1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá công tác quản lý và xử lý chất thải tại một số bệnh viện trên địa bàn thành phố thái nguyên và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý

92 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá công tác quản lý và xử lý chất thải tại một số bệnh viện trên địa bàn thành phố thái nguyên và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý Đánh giá công tác quản lý và xử lý chất thải tại một số bệnh viện trên địa bàn thành phố thái nguyên và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý Đánh giá công tác quản lý và xử lý chất thải tại một số bệnh viện trên địa bàn thành phố thái nguyên và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý Đánh giá công tác quản lý và xử lý chất thải tại một số bệnh viện trên địa bàn thành phố thái nguyên và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý Đánh giá công tác quản lý và xử lý chất thải tại một số bệnh viện trên địa bàn thành phố thái nguyên và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý

Trang 1

-

NGUYỄN MẠNH CƯỜNG

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ

VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI TẠI MỘT SỐ BỆNH VIỆN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

Thái Nguyên - 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM -

NGUYỄN MẠNH CƯỜNG

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ

VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI TẠI MỘT SỐ BỆNH VIỆN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

Ngành: Khoa học môi trường

Mã số ngành: 60 44 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

Người hướng dẫn khoa học: TS Dư Ngọc Thành

Thái Nguyên - 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tên tôi là: Nguyễn Mạnh Cường

Học viên cao học khóa 22 chuyên ngành: Khoa học môi trường, niên khóa 2015 - 2016 Tại trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên

Đến nay tôi đã hoàn thành luận văn nghiên cứu cuối khóa học Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện, số liệu và kết quả trong luận văn là trung thực, các kết luận khoa học trong luận văn chưa từng

ai công bố trong các nghiên cứu khác

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những lời cam đoan trên./

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2016

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Mạnh Cường

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn được hoàn thành theo chương trình đào tạo cao học khoá 22 trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc nhất tới Ban lãnh đạo

và cán bộ , y bác sĩ của bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên; bệnh viện - A; bệnh viện Quốc tế Thái Nguyên; sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Thái Nguyên; Phòng Đào tạo sau đại học trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và đặc biệt là thầy giáo TS Dư Ngọc Thành, người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập và thực hiện luận văn

Mặc dù đã hết sức cố gắng nghiên cứu, làm việc để hoàn thiện luận văn, song do hạn chế về mặt thời gian và trình độ, nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu từ các thầy cô giáo, các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp để bản luận văn được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cám ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2016

Tác giả

Nguyễn Mạnh Cường

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

2.1 Mục tiêu tổng quát 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 2

3 Ý nghĩa của đề tài 3

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4

1.1.2 Thành phần và phân loại chất thải y tế 5

1.1.3 Ảnh hưởng của chất thải y tế 6

1.1.3.1 Môi trường nước 7

1.1.3.2 Ô nhiễm môi trường đất 7

1.1.3.3 Ô nhiễm môi trường không khí 8

1.1.3.4 Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với sức khỏe cộng đồng 8

1.1.4 Qui trình quản lý chất thải y tế 10

1.2 Cơ sở thực tiễn 12

1.2.1 Kinh nghiệm trên thế giới 12

1.2.1.1 Thực trạng phát sinh chất thải y tế 12

1.2.1.2 Phân loại chất thải y tế 13

1.2.1.3 Quản lý chất thải y tế 13

1.2.2 Kinh nghiệm quản lý chất thải y tế tại Việt Nam 14

Trang 6

1.2.2.1 Thực trạng phát sinh chất thải y tế 14

1.2.2.2 Quản lý chất thải y tế 15

1.2.2.3 Biện pháp xử lý chất thải y tế 18

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 25

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 25

2.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 25

2.3 Nội dung nghiên cứu 25

2.4 Phương pháp nghiên cứu 26

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 26

2.4.2 Phương pháp điều tra, khảo sát, lấy mẫu 26

2.4.3 Phương pháp phân tích mẫu và so sánh 27

2.4.4 Phương pháp phỏng vấn bằng phiếu điều tra 30

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32

3.1 Giới thiệu về các bệnh viện được chọn nghiên cứu 32

3.2 Hiện trạng phát thải và quản lý chất thải rắn y tế tại các bệnh viện 36

3.2.1 Hiện trạng phát thải chất thải rắn y tế 36

3.2.1.1 Khối lượng chất thải y tế thông thường 36

3.2.1.2 Khối lượng chất thải y tế nguy hại 37

3.2.2 Hiện trạng quản lý và xử lý CTRYT 37

3.2.2.1 Hiện trạng quản lý CTRYT 37

3.2.2.2 Xử lý chất thải y tế thông thường 39

3.2.2.3 Xử lý chất thải rắn y tế nguy hại 40

3.2.3 Hiện trạng phát thải và quản lý nước thải của các bệnh viện 43

3.2.3.1 Hiện trạng phát thải nước thải y tế 43

3.2.3.2 Hiện trạng quản lý nước thải y tế 45

Trang 7

3.3 Đánh giá mô hình quản lý chất thải bệnh viện 49

3.3.1 Đánh giá mô hình quản lý rác thải rắn 49

3.3.2 Đánh giá mô hình quản lý nước thải 50

3.3.2.1 Đánh giá về công tác quản lý 50

3.3.2.2 Đánh giá về hệ thống xử lý nước thải 51

3.4 Đánh giá hiểu biết và thái độ của cán bộ, vệ sinh viên và nhân viên y tế bệnh viện trong thực hiện quy chế quản lý chất thải y tế tại bệnh viện 53

3.4.1 Đánh giá hiểu biết của cán bộ, vệ sinh viên và nhân viên y tế về quy chế quản lý chất thải y tế 53

3.4.2 Đánh giá hiểu biết của cán bộ, vệ sinh viên và nhân viên y tế về phân loại chất thải y tế theo nhóm chất thải 54

3.4.3 Đánh giá hiểu biết của cán bộ, vệ sinh viên và nhân viên y tế về mã màu dụng cụ đựng chất thải y tế 55

3.4.4 Đánh giá hiểu biết về phân loại chất thải y tế của cán bộ, vệ sinh viên và nhân viên y tế theo nhóm chất thải và theo mã màu 57

3.4.5 Đánh giá tình hình thực hiện quy chế quản lý chất thải y tế 58

3.5 Đề xuất mô hình quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện nghiên cứu 60

3.5.1 Đề xuất mô hình quản lý chất thải rắn 60

3.5.1.1 Đề xuất về quản lý rác thải rắn 60

3.5.1.2 Đề xuất về công công nghệ 61

3.5.2 Đề xuất mô hình quản lý nước thải 63

3.5.2.1 Đề xuất về quản lý 63

3.5.2.2 Đề xuất về công công nghệ 63

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64

1 Kết luận 64

2 Kiến nghị 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

PHỤ LỤC 69

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Chất thải y tế theo giường bệnh trên thế giới 13

Bảng 1.2 Chất thải y tế phát sinh theo giường bệnh tại Việt Nam 15

Bảng 2.1 Chỉ tiêu và phương pháp phân tích 28

Bảng 2.2 Giá trị của hệ số K 29

Bảng 3.1 Khối lượng chất thải y tế thông thường tại các bệnh viện 36

Bảng 3.2 Khối lượng chất thải y tế nguy hại trung bình ở các bệnh viện 37

Bảng 3.3 Nhân lực quản lý môi trường tại các bệnh viện 38

Bảng 3.4 Lượng nước thải tại các bệnh viện 44

Bảng 3.5 Hệ thống xử lý nước các bệnh viện 45

Bảng 3.6 Chất lượng nước thải trước và sau khi xử lý của bệnh viện Đa khoa trung ương 46

Bảng 3.7 Chất lượng nước thải trước và sau xử lý của bệnh viện A Thái Nguyên 47

Bảng 3.8 Chất lượng nước thải trước và sau xử lý của bệnh viện Quốc tế Thái Nguyên 48

Bảng 3.9 Đánh giá ưu nhược điểm hệ thống xử lý nước thải của các bệnh viện tiến hành nghiên cứu 52

Bảng 3.10 Tỷ lệ cán bộ, nhân viên y tế và vệ sinh viên được tập huấn quy chế quản lý chất thải y tế 53

Bảng 3.11a Hiểu biết của nhân viên y tế, vệ sinh viên và công chức bệnh viện đa khoa trung ương về phân loại chất thải y tế theo nhóm chất thải 54

Bảng 3.11b Hiểu biết của nhân viên y tế, vệ sinh viên và công chức bệnh viện A về phân loại chất thải y tế theo nhóm chất thải 54

