Xây dựng bộ đề thi trắc nghiệm môn điện kỹ thuật tại trường Trung cấp Nông nghiệp Hà Nội Xây dựng bộ đề thi trắc nghiệm môn điện kỹ thuật tại trường Trung cấp Nông nghiệp Hà Nội Xây dựng bộ đề thi trắc nghiệm môn điện kỹ thuật tại trường Trung cấp Nông nghiệp Hà Nội luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp luận văn tốt nghiệp,luận văn thạc sĩ, luận văn cao học, luận văn đại học, luận án tiến sĩ, đồ án tốt nghiệp
Trang 1Bé GI¸O DôC Vµ §µO T¹O TR¦êNG §¹I HäC B¸CH KHOA Hµ NéI
-
trÞnh thÞ thu hµ
X¢Y DùNG Bé §Ò THI TR¾C NGHIÖM M¤N §IÖN Kü THUËT
T¹I TR¦êNG TRUNG CÊP N¤NG NGHIÖP Hµ NéI
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM KỸ THUẬT
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
CHUYÊN SÂU: SƯ PHẠM KỸ THUẬT ĐIỆN
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN KHANG
Hµ Néi – N¨m 2012
Trang 2Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, Ngày tháng năm 2012
Tác giả
Trịnh Thị Thu Hà
Trang 3ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những gì mà tôi viết trong luận văn này là do sự tìm hiểu
và nghiên cứu của bản thân Mọi kết quả nghiên cứu cũng như ý tưởng của các tác giả khác nếu có đều được trích dẫn nguồn gốc cụ thể
Luận văn này cho đến nay chưa được bảo vệ tại bất kỳ một hội đồng bảo vệ luận văn thạc sỹ nào và chưa được công bố trên bất kỳ một phương tiện thông tin nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì mà tôi đã cam đoan trên
Hà nội, ngày tháng năm 2012
Tác giả
Trang 4iii
MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC HÌNH VẼ - BIỂU ĐỒ MINH HỌA vii
DANH MỤC CÁC BẢNG - SƠ ĐỒ viii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT viii
MỞ ĐẦU 1
PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6
1.1 TỔNG QUAN VỀ KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ HỌC SINH TRONG DẠY HỌC 6
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 6
1.1.1.1 Đánh giá 6
1.1.1.2 Kiểm tra 6
1.1.1.3 Thi 7
1.1.1.4 Đo lường 7
1.1.1.5 Kết quả học tập 7
1.1.2 Kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh trong quá trình dạy học 8
1.1.2.1 Kiểm tra đánh giá kết quả học tập 8
1.1.2.2 Mục đích, ý nghĩa của việc kiểm tra - đánh giá KQHT 9
1.1.2.3 Các bước đánh giá kết quả học tập 11
1.1.2.4 Các lĩnh vực kiểm tra đánh giá 11
1.1.2.5 Các công cụ kiểm tra đánh giá 11
1.1.2.6 Các phương pháp kiểm tra – đánh giá trong dạy học 12
1.1.2.7 Các biện pháp đề phòng và chống gian lận trong kiểm tra 14
1.2 PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆM TRONG KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH 14
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản 14
1.2.1.1 Khái niệm về trắc nghiệm 14
Trang 5iv
1.2.1.2 Độ tin cậy của bài trắc nghiệm 15
1.2.1.3 Độ giá trị của bài trắc nghiệm 15
1.2.2 Những nguyên tắc chung của trắc nghiệm 15
1.2.3 Phân loại câu hỏi trắc nghiệm 16
1.2.3.1 Trắc nghiệm tự luận 19
1.2.3.2 Trắc nghiệm khách quan 20
1.2.3.3 So sánh Trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan 29
1.2.3.4 Một số quan điểm không đúng về PP trắc nghiệm khách quan 31
1.2.4 Yêu cầu cơ bản khi soạn bài thi trắc nghiệm 31
1.2.5 Kỹ thuật soạn bài thi trắc nghiệm 31
1.2.5.1 Giai đoạn chuẩn bị 31
1.2.5.2 Giai đoạn thực hiện 33
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 35
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DẠY – HỌC, KIỂM TRA VÀ ĐÁNH GIÁ MÔN HỌC ĐIỆN KỸ THUẬT TẠI TRƯỜNG TRUNG CẤP NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI 36
2.1 GIỚI THIỆU VỀ TRƯỜNG TRUNG CẤP NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI 36
2.1.1 Chức năng – nhiệm vụ của nhà trường 36
2.1.2 Cơ cấu tổ chức 36
2.1.3 Cơ sở vật chất – đội ngũ giáo viên 37
2.1.3.1 Cơ sở vật chất 37
2.1.3.2 Đội ngũ giáo viên 39
2.2 THỰC TRẠNG DẠY HỌC, ĐÁNH GIÁ VÀ KIỂM TRA MÔN ĐIỆN KỸ THUẬT TẠI BAN CƠ KHÍ – ĐIỆN TRƯỜNG TRUNG CẤP NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI 40
2.2.1 Khái quát về ban chuyên môn Cơ khí – Điện 40
2.2.2 Chương trình môn học Điện kỹ thuật tại trường Trung cấp Nông nghiệp Hà Nội 40
2.2.2.1 Mục tiêu môn học 40
2.2.2.2 Chương trình – nội dung chính của môn học Điện kỹ thuật 41
2.2.2.3 Đặc điểm môn học 42
Trang 6v
2.2.3 Đánh giá thực trạng dạy và học của giáo viên - học sinh môn Điện kỹ
thuật tại ban Cơ khí – Điện trường Trung cấp Nông nghiệp Hà Nội 43
2.2.3.1 Nhận thức hoạt động học của học sinh 43
2.2.3.2 Nhận thức hoạt động dạy và KTĐG KQHT của giáo viên 45
2.2.3.3 Những nguyên nhân cơ bản dẫn đến việc thiếu khách quan, chính xác trong KTĐG KQHT của HS trong môn học Điện kỹ thuật và các biện pháp khắc phục 47
CHƯƠNG 3: QUY TRÌNH XÂY DỤNG BỘ ĐỀ THI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN 52
3.1 NGUYÊN TẮC KHI XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG CÂU HỎI TNKQ TRONG KTĐG KQHT 52
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống 52
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 52
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn 52
3.2 QUY TRÌNH XÂY DỰNG CÂU HỎI TNKQ TRONG KTĐG KQHT MÔN ĐIỆN KỸ THUẬT 53
3.2.1 Bước 1 53
3.2.2 Bước 2 53
3.2.3 Bước 3 54
3.2.3.1 Dạng câu hỏi trắc nghiệm đúng – sai 54
3.2.3.2 Dạng câu hỏi trắc nghiệm điền khuyết 55
3.2.3.3 Dạng câu hỏi trắc nghiệm ghép đôi 57
3.2.3.4 Dạng câu hỏi lựa chọn 58
3.2.4 Bước 4 59
3.2.5 Bước 5 59
3.2.6 Bước 6 60
3.2.7 Bước 7 61
3.3 Quy trình sử dụng câu hỏi TNKQ trong KTĐG KQHT môn Điện kỹ thuật 62 3.3.1 Bước 1 62
3.3.2 Bước 2 62
3.3.3 Bước 3 63
Trang 7vi
3.3.4 Bước 4 63
3.4 Một số nguyên tắc khi xây dựng bài thi/kiểm tra môn Điện kỹ thuật 63
3.5 Giới thiệu một số phần mềm xây dựng bài thi trắc nghiệm khách quan 64
3.5.1 Phần mềm TestPro 65
3.5.2 Phần mềm EmpTest 66
3.5.3 Phần mềm ExamGen 67
3.6 Sử dụng phần mềm Testpro xây dựng đề thi trắc nghiệm môn Điện kỹ thuật tại trường Trung cấp Nông nghiệp Hà Nội 68
