1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng đề thi đánh giá kỹ năng thực hành nghề điện tử dân dụng

90 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xây dựng đề thi đánh giá kỹ năng thực hành nghề điện tử dân dụng Xây dựng đề thi đánh giá kỹ năng thực hành nghề điện tử dân dụng Xây dựng đề thi đánh giá kỹ năng thực hành nghề điện tử dân dụng luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp

Trang 1

-

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

XÂY DỰNG ĐỀ THI ĐÁNH GIÁ KỸ NĂNG THỰC HÀNH

Trang 2

Mục lục

1.1 Thực trạng công tác kiểm tra đánh giá trong đào tạo ở các trường kỹ

1.2 Tổng quan về kiểm tra- đánh giá kết quả học tập của học sinh (HS)

1.3 Tổng quan hệ thống tiêu chuẩn kỹ năng nghề, đánh giá và cấp

1.10 Các biện pháp có tính chiến lược trong kiểm tra đánh giáKQHT

1.11 Các biện pháp đề phòng và chống gian lận trong kiểm tra 29

Trang 3

ChươngII Xây dựng bộ đề thi đánh giá kỹ năng thực hành nghề

2.2 Quy trình, phương pháp xây dựng bộ đề thi đánh giá kỹ năng thực

Trang 4

Lời cám ơn

Với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu, Trung tâm sau đại học, các giảng viên khoa Sư phạm Kỹ thuật, trường Đại học Bách Khoa,và các giảng viên các viện tại Hà nội đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy cho tác giả trong hai năm học tập và nghiên cứu tại trường

Đặc biệt,tác giả xin gửi lời cám ơn chân thành nhất tới PGS.TS Nguyễn Đức Trí , người đã trực tiếp giảng dạy và dành nhiều thời gian, công sức, tâm huyết hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Xin chân thành cảm ơn trưởng khoa Điện tử - Phạm Xuân Khánh cùng các đồng nghiệp trong khoa Điện tử - trường Đại học Công nghiệp Hà nội đã tạo điều kiện và giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn

Do điều kiện, thời gian có hạn cũng như sự hạn chế về trình độ bản thân nên bài luận văn không thể tránh khỏi các thiếu sót và khiếm khuyết Tác giả rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của hội đồng chấm luận văn, các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp để bài luận văn hoàn thiện hơn

Hà nội,ngày10 tháng11 năm 2007

Lê Mạnh Long

Trang 5

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan bản luận văn này là kết quả nghiên cứu của bản thân dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Đức Trí Nếu có gì sai phạm, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Người làm cam đoan

Lê Mạnh Long

Trang 6

13 PP KTĐG: Phương pháp kiểm tra đánh giá

14 TCKNN: Tiêu chuẩn kỹ năng nghề

15 TCKNNĐT: Tiêu chuẩn kỹ năng nghề đào tạo

16 VBCC: Văn bằng chứng chỉ

Trang 7

Nếu coi quá trình dạy học là một hệ thống thì đánh giá đóng vai trò phản hồi của hệ thống Đánh giá có vai trò tích cực trong việc điều chỉnh hệ thống, là cơ sở để đổi mới phương pháp dạy học Kiểm tra đánh giá tốt sẽ

Trang 8

phản ánh được đầy đủ việc dạy của thầy và việc học của trò, đồng thời giúp cho các nhà quản lý giáo dục hoạch định được chiến lược trong quá trình quản

lý và điều hành

Hiện nay trong các trường đào tạo nghề, các trường Cao đẳng, trung học chuyên nghiệp công cụ chủ yếu được sử dụng để đánh giá kết quả học tập của học sinh ở nghề Điện tử dân dụng là các bài kiểm tra với các câu hỏi dạng

tự luận Mặc dù có những ưu điểm nhất định đối với việc đánh giá kết quả học tập nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, bộc lộ trong quá trình xây dựng và sử dụng công cụ đánh giá này dẫn đến việc đánh giá kết quả của học sinh chưa khách quan, chưa chính xác, bài kiểm tra chưa đo lường thoả đáng các mục tiêu của môn học, học sinh có tư tưởng học "tủ" và học "lệch", gây ra sự kém hứng thú đối với môn học

Thông thường, mỗi giáo viên dạy trong các trường nghề, trường cao đẳng nghề hay trung học chuyên nghiệp không phải chỉ đảm nhiệm một môn học giống như các giáo viên ở các trường THPT Do phải đảm nhiệm ít nhất từ hai môn học trở lên với số lớp đảm nhiệm không dưới ba lớp và số học sinh trong mỗi lớp khá đông (từ 35 - 80 học sinh), nên việc đánh giá, nắm thông tin phản hồi một cách cụ thể, nhanh chóng, chính xác, khách quan, thường xuyên đối với mỗi học sinh là rất khó khăn và hầu như rất khó thực hiện được

Mỗi công cụ đánh giá đều có mặt tích cực và mặt hạn chế nhưng nếu

có cách lựa chọn, xây dựng và sử dụng một cách phù hợp với mục tiêu, đối tượng và điều kiện cụ thể sẽ góp phần mang lại hiệu quả cao cho việc đánh giá trong quá trình dạy học

Công cụ để đánh giá kết quả học tập của học sinh và nó được coi là phép đo trực tiếp mức độ đạt được các mục tiêu môn học Nó cho phép xử lý kết quả theo nhiều chiều hướng khác nhau với từng học sinh cũng như với toàn thể một lớp học, một trường học Nó giúp cho giáo viên kịp thời điều

Trang 9

chỉnh, hoàn thiện phương pháp dạy để nâng cao hiệu quả dạy học Tuy nhiên, việc xây dựng một ngân hàng câu hỏi cho một môn học là công việc không đơn giản, đòi hỏi sự quan tâm của nhiều người đặc biệt là các nhà giáo phải qua nhiều thử nghiệm và mất rất nhiều thời gian

Chính vì những lí do ở trên kết hợp thực tiễn dạy học trong nghề Điện

tử dân dụng và công nghiệp ở trường Đại học Công nghiệp Hà nội, tác giả luận văn đã nghiên cứu đề tài " Xây dựng đề thi đánh giá kỹ năng thực hành nghề Điện tử dân dụng” trong kiểm tra, đánh giá tại trường Đại học Công nghiệp Hà nội”

2 Mục đích nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu vấn đề xây dựng và vận dụng bộ đề thi đánh giá về

kỹ năng nghề trong dạy học thực hành Điện tử dân dụng theo tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia Nhằm chuẩn hoá chất lượng đội ngũ công nhân lành nghề nghề điện tử dân dụng đáp ứng với yêu cầu của thực tế sản xuất

3 đối tượng nghiên cứu

- Nội dung môn học Sửa chữa máy thu hình của trường Đại học Công

nghiệp Hà nội

- Tiêu chuẩn kỹ năng nghề điện tử dân dụng

- Quy trình xây dựng, vận dụng bộ đề thi đánh giá kỹ năng thực hành (KNTH) trong kiểm tra đánh giá kỹ năng thực hành nghề cấp quốc gia

4 Giả thuyết khoa học

Nếu xây dựng được bộ công cụ để đánh giá kỹ năng thực hành sẽ góp phần vào ngân hàng đề thi thực hành trong việc đánh giá kỹ năng nghề và cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia ở nghề điện tử dân dụng Từ đó nhằm chuẩn hoá kỹ năng tay nghề đội ngũ công nhân, cũng như tiêu tiêu chuẩn cho các trường dạy nghề trong phạm vi toàn quốc

Trang 10

5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xác định cơ sở lý luận về kiểm tra đánh giá kết quả học tập nói

- Thực nghiệm sư phạm một số đề thi đánh giá kỹ năng nghề trong dạy học thực hành

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Xây dựng và sử dụng bộ đề thi đánh giá kỹ năng nghề trong dạy học thực hành để đánh giá học sinh học sinh đã tốt nghiệp ở các trường nghề, cũng như đội ngũ công nhân lành nghề trong phạm vi toàn quốc

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp các tư liệu có liên quan từ đó xác định cơ sở lý luận của đề tài

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp điều tra, thử nghiệm trên đối tượng là giáo viên và học sinh trong các trường dạy nghề hoặc ở các

cơ sở sản xuất , đồng thời sử dụng các phương pháp bổ trợ khác như phương pháp quan sát, trao đổi trực tiếp thông qua việc khảo sát thực tế quá trình thực hiện các công việc cụ thể

