Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, mục đích của ngoại giao văn hóa Nhật Bản là nhằm tăng cường sự hiểu biết với các quốc gia láng giềng, giới thiệu, quảng bá các giá trị văn hóa truyền thống của mình tới toàn thế giới, tạo sức mạnh mềm để đạt được các mục tiêu kinh tế và chính trị. Xuất bản phẩm được Nhật Bản coi là một công cụ của ngoại giao văn hóa, bên cạnh các công cụ khác như truyền thông đại chúng, nghệ thuật, giáo dục.
Trang 1NGOẠI GIAO VĂN HÓA NHẬT BẢN VỚI VIỆT NAM
THÔNG QUA XUẤT BẢN PHẨM
PHẠM MINH QUÂN
Tóm tắt
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, mục đích của ngoại giao văn hóa Nhật Bản là nhằm tăng cường sự hiểu biết với các quốc gia láng giềng, giới thiệu, quảng bá các giá trị văn hóa truyền thống của mình tới toàn thế giới, tạo sức mạnh mềm để đạt được các mục tiêu kinh tế và chính trị Xuất bản phẩm được Nhật Bản coi là một công cụ của ngoại giao văn hóa, bên cạnh các công cụ khác như truyền thông đại chúng, nghệ thuật, giáo dục Cùng với việc chuyển giao các xuất bản phẩm (như: sách giới thiệu về đất nước, con người, văn hóa; tác phẩm văn học; đặc biệt là truyện tranh), Nhật Bản còn tổ chức các hoạt động bổ trợ: triển lãm sách, các lễ hội văn hóa Mặt khác, ngoại giao văn hóa còn
là hoạt động của các tổ chức phi chính phủ: các nhà xuất bản Nhật Bản hợp tác với các nhà xuất bản Việt Nam và Trung tâm Giao lưu Văn hóa Nhật Bản tại Việt Nam.
Từ khóa: Ngoại giao văn hóa, xuất bản phẩm, Nhật Bản
Abstract
In the current trend of globalization, the purpose of Japanese cultural diplomacy is to enhance understanding with neighboring countries, introduce and promote their traditional cultural values to the world, create soft power to achieve economic and political goals The publication is considered as
a tool of cultural diplomacy, along with others such as media, arts, and education In addition to the distribution of publications (such as introductory books on the country, people, culture, literary works, especially comics), Japan also organizes the following activities: books exhibition, cultural festivals On the other hand, cultural diplomacy is also the activity of non-governmental organizations: Japanese publishers cooperate with Vietnamese publishers and the Japan Foundation Center for Cultural Exchange in Vietnam.
Keywords: Cultural diplomacy, publication, Japan
1 Đặt vấn đề
Kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai,
Nhật Bản đã lựa chọn ngoại giao văn
hóa để thay đổi và cải thiện hình
ảnh quốc gia của mình – từ một nước theo
chủ nghĩa quân phiệt tham gia chiến tranh
trở thành một quốc gia dân chủ yêu hòa bình,
phát triển mạnh về kinh tế, khoa học kỹ thuật
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, mục đích
của ngoại giao văn hóa Nhật Bản là nhằm tăng
cường sự hiểu biết lẫn nhau với các quốc gia láng giềng; giới thiệu, quảng bá các giá trị văn hóa truyền thống của mình tới toàn thế giới; phát huy vai trò sức mạnh mềm, nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế và chính trị Mối quan hệ Việt Nam - Nhật Bản đã trải qua một chặng đường lịch sử khá dài Nhật Bản đã coi sự hợp tác với Việt Nam như là một nhiệm
vụ chiến lược Năm 2006 được đánh dấu bởi
sự kiện nguyên thủ hai quốc gia ra tuyên bố chung hướng tới đối tác chiến lược vì hòa bình