3.6.1 Quy trình xây dựng đề thi trắc nghiệm sử dụng phần mềm Testpro 68
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 79
PHẦN 4: KHẢO NGHIỆM SƯ PHẠM 80
4.1 MỤC ĐÍCH KHẢO NGHIỆM 80
4.2 ĐỐI TƯỢNG KHẢO NGHIỆM 80
4.3 TIẾN TRÌNH KHẢO NGHIỆM 80
4.4 NỘI DUNG KHẢO NGHIỆM 81
4.5 KẾT QUẢ KHẢO NGHIỆM 81
4.6 ĐÁNH GIÁ KHẢO NGHIỆM 84
4.6.1 Đánh giá 84
4.6.2 Thăm dò ý kiến 86
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 87
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 1 91
PHỤ LỤC 2 94
PHỤ LỤC 3 96
PHỤ LỤC 4 98
PHỤ LỤC 5 104
PHỤ LỤC 6 106
TÓM TẮT NỘI DUNG LUẬN VĂN 129
Trang 8vii
DANH MỤC HÌNH VẼ - BIỂU ĐỒ MINH HỌA Hình 2.1: Biểu đồ kết quả đánh giá ý nghĩa môn học Điện kỹ thuật của học
sinh chuyên ngành Cơ khí - Điện 43
Hình 2.2: Biểu đồ kết quả đánh giá về việc HS đã dành cho môn học ĐKT của HS chuyên ngành Cơ khí - Điện .44
Hình 2.3: Biểu đồ đánh giá kết quả nhận thức của GV về mục đích của việc .45
Hình 2.4: Biểu đồ mô tả kết quả thăm dò ý kiến GV trong việc xây dựng và sử dụng hợp lý các câu hỏi kiểm tra trong KTĐG KQHT của HS 46
Hình 2.5: Biểu đồ mô tả các nguyên nhân cơ bản dẫn đến việc thiếu khách quan và chính xác trong KTĐG KQHT của HS .48
Hình 2.6: Biểu đồ mô tả kết quả thăm dò GV về các PP KTĐG mà GV đang sử dụng trong ban Cơ khí - Điện .49
Hình 3.1: Giao diện chính của Test Professional 2008 .69
Hình 3.2 – Nhập thêm câu hỏi mới .69
Hình 3.3 – Cửa sổ nhập câu hỏi trực tiếp trong word .70
Hình 3.4 - Định dạng tệp ngân hàng câu hỏi gốc 71
Hình 3.5 – File word dùng để nhập tự động .72
Hình 3.6 – Nhập tự động từ file word .72
Hình 3.7— Chọn môn học để nhập 73
Hình 3.8 - Click nút “Thực hiện nhập” .73
Hình 3.9 – Nhập câu hỏi .74
H×nh 3.10 - Lưu ngân hàng câu hỏi 74
Hình 3 11 – Trộn đề 75
Hình 3.12 – Chế độ trộn đề đơn giản .76
Hình 3 13 - Kết quả sau khi sinh đề 76
Hình 3 14 – Bảng đáp án đúng 77
Hình 3.15 – Duyệt nhiều câu hỏi và thêm vào đề thi 77
Hình 3.16 – Duyệt từng câu hỏi và thêm vào đề thi 78
Hình 4.1: Biểu đồ mô tả độ phân biệt của các câu hỏi 84
Hình 4.2: Biểu đồ mô tả bảng điểm ở lớp thực nghiệm .85
Hình 4.3: Biểu đồ mô tả bảng điểm ở lớp đối chứng .85
Trang 9viii
DANH MỤC CÁC BẢNG - SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Các phương pháp kiểm tra đánh giá 13
Sơ đồ 1.2: Các phương pháp trắc nghiệm .17
Sơ đồ 1 3: Các dạng trắc nghiệm trong trắc nghiệm khách quan .22
Bảng 1.1: Bảng so sánh Trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan 30
Bảng 1.2: Bảng phân bố câu hỏi .32
Bảng 2.1: Thực trạng cơ sở vật chất của trường TCNN HN 38
Bảng 2.2: Bảng phân bố độ tuổi đội ngũ giáo viên của trường TCNN HN .40
Bảng 2.3: Kết quả đánh giá ý nghĩa môn học Điện kỹ thuật của học sinh 43
Bảng 2.4: Kết quả đánh giá về việc HS đã dành cho môn học ĐKT của HS chuyên ngành Cơ khí - Điện .44
Bảng 2.5: Kết quả đánh giá nhận thức của GV về mục đích của việc .45
Bảng 2.6: Kết quả thăm dò ý kiến GV trong việc xây dựng và sử dụng hợp lý các câu hỏi kiểm tra trong KTĐG KQHT của HS .46
Bảng 2.7: Các nguyên nhân cơ bản dẫn đến việc thiếu khách quan, chính xác trong KTĐG KQHT của HS kèm theo tỷ lệ % của GV và HS 47
Bảng 2.8: Kết quả thăm dò GV về các PP KTĐG mà GV đang sử dụng trong ban Cơ khí - Điện 48
Bảng 3.1: Bảng phân bố câu hỏi .54
Bảng 4.1: Bảng phân bố câu hỏi bài khảo nghiệm .81
Bảng 4.2: Bảng tổng hợp kết quả khảo nghiệm 81
Bảng 4.3: Bảng tổng hợp kết quả phân tích câu hỏi .82
Bảng 4.4: Bảng tổng hợp đánh giá câu hỏi qua mức độ phân biệt .83
Bảng 4.5: Bảng điểm ở lớp thực nghiệm 84
Bảng 4.6: Bảng điểm lớp đối chứng 85
Trang 10ix
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 11lý và điều hành
Hiện nay, trong các trường đào tạo nghề, các trường trung cấp chuyên nghiệp công cụ chủ yếu được sử dụng để đánh giá kết quả học tập (KQHT) của học sinh (HS) là các bài kiểm tra với các câu hỏi tự luận Trường Trung cấp Nông nghiệp, nơi tôi đang công tác cũng không nằm ngoài số đó Sau một thời gian giảng dạy tại trường, với chuyên môn của mình là giảng dạy các môn học về ngành Điện, với hình thức đào tạo vẫn là niên chế, chất lượng học sinh (HS) đầu vào phần đa là các
em học sinh có học lực trung bình, thậm chí là yếu kém nên chất lượng đào tạo vẫn chưa thật sự cao Sau khi học sinh học xong một môn học, nhà trường tổ chức thi hết kết thúc môn học Hình thức thi hiện đang áp dụng là thi tự luận Mặc dù có những ưu điểm nhất định đối với việc đánh giá KQHT nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, dẫn đến việc đánh giá KQHT của học sinh chưa khách quan, chính xác, bài kiểm tra chưa đo lường thỏa đáng mục tiêu của môn học Với hình thức thi này, học sinh phải trình bày vấn đề được hỏi cụ thể Mỗi một đề thi khoảng từ 60 đến 90 phút, gồm khoảng từ 2 – 3 câu hỏi Giáo viên ra đề chỉ có thể đề cập được một phần rất nhỏ nội dung chương trình trong đề thi, còn với học sinh sẽ không thể trình bày hết được lượng kiến thức mình thu nhận được sau môn học Vì vậy, không thể đánh giá hết được chất lượng tiếp thu kiến thức của học sinh Ngoài ra, với các ra đề thi chỉ gồm từ 2 – 3 câu hỏi tự luận, học sinh có thể sẽ lựa chọn cách học “tủ”, học
“lệch”, điều này làm giảm chất lượng kiến thức của học sinh Do vậy, rất khó cho
Trang 12Để nâng cao chất lượng giảng dạy việc đánh giá chính xác kết quả học tập của học sinh là một vấn đề rất quan trọng Trong thực trạng giáo dục còn nhiều tiêu
bất cập như hiện nay, việc áp dụng hình thức thi, kiểm tra trắc nghiệm là một
trong những biện pháp có hiệu quả cho phép đánh giá tương đối chính xác kết quả học tập của học sinh Hình thức thi, kiểm tra trắc nghiệm có thể kiểm tra kiến thức trên diện rộng, một cách nhanh chóng, chính xác Cho phép xử lý kết quả theo nhiều chiều hướng khác nhau với từng HS, giúp GV kịp thời điều chỉnh, hoàn thiện phương pháp dạy học để nâng cao chất lượng dạy học