Bảng 3.11c Hiểu biết của nhân viên y tế, vệ sinh viên và công chức bệnh viện Quốc tế về phân loại chất thải y tế theo nhóm chất thải 55

Trang 9

Bảng 3.12a Hiểu biết của nhân viên y tế, vệ sinh viên và công chức bệnh viện

đa khoa trung ƣơng về mã màu dụng cụ đựng chất thải y tế 55 Bảng 3.12b Hiểu biết của nhân viên y tế, vệ sinh viên và công chức bệnh viện

A về mã màu dụng cụ đựng chất thải y tế 56 Bảng 3.12c Hiểu biết của nhân viên y tế, vệ sinh viên và công chức bệnh viện quốc tế về mã màu dụng cụ đựng chất thải y tế 56 Bảng 3.13a Hiểu biết về phân loại chất thải y tế của Cán bộ, nhân viên y tế và

vệ sinh viên của bệnh viện đa khoa trung ƣơng theo nhóm chất thải và theo

mã màu 57 Bảng 3.13b Hiểu biết về phân loại chất thải y tế của Cán bộ, nhân viên y tế và

vệ sinh viên của bệnh viện A theo nhóm chất thải và theo mã màu 57 Bảng 3.13c Hiểu biết về phân loại chất thải y tế của Cán bộ, nhân viên y tế và

vệ sinh viên của bệnh viện quốc tế theo nhóm chất thải và theo mã màu 58 Bảng 3.14a Tình hình thực hiện quy chế quản lý chất thải y tế tại bệnh viện

đa khoa trung ƣơng 58 Bảng 3.14b Tình hình thực hiện quy chế quản lý chất thải y tế 59 tại bệnh viện A 59 Bảng 3.14c Tình hình thực hiện quy chế quản lý chất thải y tế tại bệnh viện quốc tế 59

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Sơ đồ tổ chức bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên 33

Hình 3.2 Quy trình xử lý chất thải y tế thông thường 39

Hình 3.3 Quy trình xử lý chất thải y tế nguy hại - bệnh viện đa khoa trung ương 41

Hình 3.4 Quy trình xử lý chất thải y tế nguy hại - bệnh viện A 42

Hình 3.5 Nguyên lý hoạt động của lò đốt rác 43

Hình 3.6 Sơ đồ công nghệ của lò đốt chất thải rắn độc hại VHI - 18B 62

Hình 3.7 Bể lọc sinh học 63

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Dân số Việt Nam ngày càng gia tăng, nền kinh tế phát triển dẫn đến nhu cầu về mọi mặt của người dân nâng cao đặc biệt là nhu cầu về bảo vệ sức khỏe

Do đó việc phát triển và nâng cấp các bệnh viện là một nhu cầu thiết yếu và cần thiết của xã hội, song sự phát triển ồ ạt dẫn tới việc không đồng bộ của hoạt động bộ máy, đặc biệt bảo vệ môi trường luôn là vấn đề được đặt ra sau cùng trong quá trình phát triển này Một loạt hệ thống bệnh viện, cơ sở y tế của nhà nước và tư nhân đã và đang được đầu tư xây dựng trên phạm vi cả nước từ đó kéo theo khối lượng chất thải bệnh viện cũng ngày một nhiều hơn Chất thải bệnh viện khi thải ra môi trường nếu không được xử lý đúng cách thì hậu quả để lại sẽ rất nghiêm trọng, nó có thể gây ra các đại dịch lớn cho cộng đồng, gây ô nhiễm môi trường không khí, môi trường nước, môi trường đất từ đó quay trở lại ảnh hưởng tới cuộc sống của con người Do vậy việc quản lý chất thải bệnh viện cần phải đặt lên hàng đầu tại mỗi cơ sở

Các văn bản về quản lý chất thải bệnh viện được ban hành, nhưng hầu hết các chất thải bệnh viện chưa được quản lý và xử lý theo đúng một quy chế chặt chẽ hoặc có xử lý nhưng theo cách đối phó hoặc chưa đúng Ô nhiễm môi trường do các hoạt động y tế mà thực tế là tình trạng xử lý kém hiệu quả các chất thải bệnh viện Để đánh giá thực trạng về CTYT cũng như những ảnh hưởng của CTYT đối với môi trường, nhiều nhà khoa học, nhiều cơ quan đã tiến hành điều tra, nghiên cứu, các nghiên cứu đã phần nào cho thấy những tồn tại trong công tác quản lý CTYT ở nước ta Hiện nay, vì nhiều lý do, trong đó có áp lực về nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân, sự quá tải của nhiều bệnh viện, sự thiếu đồng bộ cơ sở hạ tầng của bệnh viện nên dẫn tới vệ sinh môi trường của nhiều bệnh viện chưa được đảm bảo[2]

Thái Nguyên là một trong những tỉnh trung tâm của khu vực miền núi phía Bắc nên trong những năm qua không chỉ công tác nâng cao chất lượng

Trang 13

khám chữa bệnh mà được sự quan tâm của Bộ Y tế, Ủy ban nhân dân tỉnh đã đầu tư nâng cấp chất lượng các hệ thống xử lý nước thải, rác thải đặc biệt là tại các bệnh viện có quy mô lớn với lượng bệnh nhân thường xuyên cao Tuy nhiên nhằm nâng cao chất lượng môi trường tại các bệnh viện thì ngoài các hệ thống

xử lý đạt tiêu chuẩn còn cần phải có hệ thống quản lý môi trường hiệu quả Xuất phát từ tình hình thực tế và yêu cầu của công tác thu gom, xử lý CTYT tại các bệnh viện, được sự nhất trí của Ban giám hiệu Nhà trường và Phòng Quản lý đào tạo Sau Đại học - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng

dẫn của TS Dư Ngọc Thành, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá công tác

quản lý và xử lý chất thải tại một số bệnh viện trên địa bàn thành phố Thái Nguyên và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý”

2 Mục tiêu của đề tài

- Đánh giá hiểu biết và thái độ của cán bộ, vệ sinh viên và nhân viên y tế

về quy chế quản lý chất thải y tế

- Đánh giá hiểu biết và thái độ của cán bộ, vệ sinh viên và nhân viên y tế trong việc thực hiện quy chế quản lý chất thải y tế

- Đề xuất mô hình quản lý CTYT cho bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên, bệnh viện A, bệnh viện Quốc tế

Trang 14

3 Ý nghĩa của đề tài

+ Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

- Giúp người học nâng cao và hoàn thiện kiến thức đã học, rút ra kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này

- Cung cấp cơ sở khoa học phục vụ công tác xây dựng kế hoạch quản lý chất thải y tế một cách có hiệu quả hơn, nhằm hướng tới mục tiêu phát triển môi trường bền vững

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

Theo Quy chế Quản lý CTYT của Bộ Y tế ban hành tại Quyết định số 43/QĐ-BYT ngày 30/11/2007, quy định [3]:

Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ sở y

tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường

Chất thải y tế nguy hại là CTYT chứa yếu tố nguy hại cho sức khoẻ con

người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ,

dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được

tiêu huỷ an toàn

Quản lý chất thải y tế là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu,

thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy

chất thải y tế và kiểm tra, giám sát việc thực hiện

Thu gom chất thải tại nơi phát sinh là quá trình phân loại, tập hợp, đóng

gói và lưu giữ tạm thời chất thải tại địa điểm phát sinh chất thải trong cơ sở y tế

Vận chuyển chất thải là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh,

tới nơi xử lý ban đầu, lưu giữ, tiêu hủy

Xử lý ban đầu là quá trình khử khuẩn hoặc tiệt khuẩn các chất thải có

nguy cơ lây nhiễm cao tại nơi chất thải phát sinh trước khi vận chuyển tới nơi

lưu giữ hoặc tiêu hủy

Xử lý và tiêu hủy chất thải là quá trình sử dụng các công nghệ nhằm

làm mất khả năng gây nguy hại của chất thải đối với sức khỏe con người và

môi trường

Trang 16

1.1.2 Thành phần và phân loại chất thải y tế

Căn cứ vào các đặc điểm lý học, hoá học, sinh học và tính chất nguy hại, chất thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5 nhóm [3]:

* Chất thải lây nhiễm: Nhóm này gồm các loại chất thải:

- Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thuỷ tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các hoạt động y tế

- Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly

- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh trong các phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm

- Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người; rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm

* Chất thải hoá học nguy hại: Nhóm này gồm các loại chất thải sau:

- Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng

Chất hoá học nguy hại sử dụng trong y tế

- Chất gây độc tế bào, gồm: Vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hoá trị liệu