Trang 11

- Phương pháp chuyên gia: Hỏi ý kiến về nội dung và cách thức sử dụng bộ công cụ để dánh giá kỹ năng thực hành

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

7 Cấu trúc của luận văn

Luận văn bao gồm 02 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

- Chương 2: Xây dựng bộ đề thi đánh giá kỹ năng thực hành nghề Điện tử dân dụng

Trang 12

Chương I

Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 1.1 Thực trạng công tác kiểm tra đánh giá trong đào tạo ở các trường kỹ thuật

Hiện nay việc kiểm tra đánh giá trong đào tạo ở các trường kỹ thuật nước ta về lý thuyết chủ yếu thường là theo chuẩn tương đối (norm-referenced) so sánh thành tích giữa những người học với nhau; rất ít khi đánh giá theo tiêu chí (criterion-referenced), nghĩa là so sánh thành tích của từng người học với tiêu chí, tiêu chuẩn đào tạo đề ra Hơn nữa phần lớn các bài kiểm tra, thi bao gồm một số có giới hạn các câu hỏi tự luận, những câu hỏi mở… thường chỉ khảo sát được một số ít nội dung học tập và vốn là thiếu tính khách quan khi chấm điểm Trong đào tạo thực hành, việc kiểm tra đánh giá mặc dù là dựa vào mục tiêu đào tạo nhưng hầu hết dường như lệ thuộc vào điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện có rất khác nhau của từng trường; điều đó làm giảm độ tin cậy và tính giá trị của kiểm tra đánh giá kỹ năng thực hành, nhất là khi so sánh kết quả học tập của học sinh giữa các trường với nhau

Một điều dễ nhận thấy rằng chất lượng người tốt nghiệp từ các trường khác nhau là khác nhau do có nhiều yếu tố của quá trình đào tạo ảnh hưởng đến kết quả học tập của họ, trong đó kiểm tra đánh giá có ảnh hưởng lớn không những đến kết quả học tập của người học trong quá trình đào tạo mà còn đến sự công nhận và băn bằng chứng chỉ (VBCC) cấp cho người tốt nghiệp Nói chung, việc kiểm tra đánh giá trong đào tạo ở các trường kỹ thuận hiện nay được thực hiện rất khác nhau, không có thước đo chung cũng như không có tiêu chuẩn năng lực nghề nghiệp (NLNN) chung thống nhất làm căn

cứ Điều đó dẫn đến VBCC cấp cho người tốt nghiệp dường như chỉ có giá trị

Trang 13

riêng của từng trường chứ không được công nhận rộng rãi, gây trở ngại cho việc liên thông trong đào tạo

Trong thực tế, nhiều khi mục tiêu đào tạo theo các tiêu chuẩn chất lượng do cơ sở đào tạo đặt ra chưa phù hợp với yêu cầu thực tế của thị trường lao động (LĐ) và việc làm, dẫn đến tình trạng người tốt nghiệp không đáp ứng được yêu cầu sử dụng; nếu được tuyển dụng thì hầu như đều phải đào tạo

bổ sung Ngày nay trong thị trường LĐ, việc đánh giá đầu ra hay sản phẩm của đào tạo (người tốt nghiệp) không chỉ được cơ sở đào tạo (ĐT) tiến hành theo mục tiêu ĐT đã đề ra (đánh giá trong của hệ thống đào tạo) mà còn được

cơ sở sử dụng người tốt nghiệp tiến hành theo tiêu chuẩn NLNN (đánh giá ngoài của thị trường lao động)

1.2 Tổng quan vấn đề kiểm tra- đánh giá kết quả học tập của học sinh

1.2.1 Kiểm tra

Kiểm tra là tiền đề, là bước đầu tiên để đánh giá, để đưa ra nhận xét hay quy định nào đó trong thực tế Kiểm tra trong dạy học chỉ sự đo lường, thu thập thông tin để có được những phán đoán, xác định xem mỗi người học sau

khi học đã biết gì (kiến thức), làm được gì (kĩ năng) và bộc lộ thái độ ứng xử

ra sao

Như vậy, kiểm tra nhằm đánh giá một quá trình hoạt động sư phạm Người kiểm tra cần phải có chuyên môn nghiệp vụ khoa học, có chuyên ngành, công việc kiểm tra cần có tổ chức, có kế hoạch

1.2.2 Đánh giá

Đánh giá là quá trình thu thập chứng cứ và đưa ra những lượng giá về bản chất và phạm vi của kết quả học tập hay thành tích đạt được so với các tiêu chí và tiêu chuẩn thực hiện đã đề ra tại một thời điểm thích hợp trong quá trình dạy học Trong đào tạo nghề theo NLTH, sự lượng giá dựa vào các tiêu chí đánh giá và tiêu chuẩn thực hiện đã đề ra trong tiêu chuẩn kỹ năng nghề

Trang 14

đào tạo ở đây, sự lượng giá tập trung vào cái mà người học, người dự thi có

thể và cần phải làm được (đầu ra), nó lượng giá sự thực hiện của chính người

học hay người dự thi đó so với những tiêu chí và tiêu chuẩn cụ thể xem đã đạt được hay chưa chứ không đưa ra sự so sánh với những người khác

Đánh giá là sự phán xét trên cơ sở kiểm tra, bao giờ cũng đi liền với kiểm tra Trong đánh giá, ngoài sự đo lường một cách khách quan dựa trên

kiểm tra (hay trắc nghiệm), còn có ý kiến bình luận, nhận xét, phê phán mang

tính chủ quan để đưa ra những quyết định thích hợp nhằm cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc

1.3 hệ thống tiêu chuẩn kỹ năng nghề, đánh giá và cấp chứng chỉ kỹ năng nghề

1.3.1 Hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành và khung trình độ kỹ năng nghề quốc gia

Từ một vài thập kỷ qua đến nay, hệ thống Giáo dục Kỹ thuật và Dạy nghề (Technical and Vocational Education) của nhiều nước đã và đang được

cải cách theo phương thức “Đào tạo dựa trên năng lực thực hiện” hoặc “Đào

tạo theo năng lực thực hiện” (tiếng Anh là “Competency Based Training”)

Đào tạo theo năng lực thực hiện (NLTH) là một phương thức đào tạo dựa chủ

yếu vào những tiêu chuẩn năng lực thực hiện/kỹ năng quy định cho một nghề, đào tạo và đánh giá kết quả học tập theo các tiêu chuẩn nghề đó chứ không

dựa chủ yếu vào thời gian NLTH là khái niệm trung tâm trong phương thức

đào tạo mới này NLTH là khả năng thực hiện được các hoạt động (nhiệm vụ,

công việc) trong nghề theo tiêu chuẩn đặt ra đối với từng nhiệm vụ, công việc

đó; NLTH bao gồm các kĩ năng, kiến thức và thái độ đòi hỏi đối với một người để thực hiện thành công công việc của nghề

Trang 15

ở Việt Nam, trong Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 và trong quy hoạch mạng lưới trường Dạy nghề giai đoạn 2002-2010 theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 48/2002/QĐ-TTg ngày 11/4/2002 đã đề ra việc hình thành hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành với ba cấp trình độ: bán lành

nghề, lành nghề và trình độ cao Đó là một chủ trương phù hợp với xu thế “cải

cách” Giáo dục kỹ thuật và Dạy nghề (GDKT & DN) ở các nước trong khu vực và trên thế giới trong một số thập kỷ qua theo hướng tăng cường năng lực thực hành cho người tốt nghiệp

Hiện nay, dự án Giáo dục Kỹ thuật và Dạy nghề do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội chủ trì được thực hiện nhằm đổi mới hệ thống dạy nghề nước ta theo các tư tưởng trên Khung trình độ kỹ năng nghề quốc gia cũng đã được xây dựng theo ba cấp là cấp I, cấp II và cấp III

