Miền Tây Nam Bộ những thế kỷ đầu Công nguyên là vùng đồng bằng thấp, sình lầy, nhiều tháng trong năm bị ngập nước và có hệ thống sông ngòi dày đặc. Để thích ứng với điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt đó, người dân Óc Eo bằng nhiều hình thức đã tìm cách khắc phục, đặc biệt là trong lĩnh vực đi lại. Họ đã lợi dụng địa hình sông rạch tự nhiên để khai thông nhiều đường nước, xây dựng hệ thống thủy lợi dài hàng trăm kilomet
Trang 1Số 23 - Tháng 3 - 2018
DI SẢN VĂN HÓA
NGHIÊN CỨU
GIAO THÔNG CỦA CƯ DÂN ÓC EO TRONG NHỮNG THẾ KỶ ĐẦU CÔNG NGUYÊN
NGUYỄN THỊ SONG THƯƠNG
Tóm tắt
Miền Tây Nam Bộ những thế kỷ đầu Công nguyên là vùng đồng bằng thấp, sình lầy, nhiều tháng trong năm bị ngập nước và có hệ thống sông ngòi dày đặc Để thích ứng với điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt đó, người dân Óc Eo bằng nhiều hình thức đã tìm cách khắc phục, đặc biệt là trong lĩnh vực đi lại Họ đã lợi dụng địa hình sông rạch tự nhiên để khai thông nhiều đường nước, xây dựng hệ thống thuỷ lợi dài hàng trăm kilomet Chính hệ thống thuỷ lợi đã giúp cư dân nơi đây có được hệ thống giao thông đường thuỷ phát triển, điều kiện thuỷ văn và môi trường sinh thái được khắc phục, đáp ứng nhu cầu nước ngọt cho nhân dân.
Từ khóa: Cư dân Óc Eo, giao thông, Tây Nam Bộ
Abstract
The South-western region in the first century BC was low plains, marshy, months of inundation and
a system of dense rivers To adapt to the harsh natural conditions, the Oc Eo people, in many forms, have sought to overcome especially in the field of travel They have taken advantage of the natural canal terrain to open more waterways, build irrigation systems with hundreds kilometers of length The irrigation system has helped the people here to have developed water transportation system, hydrological and ecological environment condition has been improved to meet the needs of fresh water for the people.
Keywords: Oc Eo inhabitants, traffic, South-western region
Vào những thế kỷ đầu Công nguyên,
cư dân Óc Eo phân bố trên địa bàn
rộng lớn ở vùng đồng bằng Nam Bộ
với nhiều địa hình khác nhau, từ vùng cao đến
vùng thấp trũng với nhiều sông rạch, ven biển
Các cộng đồng cư dân văn hóa Óc Eo có mối
liên hệ mật thiết với nhau bằng đường sông,
đường biển và đường bộ với các phương tiện
là thuyền bè và gia súc: voi, ngựa, trâu, bò
Về đường thuỷ: Nếu cư dân Đông Sơn sống
theo làng xóm trên các vùng đất cao ráo, vùng
phù sa, thì cư dân Óc Eo chủ yếu sống dọc
theo các kênh rạch, sông ngòi Các con kênh
là những đại lộ nối liền các vùng với nhau, tạo
thành mạng lưới giao thông chằng chịt trên toàn vùng châu thổ sông Cửu Long Cư dân Óc
Eo đã thích ứng, biến những hạn chế của vùng sông nước thành thế mạnh của mình để tồn tại, phát triển và tạo nên một sắc thái văn hóa riêng biệt Dấu ấn của văn hóa sông nước thể hiện rất rõ nét trong đặc trưng văn hóa của cư dân Óc Eo ở miền Tây Nam Bộ (TNB)
Theo tài liệu khảo cổ, ở miền TNB đã tìm thấy dấu vết của những kênh đào cổ tỏa rộng trên vùng đồng bằng, nối liền các di tích khảo
cổ Óc Eo với nhau Trong đó, những con kênh ở
Óc Eo, Tà Keo, Đá Nổi và Định Mỹ có vai trò đặc biệt quan trọng đối với toàn vùng Bởi lẽ, Óc
DI SẢN VĂN HÓA
Trang 2Số 23 - Tháng 3 - 2018
14
NGHIÊN CỨU
Eo nguyên là một thành phố rộng lớn, xưa kia
là nơi tiếp giáp các đường lớn trong việc trao
