Giải pháp kỹ thuật sản xuất sắn tại huyện yên bình tỉnh yên bái Giải pháp kỹ thuật sản xuất sắn tại huyện yên bình tỉnh yên bái Giải pháp kỹ thuật sản xuất sắn tại huyện yên bình tỉnh yên bái Giải pháp kỹ thuật sản xuất sắn tại huyện yên bình tỉnh yên bái Giải pháp kỹ thuật sản xuất sắn tại huyện yên bình tỉnh yên bái
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NÔNG MINH THẢO
GIẢI PHÁP KỸ THUẬT SẢN XUẤT SẮN TẠI HUYỆN YÊN BÌNH, TỈNH YÊN BÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
THÁI NGUYÊN - 2016
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NÔNG MINH THẢO
GIẢI PHÁP KỸ THUẬT SẢN XUẤT SẮN TẠI HUYỆN YÊN BÌNH, TỈNH YÊN BÁI
Chuyên ngành: Phát triển Nông thôn
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và hoàn toàn chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ để thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nông Minh Thảo
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tôi đã được
sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của nhiều tập thể và cá nhân Nhân đây: Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến Ban Giám hiệu, Phòng đào tạo, Ban chủ nhiệm Khoa KT&PTNT cùng các thầy cô Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, tạo điều kiện về mọi mặt để tôi thực hiện đề tài này Đặc biệt tôi xin cảm ơn PGS.TS Dương Văn Sơn, đã hướng dẫn chỉ bảo tận tình
và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin trân trọng cảm ơn các cơ quan: Uỷ ban nhân dân huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực tập
để đạt kết quả tốt tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái
Cuối cùng tôi xin trân thành cảm ơn sâu sắc tới gia đình và bạn bè, những người đã chia sẻ, động viên, khích lệ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành tốt luận văn của mình Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu của các tập thể và cá nhân đã dành cho tôi
Do điều kiện thời gian và năng lực có hạn, bản thân tôi cũng đã cố gắng, nỗ lực hết mình để hoàn thành Luận văn tốt nghiệp Song sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết Rất mong được các thầy, cô, các nhà khoa học, các đồng nghiệp tiếp tục đóng góp ý kiến chỉ bảo để tôi có thêm cơ hội tiếp thu nâng cao kiến thức chuyên môn của bản thân
Thái Nguyên, tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nông Minh Thảo
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Ý nghĩa của đề tài 4
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 5
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 5
1.1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về nông hộ 5
1.1.2 Biện pháp kỹ thuật và áp dụng biện pháp kỹ thuật 10
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 10
1.2.1 Vị trí, vai trò của cây sắn trong phát triển sinh kế nông hộ 10
1.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trên thế giới và ở Việt Nam 13
1.2.3 Tình hình nghiên cứu sắn trong và ngoài nước 17
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 24
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 24
2.3 Nội dung nghiên cứu 24
2.3.1 Tổng quát về khu vực và địa bàn nghiên cứu 24
2.3.2 Vai trò của cây sắn trong sinh kế nông hộ tại địa bàn nghiên cứu 24
Trang 62.3.3 Thực trạng việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất sắn tại 2
xã nghiên cứu 25
2.3.4 Giải pháp phát triển sản xuất sắn bền vững, nâng cao đời sống vật chất người nông dân trồng sắn, góp phần cải thiện sinh kế bà con nông dân địa phương 25
2.4 Tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 25
2.4.1 Tiếp cận đề tài 25
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu 26
2.5 Hệ thố ng chỉ tiêu nghiên cứu 27
2.5.1 Chỉ tiêu phản ánh đặc điểm của chủ hộ 27
2.5.2 Chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất 27
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tại địa bàn nghiên cứu 29
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 29
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 30
3.1.3 Những thuận lợi, khó khăn nổi trội 31
3.2 Đánh giá vai trò của cây sắn trong sinh kế nông hộ tại địa bàn nghiên cứu 32
3.2.1 Tình hình sử dụng đất đai 32
3.2.2 Diện tích đất đai theo nhóm hộ 37
3.2.3 Tình hình thu nhập sinh kế 39
3.2.4 Thu nhập về trồng trọt, gồm sắn, lúa, ngô và các cây trồng khác của hộ 45
3.2.5 Tình hình sản xuất trồng trọt 46
3.3 Thực trạng việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất sắn tại 2 xã nghiên cứu 47
3.3.1 Kỹ thuật sản xuất sắn 47
3.4 Giải pháp phát triển sản xuất sắn bền vững, nâng cao đời sống vật chất người nông dân trồng sắn, góp phần cải thiện sinh kế bà con nông dân địa phương 55
Trang 73.4.1 Giải pháp chung 55
3.4.2 Giải pháp cụ thể 58
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60
1 Kết luận 60
2 Kiến nghị 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
PHỤ LỤC 65
Trang 8RTB : Chương trình nghiên cứu toàn cầu về cây có củ
SD : Đô ̣ lê ̣ch chuẩn
SE : Sai số chuẩn
SL : Số lượng
TB : Trung bình
UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới qua các năm 14
Bảng 1.2 Tình hình diện tích, năng suất, sản lượng sắn tại châu Á 15
Bảng 1.3 Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trong nước qua các năm 16
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của xã Vĩnh Kiên 32
Bảng 3.2 Diện tích cây trồng hàng năm của xã Vĩnh Kiên 33
Bảng 3.3 Tình hình sử dụng đất đai của xã Phúc An 34
Bảng 3.4 Hộ điều tra phân theo thôn và tham gia 36
Bảng 3.5 Hộ điều tra theo kinh tế và tham gia 36
Bảng 3.6 Hộ điều tra phân theo dân tộc 37
Bảng 3.7 Bình quân diện tích đất canh tác 2 xã theo phân loại kinh tế hộ 38
Bảng 3.8 Thu nhập nông nghiệp và phi nông nghiệp bình quân tại 2 xã Phúc An và Vĩnh Kiên 40
Bảng 3.9 Các hoạt động phi nông nghiệp 41
Bảng 3.10 Phân tích thu nhập (%) ngành nông nghiệp 43
Bảng 3.11 Cơ cấu (%) thu nhập về trồng trọt của các cây trồng chính 45
Bảng 3.12 Diện tích TB, năng suất TB, sản lượng TB một số cây trồng chính năm 2014 46
Bảng 3.16 Các giống sắn đã sử dụng 48
Bảng 3.17 Hiểu biết kỹ thuật mới về giống sắn 49
Bảng 3.18 Số hộ trồng xen sắn tại địa bàn nghiên cứu 50
Bảng 3.19 Bón phân cho sắn trồng xen cây lâm nghiệp trong năm đầu tiên 51 Bảng 3.20 Bón phần cho sắn trồng xen cây lâm nghiệp trong năm thứ hai 51
Bảng 3.21 Bón phân cho cây lâm nghiệp suốt chu kỳ 51
Bảng 3.22 Đánh giá tình trạng sinh trưởngcủa cây lâm nghiệp trồng xen sắn 52
Bảng 3.23 Thay đổi về mật độ trồng sắn 53
Bảng 3.24 Sâu bệnh và quản lý dịch hại sắn 54
Bảng 3.25 Người cung cấp thông tin về sâu bệnh và quản lý dịch hại sắn 55
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp là một trong hai ngành sản xuất vật chất chủ yếu, giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân
Nông nghiệp nước ta đã tăng trưởng cao và ổn định trong suốt thời gian dài Góp phần làm cho thu nhập của hộ nông dân và hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn được cải thiện Tuy nhiên, nông nghiệp vẫn còn nhiều trở ngại và thách thức, bình quân thu nhập nông thôn còn rất thấp Sự khác biệt lớn giữa các vùng, khoảng cách giàu nghèo có xu hướng ngày càng tăng Nhiều vấn đề bức thiết trong nông nghiệp, nông thôn, nông dân đang tạo áp lực cho tăng trưởng kinh tế và sự ổn định kinh tế xã hội Trong bối cảnh tự
do hóa thương mại và toàn cầu hóa, ở một nước đông dân, bình quân diện tích đất trên đầu người thấp, tỷ trọng đóng góp GDP, giá trị xuất khẩu và lực lượng lao động cao Nông nghiệp tiếp tục giữ vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam
Sản xuất lương thực là ngành quan trọng nhất của nông nghiệp Việt Nam Sắn là một trong ba loại cây lương thực quan trọng và chủ chốt nhất của nước ta, đứng sau lúa và ngô Sắn là cây trồng có nhiều công dụng trong chế biến công nghiệp, tinh bột sắn có những ứng dụng hết sức rộng rãi trong công nghiệp thực phẩm, dược liệu, công nghiệp lên men Củ, thân và lá sắn đều có nhiều công dụng thiết thực, củ sắn được dùng để chế biến tinh bột, sắn lát khô, bột sắn nghiền, từ sắn củ tươi hoặc từ các sản phẩm sắn sơ chế tạo thành hàng loạt các sản phẩm công nghiệp như bột ngọt, rượu cồn, mì ăn liền, gluco, xiro, bánh kẹo, mạch nha, kỹ nghệ chất dính (hồ vải, dán gỗ), phụ gia thực phẩm, phụ gia dược phẩm… là những hướng chính trong chế biến sắn công nghiệp Thân sắn dùng để làm giống, nguyên liệu cho công nghiệp xenlulô, làm nấm , bột sắn thô phối trộn với cám ngô, cám gạo, bánh dầu, bột cá, … để làm thức ăn tổng hợp
Trang 11Mặt khác nguồn nhiên liệu hóa thạch đang dần cạn kiệt và tác hại của nó ảnh hưởng đến môi trường hiệu ứng nhà kính, các nhà khoa học trên Thế giới đang rất quan tâm đến nhiên liệu sinh học Ethanol, lợi ích của nguồn nhiên liệu này đem lại và Sắn là nguyên liệu chính cho quá trình sản xuất nhiên liệu sinh học này Các nước trên Thế giới đang dần phát triển nhiên liệu sinh học thay thế nhiên liệu hóa thạch như Mỹ phê chuẩn 2,3 tỷ USD vào ngày 8/1/2010 để đầu tư sản suất nhiên liệu sinh học( nhiên liệu xanh) và dự kiến đến năm 2020 sẽ thay thế 50% nhiên liệu sinh học cho thiết bị quân sự trên bờ
và dưới biển Brazil là nước sản xuất 90% oto mới lắp đặt thiết bị sử dụng nhiên liệu sinh học Ethanol với mục tiêu phát triển nâng cao sản lượng, thúc đẩy đẩy tiêu thụ hang hóa và giảm giá thành sản phẩm Còn ở một số nước đang phát triển như Việt Nam thì việc đầu tư sản suất nhiên liệu sinh học Ethanol với mục đích:
Tạo đầu ra cho nông sản, tăng hiệu quả kinh tế cho nông dân, xóa đói giảm nghèo và xóa dần chênh lệch giữa các vùng kinh tế
Tạo công ăn việc làm cho đội ngũ lao động có trình độ thấp, đặc biệt là các dân tộc miền núi, giảm tỷ lệ bỏ đất hoang và gánh nặng việc làm cho lao động tại các thành phố lớn
Đa dạng nguồn nhiên liệu, giảm giá thành sản phẩm, giảm các chất độc hại thải ra ngoài môi trường
Không những thế nước ta những năm gần đây, cây sắn thực sự đã trở thành cây hàng hoá góp phần rất lớn trong công cuộc xoá đói giảm nghèo Hiện nay cả nước có 53 nhà máy với công suất trên 50 tấn tinh bột ngày đêm
và khoảng hơn 2.000 cơ sở chế biến thủ công Sản lượng tinh bột hàng năm xấp xỉ 1 triệu tấn, góp phần đáng kể cho nền kinh tế quốc dân Cây sắn ở nước
ta hiện nay càng có nhu cầu cao trong công nghiệp chế biến tinh bột, thức ăn chăn nuôi, thực phẩm, dược liệu và cũng đang trở thành cây hàng hóa, tạo việc làm tăng thu nhập cho người dân, nhất là ở vùng núi và trung du
Trang 12Huyện Yên Bình là một huyện thuộc tỉnh Yên Bái nền sản xuất của huyện nói chung vẫn chủ yếu dựa vào nông nghiệp Kinh tế nông nghiệp nói chung và kinh tế nông hộ của huyện nói riêng đang dần phát triển theo
đà phát triển chung của cả nước nhưng nó cũng không tránh khỏi những mâu thuẫn tồn tại cần được giải quyết
Những vấn đề cần làm rõ là: Sự đóng góp của cây sắn trong sinh kế nông hộ tại đây như thế nào? Các can thiệp về kỹ thuật sản xuất sắn bền vững
và chế biến thức ăn chăn nuôi từ bã sắn tại hai xã như thế nào? Đời sống của người dân được cải thiện ra sao? Những giải pháp chủ yếu nào nhằm phát triển sản xuất sắn bền vững, góp phần nâng cao đời sống vật chất nông hộ tại địa phương
Trong khuôn khổ chương trình nghiên cứu toàn cầu về cây có củ (Roots), cây lấy rễ (Tubers) và chuối (Bananas), gọi tắt là chương trình RTB
do Nhóm Tư vấn về Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế (Consultative Group
on International Research - CGIAR), chủ yếu gồm Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế (CIAT), Trung tâm Khoai tây Quốc tế (CIP), Viện Quốc tế
về Nông nghiệp Nhiệt đới (IIAT) cùng với các đối tác toàn cầu của Pháp thực hiện tại tỉnh Yên Bái, trực tiếp do CIAT quản lý với những can thiệp về kỹ thuật công nghệ sản xuất sắn cũng như sử dụng sản phẩm chế biến từ sắn củ
tươi Xuất phát từ tình hình đó tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Giải pháp kỹ
thuật sản xuất sắn tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá vai trò của cây sắn trong sinh kế nông hộ tại hai xã Phúc An
và Vĩnh Kiên (huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái)
- Tìm hiểu và đánh giá việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất sắn tại 2 xã nghiên cứu
Trang 13- Đề xuất giải pháp phát triển sản xuất sắn bền vững, nâng cao đời sống vật chất hộ trồng sắn, góp phần cải thiện sinh kế nông dân địa phương
3 Ý nghĩa của đề tài
3.1 Ý nghĩa đối với học tập và nghiên cứu khoa học
Củng cố kiến thức từ cơ sở đến chuyên ngành đã học trong trường, ứng dụng kiến thức đó trong thực tiễn Rèn luyện kỹ năng thu thập thông tin và xử
lý số liệu, viết báo cáo Giúp hiểu thêm về tình hình lao động, việc làm và tình hình kinh tế xã hội tại địa phương
3.2 Ý nghĩa đối với thực tiễn
- Nhận thức được những gì đã làm được và chưa làm được khi đưa ra những giải pháp nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện, để từ đó có hướng đi đúng đắn
- Là tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên khóa sau có cùng hướng nghiên cứu
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về nông hộ
1.1.1.1 Khái niệm về can thiệp
Theo cách hiểu thông thường: Một can thiệp là một sự kết hợp của các yếu tố chương trình, chiến lược thiết kế để sản xuất thay đổi hành vi hoặc cải thiện tình trạng sức khỏe giữa các cá nhân hoặc toàn bộ dân số Can thiệp có thể bao gồm các chương trình giáo dục, chính sách mới hoặc mạnh mẽ hơn, cải thiện môi trường, hoặc một chiến dịch nâng cao sức khỏe Can thiệp bao gồm nhiều chiến lược thường là hiệu quả nhất trong sản xuất thay đổi mong muốn và lâu dài Như vậy, can thiệp để nhằm tạo ra sự thay đổi Bằng chứng
đã cho thấy rằng các can thiệp có thể tạo ra sự thay đổi bằng cách khác nhau sau đây:
- Ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ của cá nhân, niềm tin và kỹ năng;
- Tăng cường hỗ trợ xã hội;
- Tạo môi trường hỗ trợ, chính sách và các nguồn lực
Can thiệp là một chiến lược hoặc hoạt động được thiết kế để ngăn ngừa hoặc làm gián đoạn tiến triển của một tình trạng hoặc bệnh để ngăn chặn/ngăn cản mà sự tiến triển
Theo một số nhà tâm lý: Một can thiệp là một nỗ lực âm mưu do một hoặc nhiều người - thường là gia đình và bạn bè để có được một người nào đó
để tìm kiếm sự giúp đỡ chuyên nghiệp với một chứng nghiện hoặc một số loại chấn thương tâm lý hoặc khủng hoảng, hoặc vấn đề nghiêm trọng khác Can thiệp hạn thường được sử dụng khi sự kiện đau buồn liên quan đến nghiện ma túy hoặc các mặt hàng khác Can thiệp cũng có thể tham khảo các hành động
Trang 15bằng cách sử dụng một kỹ thuật tương tự như một phương thức điều trị một bệnh tật nào đó
Can thiệp đã được sử dụng để giải quyết vấn đề nghiêm trọng cá nhân, bao gồm, nhưng không giới hạn, nghiện rượu, cờ bạc ép buộc, lạm dụng ma túy, ăn uống ép buộc và các rối loạn ăn uống, tự hại và là nạn nhân của lạm dụng
Có hai loại can thiệp là: Can thiệp hoặc là trực tiếp hoặc là gián tiếp, thường liên quan đến một cuộc họp đối đầu với cá nhân trong câu hỏi, hoặc gián tiếp, liên quan đến làm việc với một gia đình phụ thuộc vào đồng để khuyến khích họ có hiệu quả hơn trong việc giúp đỡ các cá nhân
Can thiệp có thể được thực hiện trong các chương trình, dự án khác nhau bao gồm cả cộng đồng, trường học, tổ chức, các tổ chức tôn giáo hoặc trong gia đình Can thiệp thực hiện trong nhiều thiết lập và sử dụng nhiều chiến lược có thể là hiệu quả nhất vì những tiềm năng để đạt được một số lượng lớn của người dân trong nhiều cách khác nhau
1.1.1.2 Tính bền vững
Các yếu tố bền vững được đánh giá là: môi trường chính sách, tính khả thi về kinh tế và tài chính, năng lực thể chế và khía cạnh văn hoá - xã hội, sự tham gia và quyền sở hữu, vấn đề giới, môi trường và công nghệ thích hợp?