Trang 2V Ă N HÓ A
và phồn vinh của châu Á.1
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, mục đích
chính của bài viết này là khẳng định xuất bản
phẩm như một công cụ của ngoại giao văn
hóa Nhật Bản, bên cạnh các công cụ khác như
truyền thông đại chúng, các loại hình nghệ
thuật, trao đổi về văn hóa và giáo dục Ngoại
giao văn hóa Nhật Bản được thể hiện qua nội
dung các xuất bản phẩm nhằm giới thiệu giá
trị văn hóa Nhật Bản; qua tác phẩm văn học
và truyện tranh; đồng thời qua các hoạt động
bổ trợ như tổ chức triển lãm sách và các lễ hội
Mặt khác, Nhật Bản còn coi trọng ngoại giao
văn hóa gắn liền với ngoại giao nhân dân với
sự tham gia của các chủ thể ngoài nhà nước
2 Ngoại giao văn hóa Nhật Bản xét trên
quan điểm ngoại giao nhân dân
Ngoại giao văn hóa (cultural diplomacy) là
một thuật ngữ chỉ một loại sức mạnh mềm,
bao gồm “trao đổi những tư tưởng, thông tin,
nghệ thuật và các khía cạnh khác của văn hóa
giữa các quốc gia và người dân của họ để tăng
cường sự hiểu biết lẫn nhau.” (4, tr.1)
Ngoại giao văn hóa trên thế giới hiện nay
được các học giả khái quát thành ba trường
phái chính
Trường phái thứ nhất đặt ngoại giao văn
hóa trong mối quan hệ với tuyên truyền
(propaganda) Minh chứng điển hình nhất
cho trường phái này là xu hướng ngoại giao
văn hóa của Liên Xô từ thập niên 20 của thế kỷ
XX Ở đây, ngoại giao văn hóa được đặt trong
hoạt động tuyên truyền văn hóa: tổ chức các
chuyến lưu diễn của các nghệ sĩ, học giả Liên
Xô, các buổi trưng bày nghệ thuật ở nước
ngoài, đón chào các nhà báo nước ngoài và
đại diện của các tổ chức nhân quyền quốc tế
đến Liên Xô Đối với các nhà lãnh đạo Liên Xô,
văn hóa nghệ thuật đóng vai trò quyết định
trong chính sách đối ngoại và là một công cụ
quan trọng để truyền bá tư tưởng cũng như
những giá trị văn hóa của đất nước Trong thời
gian xảy ra chiến tranh lạnh, các vở diễn ballet
kinh điển của nhà hát Bolshoi như Romeo và
Juliet, Hồ thiên nga, Giselle… đã được tổ chức tại Mỹ, bắt đầu từ năm 1959, như một cách để cải thiện quan điểm của người dân Mỹ về Liên
Xô Ba nhà nghiên cứu Jean-François Fayet, Rósa Magnúsdóttir và James R Vaughan đánh giá: trường phái này sử dụng văn hóa như một
“công cụ của chính sách nhà nước” với sự tham gia hạn chế của các chủ thể tư nhân ngoài nhà nước
Một phái sinh khác của trường phái này diễn ra ở Trung Quốc: ngoại giao văn hóa được thể hiện theo quan điểm hạn chế, chỉ trong khuôn khổ “ngoại giao nhà nước” Quan điểm này cho rằng chủ thể của ngoại giao văn hóa phải là nhà nước, các chính sách và hoạt động đối ngoại đều do nhà nước thực hiện Điều
đó đồng nghĩa với việc không có sự tham gia của các chủ thể ngoài nhà nước trong ngoại giao văn hóa Một học giả Trung Quốc đã viết:
“Ngoại giao văn hóa là tổng hòa của quan hệ văn hóa đối ngoại mà chính phủ một nước theo đuổi, nói cách khác, là quan hệ văn hóa chính thức của quốc gia có chủ quyền; quốc gia có chủ quyền là chủ thể, thực thi chủ quyền đối ngoại.” (2, tr.76)
Trường phái thứ hai nhấn mạnh ngoại giao văn hóa là một công cụ độc lập tương đối với chính trị Ở trường phái này, ngoại giao văn hóa là một phương tiện xác lập mối quan
