật quan trọng, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như điều kiện thời tiết, khí hậu, dinh dưỡng của đất, đặc điểm của giống và khả năng thâm canh của từng vùng, từng vụ gieo cấy… Cần bố trí mật độ và số dảnh cấy/khóm một cách hợp lý để có được diện tích lá cao thích hợp, phân bố đều trên diện tích đất sẽ tận dụng được tối đa nguồn năng lượng ánh sáng mặt trời,

đó là biện pháp nâng cao năng suất lúa có hiệu quả cao nhất Đồng thời khi bố trí được số dảnh cấy trên đơn vị diện tích hợp lý (Đặc biệt là đối với lúa lai) còn tiết kiệm được hạt giống, công lao động và các chi phí khác góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho sản xuất lúa hiện nay

Một trong các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất của các giống lúa là mật

độ cấy và mức phân bón Qua nghiên cứu các tác giả đều thấy rằng, không có mật độ cấy và các mức phân bón chung cho mọi giống lúa, mọi điều kiện Nói chung các giống lúa càng ngắn ngày cần cấy dày như các giống lúa có thời gian sinh tưởng từ 75-90 ngày nên cấy mật độ 40-50 khóm/m2; Những giống lúa đẻ nhánh khỏe, dài ngày cây cao trong những điều kiện thuận lợi cho lúa phát triển thì cấy mật độ thưa hơn Trong vụ mùa nên cấy 25-35 khóm/m2, trong vụ xuân nên cấy từ 45-50 khóm/m2 Mỗi khóm lúa nên cấy vài ba dảnh Trong trường hợp mạ tốt và chăm sóc tốt, cấy 1 dảnh đỡ tốn mạ mà vẫn đạt được năng suất và chất lượng hạt cao Đối với các giống lúa mẫn cảm với chu

kỳ ánh sáng thì mật độ cấy có thể 15-25 khóm/m2 và thưa hơn

1.4 Tình hình sử dụng phân bón cho lúa trên thế giới và Việt Nam

1.4.1 Cơ sở lý luận của việc bón phân cho cây lúa

Đối với sản xuất nông nghiệp, phân bón đóng một vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất Từ những năm 60 của thế kỷ XX, Việt Nam đã sử

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

dụng phân bón vô cơ trong nông nghiệp và ngày càng tiến bộ Đặc biệt trong những năm gần đây, có rất nhiều giống lúa lai được đưa vào sử dụng, có khả năng chịu phân rất tốt, là tiền đề cho việc thâm canh cao, nhằm không ngừng tăng năng suất lúa Đối với cây lúa, đạm là yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất, nó giữ vai trò quyết định trong việc tăng năng suất Với lúa lai, vai trò của phân bón kali cũng có vai trò quan trọng tương đương với đạm

Theo Nguyễn Như Hà, (2005) [6], nhu cầu về đạm của cây lúa có tính chất liên tục trong suốt thời gian sinh trưởng của cây Theo Vũ Hữu Yêm (1995) [28], hàm lượng đạm trong cây và sự tích luỹ đạm qua các giai đoạn phát triển của cây lúa cũng tăng rõ rệt khi tăng liều lượng đạm bón Nhưng nếu quá lạm dụng đạm thì cây trồng phát triển mạnh, lá to, dài, phiến lá mỏng, tăng số nhánh đẻ vô hiệu, trỗ muộn, đồng thời dễ bị lốp đổ và nhiễm sâu bệnh, làm giảm năng suất Ngược lại, thiếu đạm cây lúa còi cọc, đẻ nhánh kém, phiến lá nhỏ, trỗ sớm Hiệu lực của đạm còn phụ thuộc vào các yếu tố dinh dưỡng khác

Theo De Datta S.K (1984) [29], cho rằng, đạm là yếu tố hạn chế năng suất lúa có tưới Như vậy, để tăng năng suất lúa nước, cần tạo điều kiện cho cây lúa hút được nhiều đạm Sự hút đạm của cây lúa không phụ thuộc vào nồng độ đạm xung quanh rễ mà được quyết định bởi nhu cầu đạm của cây