Điều gì đã hay sẽ diễn ra đối với các tác động tích cực của dự án sau khi sự hỗ trợ từ bên ngoài kết thúc?
Đối với một dự án riêng biệt, tính bền vững được mô tả như là một cấp
độ mà ở đó các lợi ích do dự án đem lại sẽ tiếp tục phát huy sau khi hỗ trợ bên ngoài chấm dứt Đó cũng là một chủ đề trung tâm trong tất cả các công tác đánh giá và liên quan tới tất cả các thành phần của khung lôgic đối với một dự
án cụ thể
Tính bền vững có thể được hiểu như là sinh kế mà các ảnh hưởng tích cực của một dự án hay chương trình (như tài sản, kỹ năng, tiện nghi hoặc các
Trang 16dịch vụ cải tiến) vẫn sẽ cứ tiếp tục tồn tại trong giai đoạn mở rộng hay kéo dài, sau khi đã kết thúc sự hỗ trợ từ bên ngoài
1.1.1.3 Kha ́ i niê ̣m đánh giá
Đánh giá mô hình là nhìn nhận và phân tích toàn bộ quá trình triển khai thực hiện mô hình, các kết quả thực hiện cũng như hiê ̣u quả thực tế đa ̣t được của
mô hình trong mỗi quan hê ̣ với nhiều yếu tố, so sánh với mu ̣c tiêu ban đầu
Đánh giá là so sánh những gì đã thực hiê ̣n được bằng nguồn lực của gia đình, thôn bản và những hỗ trơ ̣ từ bên ngoài với những gì thực sự đã đa ̣t được
Trong đánh giá mô hình người ta có thể hiểu như sau:
- Là quá trình thu thập và phân tích thông tin để khẳng đi ̣nh:
+ Liệu mô hình có đa ̣t được các kết quả và tác động hay không?
+ Mức độ mà mô hình đã đa ̣t đươ ̣c so với mu ̣c tiêu của mô hình thông qua các hoạt đô ̣ng đã chỉ ra
- Trong quá trình đánh giá yêu cầu phải lâ ̣p kế hoa ̣ch chi tiết có khoa
học, lâ ̣p mẫu cho phương pháp thống kê
- Việc đánh giá sẽ tiến hành đo đếm đi ̣nh kỳ theo giai đoa ̣n
- Việc đánh giá sẽ tâ ̣p trung vào các chỉ số kết quả và đánh giá tác đô ̣ng
Đánh giá có nhiều loa ̣i khác nhau như sau:
Đánh giá tiền khả thi/khả thi
Đánh giá tiền khả thi là đánh giá tính khả thi của hoa ̣t đô ̣ng hay mô
hình, để xem xét liê ̣u hoạt đô ̣ng hay mô hình có thể thực hiê ̣n được hay không trong điều kiện cụ thể nhất định Loa ̣i đánh giá này thường do tổ chức tài trợ thực hiện Tổ chứ c tài trợ sẽ phân tích các khả năng thực hiê ̣n của mô hình hay hoạt đô ̣ng để làm căn cứ cho phê duyê ̣t xem mô hình hay hoa ̣t động có đươ ̣c đưa và thực hiê ̣n hay không ?
Đánh giá thực hiê ̣n
- Đánh giá đi ̣nh kỳ: là đánh giá từng giai đoa ̣n thực hiê ̣n, có thể là đánh giá toàn bô ̣ các công việc trong mô ̣t giai đoa ̣n, có những cu ̣ thể đánh giá từng công việc ở từng giai đoa ̣n nhất đi ̣nh
Trang 17Nhìn chung đánh giá định kỳ thườ ng áp du ̣ng cho mô hình dài ha ̣n Tùy theo mô hình có thể định ra các khoảng thời gian để đánh giá định kỳ, có thể
là ba tháng, sáu tháng hay một năm một lần
Mục đích của đánh giá đi ̣nh kỳ là tìm ra những điểm ma ̣nh, điểm yếu, những khó khăn, thuận lợi trong một thời kỳ nhất đi ̣nh để có những thay đổi hay điều chỉnh phù hợp cho những giai đoa ̣n tiếp theo
- Đánh giá cuố i kỳ: là đánh giá cuố i cùng khi kết thúc mô hình hay hoa ̣t động Đây là đánh giá toàn diê ̣n tất cả các hoa ̣t đô ̣ng và kết quả của mô hình Mục đích của đánh giá cuối kỳ nhằm nhìn nhâ ̣n la ̣i toàn bộ quá trình thực hiê ̣n
mô hình Những thế ma ̣nh điểm yếu, những thành công và ha ̣n chế, nguyên nhân của từng vấn đề, đưa ra những bài ho ̣c cần phải rút kinh nghiê ̣m và điều chỉnh cho mô hình hay hoa ̣t đô ̣ng khác phù hợp hơn
- Đánh giá tiến độ thực hiê ̣n: là việc xem xét thời gian thực tế triển khai thực hiện các nội dung của mô hình hay cách nói khác là xem xét hoa ̣t đô ̣ng cho đúng thời gian dự đi ̣nh hay không, nhanh hay chậm thế nào
- Đánh giá tình hình chi tiêu tài chính: là xem xét viê ̣c sử du ̣ng kinh phí chi tiêu có đú ng nguyên tắc đã được quy định hay không để có điều chỉnh và rút kinh nghiệm
- Đánh giá về tổ chức thực hiện: Đánh giá về tổ chức phối hơ ̣p thực hiện giữa các thành phần tham gia, xem xét và phân tích công tác tổ chức, cách phối hợp các thành phần tham gia Ngoài ra có thể xem xét viê ̣c phối kết hợp giữa các mô hình hay hoa ̣t đô ̣ng trên cùng mô ̣t đi ̣a bàn và hiê ̣u quả của sự phố i hợp đó
- Đánh giá kỹ thuật mô hình: Là xem xét la ̣i các kỹ thuâ ̣t mà mô hình
đã đưa vào có phải là mới không, quá trình thực hiê ̣n các khâu kỹ thuâ ̣t có đảm bảo theo đúng quy trình kỹ thuâ ̣t đã đă ̣t ra không
Trang 18- Đánh giá mức đô ̣ ảnh hưởng của môi trường: hiê ̣n nay vần đề môi trường là một vấn đề bức xúc của toàn cầu, vì vậy chúng ta cần phải quan tâm đến những vấn đề môi trường
- Đánh giá khả năng mở rô ̣ng: là quá trình xem xét kết quả của mô
hình có thể áp du ̣ng rô ̣ng rãi, đa ̣i trà hay không, nếu có áp dùng thì cần điều kiê ̣n gì không
Tổng kết
Thông thường sau khi kết thúc một mô hình hay hoạt động, người ta tổ chức hội nghị tổng kết để cùng nhau nhìn lại quá trình thực hiện, đánh giá về những thành công hay chưa thành công, phân tích những nguyên nhân gây ra thất bại, lấy đó là bài học để tránh vấp phải sai lầm cho các mô hình sau này
Tiêu chí đánh giá:
Khái niệm về tiêu chí
- Tiêu chí như là một hệ thống các tiêu chí, chỉ số có thể định lượng được dùng để đánh giá hay phân loại một hoạt động hay một mô hình nào đó
Các đặc điểm của tiêu chí đánh giá
- Đối với các tiêu chí mang tính định lượng: là các tiêu chí đo đếm được
cụ thể, các tiêu chí này thường được sử dụng để kiểm tra tiến độ công việc Thông tin cần cho các chỉ tiêu này có thể được thực hiện qua việc thu thập số liệu qua sổ sách kiểm tra hoặc phỏng vấn cũng có thể đo lường trực tiếp trên đồng ruộng hoặc trên hiện trường: Sự sinh trưởng của cây trồng, tăng trọng của vật nuôi, năng suất cây trồng
- Đối với các chỉ tiêu định tính: là các chỉ tiêu không thể đo đếm được Nhóm chỉ tiêu này thường phản ánh chất lượng của công việc dựa trên định tính nhiều hơn: cây sinh trưởng chậm hay nhanh, màu quả đẹp hay xấu Việc xác định các chỉ tiêu này thường thông qua phỏng vấn, quan sát và nhận định của người tham gia giám sát cũng như của người dân
Trang 19 Các loại tiêu chí dùng cho đánh giá
Các loại tiêu chí dùng cho hoạt động đánh giá là các tiêu chí mang tính toàn diện hơn Việc xác định các chỉ tiêu đánh giá phải căn cứ vào mục đích
và hoạt động của mô hình, thường có các nhóm chỉ tiêu sau đây:
- Nhóm chỉ tiêu đánh giá kết quả của hoạt động của khuyến nông theo mục tiêu đã đề ra: diện tích, năng suất, cơ cấu, đầu tư, sử dụng vốn
- Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của mô hình hay hoạt động khuyến nông: tổng thu, tổng chi, thu - chi, hiệu quả lao động hiệu quả đồng vốn
- Nhóm chỉ tiêu đánh giá ảnh hưởng của mô hình hay hoạt động khuyến nông đến đời sống, văn hóa, xã hội: ảnh hưởng đến môi trường đất (sói mòn, độ phì, độ che phủ, ), ảnh hưởng đến đời sống (giảm nghèo, tạo công ăn việc làm, bình đẳng giới, )
- Các tiêu chí đánh giá phục vụ quá trình xem xét, phân tích các hoạt động khuyến nông với sự tham gia của cán bộ khuyến nông và nông dân