- Chất thải chứa kim loại nặng: Thuỷ ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thuỷ ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị)

* Chất thải phóng xạ: Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát sinh từ

các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất

Trang 17

Danh mục thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu dùng trong chẩn đoán và điều trị ban hành kèm theo Quyết định số 33/2006/QĐ-BYT ngày 24 tháng 10 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Y tế

* Bình chứa áp suất: Bao gồm bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khí dung

Các bình này dễ gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt

* Chất thải thông thường: Là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hoá

học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:

- Chất thải sinh hoạt từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly)

- Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thuỷ tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương kín Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hoá học nguy hại

- Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim

- Chất thải ngoại cảnh: Lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh

* Về mã màu sắc

- Màu vàng đựng chất thải lây nhiễm

- Màu đen đựng chất thải hóa học nguy hại và chất thải phóng xạ

- Màu xanh đựng chất thải thông thường và các bình áp suất nhỏ

- Màu trắng đựng chất thải tái chế

1.1.3 Ảnh hưởng của chất thải y tế

Bệnh viện trong quá trình hoạt động của mình sẽ thải ra các loại CTYT dưới các dạng khác nhau rắn, lỏng, khí Nếu việc quản lý và xử lý chất thải của bệnh viện không tốt chúng có thể gây ra hai ảnh hưởng Thứ nhất, CTYT có thể gây tác động tới môi trường thông qua việc làm ô nhiễm môi trường nước, môi trường đất, môi trường không khí từ đó gây ảnh hưởng gián tiếp đến sức khoẻ

Trang 18

con người Thứ hai, CTYT có thể gây ra những ảnh hưởng trực tiếp đến sức

khoẻ cộng đồng

1.1.3.1 Môi trường nước

Nước thải bệnh viện nếu không được xử lý tốt sẽ là nguyên nhân gây ra các mầm bệnh và lây lan dịch bệnh do nước thải ngấm vào nguồn nước nhất là

hệ thống nước ngầm Nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và nhiều nhất đến môi trường nước đó chính là nước thải từ các bệnh viện, cơ sở y tế không được xử lý mà thải trực tiếp ra hệ thống thoát nước chung, nước thải bệnh viện có thể tiềm tàng rất nhiều nguy cơ

- Nguy cơ nhiễm khuẩn

+ Nguy cơ nhiễm khuẩn Salmonella, Shigella, dạng Coli, phẩy khuẩn, liên cầu, tụ cầu, phế cầu chủng loại này ở bệnh viện thường có khả năng kháng kháng sinh rất cao

+ Nguy cơ nhiễm virus chủ yếu là các loại virus đường tiêu hóa (bại liệt, ECHO ), virus viêm gan A, virus gây ỉa lỏng ở trẻ em Rotavirus

+ Nguy cơ nhiễm ký sinh trùng như amip, lambli, trứng giun sán

- Nguy cơ nhiễm chất độc hại thường gặp trong việc rửa, tráng phim hay thủy ngân của các nhiệt kế, huyết áp bị vỡ, các độc dược bị đổ đi rơi vào các nguồn nước thải Tuy nhiên nguy cơ này không xảy ra nhiều

- Nguy cơ nhiễm chất phóng xạ do nguồn phóng xạ sử dụng trong điều trị

và nghiên cứu không được bảo quản đúng sẽ gây phát xạ nguy hiểm

1.1.3.2 Ô nhiễm môi trường đất

Không phải tất cả các bệnh viện đều có điều kiện xử lý CTRYT hàng ngày Chất thải sau khi được phân loại, thu gom sẽ được tập trung về nơi lưu giữ tạm thời nếu nơi lưu giữ này không đảm bảo vệ sinh để cho nhiều loài côn trùng, loài gặm nhấm xâm nhập thì đây chính là các tác nhân trung gian sẽ mang mầm bệnh phát tán ra bên ngoài do vậy ảnh hưởng đến môi trường trong và ngoài

Trang 19

bệnh viện Các chất độc hại như gạc, bông băng nhiễm khuẩn, hóa chất chưa được xử lý lại thu gom đổ cùng với chất thải sinh hoạt và đem đi chôn không đảm bảo yêu cầu có thể ảnh hưởng đến môi trường đất và mạch nước ngầm

1.1.3.3 Ô nhiễm môi trường không khí

Ở bệnh viện đặc biệt là khoa truyền nhiễm chứa rất nhiều mầm bệnh như

Shetococcus, Corynebacterium diphteriea, Mycobacterium tuberculosis, lococcus và không khí là môi trường truyền mầm bệnh ngoài ra còn là môi

Stphy-trường truyền các loại virus như virus cúm, virus sởi, quai bị có thể gây nên các

- Hơi khí độc phát sinh từ một số khoa, phòng trong bệnh viện như khoa chuẩn đoán hình ảnh, khoa xét nghiệm không được xử lý đúng cũng là một trong những nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí trong bệnh viện

- Do hoạt động đốt chất thải làm phát sinh ra các hạt bụi, NO2, SO2, các

hợp chất hữu cơ bay hơi như dioxin, furan, chì, crôm, thủy ngân Một thực tế chung các lò đốt chất thải ở nước ta hiện nay đều không có bộ phận kiểm soát ô

nhiễm không khí, không được bảo dưỡng thường xuyên do đó phát sinh nhiều khí thải độc hại trong ống khói với nồng độ cao hơn nhiều so tiêu chuẩn cho phép

1.1.3.4 Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với sức khỏe cộng đồng

Các nghiên cứu ở Việt Nam đã có những đánh giá về tình hình thương tích của cán bộ nhân viên bệnh viện do các vật sắc nhọn gây ra qua phỏng vấn

Trang 20

trực tiếp Một số nghiên cứu đã đề cập đến những ảnh hưởng của chất thải y tế đối với cộng đồng xung quanh bệnh viện nhưng chưa có nghiên cứu nào đi sâu đánh giá thực trạng tác động của chất thải y tế đối với sức khoẻ ở những người tiếp xúc với chất thải y tế

Theo nghiên cứu ảnh hưởng của chất thải y tế đến sức khoẻ tại 6 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh đã kết luận: Một số bệnh có liên quan đến ô nhiễm môi trường ở nhóm người dân bị ảnh hưởng của chất thải từ bệnh viện cao hơn nhóm không bị ảnh hưởng [8]

a Ảnh hưởng của vật sắc nhọn

Các vật thể trong thành phần chất thải y tế nguy hại có thể chứa đựng một lượng rất lớn bất kỳ tác nhân gây bệnh truyền nhiễm nào như tụ cầu, HIV, viêm gan B Các vật sắc nhọn có thể không chỉ là những nguyên nhân gây ra các vết cắt, vết đâm thủng mà còn gây nhiễm trùng các vết thương nếu nó bị nhiễm các tác nhân gây bệnh

b Ảnh hưởng của chất thải nhiễm khuẩn

Rác thải y tế với những thành phần phức tạp có nguy cơ gây ra những loại bệnh tật nguy hiểm Quá trình lây nhiễm từ rác thải y tế có thể lây qua nhiều con đường như đường tiêu hóa ăn uống, đường hô hấp, đường máu ngay cả khi chúng ta không trực tiếp tiếp xúc với chúng

c Ảnh hưởng của hoá chất thải và dược phẩm

Rất nhiều hoá chất và dược phẩm trong các cơ sở y tế là chất thải nguy hại (gây độc, ăn mòn, dễ cháy, dễ nổ, gây sốc, độc tính di truyền) Ví dụ các bác sĩ hay dược sĩ gây mê có thể bị mắc các bệnh đường hô hấp hoặc viêm da khi pha chế dược liệu để gây mê cho bệnh nhân Chúng có thể gây độc cho những người tiếp xúc lần đầu tiên hoặc thường xuyên tiếp xúc với chúng như tổn thương qua da hoặc bị bỏng

Trang 21

d Ảnh hưởng của chất thải phóng xạ

Những bệnh do các chất phóng xạ gây nên được xác định bởi liều lượng

và kiểu tiếp xúc với chất phóng xạ Nó có thể gây ra hàng loạt các dấu hiệu như: đau đầu, buồn ngủ, nôn, thậm chí ảnh hưởng đến di truyền