đổi hàng hoá và còn là một hải cảng quốc tế
quan trọng của vương quốc Phù Nam Thành
phố này được nối liền với Núi Sập và Định
Mỹ bởi hai con kênh số 19 và 20, rồi thông ra
biển bằng con kênh số 16 Con kênh này (số
16) kéo dài lên Mắc-cần-dưng và sông Bassac
(sông Hậu) Thành phố còn liên lạc với Ankor
Borei bằng con kênh số 4 và nối thông với Đá
Nổi Trước đây, con kênh số 4 kéo dài lên tận
vùng Giồng Đá, nhằm theo một hướng Trăm
Đường (3, tr 178 - 179) Những kênh đào này
không chỉ phục vụ nhu cầu thuỷ lợi tưới tiêu
cho nông nghiệp mà còn là một hệ thống giao
thông đường thuỷ rộng lớn phục vụ cho việc
giao lưu, buôn bán giữa các vùng và các nước
trong khu vực Từ vùng Óc Eo - Ba Thê, có thể
cho thuyền chạy dọc các con kênh đến các nơi
trong khu vực, thậm chí lên đến vùng Thành
phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai (tên gọi theo địa
giới hành chính hiện nay)…
Bên cạnh dấu tích của các con kênh còn
có vết tích thuyền cổ ở nhiều nơi trên vùng
TNB như: Nền Chùa, Cạnh Đền (Kiên Giang);
Nhơn Trạch (Cầm Thơ), Bến Tre, Óc Eo - Ba Thê
(An Giang) Trong đó, chiếc thuyền được phát
hiện ở xã Nhơn Trạch, huyện Phong Điền, Cần
Thơ là thuyền độc mộc có độ dài tối thiểu là
5,4m, có những thanh ngang để cho người
đi thuyền ngồi lên, còn khá nguyên vẹn Qua
kết quả phân tích C14 cho thấy, chiếc thuyền
này có niên đại vào khoảng thế kỷ IV - V SCN
Hay tại địa điểm Xoa Ảo, huyện Kiến Lương,
tỉnh Kiên Giang, Phan Thanh Toàn và các đồng
nghiệp ở Bảo tàng Kiên Giang đã phát hiện
phần mũi của một chiếc thuyền bằng gỗ, đầu
mũi thuyền có xích và neo sắt, trong thuyền
tìm thấy khá nhiều gốm Óc Eo Do chưa khai
quật nên di tích tạm thời lấp lại (7, tr 706 -
708) Cũng ở Kiên Giang (Giàn Gừa, huyện
Kiên Lương, Kiên Giang) các nhà khảo cổ đã
phát hiện được một số dấu tích thuyền Một
số dấu tích thuyền cũng được phát hiện ở Bến
Tre, trong đó, chiếc được phát hiện ở xã Tiên
Thuỷ - huyện Châu Thành, Bến Tre với chiều
dài 8,65m, rộng 64-67cm, cao 28-30cm, thành
dày 5cm, thuộc kiểu thuyền độc mộc giống với
thuyền đã phát hiện ở Cần Thơ và nhiều mảnh thuyền độc mộc khác cũng đã được phát hiện
ở Đồng Tháp và Đá Nổi (An Giang) Thuyền độc mộc là phương tiện khá phổ biến của cư dân
cổ đại ở các nước Đông Nam Á, có thể cũng đã phổ biến trong đời sống cư dân Óc Eo ở vùng ĐBSCL những thế kỷ đầu Công nguyên
Dấu tích thuyền còn được thể hiện qua một con dấu khắc hình thuyền có cột buồm và cờ gió, được phát hiện tại khu di tích Nền Chùa (Kiên Giang) Có thể là những con thuyền như thế này đã được các thương nhân sử dụng để buôn bán với các nước, lưu thông trên biển xa Ngoài ra, trong văn hóa Óc Eo đã phát hiện hàng loạt các di chỉ kiến trúc và mộ táng xây bằng vật liệu nặng với hàng chục, hàng trăm khối đá, gạch, cát, nằm giữa vùng trũng thấp hay dọc theo những đường nước cổ Để xây dựng chúng, những vật liệu xây dựng chỉ có thể đã được vận chuyển bằng thuyền, bè trên các con kênh mà cư dân nơi đây đã đào Như vậy, những phát hiện này là bằng chứng cụ thể, bổ sung cho những ghi chép
mà thư tịch cổ Trung Hoa từng nói đến việc
“thuyền họ đóng dài tới 8, 9 trượng, lòng thuyền rộng 6, 7 thước, đầu và đuôi giống
hình con cá” (Nam Tề Thư) hay việc nhà vua
Phù Nam (Phạm Man) đóng thuyền to vượt biển lớn đánh chiếm hơn 10 nước phiên thuộc
(Lương Thư) (6, tr 171 - 274).