hệ giữa các quốc gia mà ngoại giao chính trị không thể xâm nhập được vì những lý do tôn giáo hay sắc tộc Trong trường hợp này, ngoại giao văn hóa đóng vai trò là một “chất xúc tác”, làm mềm mối quan hệ, đặt nền móng cho việc thực hiện ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế Các tác giả Jennifer Dueck, James R Vaughan đã lựa chọn nghiên cứu trường hợp Pháp và Mỹ sử dụng ngoại giao văn hóa để thâm nhập các quốc gia ở khu vực Trung Đông trong thế kỷ XX Tại các quốc gia vốn là điểm nóng giao tranh và xung đột này, giáo dục, xuất bản phẩm và điện ảnh là những phương tiện đã được dùng để tạo ảnh hưởng và nâng cao vị thế ngoại giao của các thế lực ngoại lai
Trang 3nước Nhóm các tác giả Maki Aoki-Okabe,
Toichi Makita và Yoko Kawamura đã phân chia
hoạt động ngoại giao văn hóa thành hai loại:
hoạt động thúc đẩy, xúc tiến quảng bá “văn
hóa quốc gia” (hay bản sắc văn hóa) ra nước
ngoài và hoạt động trao đổi văn hóa quốc tế
Nói cách khác, ngoại giao văn hóa theo quan
điểm này chính là “ngoại giao nhân dân” – với
sự tham gia của các chủ thể dân sự ngoài nhà
nước, không chịu sự chi phối của nhà nước
Hoạt động của các tổ chức phi chính phủ
(NGO – non-governmental organization) là
một ví dụ tiêu biểu Đại diện điển hình nhất
cho trường phái ngoại giao văn hóa này chính
là Nhật Bản Tuy vậy, các tổ chức phi chính
phủ, khi tham gia hoạt động ngoại giao văn
hóa, đều được thúc đẩy và tài trợ chủ yếu từ
chính phủ Nhật Bản
Khi chiến tranh lạnh kết thúc vào năm
1989 – 1990, Liên Xô tan rã, chấm dứt trật tự
lưỡng cực Yalta, quan hệ quốc tế có nhiều
biến đổi nhanh chóng và sâu sắc, đồng thời là
sự xuất hiện và bùng nổ của xu thế toàn cầu
hóa Chính xu thế toàn cầu hóa đã có một ảnh
hưởng đáng kể đến định hướng ngoại giao
văn hóa (ngoại giao công chúng) của Nhật
Bản Ở khu vực Đông Nam Á, xuất hiện một
cuộc cạnh tranh ảnh hưởng giữa Trung Quốc
và Nhật Bản Trung Quốc với tham vọng thúc
đẩy hình thành trật tự thế giới đa cực, muốn
biến Đông Nam Á trở thành “sân sau,” làm bàn
đạp để vươn ra toàn cầu Còn Nhật Bản đã
nhận thức được vị trí địa chính trị quan trọng
của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á,
muốn xây dựng một Đông Nam Á hòa bình
ổn định, dưới sự ảnh hưởng của Nhật để kiềm
chế Trung Quốc Vận dụng học thuyết Fukuda,
Nhật Bản củng cố, mở rộng quan hệ của mình
sang các nước Đông Nam Á thông qua hỗ trợ,
giúp đỡ tái thiết kinh tế, vận hành các chính
sách ngoại giao trên các phương diện chính trị,
kinh tế và văn hóa Việt Nam và Nhật Bản cùng
là thành viên của nhóm ASEAN + 3 Nhật Bản
chia sẻ với Việt Nam nhận thức “Cần tăng cường
tăng trưởng kinh tế để xóa đói giảm nghèo” (1,
Thương mại - Đầu tư - ODA Từ 1995 đến nay, Nhật Bản là nhà tài trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam Tuy vậy, bên cạnh kinh tế, Nhật Bản cũng chú trọng thúc đẩy ngoại giao văn hóa: thực hiện giao lưu văn hóa giữa các nước ASEAN và Nhật Bản Thủ tướng Nhật Takeo Fukuda đã nói đến “sự cần thiết của việc hiểu biết lẫn nhau bằng trái tim” Về bản chất, đây chính là vấn đề của văn hóa Ngoại giao văn hóa, đối với Nhật Bản, dù nói theo một cách nào đó, vẫn là chủ nghĩa toàn cầu mới, thể hiện sự thay đổi của Nhật Bản, cải thiện hình ảnh của Nhật Bản sau chiến tranh thế giới thứ hai, hòa nhập với thế giới, “tạo ra một Nhật Bản cống hiến cho thế giới” Mặt khác, ngoại giao văn hóa Nhật Bản còn nhằm thúc đẩy quảng bá các thiết chế, hệ giá trị, bản sắc của “văn hóa Nhật Bản” tới các quốc gia khác, điển hình là cộng đồng châu Á - Thái Bình Dương hay ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng
3 Các hoạt động ngoại giao văn hóa Nhật Bản ở Việt Nam
Cho tới nay, mối quan hệ ngoại giao Việt Nam - Nhật Bản đã trải qua chặng đường hơn
40 năm, kể từ khi hai nhà nước chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 21 tháng 9 năm 1973 Nhưng nếu nhìn từ góc độ lịch sử, mối quan hệ Việt Nam - Nhật Bản ước tính đã
có thời gian kéo dài tới hơn 1200 năm, bắt đầu từ khi Abe no Nakamaro (A Bội Trọng Ma
Lữ, 698 – 770, tên tiếng Trung là “Triều Hành”)
- người Nhật đầu tiên đến Giao Châu - được
bổ nhiệm chức Tiết độ sứ An Nam vào khoảng niên hiệu Thượng Nguyên (760 - 761) đời Đường Túc Tông, đánh dấu khởi đầu sự tiếp xúc giao lưu giữa hai nền văn hóa Sự phát triển của quan hệ mậu dịch bang giao trong quá khứ và quan hệ ngoại giao ngày nay giữa Việt Nam và Nhật Bản được xây dựng dựa trên nền tảng là những nét tương đồng về địa lý tự nhiên, các điều kiện lịch sử, con người và văn hóa Về vị trí địa lý, Nhật Bản và Việt Nam nằm trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương Đối với quan điểm thông thường của người Việt, thì Nhật Bản “gần mà ngỡ xa,” khi Nhật Bản là
Trang 4V Ă N HÓ A
một quốc đảo nằm trong tiểu khu vực Đông
Bắc Á, cách Việt Nam (nằm trong tiểu khu vực
Đông Nam Á) 3,685 km về phía Bắc Tuy vậy, cả
hai quốc gia đều có vị trí chiến lược của mình,
là nơi giao kết giữa các vùng biển và đóng vai
trò địa chiến lược (geostrategy) quan trọng
trong việc khai thác tiềm năng biển cũng như
giao thương đường biển Chính điều kiện địa
lý này góp phần tạo nên tính chủ động của
Nhật Bản trong việc tìm kiếm các mối giao lưu
quốc tế, dẫn tới việc từ thời trung đại, người
Nhật đã bắt đầu giao thương buôn bán với Việt
Nam Bắt đầu từ thế kỷ XV cho tới thời Châu
ấn thuyền (thời kỳ thuyền buôn được chính
quyền Mạc Phủ Tokugawa cấp giấy phép cho
ra nước ngoài thực hiện buôn bán, đầu thế
kỷ XVII), rất nhiều thuyền buôn Nhật Bản đã
cập bến tại Hội An để trao đổi hàng hóa (mặt
hàng chủ yếu là tơ lụa), lấy nước ngọt và tránh
bão Thông qua con đường buôn bán trao đổi,
người Việt cũng được tiếp xúc với những sản
vật cũng như những giá trị văn hóa Nhật Bản
và ngược lại, tạo sự hiểu biết giữa hai dân tộc
Bên cạnh đó, dưới góc độ văn hóa, Nhật Bản và
Việt Nam cùng nằm trên ngoại vi (periphery)
của văn minh Trung Quốc, cùng tiếp thu lĩnh
hội nhiều yếu tố văn hóa Trung Hoa như “chữ
Hán, Nho giáo và Phật giáo” (3, tr.9) Điều này
dẫn đến ý thức “đồng văn đồng chủng” (cùng
chung một nền văn hóa chữ Hán và cùng
chung một chủng tộc da vàng) chi phối quan
niệm của người Việt khi tiếp xúc với Nhật Bản,
góp phần làm cho những yếu tố văn hóa Nhật
Bản dễ dàng thâm nhập vào đời sống văn hóa
người Việt
Xuất bản phẩm, đặc biệt là sách, là một
trong những công cụ quan trọng thúc đẩy
quan hệ ngoại giao văn hóa giữa quốc gia này
với quốc gia khác Điều này bắt nguồn từ việc
nhận thức lại vai trò và tầm quan trọng của
xuất bản phẩm Với bối cảnh thế giới toàn cầu
hóa hiện nay, ngoại giao văn hóa chính là sức
mạnh mềm (soft power), được giáo sư Joseph
S Nye Jr của đại học Harvard (Mỹ) đưa ra và
định nghĩa từ những năm cuối thập niên 80,