1.1.2 Biện pháp kỹ thuật và áp dụng biện pháp kỹ thuật
- Biện pháp kỹ thuật là việc ứng dụng kiến thức khoa học, kinh tế, xã hội, và thực tiễn để thiết kế, xây dựng, và duy trì các cấu trúc, máy móc, thiết
bị, hệ thống, vật liệu, và quá trình Kỹ thuật có thể bao gồm việc sử dụng sự hiểu biết sâu sắc để tìm ra, tạo mô hình, và thay đổi quy mô một giải pháp hợp lý cho một vấn đề hay một mục tiêu Ngành kỹ thuật vô cùng rộng, nó bao gồm một loạt các lĩnh vực kỹ thuật đặc thù hơn, mỗi lĩnh vực nhấn mạnh đến những lĩnh vực công nghệ và những kiểu ứng dụng riêng
- Áp dụng biện pháp kỹ thuật là áp dụng những công nghệ kiến thức khoa học tiên tiễn vào sản xuất nhằm tăng năng suất, giảm thiểu thời gian lao động
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1 Vị trí, vai trò của cây sắn trong phát triển sinh kế nông hộ
Sắn là cây trồng bản địa, được trồng lâu đời tại khắp các địa phương của Việt Nam, đặc biệt ở các tỉnh miền núi, nơi có nhiều đồi núi, phù hợp cho
Trang 20loại cây này phát triển Trước đây, sắn được coi là cây lương thực, giải quyết nạn đói thường xuyên đe dọa, vì vậy trong nhân dân có câu: “Lúa ngô khoai sắn” Ngày nay, vị trí vai trò của cây sắn đã được chuyển đổi, sắn đã và đang trở thành một cây công nghiệp chế biến, cung cấp nguyên liệu chế biến tinh bột ướt hay tinh bột khô để chế biến thành rất nhiều sản phẩm cho công nghiệp thực phẩm, công nghiệp dược phẩm và hóa chất Hiện nay, cây sắn đang chuyển đổi vai trò từ một cây lương thực thành một cây nguyên liệu cho công nghiệp chế biến tinh bột và thức ăn chăn nuôi Nhu cầu nguyên liệu sắn cho công nghiệp chế biến tinh bột ở Việt Nam là rất lớn Sắn đã có thị trường tiêu thụ, đã hình thành vùng nguyên liệu và trở thành một trong những nguồn thu nhập chính của địa phương Sắn hiện đang trở thành cây hàng hoá có khả năng cạnh tranh cao, có giá trị thương mại vì sản phẩm chế biến tinh bột và thức ăn gia súc rất lớn
Hiện nay, diện tích sắn của Việt Nam vào khoảng trên 500 ngàn ha sắn [Viện khoa học Nông nghiệp Việt Nam] Diện tích và sản lượng sắn của Việt Nam bị áp lực chi phối của thị trường nên không ổn định Tiêu thụ sắn ở nước
ta chủ yếu ở dạng chế biến sắn lát và tinh bột sắn Mức xuất khẩu sắn lát còn thấp và không ổn định Hiện có khoảng trên 20 nhà máy chế biến tinh bột sắn
đã và đang được xây dựng (phần lớn tập trung ở các tỉnh phía Nam) Tổng công suất của các Nhà máy chế biến tinh bột sắn trong cả nước đạt khoảng
900 ngàn tấn của tươi/năm, chiếm khoảng 45% tổng sản lượng sắn [Viện khoa học Nông nghiệp Việt Nam]
Giống là biện pháp kỹ thuật quan trọng nhất để nâng cao năng suất và sản lượng, là tiền để thâm canh tăng năng suất và chất lượng Trên thực tế nhiều vùng, nông dân vẫn còn tình trạng sử dụng các giống sắn cũ, có năng suất thấp Theo đánh giá của nhiều chuyên gia thì năng suất sắn ở Việt Nam thuộc vào loại thấp nhất ở Châu Á Nguyên nhân chủ yếu là do nông dân vẫn còn trồng các giống cũ có năng suất thấp và phần lớn được chọn lọc để làm lương thực
Trang 21Thực tế hiện nay đang cần thiết đòi hỏi những vùng nguyên liệu sắn hàng hoá tập trung với cơ cấu giống sắn tốt phù hợp để nông dân trồng sắn và người mua sắn đều có lãi, đáp ứng nguyên liệu ổn định cho các nhà máy chế biến tinh bột sắn Do vậy việc tuyển chọn và phát triển các giống sắn tốt là nhu cầu quan trọng và thường xuyên của của sản xuất Trong những năm qua, mạng lưới Nghiên cứu và khuyến nông sắn của Việt Nam phối hợp chặt chẽ với Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế (CIAT) đã tuyển chọn và giới thiệu các giống sắn mới có năng suất củ tươi và hàm lượng tinh bột cao hơn hẳn các giống sắn địa phương Có thể nói rằng, công tác chọn lọc và phổ biến giống sắn trong giai đoạn vừa qua đã tạo được những bước đột phá quan trọng trong nghề trồng sắn ở Việt Nam
Một trong những bước quan trọng nhất quyết định thành công hay thất bại của một giống mới là sự chấp nhận của nông dân Sự chấp nhận này còn là thước đo của sự thành công của cả một chương trình nghiên cứu chọn lọc giống sắn Những điển hình nông dân trồng sắn giỏi đạt năng suất cao và lợi nhuận kinh tế cao đã trở thành những điển hình sinh động, là bằng chứng thuyết phục đối với những nông dân khác để học tập và nhân nhanh các giống sắn tốt
Sắn có thể được trồng xen với các cây nông nghiệp ngắn ngày khác như đậu đỗ, ngô, khoai lang, rau, Nhìn chung, trồng xen sắn có thể làm giảm năng suất sắn, nhưng phần thu thêm từ sắn lớn hơn phần thu nhập mất đi do năng suất sắn thấp Việc trồng xen lạc với sắn nhìn chung cho lợi nhuận cao hơn so với trồng sắn thuần hay trồng xen với các cây trồng khác
Sự giảm sút độ phì nhiêu đất trồng sắn có thể phần nào được ngăn cản bằng cách vùi vào đất phần thân lá cây trồng xen
Đi đôi với việc giới thiệu các giống sắn mới vào sản xuất thì việc thâm canh nhằm phát huy tiềm năng năng suất của giống mới là vấn đề rất quan trọng để duy trì độ phì nhiêu của đất, nâng cao năng suất, chất lượng
và sản lượng
Trang 22Sau mỗi năm gieo trồng, ngoài tác động của rửa trôi xói mòn, các chất dinh dưỡng trong đất cũng bị nghèo đi do lấy ra khỏi đất theo nông sản phẩm Điều này giải thích tại sao nếu không hoàn trả bằng phân bón thì đất chóng kiệt màu, và đây là tập quán phổ biến ở vùng cao Để cải thiện độ phì nhiêu của đất sắn, điều cần thiết là phải giảm bớt sự mất mát dinh dưỡng do cây trồng hấp thu, ngăn chặn sự thoái hoá lý tính đất do làm đất quá mức Thêm vào đó, cần bù đắp dinh dưỡng và chất hữu cơ bị mất bằng cách bón phân hoá học, phân chuồng hay vùi cây phân xanh và tàn dư cây trồng vào đất Vì vậy, để hạn chế mặt trái của trồng sắn có thể áp dụng biện pháp thâm canh và bảo vệ đất
Trong các biện pháp thâm canh và bảo vệ đất thì việc trồng xen cây họ đậu vào sắn kết hợp bón phân cũng là một nội dung quan trọng trong quản lý
và nâng cao độ phì nhiêu của đất đồi dốc có hiệu quả cao
Sắn hầu hết được trồng trên đất dốc không chú ý đến biện pháp chống xói mòn, bảo vệ đất và bón phân Một trong những biện pháp bảo vệ độ màu
mỡ đất là hạn chế xói mòn bằng các băng cây xanh trồng theo đường đồng mức Nhiều thí nghiệm đã cho thấy: dòng chảy bề mặt và đất mất có thể được giảm đáng kể do trồng xen và trồng cây chống xói mòn theo đường đồng mức Trồng xen với lạc và các cây họ đậu khác nhìn chung hiệu quả hơn do việc hình thành sớm lớp che phủ bề mặt Tuy nhiên, trồng băng cây xanh chống xói mòn cũng cần nhiều lao động trong việc hình thành, duy trì và băng cây xanh có thể làm giảm năng suất do chiếm từ 10-20% đất Vì vậy, nông dân cần cân nhắc kỹ giữa chi phí và lợi nhuận trước mắt và lâu dài của việc giảm xói mòn và cải thiện độ phì nhiêu đất.[1]
1.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.2.1 Tính hình sản xuất và tiêu thụ sắn trên thế giới