Qua những phân tích trên có thể thấy, thuyền có vai trò rất quan trọng trong đời sống của cư dân Óc Eo Nó không chỉ là phương tiện
để lưu thông, buôn bán mà có thể còn dùng trong chiến tranh bảo vệ lãnh thổ cũng như đi chinh phục các nước Từ đó có thể đoán định, trong thời đại Óc Eo, giao thông vận chuyển bằng đường sông và đường biển khá sôi động, đóng vai trò quan trọng trong việc giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các vùng
Như vậy, có thể thấy rằng, cư dân Óc Eo là những nhà trị thuỷ giỏi Họ đã biết khai thông
và đào những đường nước phục vụ cho giao thông và thoát nước trong mùa ngập úng, điều tiết thuỷ lợi cho hoạt động nông nghiệp; biết nắm bắt và hiểu sâu rộng về điều kiện tự nhiên Điều này đã tạo nên mối quan hệ hài hoà giữa con người và môi trường sống Đó
Trang 3Số 23 - Tháng 3 - 2018
DI SẢN VĂN HÓA
NGHIÊN CỨU
là thái độ tôn trọng, thích ứng và khắc phục
những bất cập của tự nhiên, biến nó thành
những lợi thế của vùng đồng bằng sông nước
Cửu Long; là biểu hiện của thái độ ứng xử khôn
ngoan giữa con người với môi trường sống
Về đường bộ: Cư dân Óc Eo chủ yếu sống
dọc các con kênh rạch, phương tiện vận
chuyển chủ yếu là thuyền bè Bên cạnh đó,
để vận chuyển các loại hàng hoá trên địa
hình cao, bằng phẳng, rất có thể người Óc Eo
đã sử dụng sức kéo của nhiều loại động vật
khác nhau như: voi, ngựa, trâu, bò Điều này
đã được chứng minh qua việc tìm thấy nhiều
xương, răng của các loại động vật này trong
các di chỉ cư trú và nhiều khắc hoạ hình các
con voi, ngựa, trâu, bò cùng với nhiều hình
bánh xe trên các lá vàng chôn trong các ngôi
mộ (1, tr 127) hay đền tháp Trong các loại
động vật này, loài voi được coi là phương tiện
giao thông quan trọng nhất trên đường bộ
Theo các thư tịch cổ Trung Hoa “Nhà vua đi ra
ngoài thì cưỡi voi, đàn bà cũng cưỡi voi” (Nam
Tề Thư, Lương Thư) Voi còn được dùng trong
vận chuyển tải vật trên các vùng địa hình phức
tạp, dùng trong chiến tranh (Tân Đường Thư)
(2, tr 152) Nó là phương tiện hữu hiệu nhất
trong việc di chuyển chiến lược trên các vùng
rừng rậm, đồi núi
Bên cạnh đó, ngựa và trâu, bò cũng được
nuôi để sử dụng trong việc vận chuyển trên
đường bộ Có thể, cư dân Óc Eo đã sử dụng
các loại xe cộ để chuyên chở hàng hoá Điều
này được chứng minh khi các nhà khảo cổ học
đã phát hiện một trục bánh xe bằng gỗ lớn tại
Long An, giống như phương tiện vận chuyển
cổ truyền (xe trâu, xe bò, cộ trâu…) của người
Khmer hiện nay đang sử dụng Hay một bánh
xe bằng đá được phát hiện ở di tích Óc Eo và
nhiều bánh xe khắc trên vàng khác cũng được
tìm thấy trong các di tích Óc Eo Tuy nhiên,
bánh xe này có thể không phải dùng trong vận
chuyển mà nó có tính chất tôn giáo nhiều hơn
Đặc biệt, trong một minh văn ở Đá Nổi (An
Giang) đã ghi lại việc cư dân Óc Eo làm các
con đường để thuận tiện trong việc đi lại giao
bang với các nước như Champa (2, tr 152-153)
Như vậy, có thể nói rằng, xã hội Óc Eo đã
rất phát triển Họ đã đạt được nhiều thành tựu
trong việc cải tạo điều kiện sống, xây dựng cơ
sở vật chất phục vụ cho nhu cầu cuộc sống ngày một phát triển Họ không chỉ biết làm thuyền để đi trên sông, trên biển; đào các con kênh dài hàng trăm km để đi lại và phục vụ tưới tiêu mà còn biết làm đường ở những nơi khô ráo để đi lại, trao đổi và giao lưu với các nước
N.T.S.T
(TS., Trường Đại học Đồng Tháp)
Tài liệu tham khảo
1 Đào Linh Côn (1995), Mộ táng trong văn hóa
Óc Eo, Luận án Phó Tiến sĩ khoa học lịch sử, Viện
Khoa học Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh
2 Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc
Đường (1990), Văn hóa và cư dân Đồng bằng sông
Cửu Long, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
3 Louis Malleret (1960), L’Archéologie du delta
du Mékong - Volume XLIII - La civilisation mat érialle d’Oc - Eo, École Francaise d’Extrêmxe orient, Pari
(Bảo tàng Lịch sử Việt Nam dịch)
4 Lương Ninh (2009), Vương quốc Phù Nam,
Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội
5 Lương Ninh (2001), Về vấn đề tộc người Phù
Nam và cư dân ở Nam Bộ - Việt Nam, Tạp chí Dân
tộc học, (02)
6 Nguyễn Hữu Tâm (2004), Khái quát về Phù
Nam - Chân Lạp qua ghi chép của các thư tịch cổ Trung Quốc, trong Văn hóa Óc Eo và vương quốc Phù Nam - Kỷ yếu hội thảo khoa học nhân 60 năm phát hiện văn hóa Óc Eo (1944 - 2004), Nxb.Thế
giới, Hà Nội
7 Phan Thanh Toàn, Huỳnh Kim Bảng, Lâm
Thành Trung (2013), Phát hiện di tích Óc Eo ở Hà
Tiên (Kiên Giang), trong Những phát hiện mới về khảo cổ học 2013, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
Ngày nhận bài: 6 - 12 - 2017 Ngày phản biện, đánh giá: 19 - 3 - 2018 Ngày chấp nhận đăng: 25 - 3 - 2018