của văn hóa để chi phối quan hệ quốc tế Ngày nay, để phát huy sức mạnh mềm, các quốc gia Đông Á như Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc tập trung xây dựng hình ảnh đất nước, con người và văn hóa của mình (các cuộc chấn hưng văn hóa - nghệ thuật) và dùng các yếu tố này để thâm nhập vào các quốc gia khác Điển hình như làn sóng điện ảnh, âm nhạc, thời trang và ẩm thực Hàn Quốc đã tạo nên những cơn sốt ở nhiều nước trên thế giới Làn sóng này mang tính nhất thời, tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định, thâm nhập ở mức
độ trên bề mặt, trong tiếng Anh được thể hiện bằng một thuật ngữ là “trend” (trào lưu, xu hướng) Xuất bản phẩm cũng là một hình thức quảng bá các giá trị văn hóa vượt qua biên giới như vậy Trước đây, đơn thuần, chúng ta nhìn nhận xuất bản phẩm, cụ thể hơn là sách, chỉ là một kênh thông tin và hình thức lưu trữ thông thường Nhưng ngày nay, xuất bản phẩm đã được nhận thức lại: là một sản phẩm xã hội, là công cụ tích lũy, truyền bá tri thức từ thế hệ này sang thế hệ khác; quan trọng hơn, xuất bản phẩm mang một hệ thống giá trị giàu có
và bất biến về văn hóa tinh thần, lịch sử và tri thức nhân loại Đó chính là một yếu tố để minh chứng rằng: xuất bản phẩm đã trở thành công
cụ ngoại giao văn hóa hiệu quả, có thể thâm nhập vào chiều sâu của một cộng đồng Thông qua xuất bản phẩm, hình ảnh đất nước con người cũng như các giá trị văn hóa in sâu ở các nước sở tại, tạo nên một mối thiện cảm, từ đó, dần dần mở đường “xâm nhập” cho hàng hóa
và đầu tư vào các nước này
Nhật Bản chính là một trong những quốc gia chú trọng và chủ động thực hiện ngoại giao văn hóa đối với Việt Nam thông qua xuất bản phẩm nhiều nhất, bởi lẽ bên cạnh chủ trương ngoại giao văn hóa thì Nhật Bản cũng
là nước có ngành công nghiệp xuất bản tồn tại lâu đời và phát triển bậc nhất trên thế giới Những điều kiện về bối cảnh lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội đã đặt tiền đề cho quan hệ ngoại giao văn hóa Nhật Bản đối với Việt Nam (thông qua xuất bản phẩm) được
Trang 5được nâng tầm “hướng tới đối tác chiến lược vì
hòa bình và phồn vinh của Châu Á” (tuyên bố
chung Nhật Bản - Việt Nam ngày 23/10/2006
của Thủ tướng Nhật Shinzo Abe và Thủ tướng
Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng) Trong tuyên bố
chung này, nội dung thứ 5 (tăng cường hiểu
biết lẫn nhau giữa người dân hai nước) đã tạo
một động lực thúc đẩy xuất bản phẩm từ Nhật
Bản vào Việt Nam để đáp ứng nhu cầu tìm
hiểu, học tập, nghiên cứu về nước Nhật và văn
hóa Nhật của người Việt Nam Xuất bản phẩm
Nhật Bản tại Việt Nam hiện đang tác động rất
lớn vào đời sống văn hóa của người dân, đặc
biệt là giới trẻ Số lượng người học tiếng Nhật
ở Việt Nam ngày một tăng lên, kéo theo việc
phổ cập những giáo trình tiếng Nhật Việc các
nhà xuất bản Việt Nam triển khai ký kết hợp
tác xuất bản, giao dịch bản quyền với các nhà
xuất bản Nhật Bản cũng góp phần giới thiệu
nhiều tác phẩm, tác giả kinh điển của Nhật Bản
tới bạn đọc Việt Nam Hoặc ở một khía cạnh
khác, tại các lễ hội văn hóa Việt - Nhật được tổ
chức tại Việt Nam, rất nhiều bạn trẻ đã tham
gia cosplay (hóa trang thành một nhân vật
trong truyện tranh manga hoặc phim hoạt
hình anime của Nhật)
Trong lĩnh vực xuất bản, Nhật Bản là một
trong những quốc gia có nền xuất bản phát
triển nhất Theo số liệu 2015 của Hiệp hội các
nhà xuất bản Nhật Bản (Japan Book Publishers