Những người làm công tác xử lý các nguồn phóng xạ có hoạt tính cao cũng có thể bị nhiều tổn thương nghiêm trọng (có thể bị cắt cụt một phần cơ thể) do bất cẩn hoặc sơ ý trong các thao tác bảo quản, dùng chất phóng xạ Vì vậy những chất phóng xạ này phải được xử lý nghiêm ngặt theo đúng quy định

e Tính nhạy cảm của cộng đồng đối với chất thải

Bên cạnh việc gây ra nguy hại cho sức khoẻ, cộng đồng rất nhạy cảm đối với các chất thải từ hoạt động phẫu thuật nếu họ nhìn thấy các bộ phận hoặc cơ quan của cơ thể hoặc bào thai được để lẫn với rác thải công cộng Do vậy không được để lẫn các chất thải phẫu thuật (các bộ phận thừa, cắt bỏ từ cơ thể người ) với các loại rác thải công cộng

f Sự tồn lưu tác nhân gây bệnh trong môi trường

Các vi khuẩn có trong chất thải y tế, được phát thải ra trong môi trường,

có thời gian tồn lưu ngoài môi trường trong điều kiện tự nhiên Thời gian tồn lưu tác nhân gây bệnh ngoài môi trường có giới hạn và phụ thuộc vào nhiều yếu tố, chủ yếu là yếu tố lý học, hoá học môi trường như nhiệt độ môi trường, hoạt độ nước, tia cực tím, pH của môi trường, oxi tự do…

1.1.4 Qui trình quản lý chất thải y tế

Quản lý chất thải y tế là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu huỷ chất thải y tế và kiểm tra, giám sát thực hiện Giống như các loại chất thải khác thì việc quản lý chất thải y tế cũng chia thành 3 công đoạn: thu gom, vận chuyển

và xử lý

Trang 22

* Thu gom

Thu gom CTYT tại nơi phát sinh là quá trình phân loại, tập hợp, đóng gói

và lưu giữ tạm thời chất thải phát sinh trong cơ sở y tế Thu gom chất thải được tính từ khi chất thải phát sinh ra đến khi chất thải cộng với thời gian chất thải được lưu giữ tại kho lưu giữ Phân loại là việc phân các CTYT vào các nhóm khác nhau tuỳ theo đặc tính hoá học, sinh học của chúng Việc phân loại chất thải ngay tại nguồn có ý nghĩa quan trọng giúp cho việc xử lý chất thải sau này được thuận lợi bởi mỗi loại chất thải khác nhau sẽ có phương pháp xử lý khác nhau Phân loại chất thải còn giúp cho cơ sở y tế có thể tái sử dụng, tái chế lại những dụng cụ y tế thích hợp nhờ đó hạn chế được lượng chất thải đưa đi xử lý

* Vận chuyển

Vận chuyển chất thải là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh đến nơi xử lý ban đầu, lưu giữ và tiêu hủy Vận chuyển chất thải gồm có 2 quá trình vận chuyển riêng biệt Thứ nhất là vận chuyển trong các cơ sở y tế thường được thực hiện bởi hộ lý của các khoa, phòng hay nhân viên vệ sinh của bệnh viện Chất thải được vận chuyển từ nguồn phát sinh đến nơi lưu giữ ít nhất 1 lần/ngày và vận chuyển khi cần thiết Tùy vào điều kiện thực tế của mỗi cơ sở

mà việc vận chuyển CTYT có thể bằng các xe chuyên dụng hay xách tay Trong quá trình vận chuyển phải đảm bảo không gây ảnh hưởng tới hoạt động chung của bệnh viện và không làm rơi vãi chất thải ra bên ngoài Thứ hai là vận chuyển chất thải bên ngoài cơ sở y tế, các cơ sở y tế có thể ký hợp đồng với cơ sở có tư cách pháp nhân trong việc vận chuyển và tiêu hủy chất thải Nếu địa phương chưa có đơn vị chuyên về vận chuyển chất thải thì nhân viên bệnh viện phải chịu trác nhiệm vận chuyển CTYT ra nơi tiêu hủy CTYTNH trước khi vận chuyển phải được đóng gói vào trong các thùng để tránh bị bục hoặc vỡ trên đường vận chuyển Phải có các phương tiện chuyên dụng để vận chuyển chất thải bên ngoài

cơ sở y tế, chúng phải được tẩy uế khử trùng sau mỗi lần vận chuyển

Trang 23

* Xử lý

Xử lý ban đầu là quá trình khử khuẩn hoặc tiệt khuẩn các chất thải có nguy có lây nhiễm cao tại nơi phát sinh trước khi chuyển tới nơi lưu giữ hoặc tiêu hủy Mục đích của xử lý ban đầu là giảm tính độc hại của chất thải trước khi trước khi cho đi xử lý cuối cùng

Xử lý và tiêu hủy chất thải là quá trình sử dụng công nghệ nhằm cô lập nhằm làm mất khả năng nguy hại đối với môi trường và sức khỏe con người Có rất nhiều phương pháp xử lý CTYT đang được áp dụng, mỗi phương pháp lại có những ưu điểm, nhược điểm khác nhau Dựa trên những điều kiện thực tế mà mỗi cơ sở y tế sẽ lựa chọn một mô hình xử lý chất thải cho phù hợp nhằm mục đích chi phí bỏ ra là tối thiểu nhưng hiệu quả thu về là lớn nhất

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Kinh nghiệm trên thế giới

Nghiên cứu về CTYT đã được tiến hành tại nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở các nước phát triển như Anh, Mỹ, Nhật, Canada Các nghiên cứu đã quan tâm đến nhiều lĩnh vực như tình hình phát sinh; phân loại CTYT; quản lý CTYT (biện pháp làm giảm thiểu chất thải, tái sử dụng chất thải, xử lý chất thải, đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý chất thải ); tác hại của CTYT đối với môi trường, sức khoẻ; biện pháp làm giảm tác hại của CTYT đối với sức khỏe cộng đồng, sự đe dọa của chất thải nhiễm khuẩn tới sức khỏe cộng đồng, ảnh hưởng của nước thải y tế đối với việc lan truyền dịch bệnh; những vấn đề liên quan của y tế công cộng với CTYT; tổn thương nhiễm khuẩn ở y tá, hộ lý và người thu gom rác; nhiễm khuẩn bệnh viện, nhiễm khuẩn ngoài bệnh viện đối với người thu nhặt rác, vệ sinh viên và cộng đồng; người phơi nhiễm với HIV, HBV, HCV ở nhân viên y tế [16], [17], [19], [20]

1.2.1.1 Thực trạng phát sinh chất thải y tế

Khối lượng CTYT phát sinh thay đổi theo khu vực địa lý, theo mùa và phụ thuộc vào các yếu tố khách quan như: cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, loại, quy

Trang 24

mô bệnh viện, phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, chữa bệnh và chăm sóc bệnh nhân và thải rác của bệnh nhân ở các khoa phòng

Bảng 1.1 Chất thải y tế theo giường bệnh trên thế giới [12]

Tuyến bệnh viện Tổng lượng CTYT(kg/GB) CTYT nguy hại (kg/GB)

Bệnh viện trung ương 4,1 - 8,7 0,4 - 1,6

1.2.1.2 Phân loại chất thải y tế

Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới (1992), ở các nước đang phát triển có thể phân loại CTYT thành các loại sau: Chất thải không độc hại (chất thải sinh hoạt gồm chất thải không bị nhiễm các yếu tố nguy hại); chất thải sắc nhọn (truyền nhiễm hay không truyền nhiễm); chất thải nhiễm khuẩn (khác với các vật sắc nhọn nhiễm khuẩn); chất thải hoá học và dược phẩm (không kể các loại thuốc độc đối với tế bào); chất thải nguy hiểm khác (chất thải phóng xạ, các thuốc độc tế bào, các bình chứa khí có áp suất cao) [2], [21]

Ở Mỹ phân loại chất thải y tế thành 8 loại: Chất thải cách ly (chất thải có khả năng truyền nhiễm mạnh); Những nuôi cấy và dự trữ các tác nhân truyền nhiễm và chế phẩm sinh học liên quan; Những vật sắc nhọn được dùng trong điều trị, nghiên cứu ; Máu và các sản phẩm của máu; Chất thải động vật (xác động vật, các phần của cơ thể ); Các vật sắc nhọn không sử dụng; Các chất thải gây độc tế bào; Chất thải phóng xạ [21]

1.2.1.3 Quản lý chất thải y tế

Theo Tổ chức Y tế thế giới, có 18 - 64% cơ sở y tế chưa có biện pháp xử

lý chất thải đúng cách Tại các cơ sở Y tế, 12,5% công nhân xử lý chất thải bị tổn thương do kim đâm xảy ra trong quá trình xử lý CTYT Tổn thương này cũng là nguồn phơi nhiễm nghề nghiệp, với máu phổ biến nhất, chủ yếu là dùng hai tay tháo lắp kim và thu gom tiêu huỷ vật sắc nhọn Có khoảng 50% số bệnh