Khung trình độ kỹ năng nghề quốc gia là khung quy định khái quát mức

độ kỹ năng thực hành các công việc trong thực tế của nghề theo ba cấp đó, có tính chất định hướng cho việc xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề theo các cấp trình độ của nghề cụ thể Việc phân chia thành ba cấp trình độ kỹ năng nghề dựa vào ba nhóm tiêu chí: phạm vi, độ khó và độ phức tạp của công việc; yêu cầu về sự linh hoạt và sáng tạo trong thực hiện công việc; mức độ phối hợp và

trách nhiệm cá nhân trong thực hiện công việc

Luật Giáo dục 2005 quy định dạy nghề có ba cấp: sơ cấp nghề, trung cấp

nghề và cao đẳng nghề (điều 36, luật Giáo dục2005) Việc dự kiến chuyển

cấp I sang sơ cấp nghề, cấp II sang trung cấp nghề và cấp III sang cao đẳng

nghề không hề làm thay đổi bản chất thực hành, tức là chú trọng, tăng cường năng lực thực hành cho người tốt nghiệp của hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành Đào tạo trung cấp nghề và cao đẳng nghề đều phải chú trọng năng lực

Trang 16

thực hành cho người tốt nghiệp, do đó phần đào tạo thực hành phải định

hướng theo khung trình độ kỹ năng nghề quốc gia đã xây dựng (Bảng 1)

1.3.2 Hệ thống tiêu chuẩn kỹ năng nghề, đánh giá và cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia

Hệ thống Tiêu chuẩn kỹ năng nghề (TCKNN) đánh giá và cấp chứng chỉ

kỹ năng nghề (KNN) quốc gia (gọi chung là hệ thống SSTC) bao gồm hai bộ phận liên quan mật thiết với nhau, đó là:

Tiêu chuẩn kỹ năng nghề (Occupational Skills Standards - SS)

Đánh giá và cấp chứng chỉ KNN (Testing & Certification - TC)

Hệ thống SSTC có mối quan hệ chặt chẽ với các bộ phận khác của toàn

bộ hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành theo NLTH (Hình1)

1.3.2.1 Tiêu chuẩn kỹ năng nghề (TCKNN)

Trong khu vực và trên thế giới, TCKNN (Occupational Skills Standard) được dùng đồng nghĩa với Tiêu chuẩn năng lực thực hiện (Occupational Competency Standard) TCKNN bao gồm Tiêu chuẩn kiến thức và Tiêu chuẩn kỹ năng thực hành nghề, được xây dựng cho từng công việc của nghề

TCKNN là một tập hợp các qui định tối thiểu về các công việc mà người lao động cần phải làm, mức độ cần đạt được khi thực hiện các công việc đó tại chỗ làm việc thực tế ở cấp trình độ KNN nghề tương ứng và những kiến thức cần thiết làm cơ sở cho việc thực hiện các công việc trên

TCKNN được sử dụng trong thị trường lao động trước hết cho việc đánh giá năng lực thực hiện của người lao động dự thi (cũng có thể là người tốt nghiệp từ một cơ sở đào tạo nào đó) để lấy chứng chỉ KNN quốc gia, đồng thời các cơ sở đào tạo dùng nó để làm căn cứ xây dựng và thực hiện chương

trình đào tạo cũng như đánh giá người tốt nghiệp

Trang 17

Theo định nghĩa trên, TCKNN chứa đựng những thông tin cần thiết trong mẫu định dạng TCKNN thống nhất

1.3.2.2 Khái niệm Đánh giá (Testing, Assessment)

Đánh giá là quá trình người đánh giá thu thập chứng cứ, trên cơ sở đó so sánh, đối chiếu và đưa ra những phán xét về mức độ thành tích (kiến thức, kỹ năng thực hành, thái độ) thực tế đạt được ở người dự thi so với các tiêu chí và tiêu chuẩn thực hiện đã đề ra ở cấp trình độ KNN quốc gia tương ứng, làm cơ

sở để cấp chứng chỉ KNN quốc gia cho người đó

Đánh giá là sự phán xét trên cơ sở kiểm tra, bao giờ cũng đi liền với

kiểm tra

1.3.2.3 Khái niệm Cấp chứng chỉ KNN quốc gia (Certification)

Cấp chứng chỉ KNN quốc gia là một quá trình cấp cho một cá nhân (người dự thi) một sự công nhận đảm bảo rằng ngườì đó có thể thực hiện được các công việc của nghề theo TCKNN ở cấp trình độ KNN quốc gia xác định

Chứng chỉ KNN quốc gia được cấp và có giá trị trong một thời gian nhất định trên toàn quốc ( hoặc trong khu vực và thế giới tuỳ theo sự công nhận lẫn nhau), sau khoảng thời gian đó, người lao động phải thi lại nếu đạt sẽ được cấp lại Chứng chỉ mới

1.3.2.4 Hệ thống đánh giá và cấp chứng chỉ KNN quốc gia

ở Việt Nam, các tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật theo hệ thống 7 bậc (hoặc tương đương) được ban hành đối với một số nghề từ những thập kỷ trước đây bên cạnh việc dùng để tiến hành “bổ túc tay nghề” và xếp bậc lương cho người lao động trong các cơ quan, doanh nghiệp, cũng được dùng để đánh giá

và cấp VBCC cho người tốt nghiệp cơ sở dạy nghề, nay đã lỗi thời, không còn

Trang 18

phù hợp nữa Hiện nay Việt Nam mới chỉ có các quy định về việc thực hiện đánh giá kết quả học tập và cấp VBCC cho người tốt nghiệp trong hệ thống các cơ sở dạy nghề và các cơ sở giáo dục khác có dạy nghề

Nhiều người tốt nghiệp các khoá đào tạo ở nhiều ngành nghề khác nhau hiện nay (cả dài hạn và ngắn hạn) khi xin việc làm thường phải qua đánh giá lại để xem xét tuyển dụng Điều đó chứng tỏ các VBCC mà các trường cấp cho người tốt nghiệp có giá trị hạn chế nhất định, không nhất thiết được coi như các chứng chỉ nghề nghiệp mà người sử dụng lao động các ngành nghề đòi hỏi

Trong thực tế, hàng triệu lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp, các cơ quan hành chính sự nghiệp đều có nguyện vọng và khả năng nâng cấp trình độ nghề nghiệp của họ ngay trong quá trình lao động Thông qua hệ thống “bổ túc tay nghề”, ở các doanh nghiệp, nhiều công nhân đã được tổ chức thi nâng bậc thợ để hưởng lương theo bậc thợ mới ở các doanh nghiệp riêng rẽ Tuy nhiên, chưa có bất cứ một loại chứng chỉ nào công nhận một cách chính thức bậc thợ mới đạt được của họ có giá trị ở các doanh nghiệp khác Người lao động sẽ bị thiệt thòi lớn khi chuyển sang chỗ làm việc mới nhưng không được công nhận bậc thợ mới đã đạt được Hơn nữa, những người đang tìm kiếm việc làm cũng cần phải có một VBCC nghề nghiệp phù hợp nhưng không có nơi nào được uỷ quyền để họ đến dự thi lấy VBCC đó,v.v

Xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế có yêu cầu cao về chất lượng đội ngũ nhân lực làm việc trong các ngành kinh tế, đòi hỏi họ phải có sự tương đương trong trình độ nghề nghiệp thể hiện trước hết thông qua các chứng chỉ KNN quốc gia Trong khi đó, ở Việt Nam, các VBCC được cấp cho

Trang 19

người tốt nghiệp không có giá trị quốc gia thống nhất mà chỉ có giá trị riêng của từng trường hay trung tâm

Một trong những giải pháp quan trọng vừa mang tính cấp bách trước mắt vừa mang tính chiến lược lâu dài nhằm cải cách hệ thống đào tạo nghề nghiệp cùng với cải cách hệ thống sử dụng lao động trong xã hội là phải xây dựng hệ thống TCKNN, đánh giá và cấp chứng chỉ KNN quốc gia với sự tham gia của nhiều bên liên đới, áp dụng cho cả những người tốt nghiệp trong

hệ thống nhà trường và những người lao động trong xã hội tham gia dự thi lấy chứng chỉ KNN quốc gia được công nhận rộng rãi trong xã hội Hệ thống này đang được Dự án GDKT & DN tiến hành xây dựng thử nghiệm

1.4 Mục đích, chức năng và các yêu cầu đối với việc kiểm tra đánh giá

- Quyết định về mặt quản lý hành chính: đánh giá một đơn vị, một cá nhân, một sự việc

1.4.1 Mục đích của việc kiểm tra đánh giá

Trang 20

đối với các khoá học ngắn hạn, bồi dưỡng nâng cao trình độ vì nó giúp người dạy xác định được nhu cầu của người học để có thể điều chỉnh nội dung học sát hợp hơn

- Thúc đẩy học tập nhờ có thông tin phản hồi kịp thời cho người học biết tiến độ của mình