Association - JBPA) thì có khoảng 3,700 doanh
nghiệp xuất bản ở Nhật Bản, trong đó 80 phần
trăm đóng tại Tokyo, hàng năm trung bình tạo
ra 1,7 nghìn tỷ Yên (tương đương khoảng 361
nghìn tỷ đồng Việt Nam) Truyện tranh (manga)
chiếm 80% xuất bản phẩm của Nhật Bản Ba
nhà xuất bản lớn nhất Nhật Bản là Kodansha,
Shogakukan và Shueisha Năm 1953, Hiệp hội
Các nhà xuất bản trao đổi văn hóa (Publishers
Association for Cultural Exchange - PACE) được
thành lập với tư cách là một tổ chức phi chính
phủ Các thành viên của hiệp hội là đại diện
của các nhà xuất bản ở Nhật Bản Mục đích
chính của PACE là thông qua việc trao đổi các
xuất bản phẩm, đóng góp vào sự hình thành
các quốc gia khác trên thế giới PACE đã đóng vai trò làm sâu sắc và thúc đẩy tình bạn chung giữa Nhật Bản với nhiều quốc gia Tổ chức này chú trọng vai trò làm trung gian cho việc xúc tiến mua bán bản quyền, dịch thuật giữa các nhà xuất bản Nhật Bản và các nhà xuất bản nước ngoài
Ngày 1/11/1992 tại Ikebukuro Sunshine City (Tokyo), trong khuôn khổ Hội chợ sách quốc tế Tokyo, ý tưởng thành lập Hiệp hội xuất bản châu Á - Thái Bình Dương (Asian Pacific Publishers Association – APPA) đã được
đề xuất Thành viên ban đầu của APPA bao gồm Nhật Bản, Việt Nam, Bangladesh, Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Philippin, Singapore, Sri Lanka, Thái Lan và Thổ Nhĩ Kỳ
Tổ chức này được thành lập nhằm đáp ứng các mục đích hợp tác, tiến tới đảm bảo quyền lợi của các nhà xuất bản (được tự do xuất bản với
sự tôn trọng luật pháp ở mỗi quốc gia), đồng thời thúc đẩy việc bảo vệ bản quyền tác giả Ngày 26/1/1994, phiên họp đầu tiên của APPA
đã được tổ chức tại Tokyo Chủ tịch đầu tiên của APPA là ông Toshiyuki Hattori, lúc bấy giờ kiêm giữ chức chủ tịch của JPBA Tổ chức APPA đánh dấu sự hợp tác đầu tiên giữa hai nền xuất bản Nhật Bản và Việt Nam Đại diện của ngành xuất bản Việt Nam tham gia APPA lúc đó là công ty xuất nhập khẩu sách báo Việt Nam
Trước thời điểm 26/10/2004, nghĩa là trước khi công ước Berne về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật có hiệu lực thì tình trạng dịch lậu, in lậu các xuất bản phẩm rất phổ biến
ở Việt Nam Tuy vậy, khi công ước Berne có hiệu lực, các nhà xuất bản Việt Nam cũng như các đơn vị liên kết xuất bản đã có ý thức chủ động liên hệ với các nhà xuất bản nước ngoài
để thực hiện thương lượng và mua bản quyền xuất bản phẩm Hiện nay ở Việt Nam, Nhà xuất bản Kim Đồng và Nhà xuất bản Trẻ là hai trong
số những nhà xuất bản thực hiện trao đổi bản quyền có số lượng lớn nhất và hiệu quả nhất với các nhà xuất bản Nhật Bản, đặc biệt
là truyện tranh Những bộ truyện tranh thuộc
hàng ăn khách ở Nhật Bản như One Piece,
Trang 6V Ă N HÓ A
Naruto, Doraemon, Dragon Ball (Bảy viên ngọc
rồng), Thám tử Conan… đều đã được chuyển
ngữ sang tiếng Việt và phát hành ở Việt Nam
Bên cạnh truyện tranh, các tác phẩm
nghiên cứu chuyên khảo và văn học nghệ
thuật Nhật Bản cũng được dịch và được độc
giả Việt Nam đón nhận rộng rãi Các tác phẩm
này phản ánh những nét đặc trưng của đời
sống xã hội Nhật Bản, quảng bá các giá trị văn
hóa truyền thống cũng như giới thiệu về đất
nước, con người Nhật Bản, giúp nâng cao nhận
thức và hiểu biết của người Việt Nam về Nhật
Bản Chuyên khảo nổi tiếng về tính cách con
người Nhật Bản - The Chrysanthemum and the