Trường Trung cấp Nông nghiệp Hà Nội cũng như các trường khác hiện đang tích cực áp dụng hình thức thi trắc nghiệm, coi đây là một trong những biện pháp nhằm đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá, nâng cao chất lượng giáo dục Phương pháp tổ chức thi, kiểm tra trắc nghiệm có thể được áp dụng cho hầu hết các môn học của các nhà trường Với chuyên ngành giảng dạy của mình, để làm rõ cho hướng nghiên cứu của mình trong luận văn tôi lựa chọn môn học Điện kỹ thuật cho các khảo nghiệm tại trường Trung cấp Nông nghiệp Môn học Điện kỹ thuật được giảng dạy tại tất cả các trường có chuyên ngành đào tạo chuyên nghiệp về Điện nói chúng, Điện công nghiệp, Điện dân dụng nói riêng.Vì môn Điện kỹ thuật là môn
Trang 133
học bao gồm các kiến thức cơ sở chung nhất của ngành Điện Sở dĩ tôi lựa chọn môn học này là khảo nghiệm sư phạm cho đề tài vì tính phổ biến của môn học ở các trường có chuyên ngành đào tạo chuyên nghiệp về Điện gồm hệ Công nhân, hệ Trung cấp, hệ Cao đẳng hay hệ Đại học đều có môn học này với mong muốn tính ứng dụng của đề tài được rộng rãi Ngoài ra, môn Điện kỹ thuật cũng là môn tôi đang đảm nhận giảng dạy tại trường Với mong muốn qua thời gian nghiên cứu tìm tòi để làm luận văn, tôi sẽ có thêm nhiều kỹ năng về giảng dạy, về đánh giá hơn nữa
để áp dụng vào nhà trường nhằm nâng cao chất lượng đào tạo môn học Điện kỹ thuật nói riêng và các môn học khác nói chung Trên đây là những lý do đã thôi thúc tôi lựa chọn đề tài
“ Xây dựng bộ đề thi trắc nghiệm môn Điện kỹ thuật tại trường Trung cấp Nông nghiệp Hà Nội”
Bộ đề thi trắc nghiệm môn Điện kỹ thuật sẽ là căn cứ đánh giá học sinh sau khi kết thúc môn học Khi xây dựng bộ đề thi, chúng ta sẽ áp dụng các phương pháp chọn lọc câu hỏi ngẫu nhiên ( sẽ trình bày cụ thể trong nội dung luận văn) để có tính phù hợp cao để tạo nên ngân hàng câu hỏi cho môn học Điện kỹ thuật Giúp cho giáo viên chủ động trong quá trình ra đề thi, đề thi được xuất ra một cách khách quan, có độ rộng phủ được hết chương trình môn học, tạo cho học sinh có kỹ năng tổng kết kiến thức một cách xuyên suốt, giáo viên đánh giá được “ bề rộng” của kiến thức học sinh, thao tác chấm bài cũng được diễn ra nhanh chóng, chính xác, không mất thời gian của giáo viên Vì vây, việc xây dựng bộ đề thi trắc nghiệm cho môn học là một việc làm có tính ứng dụng thực tế giảng dạy cao
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Luận văn nghiên cứu vấn đề xây dựng bộ đề thi trắc nghiệm môn học Điện
kỹ thuật tại trường Trung cấp Nông nghiệp Hà Nội nhằm chuẩn hóa được chất lượng đào tạo sau khi kết thúc môn học, nâng cao hiệu quả kiểm tra đánh giá chất lượng học tập của học sinh môn học Điện kỹ thuật trong nhà trường
3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Các dạng câu hỏi trắc nghiệm
Trang 144
Thực trạng thi, kiểm tra đánh giá kết thúc môn học Điện kỹ thuật tại trường Trung cấp Nông nghiệp Hà Nội
Quy trình xây dựng câu hỏi trắc nghiệm trong môn học Điện kỹ thuật
Ứng dụng các phần mềm tin học trong xây dựng đề thi trắc nghiệm
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu xây dựng được bộ đề thi trắc nghiệm môn học Điện kỹ thuật sẽ góp phần vào ngân hang câu hỏi đề thi của nhà trường, là công cụ giúp người GV đánh giá chính xác khách quan KQHT của HS ở môn học này
5 NHIỆM VỤ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận về kiểm tra, đánh giá, các dạng trắc nghiệm
Nguyên tắc, quy trình xây dựng câu hỏi trắc nghiệm
Nghiên cứu nội dung chương trình môn học Điện kỹ thuật từ đó khảo sát tình hình dạy học và KTĐG tại trường Trung cấp Nông nghiệp Hà Nội
Xây dựng được hệ thống bộ đề thi trắc nghiệm môn Điện kỹ thuật để áp dụng vào kỳ thi hết môn cho môn học Điện kỹ thuật tại Trường Trung cấp Nông nghiệp Hà Nội
Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra đánh giá giả thuyết khoa học đã nêu và hoàn thành các đề xuất
5.2 Phạm vi ứng dụng
Xây dựng và sử dụng câu hỏi trắc nghiệm môn Điện kỹ thuật để đánh giá học sinh sau khi kết thúc môn học tại trường Trung cấp Nông nghiệp Hà Nội
6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích, tổng hợp, đánh giá các tư liệu có liên quan đến đề tài
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Sử dụng phương pháp điều tra, thử nghiệm đối với GV, HS đồng thời sử dụng các phương pháp khác như trao đổi, quan sát, khảo sát…
Trang 155
Phương pháp chuyên gia: Hỏi ý kiến về nội dung, cách trình bày bộ đề thi trong môn học
Phương pháp thực nghiệm sư phạm
7 CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Luận văn bao gồm 4 phần:
* Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
* Chương 2: Thực trạng dạy - học, kiểm tra và đánh giá môn học Điện kỹ thuật tại trường Trung cấp Nông nghiệp Hà Nội
* Chương 3: Quy trình xây dựng bộ đề thi
* Chương 4: Khảo nghiệm sư phạm
Kết luận và một số ý kiến
Trang 166
PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 TỔNG QUAN VỀ KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ HỌC SINH TRONG DẠY HỌC 1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
và hiệu quả giáo dục căn cứ vào mục tiêu giảng dạy, mục tiêu đào tạo làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động giáo dục tiếp theo nhằm phát huy kết quả, sửa chữa những thiếu sót
1.1.1.2 Kiểm tra
Theo khoa học giáo dục: Kiểm tra là phương tiện và hình thức của đánh giá
Trong kiểm tra người ta xác định được trước các tiêu chí và không thay đổi chúng trong quá trình kiểm tra cũng như không quan tâm đến quyết định đề ra Như vậy, kiểm tra là quá trình hẹp hơn đánh giá, hay nói cách khác kiểm tra là một khâu của quá trình đánh giá
Trong quá trình dạy học, kiểm tra – đánh giá là một thành phần của quá trình dạy học, đảm nhận một chức năng lí luận dạy học cơ bản, chủ yếu không thể thiếu được trong quá trình này Kiểm tra có 3 chức năng bộ phận liên kết, thống nhất, thâm nhập vào nhau và bổ sung cho nhau đó là: đánh giá, phát hiện lệch lạc và điều chỉnh