Trang 25

viện trong diện điều tra vận chuyển CTYT đi qua khu vực bệnh nhân và không đựng trong xe thùng có nắp đậy [21]

Theo H.Ô-ga-oa, cố vấn Tổ chức Y tế thế giới về sức khoẻ, môi trường khu vực Châu Á, phần lớn các nước đang phát triển không kiểm soát tốt CTYT, chưa có khả năng phân loại CTYT mà xử lý cùng với tất cả các loại chất thải Từ những năm 90, nhiều quốc gia như Indonesia, Canada đã đi đầu trong công tác

xử lí CTYT, Malasia có phương tiện xử lý rác thải tập trung trên bán đảo và các

hệ thống xử lý rác thải riêng biệt cho các bệnh viện ở xa tại Boocneo [16],[18],[21]

Ở các nước phát triển đã có công nghệ xử lý CTYT đáng tin cậy như đốt rác bằng lò vi sóng, tuy nhiên đây không phải là biện pháp hữu hiệu được áp dụng ở các nước đang phát triển, vì vậy, các nhà khoa học ở các nước Châu Á

đã tìm ra một số phương pháp xử lý chất thải khác để thay thế như Philippin đã

áp dụng phương pháp xử lý rác bằng các thùng rác có nắp đậy; Nhật Bản đã khắc phục vấn đề khí thải độc hại thoát ra từ các thùng đựng rác có nắp kín bằng việc gắn vào các thùng có những thiết bị cọ rửa; Indonexia chủ trương nâng cao nhận thức trước hết cho các bệnh viện về mối nguy hại của CTYT gây ra để

bệnh viện có biện pháp lựa chọn phù hợp [18]

1.2.2 Kinh nghiệm quản lý chất thải y tế tại Việt Nam

1.2.2.1 Thực trạng phát sinh chất thải y tế

Theo kết quả khảo sát của Vụ Điều trị - Bộ Y tế tại 24 bệnh viện năm

1998, cho thấy tỷ lệ phát sinh chất thải y tế theo từng tuyến, loại bệnh viện, cơ

sở y tế rất khác nhau Trong cùng một bệnh viện, các khoa khác nhau sẽ có lượng chất thải rắn y tế phát sinh khác nhau, trong một bệnh viện đa khoa, khoa hồi sức cấp cứu, khoa sản, khoa ngoại có lượng CTYT phát sinh lớn nhất Dẫn

từ [2]

Trang 26

Bảng 1.2 Chất thải y tế phát sinh theo giường bệnh tại Việt Nam [7] Tuyến bệnh viện Đơn vị Tổng lượng CTYT CTYTNH

Bệnh viện trung ương (kg/GB) 0,97 0,16

cả nước có sự sai lệch: Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đức Khiển 50 - 70 tấn/ngày; kết quả nghiên cứu của Nguyễn Huy Nga (Bộ Y tế) là 16,5 tấn.ngày; kết quả nghiên cứu của Lê Doãn Diên 37,5 tấn ngày; theo báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam 2004 là 57,5 tấn/ngày; của Bộ Xây dựng là 34 tấn/ngày

Sở dĩ có sự chệnh lệch như vậy vì một số đề tài khi nghiên cứu về lượng CTYT phát sinh có xét đến cả chất thải xây dựng, bùn bể phốt Một số đề tài nghiên cứu khác chỉ xét đến lượng CTYT phát sinh khi cần thiêu đốt Theo kết quả khảo sát của Bộ Y tế (2001) tại 280 bệnh viện lượng CTYT phát sinh mỗi ngày khoảng 429 tấn/ngày, trong đó lượng CTYT nguy hại khoảng 34 tấn/ngày, ước tính tổng lượng khoảng 15 triệu tấn/năm CTYT, trong đó có khoảng 21.000 tấn/năm CTYT nguy hại Dự báo đến năm 2010, lượng CTYT nguy hại sẽ có khoảng 25.000 tấn/năm [2], [7]

1.2.2.2 Quản lý chất thải y tế

Ở nước ta CTYT đã được quản lý bằng hệ thống các văn bản pháp luật, nhưng việc thực hiện chưa nghiêm túc theo quy định, hầu hết CTYT ở các bệnh viện chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn trước khi thải ra môi trường Nhiều bệnh viện không có hệ thống thu gom, xử lý nước thải, hoặc có thì nhiều hệ thống cống rãnh đã bị hư hỏng, xử lý xuống cấp; rác thải không được phân loại, chôn lấp thủ công hoặc đốt thủ công tại chỗ Thực trạng như sau [4], [5], [8], [14]:

Trang 27

* Về quản lý rác thải:

Kết quả điều tra năm 2002 của Bộ Y tế tại 294 bệnh viện trong cả nước cho thấy 94,2% bệnh viện phân loại CTYT tại nguồn phát sinh, chỉ có 5,8% bệnh viện chưa thực hiện Các bệnh viện tuyến trung ương, tuyến tỉnh, bệnh viện

tư nhân thực hiện phân loại CTYT ngay tại nguồn tốt hơn các bệnh viện tuyến huyện và bệnh viện ngành Có 93,9% bệnh viện thực hiện tách riêng vật sắc nhọn ra khỏi CTYT, hầu hết các bệnh viện sử dụng chai nhựa, lọ truyền đã dùng

để đựng kim tiêm Nhưng qua kiểm tra thực tế, việc phân loại CTYT ở một số bệnh viện chưa chính xác, làm giảm hiệu quả của việc phân loại chất thải 85% bệnh viện sử dụng mã màu trong việc phân loại, thu gom, vận chuyển chất thải

Kết quả nghiên cứu tại 6 bệnh viện đa khoa tỉnh của Đinh Hữu Dung (2003) cho thấy: cả 6 bệnh viện đều phân loại chất thải rắn ngay tại nguồn phát sinh nhưng chưa có bệnh viện nào phân loại rác đúng theo Quy chế của Bộ Y tế

và việc phân loại phụ thuộc vào hình thức xử lý hiện có của bệnh viện

Kết quả thanh tra, kiểm tra của Bộ Y tế (2004) về CTYT ở 175 bệnh viện tại 14 tỉnh, thành phố, cho thấy số bệnh viện có thùng chứa chất thải chiếm 76%, có bể chứa rác chiếm 9,6%, có nắp đậy thùng rác hoặc mái che bể chứa rác chiếm 43%, rác được để riêng biệt chiếm 19,3% trong tổng số bệnh viện, nơi chứa rác thải đảm bảo vệ sinh chiếm 35,5%; 29% bệnh viện chôn CTR trong bệnh viện; có 3,2% bệnh viện vừa chôn, vừa đốt trong bệnh viện Hầu hết các CTR trong bệnh viện đều không được xử lý trước khi đem đốt hoặc chôn Một số ít bệnh viện có lò đốt CTYT nhưng lại quá cũ kỹ và gây ô nhiễm môi trường

Kết quả kiểm tra của Bộ Y tế (2008) tại 4 bệnh viện Hà Nội, Bệnh viện Lao và bệnh phổi Trung ương được đánh gía là bệnh viện quản lý rác thải tốt nhất trong 4 bệnh viện được kiểm tra nhưng Đoàn kiểm tra đã phát hiện trong buồng bệnh chỉ có thùng đựng rác sinh hoạt thiếu thùng chứa đờm của bệnh nhân Ở Bệnh viện Việt Đức tất cả rác thải đều chứa chung trong một loại túi đựng rác màu vàng [3]

Trang 28

Theo báo cáo của Bộ Y tế (2009), năm 2006, tỷ lệ bệnh viện thực hiện phân loại CTYT là 95,6% và thu gom hàng ngày là 90,9% Phương tiện thu gom CTYT như túi, thùng đựng chất thải, xe đẩy rác, nhà chứa rác còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn theo yêu cầu của Quy chế quản lý CTYT Chỉ có khoảng 50% các bệnh viện trên phân loại, thu gom đạt yêu cầu theo quy chế [4]

* Về nước thải:

Kết quả kiểm tra của Bộ Y tế (2004) tại 175 bệnh viện ở 14 tỉnh, thành phố thì có đến 31,5% bệnh viện không có hệ thống thoát nước thải, chủ yếu ở các bệnh viện tuyến huyện Trong số bệnh viện có hệ thống thoát nước thì có tới 47,4% bệnh viện sử dụng hệ thống thoát nước chung gồm cả nước mưa, nước thải sinh hoạt, nước thải y tế; chỉ có 21,1% bệnh viện có hệ thống thoát nước thải riêng biệt; 26,3% bệnh viện có hệ thống thoát nước thải kín; 31,4% hở và 42,3% vừa kín vừa hở