Sword (Hoa cúc và thanh kiếm, 1949) của nhà
nhân học văn hóa Mỹ Ruth Benedict (1887 –
1948) - đã được dịch ra tiếng Việt, trong đó,
tác giả khái quát vô cùng chính xác những nét
tính cách của con người Nhật Bản như tính kỷ
luật, lịch sự, cần cù và cứng nhắc Về các tác
giả, tác phẩm văn học Nhật Bản nổi tiếng, có
thể kể đến Haruki Murakami (Rừng Nauy, Kafka
bên bờ biển), Yukio Mishima (Chết giữa mùa
hè), Ryu Murakami (Gần như là trong xanh)…
Những tác phẩm này đã được các công ty phát
hành ở Việt Nam liên kết với các nhà xuất bản
như Văn học, Hội Nhà văn, Thế giới để mua bản
quyền và phát hành
Trung tâm Giao lưu Văn hóa Nhật Bản của
Quỹ Nhật Bản (Japan Foundation) chính thức
được thành lập tại Hà Nội vào tháng 3/2008 Sự
kiện này đặt một dấu mốc rất quan trọng trong
việc tăng cường hoạt động ngoại giao văn hóa
của Nhật Bản với Việt Nam Quỹ Nhật Bản có
nhiệm vụ chính là hỗ trợ giáo dục tiếng Nhật
ở Việt Nam, Trung tâm là đơn vị thực hiện, đã
cung cấp tài liệu bao gồm các xuất bản phẩm
dạy tiếng Nhật cho học sinh Theo khảo sát
năm 2006 của Quỹ Nhật Bản, số lượng người
học tiếng Nhật ở Việt Nam đạt gần 30.000,
trong đó có 18.000 là học viên của các trung
tâm ngôn ngữ tư nhân, 10.000 là sinh viên đại
học và 2.000 là học sinh THCS và THPT.2 Đến
tháng 3/2013, con số này tăng lên 46.762
người với 180 cơ sở giáo dục và trung tâm dạy
tiếng Nhật cũng như sử dụng các tài liệu học tiếng Nhật ngày một gia tăng hiện nay Trung tâm cũng cung cấp một phòng thông tin - góc thư viện, trang bị những ấn phẩm sách, tạp chí, tài liệu giới thiệu về Nhật Bản phục vụ nhu cầu tìm hiểu thông tin của bạn đọc
Ngoài ra, trung tâm Giao lưu Văn hóa Nhật Bản là một trong những đơn vị đi đầu tổ chức các sự kiện hoạt động văn hóa, góp phần giới thiệu và quảng bá văn hóa Nhật Bản, điển hình là thường xuyên tổ chức họp báo để ra mắt các tác phẩm Nhật Bản, tổ chức triển lãm, chiếu phim, hòa nhạc Các sự kiện nổi bật
gần đây (Lễ hội Hoa anh đào 2016 tại Hoàng thành Thăng Long, Lễ hội Văn hóa Nhật Bản
Oshougatsu 2016 tại Hà Nội) đã thu hút đông
đảo bạn trẻ tham gia các hoạt động như biểu diễn cosplay (nhân vật truyện tranh), chơi các trò chơi truyền thống của Nhật Bản Các hội
chợ, triển lãm như Ngày sách Việt Nam thường
niên, Hội chợ Sách quốc tế được tổ chức hai năm
một lần ở Hà Nội, Hội chợ Sách Việt Nam – Nhật
Bản được tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh
năm 2015 đã tạo một môi trường lý tưởng cho các nhà xuất bản Việt Nam và Nhật Bản trưng bày, giới thiệu xuất bản phẩm, đồng thời tạo ra các cơ hội xúc tiến trao đổi bản quyền, giao kết hợp đồng mua bán xuất bản phẩm
4 Ý nghĩa của ngoại giao văn hóa Nhật Bản với Việt Nam
Trên bình diện khu vực, biển Đông có một
vị trí chiến lược không chỉ về mặt địa lý, tài nguyên thiên nhiên hay giao thông hàng hải Biển Đông còn đóng vai trò then chốt đối với quốc phòng an ninh của các quốc gia trong khu vực, đặc biệt là đối với Việt Nam Đây là một điểm nóng, thường diễn ra tình trạng tranh chấp chủ quyền của nhiều quốc gia như Trung Quốc, Việt Nam, Philippin, Malaysia Chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc, bắt nguồn từ chủ nghĩa Đại Hán, vẫn ảnh hưởng sâu rộng trong các chính sách đối ngoại của nước này, gây ra ảnh hưởng không chỉ về chính trị - kinh