Trang 177
Về mặt lí luận dạy học: Kiểm tra có vai trò thông tin ngược trong dạy học, nó
cho biết những thông tin, kết quả về quá trình dạy của thầy và quá trình học của trò
để từ đó có những quyết định cho sự điều khiển tối ưu của cả thầy và trò Học sinh
sẽ học tốt hơn nếu thường xuyên được kiểm tra và được đánh giá một cách nghiêm túc, công bằng với kĩ thuật tốt và hiệu nghiệm
kết” (summative) có thể nổi trội hoặc không nổi trội so với tính chất “quá trình”
(formative) thì trong thi, tính chất tổng kết luôn luôn là tính chất nổi trội so với tính
chất quá trình
1.1.1.4 Đo lường
Đo lường là quá trình thu thập thông tin một cách định lượng (số đo) về các đại lượng đặc trưng của quá trình giáo dục (nhận thức, tư duy, kỹ năng và phẩm chất nhân văn) Nói một cách cụ thể hơn, đo lường là hoạt động thông qua việc thi kiểm tra để xác định mức độ người học nắm được kiến thức một môn học hoặc mức
độ hiểu biết về một vấn đề nào đó Kết quả đo lường thể hiện dưới dạng một đại lượng định lượng Trong đánh giá, đo lường là so sánh một sự vật hiện tượng với một chuẩn mực nào đó Khi sử dụng khái niệm này chúng ta muốn khẳng định tính định lượng, tính chính xác, tính đơn nhất của kết quả đánh giá
1.1.1.5 Kết quả học tập
Trong khoa học và trong thực tế thì KQHT được hiểu theo hai nghĩa sau đây: + Thứ nhất: KQHT là mức độ người học đạt được so với các mục tiêu đã xác định (dựa vào các tiêu chí)
+ Thứ hai: KQHT là mức độ mà người học đạt được so sánh với những người cùng học khác (theo chuẩn)
Trang 18+ Đánh giá quá trình: Loại đánh giá này được tiến hành nhiều lần trong quá
trình đào tạo nhằm cung cấp các thông tin ngược để giảng viên và học viên kịp thời điều chỉnh quá trình đào tạo Kiểu đánh giá này được tiến hành sau khi kết thúc một nội dung học tập, sau một bài học hay sau một đơn vị học trình hoặc thậm chí là một chương để thu thập sự phản hồi nhanh của sinh viên để giảng viên có thể kịp thời bổ sung những phần kiến thức còn thiếu hụt của họ, đồng thời bổ sung thêm phần tài liệu còn thiếu và điều chỉnh nội dung, chương trình và phương pháp giảng dạy cho phù hợp với người học ở các giai đoạn khác nhau Loại đánh giá này cũng giúp sinh viên điều chỉnh hoạt động học tập của mình và nó cũng cung cấp các số liệu chứng minh sự tiến bộ của sinh viên Bởi vậy loại đánh giá này nên được sử dụng thường xuyên
+ Đánh giá tổng kết: Được tiến hành khi kết thúc quá trình đào tạo nhằm
cung cấp các thông tin về chất lượng đào tạo Loại đánh giá này nhằm xếp loại sinh viên được học tiếp hay không hoặc nó còn để cấp các văn bằng hay chứng chỉ Đánh giá tổng kết cho số liệu để thừa nhận hay bác bỏ sự hoàn thành hoặc chưa hoàn thành một chương trình học, nó chỉ tiến hành sau khi kết thúc một giai đoạn học tập nhất định như kết thúc môn học, kết thúc khóa học Do vậy, loại đánh giá này không được tiến hành thường xuyên Với một học phần cụ thể thì đánh giá tổng kết chỉ ra mức độ mà sinh viên đạt được như thế nào trong các mục tiêu cụ thể trong môn học đó
1.1.2 Kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh trong quá trình dạy học 1.1.2.1 Kiểm tra đánh giá kết quả học tập
Là quá trình đo lường mức độ đạt được của học sinh về các mục tiêu và nhiệm vụ của quá trình dạy học, là mô tả một cách định tính và định lượng, tính đầy
đủ, tính đúng đắn, tính chính xác, tính vững chắc của kiến thức; mối liên hệ của kiến
Trang 199
thức với đời sống, các khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, mức độ thông hiểu, khả năng diễn đạt bằng lời nói, bằng văn viết, bằng chính ngôn ngữ chuyên môn của học sinh… và cả thái độ của học sinh trên cơ sở phân tích các thông tin phản hồi từ việc quan sát, kiểm tra, đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao, đối chiếu với những chỉ tiêu, yêu cầu dự kiến, mong muốn đạt được của môn học
Quy trình kiểm tra đánh giá gồm những công đoạn sau:
1- Phân tích mục tiêu học tập qua các kiến thức, kĩ năng trang bị cho người học
2- Đặt ra các yêu cầu về mức độ đạt được các kiến thức, kĩ năng dựa trên những dấu hiệu có thể đo lường hoặc quan sát được
3-Tiến hành đo lường các dấu hiệu đó để đánh giá mức độ đạt được về các yêu cầu đặt ra, biểu thị bằng điểm số
4- Phân tích, so sánh các thông tin nhận được với các yêu cầu đặt ra rồi đánh giá, xem xét kết quả học tập của học sinh, xem xét mức độ thành công của phương pháp giảng dạy của giáo viên để từ đó cải tiến, khắc phục những nhược điểm
Điều quan trọng trong kiểm tra đánh giá là quán triệt nguyên tắc vừa sức, bám sát yêu cầu của chương trình Kiểm tra đánh giá kết quả học tập dựa trên tiêu chí của mục tiêu dạy học sẽ nhận những thông tin phản hồi chính xác nhằm bổ sung, hoàn thiện quá trình dạy học
1.1.2.2 Mục đích, ý nghĩa của việc kiểm tra - đánh giá KQHT
Kiểm tra, đánh giá là một yếu tố quan trọng của giáo dục, nó có mối quan hệ khăng khít với sự phát triển của xã hội Mục đích của việc KTĐG là nhằm xác định mức độ tiếp thu của học sinh và mức độ truyền thụ kiến thức của giáo viên so với mục tiêu đề ra Tuy KT, ĐG là hai công việc khác nhau nhưng có mối quan hệ mật thiết và hữu cơ với nhau Kiểm tra nghiêm túc thì sẽ dẫn đến việc đánh giá chính xác Đánh giá chính xác sẽ là nguồn động lực thúc đẩy quá trình học tập của sinh viên Do vậy, quá trình KT, ĐG không chỉ quan trọng và có ý nghĩa quyết định đối
Trang 2010
với sinh viên và giáo viên mà còn có ý nghĩa rất lớn đối với những người làm công tác quản lý
+ Đối với giáo viên:
Thông qua KT, ĐG, giáo viên thu được những thông tin về hoạt động nhận thức của sinh viên trong quá trình học, dự đoán xem sinh viên có đủ điều kiện để tiếp thu kiến thức mới hay không, từ đó định hướng cụ thể cho việc bồi dưỡng, điều chỉnh, bổ sung kiến thức cho phù hợp với từng đối tượng