Trước hết kiểm tra đánh giá có tác dụng “thúc bách” người học học tập không có kiểm tra, thi cử chắc nhiều người học sẽ "không học" thật sự Bên cạnh đó, việc công khai hoá các nhận định về năng lực và KQHT của mỗi học sinh và của tập thể lớp còn tạo cơ hội cho học sinh phát triển kĩ năng

tự đánh giá, giúp học sinh nhận ra sự tiến bộ của mình, từ đó động viên, khích

lệ người học học tốt hơn Ngoài ra, việc kiểm tra đánh giá còn chỉ ra cho người học thấy họ đã học tốt nội dung nào, chưa tốt nội dung nào, cần học thêm cái gì, học lại cái gì

- Cải tiến việc dạy và việc học:

Người dạy không biết rõ là nội dung đã được dạy đủ chưa, cần bổ xung cái gì, phương pháp dạy học (PPDH) đã phù hợp chưa, cần hỗ trợ thêm cho

ai, người học cần được giúp thêm ở nội dung nào?

b Mục đích về mặt quản lý đào tạo

- Xử lý hoặc xác nhận năng lực thực hiện của người học để cấp văn bằng chứng chỉ

Kiểm tra đánh giá nhằm khẳng định năng lực thực hiện của người học

có đáp ứng các yêu cầu và tương xứng với văn bằng, chứng chỉ được cấp, đặc biệt là với chức năng, nhiệm vụ mà người tốt nghiệp sẽ phải đảm nhiệm

Điều quan trọng là phải xác định được một hệ thống kiểm tra, đánh giá phù hợp bao gồm từ quy chế thi và kiểm tra, tiêu chí kiểm tra đánh giá, hình thức kiểm tra đánh giá, loại công cụ, câu hỏi thích hợp, số lượng câu hỏi, cách xác định điểm đạt, mức đạt

Trang 21

1.4.2 Chức năng của việc kiểm tra đánh giá

a Chức năng của việc kiểm tra đánh giá dạy học

* Chức năng đo lường

Xác định được mức độ hiểu biết, kỹ năng, phẩm chất trí tuệ của học sinh

so với chuẩn của mục đích đã định trước Để thực hiện chức năng này phải:

- Chính xác hóa và lượng hóa được các thông số cần đo (hiểu biết, kỹ năng)

- Chọn đơn vị đo (bằng điểm số hay xếp hạng)

- Xác định độ chính xác, độ nhậy và sự biến đổi của phép đo

* Chức năng thông tin

Chức năng này giúp giáo viên nắm được kết quả giảng dạy, từ đó điều chỉnh và hoàn thiện nội dung, phương pháp giảng dạy Đồng thời giúp học sinh tự đánh giá kết quả học tập để điều chỉnh hoạt động học tập của mình theo các yêu cầu của môn học

* Chức năng chọn lọc và phân loại

- Chọn ra được những kiến thức (kỹ năng) mà học sinh đã nắm vững hoặc chưa nắm vững trong từng môn học

- Phân loại học tập ở các mức độ (giỏi, khá, trung bình, yếu, kém….), điều này có tác dụng kích thích sự học tập của học sinh

b Chức năng của việc kiểm tra đánh giá quản lý giáo dục và đào tạo

* Chức năng kiểm soát và phát hiện

Kiểm soát và phát hiện là chức năng xác định thực chất hiệu quả giáo dục Kiểm soát đúng sẽ phát hiện được các mặt ưu khuyết điểm của từng đối tượng quản lí giúp giáo viên làm tốt công tác điều khiển công việc và định hướng trong chỉ đạo Hoạt động kiểm soát phát hiện một khi được tiến hành thường xuyên sẽ giúp cho giáo viên không bị mắc bệnh quan liêu

* Chức năng động viên phê phán

Trang 22

Động viên và phê phán mang thuộc tính tâm lí xã hội Kiểm tra đánh giá thường xuyên mới nắm được đầy đủ tư tưởng, tình cảm, năng lực của thầy

và trò Mọi ý kiến giáo dục, động viên, phê phán đều xuất phát từ khâu kiểm tra đánh giá Khi được kiểm tra đánh giá, GV và học sinh chắc chắn phải nỗ lực hơn trong công việc và trong học tập để bộc lộ khả năng hay hạn chế của mình

* Chức năng đánh giá

Đánh giá trong kiểm tra nhằm đo lường, xác định hiệu quả của lao động

sư phạm, xác định trình độ thực hiện kế hoạch, xác định phẩm chất của thầy

và năng lực của trò Đánh giá còn nhằm để khẳng định những yếu tố chủ quan, khách quan, những lệch lạc, sơ hở nhằm giúp cho giáo viên uốn nắn, điều chỉnh các quyết định nhằm đảm bảo chu trình quản lí được liên tục và đạt hiệu quả cao

* Chức năng thu thập thông tin

Thu thập thông tin là chức năng trung tâm, trọng điểm của hoạt động kiểm tra đánh giá Chỉ có kiểm tra mới có được các thông tin đáng tin cậy Việc xử lí đúng đắn các thông tin giúp cho giáo viên tác động kịp thời vào phong cách và thái độ làm việc của mình, điều chỉnh mục tiêu và quyết định cho chu trình quản lí làm việc mới của bản thân

1.4.3 Các yêu cầu đối với việc đánh giá KQHT

- Đảm bảo tính quy chuẩn:

Đánh giá dù theo bất kì hình thức nào, cũng đều nhằm mục tiêu phát triển hoạt động dạy và học, đồng thời phải đảm bảo lợi ích cho người được đánh giá và phát triển được Vì vậy, đánh giá cần tuân theo những chuẩn mực nhất định Những chuẩn này được ghi rõ trong văn bản quy định hoạt động đánh giá phải được công khai với người được đánh giá Những quy định này

Trang 23

cần được chi tiết, đầy đủ, rõ ràng về mọi lĩnh vực, từ việc xác định mục tiêu, nội dung và phương thức đánh giá đến thời điểm đánh giá Cụ thể:

+ Mục tiêu đánh giá

+ Nội dung đánh giá

+ Tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá

+ Phương pháp và phương tiện

+ Người đánh giá

+ Thời điểm đánh giá

+ Địa điểm đánh giá

+ Quyền lợi và trách nhiệm của người được đánh giá

+ Tính pháp lí của việc đánh giá

- Đảm bảo tính khách quan

Việc đánh giá khách quan sẽ có tác dụng kích thích động cơ và tính tích cực học tập của người học Đồng thời duy trì và phát triển mối quan hệ thân thiện, đoàn kết giữa các học viên

Tính khách quan của việc đánh giá phụ thuộc vào phẩm chất, năng lực, nghiệp vụ của người đánh giá Phụ thuộc tính quy chuẩn của việc đánh giá và phụ thuộc vào quan điểm, phương pháp và phương tiện đánh giá

- Đảm bảo tính xác nhận và tính phát triển

Tính xác nhận là việc đánh giá phải khẳng định được hiện trạng của nội dung môn học được đánh giá so với mục tiêu đánh giá (về mặt định tính và định lượng) và nguyên nhân của hiện trạng đó, dựa trên những tư liệu khoa học chính xác và các lập luận xác đáng Tuy nhiên trong giáo dục có bản chất nhân đạo và phát triển nên việc đánh giá cũng phải mang tính nhân đạo

và phát triển Tức là phải đảm bảo chức năng phát triển của đánh giá Giúp cho người được đánh giá không chỉ nhận ra hiện trạng cái mình đã đạt được (chức năng xác nhận), mà còn có niềm tin vào khả năng của mình trong việc

Trang 24

tiếp tục phát triển hoặc khắc phục những điểm không phù hợp Do đó khi đánh giá phải biết trân trọng sự cố gắng của học sinh, đánh giá cao những

tiến bộ trong học tập của học sinh

1.5 Mục tiêu đánh giá kết quả học tập

ta dùng khái niệm mục tiêu

Mục tiêu là sự lượng giá của mục đích tại những thời điểm nhất định, cho phép có thể kiểm soát được các bước đi và kết quả thực tế của nó trong lộ trình đi đến mục đích

1.5.2 Tầm quan trọng của mục tiêu dạy học

- Định ra phương hướng, tiêu chí để quyết định về nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học

- Xác định được cái cần kiểm tra đánh giá khi kết thúc mỗi môn học, học phần hay trong quá trình giảng dạy từng kiến thức cụ thể