Kết quả điều tra tại 6 bệnh viện đa khoa tỉnh (2003): cả 6 bệnh viện đều

có hệ thống cống thoát nước thải nhưng chất lượng cống khác nhau, có bệnh viện hệ thống cống nổi nhưng không có nắp đậy, nước thải bệnh viện không được xử lý (bệnh viện Yên Bái), hoặc xử lý một phần (bệnh viện Quảng Nam, Cần Thơ), hoặc đã xử lý toàn bộ (bệnh viện Phú Thọ, Quảng Ngãi, Đồng Tháp) nhưng tất cả đều đổ nước thải ra cống thoát nước chung [8]

Theo báo cáo của Bộ Y tế (2009), năm 2006, tỷ lệ bệnh viện có hệ thống

xử lý nước thải tuyến Trung ương là 71%, tuyến tỉnh là 46%, tuyến huyện là 30% và bệnh viện tư nhân là 85% Tính chung tỷ lệ bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải là 37% và chỉ có khoảng 30% trong số này đạt tiêu chuẩn cho phép Hiện cả nước còn có gần 640 bệnh viện cần được trang bị hệ thống xử lý nước thải, số bệnh viện cần cải tạo lại hệ thống xử lý nước thải khoảng 220 bệnh viện

Trang 29

* Về xử lý khí thải bệnh viện

Chỉ có một số bệnh viện lớn có hệ thống xử lý khí thải hoặc có hotte hút hơi khí độc tại các khoa/ phòng Xét nghiệm, X quang, còn đa phần các bệnh viện chưa có hệ thống xử lý khí thải

1.2.2.3 Biện pháp xử lý chất thải y tế

a/Thiêu đốt chất thải rắn y tế

Một thực tế là trong nhiều năm trước đây khi đầu tư xây dựng bệnh viện chúng ta hoàn toàn chưa hoạch toán đến khoản chi phí cho xử lý chất thải Phần lớn các bệnh viện tự xây dựng lấy lò đốt của mình và cũng không theo một thiết

kế mẫu nào Tình trạng chung của phần lớn các bệnh viện trong cả nước hiện nay là thiêu đốt chất thải y tế tại các lò đốt thủ công không có hệ thống xử lý khí thải kể cả những bệnh viện có khối lượng chất thải y tế cần thiêu đốt rất đáng kể

ở Hà Nội Trong các lò đốt thủ công xây bằng gạch chất thải được đốt bằng củi hoặc dầu, theo cách thủ công nên khi vận hành khói bụi mù mịt, mùi khí cháy khó chịu bay ra khu dân cư.[23]

Công Ty Công Trình Đô Thị (URENCO) Hà Nội và Thành Phố Hồ Chí Minh đã đầu tư hệ thống xử lý chất thải rắn y tế bao gồm cả khâu thu gom, vận chuyển chất thải rắn y tế từ bệnh viện và vận chuyển tới xí nghiệp đốt rác để tiêu huỷ Hiện tại chúng ta đã có 2 lò đốt chất thải rắn y tế theo mô hình tập trung lò đốt Del Monego 200 tại xí nghiệp đốt rác Tây Mỗ - Hà Nội và lò đốt Hoval GG-

24 tại xí nghiệp đốt rác Bình Hưng Hoà - Thành Phố Hồ Chí Minh với công nghệ nhập của nước ngoài Thành Phố Hồ Chí Minh cơ bản đã ổn định được công tác xử lý chất thải bệnh viện nhờ có hệ thống quản lý, thu gom năng động Còn tại Hà Nội, sau 8 tháng thử nghiệm lò đốt hoạt động tốt, tuy vậy công suất của lò đốt này cũng chỉ giải quyết được 4 tấn/ngày so với nhu cầu của hàng chục bệnh viện tại thành phố là trên 12 tấn/ngày.[7]

Trang 30

Một số bệnh viện như Viện Lao và Bệnh Phổi, bệnh viện C Đà Nẵng, bệnh viện Vũng Tàu với sự giúp đỡ của công ty Wamwe Engineering đã lắp đặt

lò đốt chất thải y tế Hoval MZ2 của Thuỵ Sĩ có công nghệ hiện đại với nhiệt độ thiêu đốt có hiệu quả Qua thời gian theo dõi trên 15 tháng của sở Khoa Học Công Nghệ và Môi Trường Hà Nội lò đốt của Viện Lao và Bệnh Phổi đã thiêu đốt trên 10 tấn rác y tế nguy hại với kết quả tốt, đảm bảo an toàn về môi trường Tuy nhiên do số lượng chất thải rắn y tế nguy hại của Viện Lao và Bệnh Phổi không nhiều nên công suất thiêu đốt của lò chưa được khai thác hiệu quả, do mỗi mẻ đốt, cách nhật nên lãng phí nhiên liệu và phương tiện.[7]

Một số bệnh viện tuy đã lắp đặt lò đốt hiện đại nhưng lại không hoạt động được vì vị trí đặt lò đốt gần nhà dân và khi vận hành không đúng kỹ thuật có khói đen và mùi khí thải bốc lên gây cảm giác khó chịu nên bị nhân dân phản đối do vậy không vận hành được (Bệnh viện Bạch Mai) Một vài thiết bị tạm dừng khai thác do bị hỏng chưa có phụ tùng thay thế (Bệnh viện Hữu Nghị đa khoa Nghệ An).[7]

Đã có một vài bệnh viện lắp đặt và vận hành lò đốt do Việt Nam sản xuất như bệnh viện đa khoa Tỉnh Đồng Tháp, Sóc Trăng lò đốt do trường đại học bách khoa Thành Phố Hồ Chí Minh thiết kế và lắp đặt Trung Tâm Bảo Vệ Bà

Mẹ Trẻ Em và Kế Hoạch Hoá Gia Đình Tỉnh Nghệ An (lò đốt Viện Khoa Học Vật Liệu).[7]

Còn lại đa số các bệnh viện tiêu huỷ chất thải rắn y tế bằng lò đốt thủ công không đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường Trong các năm 1999-2000, tổ chức y tế thế giới đã viện trợ cho Bộ Y Tế 2 lò đốt chất thải chế tạo tại nước ngoài để trang bị cho 2 bệnh viện tuyến tỉnh trong đó có lò INCINCO lắp đặt và đưa vào vận hành tại bệnh viện đa khoa Bắc Ninh Cũng trong thời gian nêu trên, chính phủ đã phê duyệt dự án của bộ y tế trang bị 25 lò đốt chất thải bệnh viện kiểu Hoval bằng nguồn vốn vay của chính phủ cộng hoà Áo, hiện tại 25 lò

Trang 31

đốt rác y tế này đã đi vào hoạt động và cải thiện đáng kể năng lực tiêu huỷ chất thải rắn y tế nguy hại của nhiều địa phương.[7]

Cho đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu thống kê cụ thể nào về các lò đốt hiện đang hoạt động tại các bệnh viện ở Việt Nam và hiệu quả xử lý của các

lò thiết kế và chế tạo trong nước Một vấn đề mà các nhà môi trường quan tâm là

ô nhiễm thứ cấp tạo ra trong quá trình đốt chất thải rắn y tế nguy hại cần được quan tâm nghiên cứu.[7]

b/ Chôn lấp chất thải y tế

Trong hầu hết các bệnh viện tuyến huyện và một số bệnh viện tuyến tỉnh, chất thải y tế được chôn lấp tại bãi rác công cộng hay chôn lấp trong khu đất của bệnh viện Trường hợp chôn lấp trong bệnh viện chất thải được chứa trong hố đào và lấp đất lên, nhiều khi lớp đất phủ trên mặt quá mỏng không đảm bảo vệ sinh.[4]

Tại các bệnh viện không có lò đốt tại chỗ, một số loại chất thải đặt biệt như bào thai, rau thai và bộ phận cơ thể bị cắt bỏ sau phẫu thuật được thu gom

để đem chôn trong khu đất của bệnh viện hoặc chôn trong nghĩa trang của địa phương Do diện tích mặt bằng của bệnh viện bị hạn chế nên nhiều bệnh viện hiện nay gặp khó khăn trong việc tìm kiếm diện tích đất để chôn lấp chất thải nguy hại.[4]