Thông qua đó giáo viên tự điều chỉnh nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức sư phạm cho phù hợp với từng nội dung bài giảng và từng đối tượng cụ thể
+ Đối với học sinh::
Việc KT, ĐG có hệ thống và thường xuyên cung cấp kịp thời thông tin về kết quả học tập của sinh viên Từ đó, sinh viên tự điều chỉnh, tự hoàn thiện quá trình học tập của mình cho phù hợp
Việc KT, ĐG chỉ ra cho mỗi sinh viên thấy mình tiếp thu được và chưa được những gì và cần phải bổ sung kiến thức, kỹ năng ra sao Thông qua các hình thức thi, kiểm tra, sinh viên có điều kiện tiến hành hoạt động trí tuệ như: ghi nhớ, tái hiện, chính xác hóa, khái quát hóa, hệ thống hóa kiến thức Từ đó phát huy được năng lực tư duy sáng tạo, vận dụng linh hoạt các kiến thức đã học vào tình huống thực tế
KT, ĐG nếu được tổ chức nghiêm túc sẽ giúp cho sinh viên nâng cao tinh thần trách nhiệm trong học tập, ý trí vươn lên đạt những kết quả cao hơn, tự tin vào khả năng của chính mình, nâng cao ý thức tự giác, khắc phục tính chủ quan, tự mãn
+ Đối với cán bộ quản lý::
KT, ĐG cung cấp những thông tin cơ bản về thực trạng việc dạy và học trong nhà trường, qua đó có những biện pháp chỉ đạo kịp thời, nhằm đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu đã đề ra của quá trình dạy và học trong một nhà trường nói riêng, mục tiêu đào tạo của cả nước nói chung
Như vậy, trong quá trình dạy và học thì việc KT, ĐG là một khâu hết sức quan trọng, không thể thiếu khi thực hiện các mục tiêu đào tạo của ngành giáo dục
Trang 2111
1.1.2.3 Các bước đánh giá kết quả học tập
Bước 1: Xây dựng các quyết định đánh giá
Bước 2: Xây dựng các tiêu trí đánh giá
Bước 3: Thu thập các thông tin thích đáng
Bước 4: Đối chiếu các tiêu chí đã được thống nhất với các thông tin đã thu thập Bước 5: Hình thành những kết luận cuối cùng một cách thật chính xác trước khi công bố kết luận đánh giá
1.1.2.4 Các lĩnh vực kiểm tra đánh giá
a Kiểm tra đánh giá kiến thức
Mục đích của KTĐG kiến thức là xác định xem HS nhận thức được gì, ở mức độ nào trong các nội dung đã học Tùy theo mục tiêu học tập mà có những mức
độ, yêu cầu khác nhau, từ đơn giản đến tái hiện được ( kể được, mô tả được, trình bày được) đến áp dụng được, so sánh, phân tích, giải thích…
b Kiểm tra đánh giá kỹ năng
Mục đích của KTĐG kỹ năng là xác định xem HS đã làm được gì, ở mức độ nào trong các nội dung đã học Mức độ yêu cầu người học làm được cũng từ đơn giản nhất là bắt chước làm đúng, chuẩn xác rồi đến làm nhanh và thành thạo
c Kiểm tra đánh giá thái độ
Mục đích của KTĐG thái độ nhằm xem xét người học đã có cách ứng xử, cách biểu lộ tình cảm, cách bộc lộ những phẩm chất nhân cách như thế nào trước một sự vật hiện tượng, trước công việc, trước đồng nghiệp…
1.1.2.5 Các công cụ kiểm tra đánh giá
a Yêu cầu đối với các công cụ kiểm tra đánh giá
- Không bỏ sót một khía cạnh quan trọng nào trong kiểm tra đánh giá
- Có sự nhất quán trong nội dung và phương pháp KTĐG đối với các người học, người dự thi khác nhau
- Đảm bảo độ tin cậy, độ giá trị và tính công bằng trong KTĐG
b Các công cụ kiểm tra đánh giá
- Các văn bản, tư liệu, kế hoạch
Trang 2212
- Các phương pháp KTĐG: câu hỏi, tình huống,…
- Các sổ lộ trình công việc, các phiếu quy trình công nghệ…
- Các báo cáo của người dạy, người học…
- Các bản hướng dẫn của người kiểm tra, đánh giá…
c Những đặc điểm chủ yếu của một công cụ kiểm tra đánh giá tốt
- Hướng dẫn chính xác, đơn giản
- Không gây nhầm lẫn trong bất kỳ trường hợp nào
* Về các tiêu trí, dấu hiệu
- Chứng cứ chấp nhận đều có liên quan đến các tiêu chí đề ra
- Phải giải thích rõ ràng có thể đạt được năng lực thực hiện như thế nào?
- Bao quát được các phương pháp thu thập tất cả các chứng cứ đã dự định
1.1.2.6 Các phương pháp kiểm tra – đánh giá trong dạy học
Trên cơ sở lí luận về kiểm tra đánh giá, có thể đánh giá kết quả học tập của học sinh thông qua 3 nhóm phương pháp theo sơ đồ dưới đây:
Trang 23để HS trả lời đa số chỉ nằm trong một nội dung hẹp nào đó
Các phương pháp kiểm tra đánh giá
Trắc nghiệm tự luận
Trắc nghiệm khách quan
Trang 2414
* Phương pháp kiểm tra viết
Đây là hình thức được dùng phổ biến trong dạy học Kiểm tra theo kiểu này có những ưu điểm sau:
- Cho phép kiểm tra nhiều HS một lần
- Cung cấp một bản ghi rõ ràng các câu trả lời của thí sinh dùng cho việc chấm điểm
- Cho phép thí sinh cân nhắc trước khi trả lời các câu hỏi, do đó kiểm tra được
sự phát triển trí tuệ ở mức cao hơn
- Dễ quản lí vì bản thân người chấm không tham gia trực tiếp trong thời gian kiểm tra
1.1.2.7 Các biện pháp đề phòng và chống gian lận trong kiểm tra
Các biện pháp dưới đây nhằm khắc phục phần nào sự gian lận trong quá trình thi, kiểm tra:
Thống nhất các quy tắc triển khai một kỳ kiểm tra từ khoa, bộ môn, giáo viên
để có sự xử lý như nhau trong mọi trường hợp
Có các bài hướng dẫn kiểm tra rõ ràng, đầy đủ để chuẩn bị cho HS đạt một
kỳ kiểm tra, tránh cho học sinh vi phạm kỷ luật, phát triển tư duy độc lập và
tự trọng Vì một lý do nào đó học sinh không chuẩn bị kỹ sẽ mất cơ hội thể hiện khả năng của mình
Các bộ môn và giáo viên phải có đầy đủ các dự kiến những khả năng gian lận trong các kỳ kiểm tra, trong các bài kiểm tra của môn học hoặc kỳ thi do mình đề xuất Ở đó nêu ra các biện pháp và các ứng xử sẵn sàng đối với những dự kiến đã có để giải quyết và xử lý nhanh
Gặp một khẳng định có tính linh cảm về gian lận thì đòi hỏi người chấm phải đọc nhiều lần để phân biệt sự sao chép và sự độc đáo trong bài làm của HS
Tăng cường kiểm tra khách quan là một biện pháp chống gian lận tốt nhất 1.2 PHƯƠNG PHÁP TRẮC NGHIỆM TRONG KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1.1 Khái niệm về trắc nghiệm
Trắc nghiệm “test” trong tiếng Anh có nghĩa là “sự khảo sát hoặc thử các