- Thông báo cho người học biết những cái mong đợi ở đầu ra của sự học là gì Điều này giúp họ tự tổ chức công việc học tập của mình

Trang 25

- Phải bao gồm nội dung học tập thiết yếu của môn học

- Phải quy định rõ kết quả của việc học tập, nghĩa là các khả năng mà người học sẽ có được khi họ đạt đến mục tiêu

- Phải đo lường được

- Phải chỉ rõ những gì người học có thể làm được vào cuối giai đoạn học tập

1.5.4 Mục tiêu đánh giá kết quả học tập

Mục tiêu dạy học được phân thành ba lĩnh vực: Nhận thức, cảm xúc và vận động - tâm lí

* Mục tiêu nhận thức

Mục tiêu nhận thức của học sinh được quy thành sáu mức:

Mức 1 Biết

Khả năng ghi nhớ và nhắc lại những gì đã ghi nhớ được, mức này bao gồm:

- Biết những dữ kiện: hệ thống thuật ngữ, sự kiện

- Biết phương tiện sử dụng những dữ liệu, quy ước, chuỗi các thao tác, xếp loại, nhận dạng, lựa chọn

Mức 2 Thông hiểu

ở mức này có chú trọng hơn đến các hoạt động trí tuệ Cụ thể :

- Giải thích, trình bày vấn đề bằng cách khác, ngôn ngữ khác

- Diễn đạt: Cấu trúc lại tài liệu bằng vật liệu khác, theo một quan điểm mới, cách hiểu mới; xác định được nguyên nhân, lấy ví dụ minh hoạ

- Ngoại suy : Suy luận từ dạng này sang dạng khác

Mức 3 áp dụng

Là sử dụng các phương tiện đã có để giải quyết tình huống khác (dùng định lí, công thức để giải bài toán cụ thể)

Mức 4 Phân tích

Trang 26

Có khả năng phân chia, xác lập lôgic các phần tử bộ phận: so sánh, tìm

sự khác nhau và giống nhau

- Hoàn thành một công việc mới

* Mục tiêu cảm xúc

Theo B.Bloom, lĩnh vực cảm xúc bao gồm các mục tiêu mô tả những biến đổi về hứng thú, thái độ, giá trị cũng như các thái độ khác và khả năng thích nghi

* Mục tiêu tâm vận

Lĩnh vực này bao gồm các kĩ năng trí tuệ và vận động trong đó có cả những kí năng cảm nhận và phối hợp các giác quan Lĩnh vực này cũng có sáu mức

Mức 1: Các hoạt động phản xạ

Trang 27

Bước 1 Xác định các quyết định đánh giá

Bước 2 Xây dựng các tiêu chí đánh giá

Bước 3.Thu thập các thông tin thích đáng

Bước 4 Đối chiếu các tiêu chí đã được thống nhất với các thông tin đã

thu thập

Bước 5 Hình thành những kết luận cuối cùng một cách thật chính xác

trước khi quyết định công bố kết luận đánh giá

1.7 Các lĩnh vực kiểm tra đánh giá

1.7.1 Kiểm tra đánh giá kiến thức

Mục đích KTĐG kiến thức là xác định xem HS nhận thức được gì, ở mức độ nào trong các nội dung đã học Tuỳ theo mục tiêu học tập mà có những mức độ yêu cầu khác nhau, từ đơn giản nhất là tái hiện được (kể được,

mô tả được, trình bày được), đến áp dụng được, so sánh, phân tích, giải thích,

1.7.2 Kiểm tra đánh giá kỹ năng

Mục đích KTĐG kĩ năng là xác định xem HS đã làm được gì, ở mức độ nào trong các nội dung đã học Mức độ yêu cầu người học làm được cũng từ đơn giản nhất là bắt chước được đến làm đúng, chuẩn xác rồi đến làm nhanh

và thành thạo

1.7.3 Kiểm tra đánh giá thái độ

Trang 28

KTĐG thái độ nhằm xem xét người học đã có cách ứng xử, cách biểu

lộ tình cảm, cách bộc lộ những phẩm chất nhân cách như thế nào trước một sự kiện, hiện tượng, trước công việc, trước đồng nghiệp,

1.8 Các loại hình kiểm tra đánh giá

1.8.1 Kiểm tra đánh giá hình thành

Là KTĐG từng bước một cách chính thức hoặc cũng có thể không chính thức, “đi kèm” với sự hình thành kiến thức, kĩ năng và thái độ ở người học, cung cấp những thông tin phản hồi nhanh để kịp thời bổ cứu ở mỗi giai đoạn cần thiết của sự phát triển trong suốt quá trình học tập

Do có nhiều lần kiểm tra nên sai sót trong mỗi giai đoạn được bổ cứu kịp thời, đảm bảo HS đạt được kết quả học tập chung cuối cùng

Thúc đẩy HS nỗ lực học tập thường xuyên trong cả khoá học

Người dạy có cơ sở để điều chỉnh PP dạy học và giúp đỡ HS kịp thời KTĐG hình thành được thực hiện thường xuyên trong quá trình dạy học; định kì cuối mỗi môn học, mô đun hoặc cuối học kì, cuối năm học

a Kiểm tra đánh giá thường xuyên

KTĐG thường xuyên trong quá trình dạy học nói chung là không chính thức, cung cấp những thông tin phản hồi nhanh cho cả người học và người dạy trong suốt quá trình dạy học để kịp thời điều chỉnh, bổ xung nhằm làm cho người học đạt được mục tiêu dạy học

Loại hình KTĐG này được thực hiện bám sát từng nội dung dạy học cụ thể, thông qua các hình thức tổ chức, PP và kĩ thuật dạy học đa dạng, phong phú của GV Kết quả của KTĐG thường xuyên trong quá trình dạy học được

GV ghi chép và lưu lại chủ yếu bằng những lời nhận xét, những chú ý, vào

sổ theo dõi người học làm cơ sở cho việc chỉ đạo, hướng dẫn sự học tập thường xuyên Tuy không cho điểm nhưng nó là chứng cứ cần thiết cho việc đánh giá định tính cuối cùng của môn học

Trang 29

b Kiểm tra đánh giá định kỳ

KTĐG định kỳ đối với môn học bao gồm các bài kiểm tra định kì Mỗi môn học tuỳ theo độ dài, dung lượng thời gian có số lượng kiểm tra bài định

kỳ khác nhau Cứ 15 tiết, tức là 1 đơn vị học trình có một bài kiểm tra định

kỳ Môn học nào có dung lượng thời gian từ hơn 1 đơn vị học trình đến dưới

3 đơn vị học trình thì có 2 bài kiểm tra định kỳ Các bài kiểm tra định kỳ thường bao gồm (10 – 15)câu hỏi trắc nghiệm khách quan, chủ yếu là câu trắc nghiệm đa phương án, người học làm bài trong (20 – 30)phút Mỗi bài kiểm tra định kỳ có 1 điểm kiểm tra định kỳ theo thang điểm 10, lấy điểm cách biệt một đơn vị Điểm số trung bình của các điểm kiểm tra định kì chiếm tỷ trọng 30% trong điểm tổng kết môn học

1.8.2 Kiểm tra đánh giá kết thúc

Được thực hiện vào cuối phần học lí thuyết hoặc phần học thực hành và cuối khoá học

Dựa vào mục tiêu học tập của phần học lí thuyết, phần học thực hành

và mục tiêu đào tạo của toàn khoá

Phải kiểm định được toàn bộ mục tiêu đã đặt ra, phản ánh đúng năng lực thực sự của người học

KTĐG kết thúc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cả về mặt lí luận dạy học và mặt quản lí đào tạo, nó thường quyết định đối với việc cấp văn bằng chứng chỉ

a Bài thi hết môn

Mỗi môn học có dung lượng 2 đơn vị học trình trở nên sẽ có một bài thi hết môn, gọi là môn thi Bài thi hết môn còn được gọi là bài thi lý thuyết Với môn học ít hơn 2 đơn vị học trình không có bài thi hết môn mà chỉ cần có 1 -2 bài kiểm tra định kỳ, gọi là môn kiểm tra Bài thi hết môn có các câu trắc nghiệm khách quan, mỗi câu làm trong 1,5 phút và các câu tự luận, mỗi câu