“Để nâng cao hiệu quả bón đạm thì phương pháp bón cũng rất quan trọng Theo nhiều nhà nghiên cứu thì khi bón đạm vãi trên mặt ruộng sẽ gây mất đạm tới 50% do nhiều con đường khác nhau như rửa trôi, bay hơi, ngấm sâu hay do phản đạm hoá ” (Đỗ Thị Thọ, 2004) [24]

Theo Đào Thế Tuấn (1970) [26] khi bón vãi đạm trên mặt ruộng lúa

có thể gây mất tới 60 - 70% lượng đạm bón Chính vì vậy, khi bón đạm cần bón sớm, bón tập trung và bón dúi sâu xuống tầng đất nơi có bộ rễ lúa tập trung nhiều

Theo Nguyễn Như Hà, (1999) [5], khi bón đạm ta nên bón sớm, bón tập trung toàn bộ hoặc 5/6 tổng lượng đạm cần bón, bón lót sâu vừa có tác

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

dụng tránh mất đạm, lại vừa tăng tính chống lốp đổ cho lúa do bộ rễ cây phát triển mạnh Cũng theo Nguyễn Như Hà (2005) [6], nên bón kết hợp giữa phân

vô cơ và phân hữu cơ mà cụ thể là phân chuồng

1.4.2 Tình hình sử dụng phân bón cho lúa ở Việt Nam

Hiện nay, Việt Nam là nước sử dụng phân bón tương đối cao so với những năm trước đây do người dân áp dụng được rất nhiều biện pháp kỹ thuật trong thâm canh Theo Vũ Hữu Yêm (1995) [28], Việt Nam hiện đang là một trong 20 quốc gia sử dụng phân bón cao nhất thế giới

Theo Nguyễn Văn Bộ (2003) [2], mỗi năm nước ta sử dụng 1.202.140 tấn đạm, 456.000 tấn lân và 402.000 tấn kali, trong đó sản xuất lúa chiếm 62% Song do điều kiện khí hậu còn gặp nhiều bất lợi cho nên kỹ thuật bón phân mới chỉ phát huy được 30% hiệu quả đối với đạm và 50% hiệu quả đối với lân và kali Nhưng hiệu quả bón phân đối với cây trồng lại tương đối cao, do vậy mà người dân ngày càng mạnh dạn áp dụng khoa học

kỹ thuật vào sản xuất

Bảng 1.6 Nhu cầu và cân đối phân bón ở Việt Nam đến năm 2020 (nghìn tấn)

(Nguồn: Phòng QL đất & phân bón, Cục Trồng trọt, Bộ NN & PTNT, 5/2007)

1.4.3 Phương pháp bón phân cho lúa

1.4.3.1 Các loại và các dạng phân bón sử dụng cho lúa

Lúa là cây trồng có phản ứng tốt với phân hóa học nên bón phân hóa học cho lúa cho hiệu quả cao Trong thâm canh lúa, bón phân hữu cơ chủ yếu

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

nhằm ổn định hàm lượng mùn trong đất, tạo nền thâm canh nên có thể sử dụng các loại phân hữu cơ khác nhau, kể cả rơm rạ lúa sau khi thu hoạch

Các loại phân đạm thích hợp cho lúa là phân đạm amon, ure Ure đang trở thành dạng phân đạm phổ biến đối với lúa nước vì có tỷ lệ đạm cao, lại rất thích hợp để bón trên các loại đất thoái hóa Phân đạm Nitrat có thể dùng để bón thúc ở thời kỳ đòng, đặc biệt hiệu quả khi bón trên đất chua mặn

Đất chua trồng lúa, bón phân lân nung chảy thường cho kết quả ngang phân supe lân hay có thể cao hơn trong điều kiện ngập nước cung dễ cung cấp cho lúa mà ít bị rửa trôi và còn cung cấp cả silic là yếu tố dinh dưỡng có nhu cầu cao ở cây lúa Tuy nhiên nếu cần bón thúc lân và trồng lúa trên đất nghèo lưu huỳnh (đất bạc màu bón ít phân hữu cơ) thì phải dùng supe lân