Trang 2515
phẩm chất của một người hoặc vật”; còn trong tiếng Hán thì “trắc” có nghĩa là “đo lường”, “nghiệm” có nghĩa là “suy xét, chứng thực” Trắc nghiệm là phép thử tiêu chuẩn hóa để đo và đánh giá kiến thức riêng hoặc là tầm vóc, nhân cách
Trắc nghiệm kiến thức là hoạt động đo lường mức độ đạt được mục tiêu dạy học về lĩnh vực kiến thức đặt ra ở người học
Trắc nghiệm năng lực là các trắc nghiệm đo năng lực cá nhân như trắc nghiệm trí tuệ, trắc nghiệm năng khiếu…
Trắc nghiệm KQHT là trắc nghiệm đánh giá tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng thái độ trong học tập
Trắc nghiệm luôn mang tính ý nghĩa là thông tin trực tiếp một vấn đề cần nghiên cứu, là một công cụ để đánh giá qua những vấn đề cần giải quyết hoặc cần các câu hỏi trả lời
Vì vậy, việc sử dụng trắc nghiệm trong thi, kiểm tra đã và đang trở thành phổ biến Do vậy việc xây dựng bộ đề thi trắc nghiệm của các môn học là vấn đề cần thiết và là xu hướng tất yếu của giáo dục thời đại
1.2.1.2 Độ tin cậy của bài trắc nghiệm
Độ tin cậy của bài trắc nghiệm cho biết kết quả đo một bài trắc nghiệm đáng tin cậy đến đâu, ổn định đến mức nào Một bài trắc nghiệm có độ tin cậy cao khi dùng cho những đối tượng giống nhau, trong hoàn cảnh giống nhau sẽ cho kết quả như nhau hoặc sai với sai số cho phép
1.2.1.3 Độ giá trị của bài trắc nghiệm
Độ giá trị của trắc nghiệm cho biết mức độ mà một bài trắc nghiệm đo được đúng cái nó định đo Chẳng hạn, một bài trắc nghiệm nhằm mục đích đánh giá trình
độ nắm kiến thức của một chương thì toàn bộ các câu hỏi đều hướng đến mục tiêu
đó, bao quát được những kiến thức có bản then chốt của chương đó, không có câu hỏi kiểm tra về thái độ, kỹ năng Kết quả là bài trắc nghiệm cho phép đánh giá chính xác trình độ HS nắm được các kiến thức thuộc chương đó
1.2.2 Những nguyên tắc chung của trắc nghiệm
Với những chức năng của mình, trắc nghiệm được xem là công cụ KT - ĐG
Trang 2616
kết qủa học tập trong dạy học Đối với người dạy, sử dụng trắc nghiệm nhằm cung cấp thông tin ngược để điều chỉnh phương pháp, nội dung cho phù hợp, từ đó nâng cao hiệu quả giảng dạy Đối với người học, sử dụng trắc nghiệm có thể tăng cường tinh thần trách nhiệm trong học tập, việc học tập trở nên nghiêm túc Sử dụng trắc nghiệm giúp người học tự KT - ĐG kiến thức, kĩ năng, phát hiện năng lực tiềm ẩn của mình, vì vậy quá trình tự học có hiệu quả hơn Mặt khác, sử dụng trắc nghiệm giúp người học phát triển năng lực tư duy sáng tạo, linh hoạt vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các tình huống nảy sinh trong thực tế
Song trắc nghiệm chỉ thực hiện một cách có hiệu quả khi dựa trên một số nguyên tắc sau:
- Xác định rõ mục tiêu đo lường
- Làm rõ nội dung cần phải đo lường
- Lựa chọn kĩ thuật trắc nghiệm phải dựa trên mục đích đánh giá Không nên lựa chọn trắc nghiệm chỉ vì nó thuận tiện, dễ sử dụng, quen thuộc với nhiều người Điều quan trọng nhất trong việc lựa chọn một kĩ thuật trắc nghiệm giáo dục là liệu
nó có đo được một cách hiệu quả nhất những gì cần đo hay không
- Việc đánh giá tổng quát đòi hỏi phải sử dụng nhiều kĩ thuật và phương pháp đánh giá khác nhau vì không có một phương pháp đánh giá nào có thể thực hiện được toàn bộ những yêu cầu đánh giá
- Muốn sử dụng một cách thích hợp và hiệu quả hình thức trắc nghiệm thì phải hiểu được những ưu điểm cũng như hạn chế của nó Trắc nghiệm cũng như các phương pháp đánh giá khác luôn có những sai số cho nên không thể gắn cho những kết quả trắc nghiệm giá trị tuyệt đối được
- Trắc nghiệm chỉ là một phương tiện được sử dụng để thu thập thông tin trong quá trình dạy học Không nên quan niệm là chỉ cần thông qua trắc nghiệm mà chất lượng dạy và học đương nhiên được cải thiện
1.2.3 Phân loại câu hỏi trắc nghiệm
Trắc nghiệm là một loại công cụ đo lường, là phép lượng giá cụ thể mức độ khả năng thể hiện hành vi của một người nào đó, trong một lĩnh vực nào đó Có thể
Trang 2717
phân chia các phương pháp trắc nghiệm theo các hình thức sau:
Sơ đồ 1.2: Các phương pháp trắc nghiệm
* Về cách thực hiện trắc nghiệm, có thể phân chia các phương pháp trắc nghiệm
ra làm ba loại lớn: loại quan sát, loại vấn đáp và loại viết
- Loại quan sát giúp đánh giá các thao tác, các hành vi, các phản ứng vô thức,
các kỹ năng thực hành và cả một số kỹ năng về nhận thức, chẳng hạn cách giải quyết vấn đề trong một tình huống đang được nghiên cứu
- Loại vấn đáp có tác dụng tốt để đánh giá khả năng đáp ứng các câu hỏi được
nêu một cách tự phát trong một tình huống cần kiểm tra, cũng thường được sử dụng khi sự tương tác giữa người hỏi và người đối thoại là quan trọng, chẳng hạn để xác định thái độ người đối thoại
- Loại viết thường được sử dụng nhiều nhất Trắc nghiệm viết lại được chia
thành hai nhóm chính:
+ Nhóm các câu hỏi tự luận: Các câu hỏi buộc phải trả lời theo dạng mở, thí
sinh phải tự mình trình bày ý kiến, đưa ra câu trả lời trong một bài viết để giải quyết vấn đề mà câu hỏi nêu ra
+ Nhóm các câu hỏi trắc nghiệm khách quan: Đề thi thường bao gồm rất
nhiều câu hỏi, mỗi câu nêu lên vấn đề và những thông tin cần thiết để thí sinh
Các phương pháp trắc nghiệm
Trắc nghiệm tự
luận
Trắc nghiệm khách quan
Trang 2818
có thể lựa chọn câu trả lời cho từng câu một cách ngắn gọn
* Về cách chuẩn bị đề trắc nghiệm, có thể phân chia thành trắc nghiệm tiêu chuẩn hoá và trắc nghiệm dùng ở lớp học
- Trắc nghiệm tiêu chuẩn hoá thường do các chuyên gia trắc nghiệm soạn thảo,
thử nghiệm, tu chỉnh, do đó mỗi câu trắc nghiệm được gắn với các chỉ số cho biết thuộc tính và chất lượng của nó (độ khó, độ phân biệt, phản ánh nội dung và mức độ
kỹ năng nào), mỗi đề thi trắc nghiệm có gắn với một độ tin cậy xác định, ngoài ra
có những chỉ dẫn cụ thể về cách triển khai trắc nghiệm và giải thích kết quả trắc nghiệm
- Trắc nghiệm dùng ở lớp học (hoặc trắc nghiệm do giáo viên soạn) là trắc