Sắn hiện được trồng trên 100 nước có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc 3 châu lục: châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh Tổ chức Nông lương thực thế giới xếp sắn là cây lương thực quan trọng ở các nước đang phát triển sau lúa gạo, ngô và mì Tinh bột sắn là một thành phần quan trong trong chế
Trang 23độ ăn của hơn một tỷ người thế giới Đồng thời, sắn cũng là cây hàng hóa xuất khẩu có giá trị để chế biến bột ngọt, bánh kẹo, mì ăn liền, ván ép, bao bì màng phủ sinh học và phụ gia dược phẩm Đặc biệt trong thời gian tới, sắn là nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nhiên liệu sinh học (ethanol), năm
2008, Trung Quốc đã sản xuất một triệu tấn ethanol, họ đã thỏa thuận với các quốc gia lân cận để cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp sản xuất ethanol Tại Thái Lan, nhiều nhà máy sản xuất ethanol sử dụng sắn đã được xây dựng năm 2008 Indonesia đã lên kế hoạch sử dụng sắn sản xuất ethanol
để pha vào xăng theo tỷ lệ bắt buộc 5% bắt đầu từ năm 2010 Các nước như Lào, Papua New Guinea, đảo quốc Fiji, Nigeria, Colombia và Uganda cũng đang nghiên cứu thử nghiệm cho sản xuất ethanol[23]
Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới được thể hiện ở bảng 1.1
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trên thế giới qua các năm
(ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
275.721.584 triệu tấn Nước sản xuất nhiều nhất là Nigeria (45,72 triệu tấn),
kế đến là Thái Lan (22,58 triệu tấn) và Indonesia (19,92 triệu tấn) Nước có năng suất cao nhất Ấn Độ (31,43 tấn/ha), kế đến là Thái Lan (21,09 tấn/ha),
so với năng suất bình quân của thế giới là 12,87 tấn/ha
Trang 24Tình hình sản xuất sắn tại châu Á
Bảng 1.2 Tình hình diện tích, năng suất, sản lượng sắn tại châu Á
(ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (triệu/tấn)
1.2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ sắn tại Việt Nam
Một số kết quả nghiên cứu về cây sắn tại Việt Nam
- Tình hình sản xuất sắn trong nước
Ở Việt Nam, sắn là cây lương thực quan trọng đứng thứ ba sau lúa và cây ngô Cây sắn hiện nay đã chuyển đổi vai trò từ cây lương thực, thực phẩm thành cây công nghiệp hàng hóa có lợi thế cạnh tranh cao Sản xuất sắn là nguồn thu nhập quan trọng của các hộ dân nghèo do sắn dễ trồng, ít tốn kén đất, ít vốn đầu tư, phù hợp sinh thái và điều kiện kinh tế hộ
Trang 25Bảng 1.3 Diện tích, năng suất và sản lượng sắn trong nước qua các năm
(ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Việt Nam hiện đã trở thành điển hình của châu Á trong việc ứng dụng công nghệ chọn tạo giống sắn lai, sắn cao sản (Kawano, 2001; Reinhardt Howeler, 2004) Những nguyên nhân chính để có những thành tựu này là:
- Giống sắn cao sản mới có năng suất tinh bột cao gấp đôi so với các giống sắn địa phương đã thực sự mang lại năng suất và lợi nhuận cao cho người trồng sắn
- Toàn quốc hiện nay có 8 nhà máy chế biết tinh bột sắn và sản xuất cồn với tổng công suất ước khoảng 7 triệu tấn củ tươi/năm, và 6 nhà máy chế biến nhiên liệu sinh học (ethanol) đang được triển khai, tạo thuận lợi cho sản xuất sắn Các nhà máy có địa điểm xây dựng trải rộng trên toàn quốc, thuận
Trang 26lợi cho việc thu mua nguyên liệu và giảm chi phí vận chuyển Ngoài ra, còn
có trên 4000 cơ sở chế biến sắn lát, tinh bột sắn thủ công có công suất dưới 10 tấn củ tươi/ngày nằm rải rác ở hầu như hết các tỉnh trồng sắn, chủ yếu ở các tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai
- Sản phẩm sắn cao sản Việt Nam có nhu cầu cao đối với thị trường xuất khẩu và tiêu thụ nội địa Việt Nam hiện sản xuất mỗi năm gần 10 triệu sắn củ tươi, trong đó khoảng 70% dành cho xuất khẩu và 30% cho tiêu thụ trong nước Việt Nam hiện trở thành nước xuất khẩu tinh bột sắn đứng thứ hai trên thế giới sau Thái Lan
- Cây sắn cao sản dễ trồng, ít kén đất, ít vốn đầu tư, phù hợp sinh thái
và điều kiện kinh tế nông hộ Nông dân Việt Nam tích cực áp dụng giống và tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất sắn [7]
1.2.3 Tình hình nghiên cứu sắn trong và ngoài nước
1.2.3.1 Một số kết quả về phân bón cho sắn trên thế giới
Theo tác giả Weite, Z (1996) [19] cho rằng sắn được trồng trên đất giàu dinh dưỡng hoặc được bón đầy đủ và hợp lý các loại phân vô cơ, hữu cơ thì sức sinh trưởng tốt dần đến năng suất củ, năng suất sinh học, tỷ lệ tinh bột đạt cao Nếu sắn trồng trên đất nghèo dinh dưỡng có sức sinh trưởng yếu, năng suất củ, năng suất sinh vật học và tỷ lệ tinh bột trong củ thấp Bón quá nhiều phân đặc biệt là đạm đối với một số giống sắn có tốc độ sinh trưởng nhanh sẽ dẫn đến thân lá phát triển nhiều, năng suất sinh vật học cao, năng suất củ tươi giảm, chỉ
số thu hoạch thấp Nếu cung cấp P, K vượt quá mức giới hạn cho phép sẽ ức chế đến sự hấp phụ các chất dinh dưỡng khác như Fe và Zn hoặc Ca, Mg làm cho sắn sinh trưởng và phát triển kém, năng suất củ giảm Việc cung cấp dư đạm dẫn đến cây sắn phát triển rất mạnh về thân lá, ẩm độ không khí của bộ lá cao, không bào lá lớn, lá non hơn dẫn đến cây sắn dễ bị sâu bệnh phá hoại Bón phân dư thừa sẽ làm tăng giá thành sản xuất và đôi khi làm giảm năng suất dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp Chính vì vậy duy trì việc cung cấp dinh dưỡng cân đối cho cây sắn là rất cần thiết để đạt năng suất cao
Trang 27Tác giả Duangpatra (1987) [15] cho biết đạm là nguyên tố rất quan trọng đối với sinh trưởng và phát triển của cây sắn Cây sắn hấp thu một lượng N rất lớn từ đất, nên bón đạm làm tăng số lá trên thân, số đốt, số rễ củ
và năng suất củ Tuy nhiên, theo các tác giả khác thì bón đạm làm giảm tỷ lệ tinh bột chứa trong củ Ở các thí nghiệm dài hạn và ngắn hạn cho thấy sắn phản ứng với đạm rất mạnh, nhất là ở các loại đất nghèo dinh dưỡng Phản ứng của sắn đối với các liều lượng đạm khác nhau đã thể hiện rõ ngay từ năm đầu thí nghiệm đầu tiên Ngoài ra có mối quan hệ khá rõ giữa lượng đạm bón vào đất và hàm lượng N chứa trong thân lá sắn, hàm lượng N trong thân lá tăng khi bón đạm tăng
Theo tác giả Weite (1987) [18] nếu lúc thu hoạch người ta lấy toàn bộ sinh khối của sắn có trên đồng ruộng (củ tươi, các bộ phận thân lá) thì họ đã lấy đi hầu hết các chất hữu cơ do cây sắn hấp thụ được trong quá trình sinh trưởng và phát triển bao gồm 75%N, 92%Ca, 76%Mg Số liệu phân tích được cho thấy tổ hợp lân chứa trong củ lúc thu hoạch tương đương với lượng P ở
bộ phận trên mặt đất (thân, lá) khi thu hoạch cộng với lượng P ở nhiều bộ phận lá đã rụng (lá già) Riêng ở rễ và củ sắn thì tỷ lệ N:P:K bị lấy đi khi thu hoạch là 2:1:4 Song tính chung cho tất cả các bộ phận ở dưới và trên mặt đất thì tỷ lệ là 3:1:3