Trang 30

làm trong 15 phút, số lượng câu tuỳ theo dung lượng thời gian của môn học (mỗi đơn vị học trình có 10 câu trắc nghiệm khách quan và một câu tự luận) Thời gian làm bài thi hết môn tối đa là 120 phút Mỗi bài thi hết môn có 1 điểm thi hết môn theo thang điểm 10, lấy điểm cách biệt một đơn vị Điểm thi hết môn chiếm tỷ trọng 70% trong điểm kết thúc môn học

b Bài thi tốt nghiệp khoá học

Mỗi bài thi tốt nghiệp khoá học có hai phần: Phần lý thuyết và phần thực hành

Phần lý thuyết có các câu trắc nghiệm khách quan, mỗi câu làm trong 1,5 phút và câu tự luận, mỗi câu làm trong 15 phút Phần thi lý thuyết thực hiện trong 120 phút Phần thi lý thuyết có điểm lý thuyết được đánh gía theo thang điểm 10, lấy điểm cách biệt 1 đơn vị Điểm lý thuyết của từng người học được ghi riêng vào một bảng điểm thi kết thúc lý thuyết

Phần thi thực hành tốt nghiệp được thực hiện trong thời gian quy định theo công việc cụ thể được giao Phần thi thực hành được đánh giá theo bảng kiểm tra đánh gía quy trình hoặc thang đánh giá theo sản phẩm hoặc thang đánh giá sự thực hiện Kết quả phần thi thực hành được ghi vào phiếu đánh giá thi tốt nghiệp thực hành

Để đánh giá, xếp hạng người học tốt nghiệp ra trường cần có một bảng điểm tốt nghiệp thi lý thuyết và các danh mục các năng lực thực hiện đã hoàn thành đối với từng người học

1.8.3 Kiểm tra đánh giá đối chiếu hay theo chuẩn tương đối

Đây là loại hình kiểm tra có tính chất tương đối, chủ yếu là so sánh kết quả học tập giữa các người học với nhau Loại hình này phù hợp với việc thi tuyển, lựa chọn một số lượng nhất định những người tốt nhất trong số người

dự thi

1.8.4 Kiểm tra đánh giá theo tiêu chí

Trang 31

Đây là loại hình kiểm tra đánh giá nhằm đánh giá kết quả học tập của từng người học đạt được thực tế so với các tiêu chí đề ra Dù người học chỉ không đạt một tiêu chí nào đó thôi thì người đó vẫn phải học lại bài, môn học, môđun đó để kiểm tra lại

1.9 Các công cụ và phương pháp kiểm tra, đánh giá

a Yêu cầu đối với các công cụ kiểm tra đánh giá

- Không bỏ sót một khía cạnh quan trọng nào trong kiểm tra đánh giá

- Có sự nhất quán trong nội dung và PP KTĐG đối với các người học, người dự thi khác nhau

- Đảm bảo được độ tin cậy, độ giá trị và tính công bằng trong KTĐG

b Các loại công cụ kiểm tra đánh giá

- Các văn bản, tư liệu lập kế hoạch

- Các PP KTĐG kết quả học tập : các câu hỏi, bài tập, các tình huống kiểm tra, các bảng điểm để thu thập chứng cứ,

- Các sổ lộ trình công việc, các phiếu quy trình công nghệ,

- Các báo cáo của người dạy, người học, người giám sát, KTĐG của cơ

sở đào tạo,

- Các bản hướng dẫn của người kiểm tra, đánh giá,

- Kết hợp các công cụ trên đây để cung cấp đủ chứng cứ cho việc đưa

Trang 32

- Hướng dẫn chính xác, đơn giản

- Không gây nhầm lẫn trong bất kì trường hợp nào

* Về các tiêu chí, dấu hiệu:

- Chứng cứ chấp nhận được đều có liên quan đến các tiêu chí đã đề ra

- Phải giải thích rõ có thể đạt được năng lực thực hiện như thế nào

- Bao quát được các phương pháp thu thập tất cả các chứng cứ đã dự định

1.9.2 Các phương pháp kiểm tra, đánh giá KQHT

Trên cơ sở lí luận về kiểm tra đánh giá, có thể đánh giá kết quả học tập của học sinh thông qua 3 nhóm phương pháp chính là quan sát, viết và vấn đáp (hình 2)

Nhóm 1 Kiểm tra đánh giá bằng quan sát

Thông qua việc quan sát GV có thể kiểm tra các hành động, lời nói, thái độ của học sinh và ghi chép để lấy tư liệu đánh giá

Trong nhóm PP này có thể tách ra hai nhóm nhỏ:

- Quan sát thường xuyên: giáo viên quan sát, theo dõi quá trình học tập,

hoạt động của học sinh trong một giai đoạn nhất định Mọi thông tin được ghi vào nhật kí hoặc phiếu (bảng) kê để lấy tư liệu đánh giá

- Quan sát sự trình diễn của HS: GV quan sát, theo dõi HS trình diễn về một chủ đề nhất định trong khoảng thời gian ngắn nhất định Các thông tin có thể ghi vào bảng kê hoặc được giáo viên ghi nhớ và xử lí ngay trong quá trình quan sát Sau đó GV tổng hợp các thông tin và đưa ra quyết định để đánh giá

Nhóm 2 Kiểm tra đánh giá viết

HS thể hiện trình độ kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo trên bài viết theo những vấn đề do GV đưa ra Thực hiện bài làm trên dưới sự giám sát của GV trong khoảng thời gian nhất định hoặc làm ở nhà với khoảng thời gian khá dài PP này có thể kiểm tra đồng loạt nhiều học sinh trong khoảng thời gian hạn chế nhất định

Trang 33

Trong nhóm PP này lại có 2 cách phân nhóm như sau:

* Theo hình thức:

- Kiểm tra viết trên lớp: HS làm bài kiểm tra dưới sự giám sát của GV, thời gian làm bài có thể la 15, 45, 60, 90, 120 hoặc 180 phút, dạng bài làm có thể là trắc nghiệm khách quan hoặc trắc nghiệm tự luận

- Kiểm tra viết ở nhà : HS tự lực làm bài ở nhà, thời gian khá dài, dạng bài chủ yếu là trắc nghiệm tự luận

- HS tự đánh giá: Là phương pháp HS tự nhận xét, đánh giá bản thân theo những tiêu chí nhất định do GV hoặc các cấp quản lí đề ra PP này dùng trong đánh giá đạo đức, đánh giá tinh thần thái độ học tập, tu dưỡng của học sinh

* Theo tích chất của bài viết và sự đánh giá:

- Trắc nghiệm tự luận: HS tự diễn đạt vấn đề, việc đánh giá có phụ thuộc vào chủ quan người chấm Nhóm này lại phân ra 3 loại : Bài viết, bài tiểu luận, bài luận văn

- Trắc nghiệm khách quan: HS chủ yếu đánh dấu vào các chỗ cần lựa chọn hoặc điền từ vào chỗ trống việc đánh giá này khá khách quan, phụ thuộc vào đáp án đã được xây dựng Trong nhóm này lại chia ra làm 4 loại : Nhiều lựa chọn, đúng sai, ghép đôi và điền khuyết

Nhóm 3 Kiểm tra đánh giá vấn đáp

Trong việc kiểm tra vấn đáp HS trả lời câu hỏi của GV, theo PP kiểm tra miệng, thông qua quá trình hỏi đáp GV có thể đánh giá khả năng ghi nhớ, lập luận, diễn đạt, trình độ tư duy của HS PP này có hạn chế là mỗi lần chỉ kiểm tra được 1 HS nên khó áp dụng với các lớp nhiều học sinh

1.10 Các biện pháp có tính chiến lược trong kiểm tra đánh giá KQHT của học sinh - sinh viên

Trang 34

Những biện pháp dưới dây nêu ra nhằm khắc phục và hạn chế một số những nhược điểm trong việc KTĐG như: Kiểm tra không đúng giá trị, không

đủ độ tin cậy, chưa đáp ứng những nhu cầu của xã hội vì còn thiếu khách quan, chưa được công bằng và không thật phù hợp

a Thông báo mục đích, yêu cầu các tiêu chuẩn cho điểm, tiêu chuẩn đánh giá, thời gian kiểm tra cho tất cả các thầy giáo và HS biết khi bắt đầu kỳ học hoặc khoá học

- Điểm kiểm tra nào do bộ môn, khoa trường quản lí Mục đích kiểm tra là gì? Mục đích ấy đem lại lợi ích cho HS như thế nào? Nó quan trọng đối với công tác quản lí của bộ môn, khoa và nhà trường như thế nào?