nghiệm do giáo viên tự viết để sử dụng trong quá trình giảng dạy, có thể chưa được thử nghiệm và tu chỉnh công phu, thường chỉ sử dụng trong các kỳ kiểm tra với số lượng học sinh không lớn và không thật quan trọng
* Về việc đảm bảo thời gian để làm trắc nghiệm, có thể phân chia loại trắc nghiệm theo tốc độ và trắc nghiệm không theo tốc độ
- Trắc nghiệm theo tốc độ thường hạn chế thời gian, chỉ một ít thí sinh làm
nhanh mới có thể làm hết số câu của bài trắc nghiệm, nhằm đánh giá kỹ năng làm bài của thí sinh
- Trắc nghiệm không theo tốc độ thường cung cấp đủ thời gian cho phần lớn
thí sinh có thể kịp suy nghĩ để làm hết bài trắc nghiệm
* Về phương hướng sử dụng kết quả trắc nghiệm, có thể phân chia ra trắc nghiệm theo chuẩn và trắc nghiệm theo tiêu chí
- Trắc nghiệm theo chuẩn: là trắc nghiệm được sử dụng để xác định mức độ
thực hiện của một cá nhân nào đó so với các cá nhân khác cùng làm một bài trắc nghiệm
- Trắc nghiệm theo tiêu chí: là trắc nghiệm được sử dụng để xác định mức độ
thực hiện của một cá nhân nào đó so với tiêu chí xác định cho trước
Loại viết theo hướng phân loại về cách thực hiện trắc nghiệm Theo tác giả
Lâm Quang Thiệp trong cuốn “ Trắc nghiệm và ứng dụng” NXB Khoa học xã hội
Trang 2919
thường được sử dụng nhiều nhất Trong phạm vi trình bày của luận văn này, tôi xin được phân tích kỹ về 2 nhóm chính trong cách phân loại trên đó là: Trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan
1.2.3.1 Trắc nghiệm tự luận
Các câu hỏi buộc phải trả lời theo dạng mở, thí sinh phải tự mình trình bày ý
kiến, đưa ra câu trả lời trong một bài viết để giải quyết vấn đề mà câu hỏi nêu ra
a Ưu điểm
- Có thể dùng trong KTĐG về khả năng sắp đặt hay phác họa, khả năng thẩm định, khả năng chọn lựa các ý tưởng quan trọng và tìm mối quan hệ giữa các ý tưởng ấy, khả năng viết văn, khả năng sáng tạo Loại câu hỏi này có thể dùng KTĐG các mục tiêu liên quan đến thái độ, sự hiểu biết, những ý niệm, sở thích và tài diễn đạt tư tưởng
- Loại câu hỏi tự luận dễ soạn Tuy nhiên, một câu hỏi tự luận rõ rang, nhằm đo các mục tiêu ở mức trí lực cao cũng đòi hỏi nhiều công phu và thời gian soạn bài
- Các câu hỏi loại tự luận có thể dùng để trắc nghiệm thái độ của người học đối với từng vấn đề cụ thể
- Loại câu hỏi tự luận khuyến khích cho HS thói quen suy diễn, tổng quát hóa, tìm mối tương quan giữa các sự kiện khi học bài
- Khuyến khích sự phát huy óc sáng kiến Khi HS tự mình sáng tạo, giải quyết vấn đề theo hướng đường lối mới, hoặc có tự do sắp đặt ý tưởng, óc sáng tạo có cơ hội phát triển nhiều hơn khi chỉ lựa chọn những câu trả lời có sẵn
b Nhược điểm
- Loaị câu tự luận có thể KTĐG được một số lĩnh vực trong mỗi bài thi hay kiểm tra Các câu hỏi thường dài, tốn thời gian và HS có thể khéo léo tránh
đề cập đến những điểm mà họ không biết
- Độ tin cậy thấp: độ tin cậy của một bài trắc nghiệm là thấp khi số câu hỏi ít
và việc chọn mẫu câu hỏi thiếu tính tiêu biểu Do đó trong cùng một khoảng thời gian kiểm tra hay thi như nhau, một bài trắc nghiệm tự luận sẽ có độ tin
Trang 3020
cậy thấp hơn so với TNKQ, thêm vào đó là yếu tố chủ quan khi chấm bài cũng làm cho độ tin cậy của bài giảm
- Độ giá trị thấp: mỗi bài trắc nghiệm có giá trị nhiều hay ít tùy theo bài ấy có
đo được đúng những kiến thức của GV kiểm tra đánh giá hay không, với loại câu hỏi tự luận, yếu tố làm giảm chất lượng của bài trắc nghiệm nhiều nhất là tính chất chủ quan lúc chấm bài
1.2.3.2 Trắc nghiệm khách quan
Đề thi thường bao gồm rất nhiều câu hỏi, mỗi câu nêu lên vấn đề và những thông tin cần thiết để thí sinh có thể lựa chọn câu trả lời cho từng câu một cách ngắn gọn
Hiện nay Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp thi/ kiểm tra hiện đại là phương pháp trắc nghiệm khách quan Gọi là “khách quan” vì hệ thống cho điểm loại trắc nghiệm này thực sự khách quan, không có tính chủ quan như trắc nghiệm tự luận, kết quả chấm điểm các câu TNKQ sẽ như nhau đối với mọi người chấm nhờ ở đáp án cho điểm đã được soạn trước, nhất là khi chấm bằng máy Tuy nhiên cũng không thể nói phương pháp này là tuyệt đối khách quan, vì việc soạn thảo các câu hỏi và định điểm cho câu hỏi hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ nhận thức của người soạn Một bài thi TNKQ bao gồm rất nhiều câu hỏi, mỗi câu hỏi nêu một vấn đề chứa đựng những thông tin cần thiết, sinh viên chọn một câu trả lời trong các phương án cho sẵn Phương pháp TNKQ có một số
ưu điểm và hạn chế sau:
Trang 31- Điểm thi của bài TNKQ phần lớn do khả năng sinh viên quyết định, hạn chế các tác động tiêu cực từ bên ngoài
- Rất có ưu thế khi chấm bài với số lượng lớn, chấm nhanh, chính xác, khách quan hoặc khi cần so sánh trình độ các lớp sinh viên khác nhau
Trang 32• Ưu điểm của câu đúng – sai:
- Ra đề dễ dàng Đề thi vừa có thể là câu trần thuật vừa có thể là câu hỏi Ý nghĩa của đề thi vừa có thể là khẳng định, cũng có thể là phủ định
- Người thi trả lời thuận tiện
- Có thể dùng máy để đánh giá, đọc bài thi trắc nghiệm, tiết kiệm được thời gian, sức lực, lại chính xác, khách quan
- Tất cả các môn học đều có thể sử dụng
- Hiệu suất trắc nghiệm khá cao Trong một tiếng đồng hồ trả lời của người tham gia trắc nghiệm đúng sai nhiều hơn rất nhiều đề thi có nhiều lựa chọn
• Nhược điểm của câu đúng – sai:
Nhược điểm lớn nhất của đề thi đúng sai là chịu ảnh hưởng tương đối lớn của khả năng đoán mò đáp án Vì vậy nó có độ tin cậy thấp, dễ tạo điều kiện cho
Trắc nghiệm khách quan
chọn
Trang 3323
học sinh thuộc lòng hơn là hiểu Học sinh giỏi có thể không thỏa mãn khi phải chọn
“đúng - sai” khi câu hỏi viết chưa kĩ càng
• Những gợi ý cho việc biên soạn câu hỏi đúng – sai:
Để sử dụng có hiệu quả các câu hỏi đúng – sai chúng ta cần xem xét các nội dung sau:
- Dạng câu hỏi này có phù hợp mục đích sử dụng không?