Theo tác giả Weite (1987) [18] từ những kết quả nghiên cứu hơn 100 thí nghiệm trên đồng ruộng của nông dân tại Thái Lan và Trung Quốc cho rằng cây sắn phản ứng mạnh với mức bón phân N từ 50 đến 200kgN/ha nhưng cũng có sự khác nhau từ giống (giống SC205 phản ứng với mức bón 200kgN/ha còn giống SC201 ở mức 50kgN/ha)
Tác giả Howeler khi tập hợp nhiều kết quả nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng đối với cây sắn của các tác giả khác nhau trên thế giới đã đi đến kết luận: Để đạt năng suất 15 tấn củ tươi/ha, cây sắn lấy đi lượng dinh dưỡng trung bình là 74kgN, 16kgP2O5, 87kgK2O, 27kgCa và 12kgMg Nhiều công
Trang 28trình nghiên cứu về bón N, P, K đơn lẻ hoặc kết hợp, so sánh phản ứng của cây sắn đối với phân bón là tùy thuộc vào tình trạng dinh dưỡng ban đầu của đất, điều kiện sinh thái của vùng cũng như các loại phân và phương pháp bón khác nhau
Kết quả nghiên cứu của Askohan và Sreedhanan (1985) [14] về vai trò của P2O5 cho thấy cây sắn hấp thu một lượng P2O5 có tác dụng làm tăng tỷ lệ tinh bột và giảm axit cyahydric (HCN) trong củ
K là nguyên tố được cây sắn hấp thụ nhiều nhất và là nguyên tố hạn chế năng suất củ của cây sắn Theo tác giả Aiyer và cộng sự (1995) [13] triệu chứng thiếu hụt K2O được đặc trưng bởi sự giảm tốc độ sinh trưởng của cây sắn sẽ dễ dàng nhận thấy triệu chứng thiếu K2O xuất hiện ở phiến lá và cuống lá già, thiếu
K2O dẫn đến những lá này bị rụng sớm Khi cung cấp quá nhiều K sẽ làm giảm
sự hấp thu Mg và Ca
Những kết quả nghiên cứu khác tại Ấn Độ, Thái Lan, Indonexia, Philippin và Trung Quốc cho thấy bón cân đối N, P, K có thể làm tăng năng suất sắn lên 48% so với không bón phân Cũng theo các kết quả nghiên cứu tại các quốc gia này thì mức bón N, P, K dao động trong khoảng: (100kgN + 50kg P2O5 + 100kgK2O)/ha; (60kgN + 120kg P2O5 + 120kgK2O)/ha; (80kgN + 40kg P2O5 + 80kgK2O)/ha Nghĩa là bón tỷ lệ N:P:K là 2:1:2 và 2:2:4 đều cho năng suất và tỷ lệ tinh bột cao, đồng thời có thể duy trì được độ phì của đất Những công trình nghiên cứu của tiến sỹ Lian thực hiện trên đất than bùn
ở Malaysia cho thấy công thức bón N:P:K thích hợp cho sắn là 150-250kgN + 30kgP2O5 + 80-160kgK2O/ha (Lian, T.S (1987) [16]
1.2.3.2 Thời vụ trồng sắn trên thế giới
Ở các vùng sinh thái khác nhau thì thời điểm trồng sắn thích hợp sẽ phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng địa phương Các giống sắn công nghiệp trồng để lấy tinh bột thường thu hoạch sau trồng 8-12 tháng, các giống sắn ngọt trồng để ăn tươi thì có thể thu hoạch rải rác sau trồng từ 6-9 tháng
Trang 29Ở Châu Á sắn thường được trồng vào hai điểm chính là đầu mùa mưa
và cuối mùa Điểm đầu mùa mưa, sắn được trồng ngay sau những cơn mưa đầu tiên khi ẩm độ trong đất đủ để hom sắn mọc mầm và phát triển Điểm cuối mùa mưa sắn được trồng vào thời điểm lúc mùa mưa sắp kết thúc
Tại Thái Lan, theo tác giả Tonglum và cộng sự có hai khoảng thời gian trồng sắn thích hợp là vào tháng 5 và tháng 11, thời gian trồng và thu hoạch
có ảnh hưởng đến năng suất củ của các giống Năng suất củ tăng tỷ lệ thuận với thời gian thu hoạch từ tháng 8-18 tháng sau trồng, nhưng nếu kéo dài thời gian thu hoạch của năm trước thì sẽ ảnh hưởng đến thời điểm trồng sắn năm sau Với các giống sắn khác nhau như Rayong 2, Rayong 3 trồng vào tháng 5
và thu hoạch 12 tháng sau trồng cho năng suất củ cao nhất Giống sắn Rayong
60 nếu trồng muộn vào tháng 6 năng suất củ sẽ giảm
Những nghiên cứu của Viện Nông nghiệp Nhiệt đới nam Trung Quốc cho thấy: thời gian trồng sắn thích hợp ở vùng Hoa Nam là vào đầu mùa Xuân
từ tháng 2 đến tháng 4 và thời gian thu hoạch sau khi trồng từ 10-12 tháng Năng suất và hàm lượng chất khô chứa trong củ thường tăng theo thời gian thu hoạch sau khi trồng Ở vùng sắn Quảng Đông, Quảng Tây và Hải Nam, thời gian thu hoạch vào tháng 12 đến tháng 2 năm sau
Tại Ấn Độ, kết quả nghiên cứu của Mohankumar và cộng sự thực hiện tại Trivandrum, Kerala và Tamil Nadu cho thấy: cây sắn có thể trồng bất cứ thời điểm nào trong năm nếu chủ động được nước tưới Tuy nhiên có hai thời điểm trồng sắn chính: Thời điểm 1 trồng từ tháng 4 đến tháng 5, thời điểm 2 trồng từ tháng 8 đến tháng 9 Hai thời điểm này có năng suất và chất lượng sắn cao hơn so với trồng ở những thời điểm khác nhau trong năm Bandara và cộng sự cho biết năng suất và hàm lượng chất khô chứa trong củ sắn biến động theo mùa và thời gian thu hoạch Thu hoạch sắn sau khi trồng 9-11 tháng cho năng suất củ tươi, tỷ lệ tinh bột cao hơn so với thu hoạch sớm 6,5 tháng sau trồng
Trang 301.2.3.3 Một số kết quả nghiên cứu về mật độ và khoảng cách trồng sắn ở Việt Nam
Khái quát thông tin từ những kết quả nghiên cứu sắn trên thế giới và trong nước chúng tôi đã rút ra những vấn đề cơ bản làm cơ sở khoa học và thực tiễn cho đề tài nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện trên giống sắn mới HL2004-28 với 5 mật
độ, đối chứng là mật độ 15.625 cây/ha trồng năm 2013 tại 3 vùng Trung du miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ Kết quả nghiên cứu cho thấy: Mật độ trồng khác nhau ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng và năng suất của giống sắn mới HL2004-28 Mật độ trồng tối ưu đối với vùng Trung du và miền núi phía Bắc là 10.000 cây/ha Năng suất củ tươi đạt 40,7 tấn/ha, cao hơn đối chứng chắc chắn ở mức độ tin cậy 95% Mật độ tối ưu cho vùng Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ là 12.500 cây/ha, năng suất củ tươi đạt 40,6 tấn/ha, đến 43,1 tấn/ha cao hơn đối chứng chắc chắn ở mức độ tin cậy 95%.( Trần Ngọc Ngoạn cùng cs, 2014) [11]
Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của các mức mật độ từ 8.333 -
16667 cây/ha cho kết quả: Cả 2 giống sắn KM414, HL28 ở công thức 4 mật
độ trồng (10.000 cây/ha) cho tốc độ tăng trưởng ổn định và mạnh nhất Ở công thức 4 mật độ 10.000 cây/ha 2 giống sắn KM414 và HL28 cho năng suất
củ tươi đạt (44,77 tấn/ha và 40,77 tấn/ha); chất lượng và lãi thuần (46,44 - 52,44 triệu đồng/ha), đều cao hơn công thức đối chứng và các công thức khác Trong đó: Giống KM414 cho năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao hơn giống HL28 Có thể phổ biến giống sắn KM414 và giống HL28 trồng với mật độ 10.000 cây/ha (khoảng cách 1,0 x 1,0 m) vào sản xuất sẽ cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao đối với tỉnh Thái Nguyên cũng như một số vùng trồng sắn ở khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam (Nguyễn Viết Hưng cùng
cộng sự) [5]
Trang 311.2.3.4 Một số kết quả nghiên cứu về phân bón sắn tại Việt Nam
Tại Việt Nam, kết quả nghiên cứu của tác giả Công Doãn Sắt và Hoàng Văn Tám cho thấy sắn được trồng chủ yếu trên các loại đất có độ phì thấp, quá trình canh tác không bón phân hoặc bón ít và chưa áp dụng đầy đủ các biện pháp bảo vệ đất trồng sắn Hàng năm cây sắn đã lấy đi một lượng dinh dưỡng khá lớn so với các cây trồng khác, mặt khác sắn trồng với mật độ thưa, diện tích che phủ thấp đã làm tăng quá trình rửa trôi, xói mòn đất, dẫn đến sự cạn kiệt và mất cân đối nguồn dinh dưỡng của cây, do vậy phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật bón phân để duy trì sản xuất sắn bền vững