- Các biện pháp cụ thể để cho học sinh đạt kết quả cao trong các kỳ kiểm tra đó là gì? Việc kiểm tra đánh giá công sức học tập của HS để đem đến một kết quả gì? (hiểu biết của HS hay quản lí chất lượng)

- Các hình thức kiểm tra

- Các hình thức có thể thay thế

- Những người đạt yêu cầu gì thì được miễn

b Máy tính hoá việc chấm bài kiểm tra khách quan, để đạt được sự đánh giá đúng giá trị, đủ tin cậy, chặt chẽ và khách quan, phù hợp, bảo quản điểm số, giữ kết quả bí mật nhằm tạo cho HS sự cạnh tranh nhau về nhận thức, hiểu biết chứ không cạnh tranh nhau về điểm số

Khuyến nghị các tổ bộ môn, các giáo viên có kinh nghiệm, có điều kiện thì thành lập ngân hàng các câu hỏi kiểm tra cho bộ môn hoặc cho cá nhân mình

Trang 35

Mỗi môn học nên xây dựng đề cương hướng dẫn “danh mục kiểm tra”; hướng dẫn “cách làm bài kiểm tra” để giúp HS đạt các yêu cầu về giá trị nội

dung, hiểu về cấu trúc câu hỏi kiểm tra thể hiện trình độ của mình, để đạt độ tin cậy cao trong các kỳ kiểm tra

c Xây dựng các đề cương để nhận xét về kết quả của bài làm cho HS

+ Tập trung nhận xét hai, ba sai sót lớn

+ Tính quan trọng của từng sai sót, những khuyết điểm về nội dung, những thiếu sót về hình thức

+ Những nhận xét cần phải được các nhóm HS học tập trao đổi và phân tích

+ Những đề cương này cần được thống nhất và tiến hành như nhau ở mọi thành viên trong bộ môn

+ Có những bài tập chỉ đánh giá đạt, chưa đạt Những bài chưa đạt, HS sửa chữa làm lại và chấm lại đến khi đạt

+ Có những môn học chỉ phân loại (A,B, C, D ) mà không cho điểm + Cải tiến cho điểm, đánh giá thường xuyên và đánh giá cuối cùng

d Lập sơ đồ chấm điểm thể hiện đặc trưng biết, hiểu, nắm vững, vận dụng, vận dụng sáng tạo, phân tích, tổng hợp, đánh giá, phê phán, tìm nguyên nhân, nêu ra biện pháp và tổ chức thực hiện; những đề mục này có giá trị bao nhiêu điểm

Nếu đánh giá qua điểm số mà cổ vũ học tập của HS, không gây tiêu cực, buồn chán thì đánh giá đó được thừa nhận là PP giảng dạy tích cực

Nếu sự đánh gía nhằm mang lại lợi ích học tập (lấy hiểu biết làm chính) thì GV thảo luận với HS khi đã cho điểm

e ở những năm cuối cần tăng cường các đồ án môn học, các chuyên đề khảo nghiệm thực tiễn nhằm chỉ ra khả năng và tiềm lực của HS, nhất là chỉ ra

Trang 36

những HS xuất sắc để họ tự trau dồi, phát triển khả năng nghề nghiệp và gợi ý cho cơ quan có thể dùng họ trong tương lai

Tạo cho HS tự lựa chọn nhóm làm việc, thiết kế sơ đồ giúp họ tự đánh giá đồ án, chuyên đề của mình và của bạn bè

1.11 Các biện pháp đề phòng và chống gian lận trong kiểm tra

Các biện pháp dưới đây nhằm khắc phục phần nào sự gian lận trong quá trình thi, kiểm tra

- Thống nhất các quy tắc triển khai một kì kiểm tra từ khoa, bộ môn, giáo viên để có sự xử lý như nhau trong mọi trường hợp

- Có các bài hướng dẫn kiểm tra rõ ràng, đầy đủ để chuẩn bị cho HS đạt một kỳ kiểm tra, tránh cho học sinh vi phạm kỷ luật, phát triển tư duy độc lập

và tự trọng Vì một lí do nào đó HS không chuẩn bị kỹ sẽ mất cơ hội thể hiện khả năng của mình

- Các bộ môn và giáo viên phải có đầy đủ các dự kiến những khả năng gian lận trong các kỳ kiểm tra, trong các bài kiểm tra của môn học hoặc kỳ thi

do mình đề xuất ở đó nêu ra các biện pháp và các ứng xử sẵn sàng đối với những dự kiến đã có để giải quyết và xử lí nhanh

- Gặp một khẳng định có tính linh cảm về gian lận thì đòi hỏi người chấm phải đọc nhiều lần để phân biệt giữa sự sao chép và sự độc đáo trong bài làm của HS

- Tăng cường kiểm tra khách quan là một biện pháp phòng chống gian lận tốt nhất

1.12 kiểm tra đánh giá kỹ năng thực hành

1.12.1 Các thành phần trong đánh giá kỹ năng thực hành

Đánh giá kỹ năng thực hành nhằm đánh giá khả năng thực hành, thực

hiện công việc, bao gồm hai loại chính, đó là:

Trang 37

- Kỹ năng thực hành (tâm vận): Ví dụ: Sử dụng máy móc, dụng cụ; Xây

tường; Sửa chữa cửa xe ôtô; v.v liên quan đến thao tác, động tác lao động chân tay

- Kỹ năng trí tuệ: Ví dụ: Tìm lỗi; Giải quyết vấn đề; Xử lý trong giao

tiếp; v.v liên quan đến các thao tác trí tuệ

Việc đánh giá kỹ năng thực hành phụ thuộc vào mục tiêu cụ thể cần đạt được theo các khía cạnh khác nhau: quy trình thực hiện công việc, sản phẩm làm ra, thời gian thực hiện (năng suất), an toàn, thái độ liên quan, Thông

thường, người ta đánh giá kỹ năng thông qua đánh giá việc thực hiện quy trình,

đánh giá sản phẩm hoặc cả hai Điều quan trọng là lựa chọn đúng công cụ đánh giá nào đo được một cách hiệu quả kết quả thực hiện kỹ năng đó

1.12.2 Đánh giá quy trình thực hiện:

Đó là đánh giá sự tuân thủ đúng quy trình công nghệ, sự chuẩn xác của từng bước trong quy trình thực hiện công việc, v.v

Đánh giá quy trình được thực hiện khi:

- Cần biết người học có thể sử dụng dụng cụ hoặc thiết bị một cách hợp lý hay không

- Thời gian để thực hiện công việc là quan trọng

- Có những nguy hiểm về sức khoẻ và an toàn trong quá trình thực hiện công việc

- Nếu quy trình được thực hiện sai hoặc không hợp lý sẽ có thể dẫn đến những sai sót về mặt chuyên môn, công nghệ hoặc gây ra tốn kém về nguyên, nhiên, vật liệu

Người ta thường dùng phương pháp quan sát và công cụ Bảng kiểm (Checklists) để đánh giá quy trình Bảng kiểm được lựa chọn trong các mẫu

Trang 38

định dạng dưới đây phù hợp với tình huống cụ thể để đánh giá thông qua việc

quan sát quy trình, quá trình thực hiện công việc ( Bảng2)

1.12.3 Đánh giá sản phẩm:

Khái niệm sản phẩm được định nghĩa là vật thể được tạo ra hoặc dịch

vụ được cung cấp hoặc một quyết định được đưa ra sau khi thực hiện một công việc Sản phẩm có thể là một đồ vật có thể nhìn thấy, thức ăn có thể nếm

và ngửi thấy, vải vóc có thể cảm nhận được, âm nhạc có thể nghe thấy Sản phẩm cũng có thể là một dịch vụ, ví dụ: Bác sĩ khám cho người bệnh, thợ sửa chữa xe máy kiểm tra xe máy của khách hàng ở đây không có sản phẩm cụ thể mà chỉ có dịch vụ được thực hiện Đánh giá sản phẩm liên quan đến các vấn đề về chất lượng của sản phẩm (kỹ thuật, thẩm mỹ, )về số lượng sản

phẩm hoặc thời gian làm ra sản phẩm (năng suất), v.v

Đánh giá sản phẩm được thực hiện khi:

- Sản phẩm của công việc là quan trọng hơn quy trình thực hiện

- Có nhiều hơn một quy trình để làm ra sản phẩm mong muốn

- Quy trình khó quan sát được để đánh giá

Người ta thường dùng các Thang điểm hay Thang đánh giá (Rating Scales) với hai mẫu định dạng chủ yếu dưới đây với 5 mức độ (Bảng 3):

Hiện nay, trong quá trình đào tạo, người ta thường sử dụng bảng phân loại mục tiêu giáo dục (dạy học) cho lĩnh vực kỹ năng thể chất tâm vận (Psychomotor Domain), gồm có 5 mức độ từ thấp lên cao (bảng 4) để đánh giá kỹ năng một cách thường xuyên

Mức độ yêu cầu người học làm được cũng từ đơn giản nhất bắt chước được đến làm đúng, chuẩn xác rồi đến làm nhanh và thành thạo

Trang 39

Việc đánh giá kỹ năng phụ thuộc vào mục tiêu cu thể cần đạt được theo các khía cạnh khác nhau: quy trình thực hiện công việc, sản phẩm làm ra, thời gian thược hiện (năng suất), an toàn, thái độ liên quan, Thông thường, người

ta đánh giá kỹ năng thông qua việc đánh giá việc thực hiện quy trình, đánh giá sản phẩm hoặc cả hai Điều quan trọng là lựa chọn đúng công cụ đánh giá nào

đo được một cách hiệu quả kết quả thực hiện kỹ năng đó

1.12.4 Đánh giá sự thực hiện công việc tổng hợp nhiều khía cạnh (NLTH)

Để đánh giá kỹ năng nghề nhằm cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia,

người ta cần phải đánh giá sự thực hiện công việc (task performance) theo

thang đo sự thực hiện (Performance Raiting Scale - PRS) (bảng5) Thang đo

sự thực hiện PRS xác định 7 cấp độ NLTH, trải từ cấp 0 của một người chưa biết nghề, qua tập nghề/giúp việc đến giám sát viên có kỹ năng cao, đến cấp

độ 6 của người thực hiện được công việc/NLTH với tốc độ và chất lượng cao,

1.12.5 Đánh giá các mặt trong an toàn lao động, sự hợp tác trong nhóm

Việc đánh giá các mặt này là khó và phức tạp, chủ yếu thông qua quan sát, giám sát thường xuyên và ở nhiều thời điểm khác nhau

1.12.6 Đánh giá thái độ

Đánh giá thái độ nhằm xem xét người học đã có cách ứng xử, cách biểu

lộ tình cảm, cách bộc lộ những phẩm chất nhân cách như thế nào trước một sự kiện, hiện tượng, trước công việc, trướ dồng nghiệp,

Đánh giá thái độ là khó nhất vì điều mà GV biết được chỉ là “phần nổi của tảng băng” Còn “ giá trị thực” của người học thì được xác định một cách chính xác không chỉ qua vài lần kiểm tra đánh giá mà phải qua cả quá trình tương đối lâu dài Vì vậy, GV cần kết hợp việc theo dõi, giám sát người học

Trang 40

một cách thường xuyên với lượng giá thông qua những đợt đánh giá định kỳ hay cuối khoá

Việc xác định mục tiêu dạy học về thái đọ cũng được nhiều người tiến hành dựa vào Bloom, theo đó có 5 mức độ (theo hướng tích cực) (bảng6) dưới đây

Như trên đã đề cập, việc đánh giá thái độ của con người nói chung, của người học nói riêng, là khó nhất, phức tạp nhất Thậm chí, có nhiều biểu hiện thái độ không nhất quán ở cùng một người Việc lượng hoá mục tiêu giáo dục thái độ cũng như xác định các chứng cứ để đánh giá thái độ là vấn đề hết sức phức tạp, là rất tương đối Điều đó đòi hỏi phải có nhiều người tham gia đánh giá thái độ thông qua giao tiếp, quan sát, giao việc, giám sát thường xuyên và

ở nhiều thời điểm khác nhau

Ngày đăng: 24/02/2021, 11:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Danh ánh (1996), Đề cương bài giảng tâm lý học giáo dục nghề nghiệp, Viện nghiên cứu đào tạo và tư vấn khoa học công nghệ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề cương bài giảng tâm lý học giáo dục nghề nghiệp
Tác giả: Đặng Danh ánh
Năm: 1996
2. Lương Duyên Bình (2005), Bài giảng lý luận dạy học, Khoa sư phạm Kỹ thuật, Trường Đại học Bách Khoa Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng lý luận dạy học
Tác giả: Lương Duyên Bình
Năm: 2005
3. Nguy ễn Khang (2006), Bài giảng môn: ”Nghiên cứu xã hội và khoa học giáo dục”, Khoa sư phạm Kỹ thuật, Trường Đại học Bách Khoa Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng môn: ”Nghiên cứu xã hội và khoa học giáo dục”
Tác giả: Nguy ễn Khang
Năm: 2006
4. Nguyễn Xuân Lạc, Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Khoa sư phạm Kỹ thuật, Trường Đại học Bách Khoa Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
5. Lê Thanh Nhu (2004), Bài giảng phương pháp giảng dạy các môn chuyên ngành, Khoa sư phạm Kỹ thuật, Trường Đại học Bách Khoa Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng phương pháp giảng dạy các môn chuyên ngành
Tác giả: Lê Thanh Nhu
Năm: 2004
6. Trần Văn Ngời (2006),VTCB một mô hình đào tạo và cấp chứng chỉ mới ở Việt nam, Trường Cao đẳng Du lịch, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: VTCB một mô hình đào tạo và cấp chứng chỉ mới ở Việt nam
Tác giả: Trần Văn Ngời
Năm: 2006
7. Phan Văn Ngọ (2005) , Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường, NXB Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm Hà Nội
8. Dương Thiệu Tống (2005), Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập, ĐHTH thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập
Tác giả: Dương Thiệu Tống
Năm: 2005
9. Lâm Quang Thiệp (1992), Đề án cải tiến phương pháp đánh giá kiến thức, kỹ năng của sinh viên Đại học và Cao đẳng, Bộ GD & ĐT, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề án cải tiến phương pháp đánh giá kiến thức, kỹ năng của sinh viên Đại học và Cao đẳng
Tác giả: Lâm Quang Thiệp
Năm: 1992
10. Nguyễn Đức Trí, (2006), Tài liệu tập huấn quy trình và phương pháp biên soạn ngân hàng câu hỏi và bài thi thực hành, Dự án giáo dục kĩ thuật dạy nghề, Bộ lao động thương binh và xã hội, Tổng cục dạy nghề Sách, tạp chí
Tiêu đề: ài liệu tập huấn quy trình và phương pháp biên soạn ngân hàng câu hỏi và bài thi thực hành
Tác giả: Nguyễn Đức Trí
Năm: 2006
11. Nguyễn Đức Trí, (2007), Xây dựng ngân hàng câu hỏi và đề thi chứng chỉ quốc gia, Dự án giáo dục kĩ thuật dạy nghề, Bộ lao động thương binh và xã hội, Tổng cục dạy nghề Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng ngân hàng câu hỏi và đề thi chứng chỉ quốc gia
Tác giả: Nguyễn Đức Trí
Năm: 2007
12. Dự án GDKT&DN(2003), Bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề Điện tử Dân dụng, Bộ lao động thương binh và xã hội, Tổng cục dạy nghề Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề Điện tử Dân dụng
Tác giả: Dự án GDKT&DN
Năm: 2003
13. Dự án GDKT&DN, Kiểm tra và đánh giá chất lượng học tập của học sinh, Tài liệu bồi dưỡng phương pháp dạy học - đào tạo nhân rộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm tra và đánh giá chất lượng học tập của học sinh
14. Dự án tăng cường các trung tâm dạy nghề, Bộ hướng dẫn chương trình đào tạo nghề theo Môđun - Môđun 5, Tổng cục dạy nghề Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ hướng dẫn chương trình đào tạo nghề theo Môđun - Môđun 5
15. Hội thảo phương pháp đánh giá kỹ năng nghề năm 2007, Tài liệu đào tạo kỹ năng nghề hoàn thiện , JAVADA (Japan Vocational Abikity Development Association) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu đào tạo kỹ năng nghề hoàn thiện
16. Chương trình hội thảo kiểm định và đánh giá chất lượng ABET , Tập đoàn Boeing và Đại học bách khoa Hà nội tổ chức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình hội thảo kiểm định và đánh giá chất lượng ABET

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w