tế mà còn ở khía cạnh văn hóa - tư tưởng
Trang 7đích mở rộng lãnh thổ Như đã nói ở phần trên,
Nhật Bản do nhìn nhận được tầm quan trọng
của biển Đông, đã thiết lập mối quan hệ với
các nước trong khu vực Đông Nam Á Điều
này tất yếu dẫn đến sự cạnh tranh ảnh hưởng
với Trung Quốc ở khu vực này Nếu phân tích
tam giác quan hệ Việt - Trung - Nhật thì giữa
Việt Nam và Nhật Bản không chia sẻ với nhau
về đường biên giới nên không dẫn tới xảy ra
tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, nhưng cả hai
quốc gia đều có những xung đột chủ quyền
với Trung Quốc như ở quần đảo Senkaku (Nhật
Bản) và Hoàng Sa, Trường Sa (Việt Nam) Về văn
hóa - tư tưởng, Nhật Bản, Việt Nam đều nằm
trên ngoại vi của văn minh Trung Hoa, nhưng
cả hai quốc gia đều có tư tưởng “thoát Trung”
mạnh mẽ Những tương đồng về địa lý, lịch sử
khiến cho giữa Việt Nam và Nhật Bản có một
lực hấp dẫn tự nhiên về văn hóa Hai dân tộc
có xu hướng xích lại gần nhau, có nhu cầu tìm
hiểu, nhận thức lẫn nhau nhằm tăng cường
tình hữu nghị chung
Như đã phân tích ở trên, sự thiện cảm của
người Việt Nam đối với Nhật Bản đã tạo động
lực cho văn hóa Nhật Bản được tiếp nhận ở
Việt Nam Dựa trên quan điểm đối ngoại của
Nhật Bản, xuất bản phẩm trở thành một công
cụ hữu hiệu để thực hiện ngoại giao văn hóa
Xuất bản phẩm là phương tiện trao truyền,
cung cấp tri thức cơ bản và phổ biến nhất, đáp
ứng hiệu quả nhất nhu cầu tìm hiểu về Nhật
Bản ở Việt Nam
5 Kết luận
Quan hệ Nhật Bản - Việt Nam ngày một tiến
triển, trong tương lai gần, hai quốc gia tiếp tục
nuôi dưỡng mối quan hệ thân thiện và xích
lại gần nhau hơn để giải quyết hiệu quả các
vấn đề quốc tế Việc nghiên cứu về ngoại giao
văn hóa của Nhật Bản sẽ để lại những bài học
kinh nghiệm quý giá cho Việt Nam Dựa vào
những kinh nghiệm này, Việt Nam có thể xây
dựng một chiến lược ngoại giao văn hóa nhằm
quảng bá những giá trị, bản sắc văn hóa của
mình trên trường quốc tế Ngoại giao văn hóa
cần quan tâm trong bối cảnh biến đổi toàn cầu hiện nay Đây là một luận cứ quan trọng cho các nhà quản lý trong việc hoạch định, xây dựng chiến lược thúc đẩy quan hệ Việt – Nhật nói chung, quan hệ giao lưu văn hóa giữa hai dân tộc nói riêng
P.M.Q
(Nghiên cứu viên, Viện Nhân học Văn hóa)
Chú thích
1 Được xác lập trong tuyên bố chung với tiêu
đề “Hướng tới đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh của châu Á” của Thủ tướng Shinzo Abe và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vào ngày
23 tháng 10 năm 2006, http://www.mofa.go.jp/ region/asia-paci/vietnam/joint0610.html
2 Trung tâm Giao lưu Văn hóa Nhật Bản tại Việt Nam, http://jpf.org.vn/about-us/brief-introduction/
Tài liệu tham khảo
1 Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (2013),
Quan hệ đối tác Việt Nam – Nhật Bản từ quá khứ đến tương lai, Japan International Cooperation
Agency (JICA)
2 Bành Tân Lương (2008), Ngoại giao văn
hóa và sức mạnh mềm Trung Quốc: một góc nhìn toàn cầu hóa, Dương Danh Dy, Trần Hữu
Nghĩa, Nguyễn Thị Mây… dịch (lưu hành nội bộ)
3 Vĩnh Sính (2001), Việt Nam và Nhật Bản:
Giao lưu văn hóa, Nxb Văn nghệ Tp.Hồ Chí Minh.
4 Cummings Jr., Milton C (2003), Cultural
Diplomacy and the United States Government: A Survey, Center for Arts and Culture.
Ngày nhận bài: 10 - 10 - 2017 Ngày phản biện, đánh giá: 16 - 3 - 2018 Ngày chấp nhận đăng: 25 - 3 - 2018