Loại phân kali thích hợp bón cho lúa là kaliclorua Ngoài ra, còn thường dùng các loại phân NPK, đặc biệt tốt là loại phân chuyên dùng cho lúa, phù hợp với điều kiện của từng vùng đất trồng

Khả năng chịu chua của cây lúa khá, nhưng ở đất quá chua, cây lúa sinh trưởng kém, có thể do nhôm hòa tan gây ra vì hiện tượng ngộ độc nhôm ít thấy trên các loại đất có pH trên 5,5 Mặt khác, sau khi đưa nước vào ruộng đất có thể bị chú hơn, nên bón vôi là biện pháp quan trọng ở đất lúa nước quá chua và việc bón vôi phải được kết hợp với một chế độ bón phân hợp lý thì mới thu được kết quả mong muốn nhất

1.4.3.2 Lượng phân bón cho lúa ở những vùng trồng lúa chính

“Liều lượng phân chuồng thường bón 7-10 tấn/ha, vụ mùa nên bón nhiều hơn Liều lượng phân khoáng bón cho lúa phụ thuộc vào năng suất kế hoạch (đặc điểm của giống, loại hình cây), độ phì của đất, các điều kiện khí hậu (mùa vụ) và khả năng cân đối với các loại phân khác Giống năng suất cao cần bón nhiều hơn so với các giống lúa thường, lúa địa phương, lúa vụ xuân thường bón nhiều hơn lúa vụ mùa, trồng lúa trên đất có độ phì cao cần giảm lượng phân bón

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

Do hệ số sử dụng phân đạm của cây lúa không cao nên lượng đạm cần bón phải cao hơn nhiều so với nhu cầu Lượng đạm bón dao động từ 60-160 kg/ha Với trình độ thâm canh hiện tại, để đạt năng suất 5 tấn/ha thường bón 80-120 kg/ha Tuy nhiên, trên đất có độ phì trung bình, để đạt năng suất 6 tấn thóc/ha cần bón 160 kg N/ha Trên đất phù sa sông Hồng, để đạt năng suất trên 7 tấn/ha cần bón 180-200 kg N/ha Các nước có năng suất lúa bình quân cao trên thế giới (5-7 tấn thóc/ha) thường bón 150-200 kg N/ha

Lượng phân lân bón cho lúa dao động từ 30-100 kg P2O5, thường bón

60 kg P2O5/ha Đối với đất xám bạc màu có thể bón 80 - 90 kg P2O5/ha, đất phèn có thể bón 90 - 150 kg P2O5/ha

Lượng phân kali bón cho lúa phụ thuộc chủ yếu vào mức năng suất và khả năng cung cấp kali của đất Các mức bón trong thâm canh lúa trung bình

là 30-90 kg K2O/ha, và mức bón trong thâm canh lúa cao là 100-150 kg K2O/ha, trong đó kali của phân chuồng và rơm rạ có hiệu suất không kém kali trong phân hóa học Trên đất phù sa sông Hồng khi đã bón 8-10 tấn phân chuồng/ha thì chỉ nên bón 30-90 kg/ha phân kali khoáng, ngay cả trong điều kiện thâm canh lúa cao (Nguyễn Như Hà, 1999) [5]”

1.4.3.3 Phương pháp bón phân cho lúa

Nguyễn Như Hà (1999) [5] cho rằng thời kỳ bón đạm ảnh hưởng đến sinh trưởng và năng suất lúa Thời kỳ bón đạm phụ thuộc vào đặc điểm giống lúa, mùa vụ thành phần cơ giới đất và trình độ thâm canh Không thể có một hướng dẫn chung về thời kỳ bón đạm cho tất cả các giống, mùa vụ và đất trồng Bóm đạm sớm tạo nhiều bông, bón đạm muộn tăng hạt là chủ yếu, bón đạm vào giai đoạn đòng làm tăng tỷ lệ protein trong hạt Thời kỳ bón phân đạm cho lúa thường gồm: bón lót và bón thúc đẻ nhánh, thúc đòng, ngoài ra còn có bón nuôi hạt

Ngày đăng: 24/02/2021, 13:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w