Một thực trạng là vật sắc nhọn được chôn lấp cùng với chất thải y tế khác tại khu đất bệnh viện hay tại bãi rác cộng đồng Hiện nay, ở một số bệnh viện vẫn còn hiện tượng chất thải nhiễm khuẩn nhóm A được thải lẫn với chất thải sinh hoạt và được vận chuyển ra bãi rác của thành phố, do vậy chất thải nhiễm khuẩn không có xử lý đặc biệt gì trước khi tiêu huỷ chung.[4]

c Các phương pháp xử lý nước thải y tế

Nước thải bệnh viện chứa vi khuẩn lây bệnh, nhưng không phải bệnh viện nào cũng xử lý theo QCVN 28-2010 ngày 16/12/2010 Bộ Tài nguyên và Môi

Trang 32

trường hay tiêu chuẩn trước đó[7] Hải Phòng, có 3/17 số bệnh viện có hệ thống

xử lý nước thải và 3/17 số bệnh viện có hệ xử lý không hoạt động, 11/17 bệnh viện không có xử lý nước thải Hà Nội có 36/61 bệnh viện không có hệ xử lý nước thải, 22 bệnh viện có hệ xử lý nước thải, 3 hệ thống xử lý nước thải không hoạt động TP Hồ Chí Minh, có 5 bệnh viện không có hệ thống xử lý nước thải;

40 hệ thống xử lý nước thải; 6 hệ thống không hoạt động/XLNT không đạt yêu cầu Đà Nẵng: 4 bệnh viện không có hệ thống XLNT, 16 hệ thống đang hoạt động 14 bệnh viện không có hệ thống XLNT tại Huế Tất cả 52,3% (90/172) bệnh viện có hệ thống XLNT, còn lại 40,7% không có XLNT, 7,0% bệnh viện

hệ thống XLNT không hoạt động Nhiều hệ thống XLNT đang hoạt động quá tải, chủ yếu các hệ thống XLNT xây lắp bằng ngân sách nhà nước (86,7%).[25]

Trung bình hệ thống XLNT công suất 0,45m3/g thực tế/ngày, lượng nước

sử dụng là 0,65m3/g thực tế/ngày, công suất thiết kế hệ thống XLNT là 0,93 m3/g.kế hoạch/ngày Con số trung bình này ở TP Hồ Chí Minh là 0,6; 0,66m3/g thực tế/ngày, 0,7m3/g kế hoạch/ngày, các hệ thống XLNT đều chạy hết công suất BV Hải Phòng sử dụng ít nước hơn với các số liệu là 0,32; 0,33m3/g.thực tế/ngày, 0,51m3/g.kế hoạch/ngày và Đà Nẵng là 0,46, 0,63m3/g thực tế/ngày, 0,87m3/g.kế hoạch/ngày, nhiều hơn Huế với 0,44 m3/g.thực tế/ngày, 0,49m3/g./ngày, và 0,72m3/g.kế hoạch/ngày thể hiện.[26]

Nước thải bệnh viện có các chỉ số đặc trưng BOD: 180-280mg/l, COD: 250- 500mg/l, SS: 150 - 300mg/l, H2S: 6-8mg/l, T-N: 50-90mg/l, T-P: 3-12(mg/l), Coliform: 106-109 MNP/100ml [15] Công nghệ bùn hoạt tính, bể lọc sinh học, tiếp xúc sinh học, màng sinh học (MBR), bể phản ứng theo mẻ (SBR)

là công nghệ phổ biến cho XLNT bệnh viện tại Việt Nam và phân thành các nhóm: sục khí bùn hoạt tính và xử lý sinh học nhỏ giọt sau đó lọc (Nhóm 1), CN2000 xử lý hữu cơ tải trọng cao (là loại màng sinh học cải tiến - Nhóm 2), sục khí tiếp xúc màng sinh học (MBR), lọc sinh học Bio-for, V69, FBR (nhóm 3), công nghệ AAO, SBR và khử trùng 03, uv (Nhóm 5), xử lý sơ bộ + yếm

Trang 33

khí/bể tự hoại (Nhóm 4) [27] Phương pháp khử trùng hiện các bệnh viện sử dụng là dùng Hypochlorite calcium (CaOCh), chloruamin B, ozone, tia cực tím Chưa có bệnh viện nào khử trùng công nghệ lọc màng ngăn các vi khuẩn, vi rút

và không sử dụng hóa chất [25]

Loại công nghệ xử lý, nhóm I chiếm ưu thế hơn (56,9%) do chi phí đầu tư thấp, ở TP HCM tỷ lệ này là 60,9% Loại II xử lý sinh học cao tải (CN2000 mới đầu tư, có nhiều ở Đà Nẵng) và Hà Nội 10,8% (11/102) [30] Tuy nhiên, nước thải bệnh viện Việt Đức (Hà Nội), bệnh viện E (Hà Nội) không đáp ứng yêu cầu amoni theo QCVN 28-2010, mức 2 Các hệ xử lý nước thải lọc màng sinh học (MBR) loại III chiếm 9,8% hay (10/102), Hải Phòng có 5 bệnh viện (5,75%) trang bị loại công nghệ này với tên V69 Bên cạnh đó còn một số tên gọi thiết bị khác là BIOX1, BIO sinh học, FBR Có 15,7% bệnh viện sử dụng công nghệ loại IV đơn giản, đầu tư thấp, 6,9% bệnh viện được đầu tư hệ xử lý công nghệ AAO, công nghệ SBR (loại V) và một số khác với suất đầu tư cao hơn Nhiều đơn vị cho biết, chi phí XLNT khoảng 2.500 đ/m3/ngày Công nghệ bùn hoạt tính sinh nhiều bùn hơn (0,012% m3 bùn/công suất năm) so với công nghệ khác như màng sinh học hoặc lọc sinh học cao tải.[24]

d Những tồn tại, khó khăn trong việc quản lý chất thải y tế

Hiện nay, chất thải bệnh viện đang trở thành vấn đề môi trường và xã hội cấp bách của nước ta Hiện trạng quản lý và xử lý chất thải rắn bệnh viện kém hiệu quả đang gây dư luận trong cộng đồng và đặt ra nhiều thách thức đối với nhiều cấp, ngành, đặt biệt là ngành y tế Tuy nhiên giải quyết vấn đề này không phải một sớm một chiều, vì chúng ta đang đối mặt với rất nhiều khó khăn, bất cập và nhất là thiếu đồng bộ.[4]

Những khó khăn chủ yếu:

- Nguồn kinh phí đầu tư cho chất thải y tế lớn Theo ước tính sơ bộ, tổng

kinh phí đầu tư cho toàn bộ chương trình đầu tư xây dựng hệ thống xử lý chất

Trang 34

thải rắn, lỏng và khí vào khoảng 1,60 tỷ đồng chưa kể chi phí cho sử dụng đất, phương tiện thu gom, vận chuyển, kinh phí vận hành và bảo trì Vốn đầu tư cần được huy động từ các nguồn ngân sách nhà nước, hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, nguồn giúp đỡ của các chính phủ và tổ chức phi chính phủ Hiện nay các bệnh viện có lò đốt nhưng kinh phí để chi trả cho năng lượng để vận hành, xử lý tro,

để trả lương cho nhân công còn chưa được quy định sẽ lấy từ đâu Các bệnh viện không thể tự tiện nâng giá khám bệnh để bù vào chi phí xử lý chất thải của mình Vì vậy có bệnh viện tuy đã trang bị lò đốt rác y tế nhưng vẫn không vận hành vì không có đủ kinh phí.[4]

- Nhận thức về thực hành xử lý chất thải rắn y tế trong cán bộ y tế, nhân viên trực tiếp làm công tác xử lý chất thải bệnh viện vẫn còn chưa cao, làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và hiệu quả phân loại, thu gom và vận chuyển, tiêu huỷ chất thải Một số lãnh đạo bệnh viện chưa thực sự quan tâm đến việc xử

lý chất thải Việc tuyên truyền giáo dục ý thức cộng đồng vẫn chưa sâu rộng, đôi khi dư luận qua báo chí còn làm dân hoang mang, gây tâm lý quá lo sợ đối với chất thải bệnh viện từ đó gây sức ép không đáng có đối với các cơ quan quản lý chuyên ngành.[4]

- Môi trường thực hiện pháp chế chưa thuận lợi mặc dù đã có luật bảo vệ môi trường, qui chế quản lý chất thải nguy hại do thủ tướng chính phủ ban hành

và qui chế quản lý chất thải y tế do bộ trưởng bộ y tế ban hành nhưng các văn bản pháp quy này chưa thực sự thấm sâu vào đời sống Việc thực hiện đúng quy chế quản lý chất thải y tế mới chỉ có ở một số ít bệnh viện Nhiều nơi chính quyền, lãnh đạo chỉ đạo bệnh viện vẫn chưa quan tâm đầu tư kinh phí và phương tiện để thực hiện quy chế.[4]