Theo kết quả nghiên cứu củ Nguyễn Thế Đặng, Thái Phiên và cộng sự (1994) [4] cho thấy bón phân khoáng hợp lý cho sắn có tác dụng tốt đến việc cải thiện đặc tính lý, hóa của đất cũng như nâng cao năng suất và hiệu quả kinh
tế của sắn
Theo tác giả Thái Phiên và Nguyễn Công Vinh (1998) [10] khi trồng sắn 3 năm liên tục trên cùng một diện tích đất ở miền Bắc Việt Nam thì năng suất sắn giảm xuống chỉ còn 10 tấn/ha nếu không bón phân, ngược lại năng suất sắn tăng lên đến 20 tấn/ha khi cung cấp đầy đủ N, P, K và đặc biệt khi bón K ở mức cao
Vật liệu nghiên cứu là 2 giống sắn triển vọng KM414 và KM98-7 và các loại phân hữu cơ như phân chuồng, phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh, phân hữu cơ NTT Đề tài được tiến hành trên 2 loại đất (đất gò đồi và đất bãi) tại
02 tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang trong năm 2012 Bố trí theo phương pháp ngẫu nhiên hoàn toàn mỗi công thức thí nghiệm 30m2 Mỗi công thức bao gồm 5 tấn phân hữu cơ + 120Kg N + 60 Kg P205 + 120 Kg K20/ha, đối chứng với công thức bón phân hữu cơ như nông dân (1 tấn phân chuồng) Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân hữu cơ như phân hữu cơ Sông Gianh, phân chuồng và phân hữu cơ NTT ở cùng một lượng là 5 tấn/ha cho thấy: Loại phân hữu cơ tốt nhất cho sắn là phân hữu cơ NTT cho năng suất củ tươi cao nhất (43,8 -44,1 tấn/ha), lãi thuần cao nhất (52,66 - 53,2 triệu đồng/ha) (Nguyễn Viết Hưng cùng cs) [8]
Trang 32Theo tác giả Lê Hồng Lịch, Võ Thị Kim Oanh (2000) [9] lượng phân khoáng bón cho đất trồng sắn ở Đắc Lắc (đất phiến thạch sét và đất bazan nâu đỏ) là 70kgN + 50kgP2O5 + 100kgK2O/ha năng suất sắn tăng và đạt hiệu quả cao nhất
1.2.3.5 Một số kết quả nghiên cứu về thời vụ trồng sắn tại Việt Nam
Ở vùng Đông Bắc, Tây Bắc, đồng bằng sông Hồng của miền Bắc Việt Nam, sắn được trồng tốt nhất trong tháng 2 vì lúc này có mưa xuân, nhiệt độ tăng dần, thích hợp cho cây sinh trưởng, hình thành và phát triển củ Trồng muộn vào tháng 4, nhiệt độ cao cây sinh trưởng mạnh nhưng không đủ thời gian cho củ phát triển
Vùng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ sắn được trồng vụ chính từ giữa tháng 4 đến cuối tháng 5 và vụ phụ từ cuối tháng 9 đến đầu tháng 11 Tục ngữ Việt Nam có câu “nhất thì nhì thục” nên xác định thời vụ trồng thích hợp là rất quan trọng đối với cây sắn
Vùng Đông Nam bộ, tác giả Nguyễn Thị Sâm và ctv cho biết thời vụ trồng sắn thích hợp nhất đối với giống sắn KM94 là khi mưa đầu mùa đã ổn định từ 15/5 đến 15/6 dương lịch là tốt nhất, chậm nhất đến 25/6
Trang 33Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng áp dụng kỹ thuật sản xuất sắn tại 2 xã Phúc An và Vĩnh Kiên (huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái)
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Can thiệp về kỹ thuật sản xuất sắn bền vững:
+ Thí nghiệm trình hiện trường về giống sắn mới, quản lý dinh dưỡng
và phân bón, quản lý xói mòn cho đất trồng sắn
+ Hội thảo đầu bờ, hội thảo đánh giá kết quả thí nghiệm
- Can thiệp về chế biến thức ăn chăn nuôi từ bã sắn kết hợp với một số phụ phẩm để làm thức ăn chăn nuôi lợn
+ Tập huấn hiện trường
+ Thí nghiệm trình diễn ủ chua thức ăn chăn nuôi lợn
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: 7/2015 - 9/2016
- Địa điểm tại hai xã Phúc An và xã Vĩnh Kiên (huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái)
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Tổng quát về khu vực và địa bàn nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên
- Điều kiện kinh tế - xã hội
- Thuận lợi, khó khăn nổi bật
2.3.2 Vai trò của cây sắn trong sinh kế nông hộ tại địa bàn nghiên cứu
- Nguồn lực đất đai, gồm tổng diện tích đất đai, đất canh tác, đất ruộng,
đất nương rẫy, đất ao hồ và các đất khác của hộ
- Thu nhập sinh kế, bao gồm thu nhập về nông nghiệp, thu nhập về phi nông nghiệp của hộ
- Thu nhập về trồng trọt, gồm sắn, lúa, ngô và các cây trồng khác của hộ
Trang 34- Số hộ trồng, diện tích trồng các cây trồng chủ yếu: sắn, lúa, ngô và các cây trồng khác của hộ
2.3.3 Thực trạng việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất sắn tại 2 xã nghiên cứu
- Kỹ thuật sản xuất sắn: giống sắn, quản lý dinh dưỡng đất trồng sắn, trồng xen với cây nông nghiệp ngắn ngày và cây lâm nghiệp, quản lý xói mòn
2.3.4 Giải pháp phát triển sản xuất sắn bền vững, nâng cao đời sống vật chất người nông dân trồng sắn, góp phần cải thiện sinh kế bà con nông dân địa phương
Kỹ thuật sản xuất sắn bền vững
Chế biến thức ăn chăn nuôi từ bã sắn
Tập huấn ToT
ủ chua thức ăn
Thí nghiệm hiện trường
Thí nghiệm hiện trường
Hội thảo kết quả thí nghiệm
Hộ nông dân địa phương
Trang 352.4.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp chính sau đây:
2.4.2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
- Phương pháp quan sát: Là phương pháp qua quan sát trực tiếp hay gián tiếp bằng các dụng cụ để nắm được tổng quan về địa hình, địa vật trên địa bàn nghiên cứu
- Điều tra bằng bảng hỏi: là phương pháp tìm hiểu quy mô, mức sống của người dân tại địa phương, xác định tiềm năng cơ hội, những thuận lợi và khó khăn của người dân đang tồn tại thông qua bảng hỏi đã được lập sẵn Người được hỏi trả lời ý kiến của mình bằng cách đánh dấu vào các ô tương ứng theo một qui ước nào đó và trả lời các câu hỏi trong bảng hỏi đã được lập sẵn có 2 loại câu hỏi trong bảng hỏi, đó là câu hỏi đóng và câu hỏi mở:
+ Câu hỏi đóng: Là loại câu hỏi có đáp án trả lời sẵn mà người trả lời chỉ đọc và đánh dấu vào những ý kiến, mức độ ứng với cá nhân
+ Câu hỏi mở: Là loại câu hỏi không có đáp án trả lời sẵn mà người trả lời phải tự điền ý kiến của mình vào đó
- Điều tra phỏng vấn bằng phiếu điều tra: 12 hộ/thôn x 4 thôn/xã x 2
xã = 96 hộ
- Phỏng vấn bán cấu trúc: Là hình thức phỏng vấn có hướng dẫn (được dẫn dắt qua đối thoại với người được phỏng vấn) với những câu hỏi được xác định trước Trong quá trình phỏng vấn nhiều câu hỏi sẽ được hình thành, nếu thấy có những câu hỏi không phù hợp thì có thể bỏ các câu hỏi ấy
- Thảo luận nhóm
- Phương pháp chọn mẫu: Phi ngẫu nhiên [8]
Trang 362.4.2.3 Phương pháp xử lí, phân tích và tổng hợp số liệu
* Phương pháp xử lí và tổng hợp số liệu
Số liệu điều tra các hộ chăn nuôi sau khi thu thập đủ, sẽ tiến hành làm sạch biểu tức là kiểm tra, rà soát và chuẩn hoá lại thông tin, loại bỏ thông tin không chính xác, sai lệch trong điều tra và chuẩn hóa lại các thông tin Những thông tin, số liệu thu thập được tổng hợp, phân tổ, đồng thời được xử lí thông qua chương trình Excle Việc xử lí thông tin