- Các giải pháp về xử lý chất thải chưa đồng bộ, sự phối hợp liên ngành còn kém hiệu quả trong mọi công đoạn xử lý chất thải Nhiều nơi bệnh viện đã phân loại chất thải y tế và chất thải sinh hoạt nhưng do Công Ty Công Trình Đô Thị chưa có lò đốt nên đã từ chối vận chuyển và xử lý chất thải y tế Hiện nay vẫn

Trang 35

chưa có qui định cụ thể trách nhiệm của từng bộ, ngành phối hợp hoạt động

trong từng công đoạn quản lý chất thải y tế.[4]

1.3 Cơ sở pháp lý của luận văn

- Quyết định số 152/1999/QĐ-TTg ngày10/7/1999 của Thủ tướng Chính

phủ về việc phê duyệt chiến lược quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công

nghiệp Việt Nam đến năm 2020

- Pháp lệnh về an toàn và kiểm soát bức xạ được ủy ban thường vụ Quốc

hội thông qua ngày 25/6/1996

- Nghị định số 50/1998.NĐ-CP ngày 16/7/1998 của Chính phủ quy định

chi tiết việc thi hành pháp lệnh an toàn và kiểm soát bức xạ

- Thông tư liên tịch số 2237/1999/TTLT/BKHCNMT-BYT ngày

28/12/1999 của Liên Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường- Bộ y tế hướng

dẫn việc thực hiện an toàn bức xạ trong y tế

- Căn cứ Quyết định số 32/2007/QĐ-BKHCN ngày 31 tháng 12 năm 2007

của Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Quy định về kiểm tra thiết bị X quang

chẩn đoán y tế

- Nghị định 19/2015/NĐ-CP của chính phủ về quy định chi tiết thi hành

một số điều của luật bảo vệ môi trường

- Nghị định 38/2015/NĐ-CP của chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu

- Thông tư 36/2015/TT-BTNMT quy định về quản lý chất thải nguy hại

Trang 36

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Thực trạng quản lý CTYT tại bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên, bệnh viện A, bệnh viện Quốc tế

- Hệ thống xử lý CTYT tại bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên, bệnh viện A, bệnh viện Quốc tế

- Cán bộ công nhân viên tại ba bệnh viện tiến hành nghiên cứu

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu các vấn đề chất thải bệnh viện tại ba bệnh viện được chọn nghiên cứu trên địa bàn thành phố Thái Nguyên

2.2 Địa điểm và thời gian tiến hành

- Địa điểm nghiên cứu:

+ Bệnh viện đa khoa trung ương Thái Nguyên

+ Bệnh viện A Thái Nguyên

+ Bệnh viện Quốc tế Thái Nguyên

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 9/2015 đến tháng 3/2016

2.3 Nội dung nghiên cứu

- Giới thiệu tổng quát về bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên ;

bệnh viện A; bệnh viện Quốc tế

- Hiện trạng phát thải và quản lý CTYT tại các bệnh viện được chọn để nghiên cứu :

+ Hiện trạng phát thải và quản lý chất thải rắn y tế

+ Hiện trạng phát thải và quản lý nước thải

- Đánh giá mô hình quản lý chất thải bệnh viện tại các bệnh viện được chọn để nghiên cứu :

+ Đánh giá mô hình quản lý rác thải rắn

+ Đánh giá mô hình quản lý nước thải

Trang 37

- Đánh giá hiểu biết và thái độ của cán bộ, nhân viên y tế và vệ sinh viên bệnh viện về thực hiện quy chế quản lý chất thải y tế:

+ Đánh giá hiểu biết của cán bộ, nhân viên y tế và vệ sinh viên bệnh viện

về thực hiện quy chế quản lý CTYT

+ Đánh giá thái độ của cán bộ, nhân viên y tế và vệ sinh viên trong thực hiện quy chế quản lý CTYT

- Đề xuất mô hình quản lý CTYT cho các bệnh viện nghiên cứu :

+ Đề xuất mô hình quản lý chất thải rắn

+ Đề xuất mô hình quản lý nước thải

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

- Thu thập thông tin, số liệu thứ cấp về hiện trạng môi trường, số liệu quan trắc môi trường có liên quan của bệnh viện

- Thu thập các số liệu ở báo chí và trên internet

- Thu thập tài liệu văn bản có liên quan

- Các thông tin, số liệu, về công tác quản lý chất thải y tế lượng rác phát sinh, tình hình thu gom, khối lượng thu gom, thời gian thu gom, phương tiện thu gom, vận chuyển, xử lý…

2.4.2 Phương pháp điều tra, khảo sát, lấy mẫu

Trên cơ sở nghiên cứu về mặt lí thuyết và các số liệu thu thập được, tiến hành khảo sát thực tế:

- Điều tra hiện trạng CTYT, lượng chất thải phát sinh hàng ngày của các

bệnh viện

- Tiến hành khảo sát thực tế: Xem xét công nghệ xử lý nước thải, chất thải của bệnh viện

- Phân tích mẫu nước thải:

* Lựa chọn vị trí lấy mẫu:

+ Mẫu nước thải được lấy tại bể thu gom nước thải trước khi đưa vào

hệ thống xử lý

+ Tại bể nước thải cuối cùng sau khi xử lý thải ra ngoài môi trường

Trang 38

* Cách lấy mẫu:

Mẫu nước được lấy trong điều kiện thời tiết tốt: trời nắng, nhiệt độ tại thời điểm lấy mẫu 230C Mẫu được lấy 2 lần mỗi lần 250 ml bằng ca định lượng sau đó bảo quản trong chai dung tích 500ml Mẫu được lấy và bảo quản theo TCVN 5999:1995; TCVN 6663-3:2008

Nước thải sau khi lấy về được bảo quản và phân tích các chỉ tiêu: BOD5,COD, H2S, Tổng phốt pho, Tổng nitơ, Amoni và Coliform, pH, TSS, nitrat theo yêu cầu tại Trung tâm quan trắc và môi trường tỉnh Thái Nguyên

2.4.3 Phương pháp phân tích mẫu và so sánh

a Đối với chất thải y tế thông thường (chất thải sinh hoạt): Khối lượng chất thải phát sinh được tổng hợp và tính toán dựa trên kết quả điều tra, khảo sát

và phiếu phỏng vấn tại các cơ sở y tế

b Phân tích xác định các thông số chất lượng nước thải thực hiện theo hướng dẫn của các tiêu chuẩn quốc gia hoặc tiêu chuẩn phân tích tương ứng của các tổ chức quốc tế:

- TCVN 6001-1995 (ISO 5815 -1989) - Chất lượng nước - Xác định nhu cầu oxi sinh hoá sau 5 ngày (BOD5) - Phương pháp cấy và pha loãng

- TCVN 6491-1999 (ISO 6060 -1989) - Chất lượng nước - Xác định nhu cầu oxy hoá học

- TCVN 6187-1:2009 (ISO 9308-1:2000) - Chất lượng nước - Phát hiện

và đếm Escherichia coli và vi khuẩn Coliform

Trang 39

- TCVN 4829-2001 (ISO 6579 - 1993) - Vi sinh vật học - Hướng dẫn chung về phương pháp phát hiện Salmonella

So sánh số liệu với QCVN 28:2010/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải y tế, từ đó đưa ra nhận xét và đánh giá

Bảng 2.1 Chỉ tiêu và phương pháp phân tích

TT Tên chỉ tiêu Phương

pháp Đơn vị Kết quả Giá trị giới hạn B

Trang 40

- Gía trị sau dấu < thể hiện giá trị giới hạn định lượng của phương pháp

- Giá trị giới hạn (Cột B): Trích theo QCVN 28:2010/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải y tế

- Cột B quy định giá trị C của các thông số và các chất gây ô nhiễm làm

cơ sở tính toán giá trị tối đa cho phép trong nước thải y tế khi thải vào các nguồn nước không dùng cho mục đích cấp nước sinh hoạt

- Nước thải y tế thải vào cống thải chung của khu dân cư áp dụng giá trị C quy định tại cột B Trường hợp nước thải y tế thải vào hệ thống thu gom để dẫn đến hệ thống xử lý nước thải tập trung thì phải được khử trùng, các thông số và các chất gây ô nhiễm khác áp dụng theo quy định của đơn vị quản lý, vận hành

Ngày đăng: 24/02/2021, 13:03

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w