là cơ sở cho việc phân tích
* Phương pháp phân tích số liệu
- Phương pháp thống kê mô tả
Các thông tin, số liệu được mô tả, liệt kê rõ ràng theo các phương pháp thống kê
- Phương pháp thống kê so sánh
Phương pháp so sánh để xác định xu hướng và biến động của các chỉ tiêu phân tích, phản ánh chân thực hiện tượng nghiên cứu, giúp cho việc tổng hợp tài liệu, tính toán các chỉ tiêu được đúng đắn cũng như giúp cho việc phân tích tài liệu được khoa học, khách quan, phản ánh những nội dung cần nghiên cứu [8]
2.5 Hê ̣ thống chỉ tiêu nghiên cứu
2.5.1 Chỉ tiêu phản ánh đặc điểm của chủ hộ
- Tuổi đời, giới tính
- Dân tộc, tôn giáo
- Nghề nghiệp
- Trình độ văn hoá, chuyên môn
2.5.2 Chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất
* Đô ̣ lê ̣ch chuẩn:
Khái niệm: Độ lệch chuẩn, hay độ lệch tiêu chuẩn (Standard Deviation
- Std Dev hay SD), là một đại lượng thống kê mô tả dùng để đo mức độ phân tán của một tập dữ liệu đã được lập thành bảng tần số
Trang 37- Ý nghĩa: Độ lệch chuẩn phản ánh độ biến thiên của cá nhân trong một
quần thể
- Cách xác định độ lệch chuẩn: SD được xác định bằng cách tra trên máy tính Excel PivotTable
* Sai số chuẩn:
Khái niệm: (Standard Error, SE) Mô tả sự biến thiên của số trung bình
- Ý nghĩa: Mô tả sự biến thiên của số trung bình, phản ánh dao động
của số trung bình chọn từ quần thể Như vậy, sai số chuẩn phản ánh độ dao động của các số trung bình chọn từ quần thể
- Cách xác định sai số chuẩn: Sai số chuẩn được tính bằng độ lệch chuẩn chia cho căn bậc hai của mẫu (n) SD =
* Hê ̣ số biến động
Khái niệm: Hệ số biến động (coefficient of variation, viết tắt CV%) là
một đại lượng thống kê mô tả dùng để đo mức độ biến động của tương đối của những tập hợp dữ liệu chưa phân tổ có giá trị bình quân khác nhau
- Ý nghĩa: Giữa 2 tập hợp dữ liệu, tập nào có hệ số biến thiên lớn hơn
là tập có mức độ biến động lớn hơn
- Cách xác định CV%:
CV =
Trang 38Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tại địa bàn nghiên cứu
3.1.1 Điều kiện tự nhiên
Yên Bình là huyện miền núi nằm ở phía đông nam tỉnh Yên Bái Trung tâm huyện cách thành phố Yên Bái 8Km về phía đông nam, cách thủ đô Hà Nội 170Km về phía tây bắc, phía đông nam giáp huyện Đoan Hùng của tỉnh Phú Thọ, phía tây nam giáp thành phố Yên Bái, phía tây bắc giáp thành phố Yên Bái, huyện Trấn Yên và Huyện Văn yên, phía đông bắc giáp huyện Hàm Yên của tỉnh Tuyên Quang, phía bắc giáp huyện Lục Yên
Trên địa bàn có tuyến quốc lộ 70 từ Hà Nội đi Yên Bái và đi Lào Cai chạy qua trung tâm và một số xã của huyện Huyện Yên Bình có tổng diện tích tự nhiên là 77.319,67 ha trong đó diện tích đất nông nghiệp có 57.690,43
ha chiếm 74,61% tổng diện tích tự nhiên Yên Bình nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ trung bình hàng năm là 22,90C Lượng mưa bình quân hàng năm là 2.121,2mm, số ngày mưa trung bình là 136 ngày, tập trung từ tháng 5 đến tháng 9 hàng năm Độ ẩm trung bình là 37% và không có sương muối
Đặc điểm đất đai thổ nhưỡng của Yên Bình là nhiều loại đất, nhóm đất
đỏ vàng (Feralit) là nhóm đất chiếm phần lớn diện tích trong huyện (61%) gồm nhiều loại đất có khả năng phát triển cây công nghiệp (chè, cà phê, cao
su, cây ăn quả), cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp ngắn ngày (mía ) và phát triển đồng cỏ để chăn nuôi đại gia súc Nhóm đất dốc tự phân
bổ rải rác ở các thung lũng sông suối có khả năng cải tạo thâm canh trồng cây lương thực, thực phẩm và cây công nghiệp ngắn ngày Nhóm đất phù sa phân
bố dọc hai bên bờ sông Chảy có đặc tính độ phì cao của phù sa đáp ứng được yêu cầu của các loại cây màu và cây lương thực
Trang 39Các tài nguyên thiên nhiên của huyện khá phong phú, ngoài tài nguyên nước và tài nguyên rừng còn kể đến một số khoáng sản: đá vôi hoa hoá có độ trắng cao, đá vôi vật liệu xây dựng, chì, kẽm, pyrit, cao lanh, fenpat; ngoài ra
có đá quý, bán đá quý và các loại cát, quặng vàng, than nâu những loại tài nguyên này đều có trữ lượng khá lớn
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Yên Bình có dân số là 107.398 người, lực lượng lao động xã hội 45.037 người, trong đó lực lượng lao động nông thôn chiếm 76,5% Trên địa bàn huyện có 5 dân tộc chính là Kinh, Tày, Nùng, Dao, Cao lan (Sán chay) sống xen kẽ với nhau từ lâu đời Mật độ dân cư bình quân toàn huyện là 139 người dân/Km2, nhìn chung sự phân bố dân cư không đồng đều, tập trung chủ yếu ở các xã hạ huyện và thị trấn huyện lỵ, riêng xã vùng cao Xuân Long chỉ có 49,1 người/Km2 Đồng bào các dân tộc trong huyện đoàn kết, cần cù lao động, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước
Yên Bình có 26 đơn vị hành chính cấp cơ sở gồm 24 xã và 2 thị trấn (1 thị trấn trung tâm huyện lỵ), trong đó có 1 xã vùng cao và 6 xã đặc biệt khó khăn Các đơn vị này được phân bố thành 4 vùng: Vùng trung tâm huyện có 4
xã và Thị trấn Yên Bình; Vùng tây hồ gồm 9 xã dọc quốc lộ 70 ; vùng hạ huyện có 6 xã và thị trấn Thác Bà; vùng thượng huyện có 9 xã nằm ở phía Đông và đông bắc hồ Thác bà
Hiện nay, toàn huyện có 79 trường học với gần 900 lớp học từ ngành học mầm non đến phổ thông trung học, tổng số học sinh hàng năm có khoảng 25.000
em, chiếm tỷ lệ 24% so với dân số Năm 1995 toàn huyện đã cơ bản hoàn thành xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học Hiện có 25/26 xã được công nhận đạt chuẩn quốc gia vè phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; 26/26 xã, thị trấn được công nhận đạt chuẩn quốc gia về phổ cập trung học cơ sở
Trang 40Huyện có một bệnh viện trung tâm, 3 phân viện - phòng khám khu vực (Thác Bà, Cẩm Nhân và Cẩm Ân) và 26 trạm y tế cơ sở xã, thị trấn, bình quân
ra, trên địa bàn còn có các tuyến đường thuỷ quan trọng trên lòng hồ Thác bà, nối liền các xã, thị trấn ven hồ Mạng lưới điện quốc gia đã được phủ hầu hết 26/26 xã, thị trấn Về thông tin liên lạc, hiện tại trên địa bàn huyện đã có 26/26 xã có điện thoại, 26/26 xã đã xây dựng được điểm bưu điện văn hoá Bình quân 10 máy điện thoại cố định/100 người dân.Toàn huyện có trên 99 %
số dân được sử dụng điện; 96% diện tích được phủ sóng phát thanh truyền hình Tỷ lệ hộ nghèo còn 17%
3.1.3 Những thuận lợi, khó khăn nổi trội
3.1.3.1 Những thuận lợi
Là địa phương có nhiều lợi thế so sánh về vị trí địa lý, là đầu mối giao lưu kinh tế quan trọng của tỉnh Yên Bái và Lào Cai với Hà nội, là cửa ngõ của vùng Tây Bắc, đó là thuận lợi quan trọng để phát triển kinh tế dịch vụ Huyện Yên Bình có nhiều tiềm năng về khoáng sản, có thể phát triển công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng Có nhiều tiềm năng để phát triển nông nghiệp: đất đai, thổ nhưỡng phù hợp với nhiều loại cây trồng công nghiệp, cây ăn quả có múi, cây lương thực và có nhiều điều kiện tốt để phát triển chăn nuôi đại gia súc, nuôi trồng thuỷ sản