- Mỗi câu hỏi có được xem xét rõ ràng là đúng hay sai không?
- Đã tránh dùng các từ “thường xuyên”, “luôn luôn” chưa?
- Có tránh dùng các câu quá đơn giản không?
- Tránh dùng các câu phủ định chưa?
- Có dùng từ chính xác để câu hỏi đơn giản và rõ ràng không?
- Các câu hỏi về quan điểm có quy về một nguồn không?
- Câu đúng và câu sai có độ dài bằng nhau không?
- Số lượng các câu đúng và câu sai có gần bằng nhau không?
- Có tránh dùng quy luật dễ nhận ra khi trả lời (ví dụ Đ, S, Đ, S) không?
* Loại ghép đôi
Trắc nghiệm ghép đôi là một loại của câu lựa chọn, cấu kết của nó bao gồm hai phần: một là, nhóm vấn đề; hai là, nhóm phương án lựa chọn đã chuẩn bị Khi trả lời yêu cầu thí sinh dự thi chọn ra một phương án thích hợp nhất từ trong các lựa chọn trong mỗi vấn đề Mỗi lựa chọn có thể sử dụng một lần, cũng có thể sử dụng nhiều lần và cũng có thể không sử dụng
• Ưu điểm của câu ghép đôi:
- Thích hợp sử dụng nhất cho đo lường tri thức mang tính sự kiện và tính tương quan giữa các sự kiện
- Hiệu suất trắc nghiệm khá cao, diện kiến thức phủ khắp tương đối rộng trong thời gian trắc nghiệm
- Câu hỏi ghép đôi dễ viết, dễ dùng Có thể dùng loại câu hỏi này để đo các mức trí năng khác nhau Nó đặc biệt hữu hiệu trong việc đánh giá khả năng nhận biết các hệ thức hay lập các mối tương quan
Trang 3424
• Nhược điểm của câu ghép đôi:
- Vẫn tồn tại những nhân tố đoán mò
- Loại câu hỏi trắc nghiệm ghép đôi không thích hợp cho việc thẩm định các khả năng như sắp đặt và vận dụng các kiến thức Muốn soạn loại câu hỏi này để đo mức trí năng cao đòi hỏi nhiều công phu Ngoài ra nếu danh sách mỗi cột dài thì tốn nhiều thời gian cho thí sinh đọc nội dung mỗi cột trước khi ghép đôi
• Những gợi ý cho việc biên soạn câu hỏi dạng ghép đôi:
Để sử dụng có hiệu quả các câu hỏi dạng ghép đôi chúng ta cần xem xét các nội dung sau:
- Dạng câu hỏi này có phù hợp mục đích sử dụng không?
- Tài liệu có hai bảng liệt kê có đồng nhất không?
- Có bảng liệt kê câu trả lời dài hơn hoặc ngắn hơn câu giả thiết/ câu hỏi không?
- Có tóm tắt và khái quát câu trả lời và xếp ở bên phải không?
- Các câu trả lời có được sắp xếp theo bảng chữ cái hay chuỗi số thứ tự không?
- Ở phần chỉ dẫn có chỉ ra phần cơ bản của bài ghép nối không?
- Ở phần chỉ dẫn có chỉ ra rằng với mỗi câu trả lời có thể được dùng nhiều hơn một lần không?
- Có sắp xếp tất cả các câu ghép nối trong cùng một trang không?
* Loại điền khuyết
Đây là loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhưng có câu trả lời tự do Thí sinh biết câu trả lời bằng một hay vài từ hoặc một câu ngắn
Yêu cầu người thi điền vào chỗ trống trong mỗi câu, loại đề thi/ câu trắc nghiệm này gọi là đề thi/ câu trắc nghiệm điền vào chỗ trống
• Ưu điểm của câu hỏi trắc nghiệm điền khuyết:
- Có thể đo lường mức độ ghi nhớ và lí giải kiến thức
- Tất cả các môn học đều có thể dùng, phạm vi ứng dụng rộng rãi
- Cơ hội đoán mò là rất nhỏ
Trang 3525
- Thí sinh có cơ hội trình bày những câu trả lời khác thường, phát huy óc sáng kiến Thí sinh không có cơ hội đoán mò mà phải nhớ ra, nghĩ ra, tìm ra câu trả lời Dù sao việc chấm điểm vẫn nhanh hơn TNTL song rắc rối hơn những loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan khác Loại này cũng dễ soạn hơn loại câu hỏi nhiều lựa chọn
• Nhược điểm của câu hỏi trắc nghiệm điền khuyết:
- Nhìn từ bề ngoài thì đề thi điền vào chỗ trống yêu cầu hoạt động trí lực cao hơn đề thi lựa chọn Vì nó đưa ra câu trả lời dựa trên cơ sở tái hiện, chứ không phải đưa ra câu trả lời dựa trên cơ sở nhận thức lại Nhưng trên thực tế, đề thi điền vào chỗ trống không phân tích một cách sâu sắc năng lực nhận thức, tư duy và lý giải như đề thi lựa chọn
- Khó nắm bắt được đáp án người thi đưa ra, tính chính xác của đáp án đưa ra kém, tính chủ quan của người chấm điểm nhiều hơn
- Khó có thể dùng máy để chấm bài thi và cho điểm
- Khi soạn thảo loại câu hỏi này thường dễ mắc sai lầm là trích nguyên văn câu từ trong sách, rồi bỏ đi một vài từ Phạm vi kiểm tra của loại câu hỏi này thường chỉ giới hạn vào chi tiết vụn vặt Việc chấm bài mất nhiều thời gian và thiếu khách quan hơn loại câu hỏi nhiều lựa chọn
• Những gợi ý cho việc biên soạn câu hỏi dạng điền khuyết:
Để sử dụng có hiệu quả các câu hỏi dạng điền khuyết chúng ta cần xem xét các nội dung sau:
- Dạng câu hỏi này có phù hợp mục đích sử dụng không?
- Các câu hỏi có thể được trả lời bằng số, biểu tượng, từ hay cụm từ tóm tắt không?
- Các câu hỏi có tránh lấy nguyên văn các câu trong sách không?
- Các câu hỏi có được xác định để chỉ có một câu trả lời chính xác?
- Chỗ trống của câu trả lời có bằng độ dài của câu trả lời không?
- Chỗ trống của câu trả lời có ở cuối mỗi câu không?
- Các câu hỏi có loại bỏ các dấu hiệu dễ nhận biết không?
Trang 3626
* Loại nhiều lựa chọn
Câu hỏi trắc nghiệm yêu cầu người thi tuỳ ý lựa chọn đáp án chính xác trong một số đáp án được gọi là câu hỏi nhiều phương án lựa chọn, gọi tắt là câu hỏi nhiều lựa chọn
Câu hỏi nhiều lựa chọn tuy chủng loại nhiều, nhưng nhìn về kết cấu mà nói thì do hai bộ phận câu dẫn (chủ đề) và câu lựa chọn tạo nên Bộ phận chủ đề chính thường dùng các từ, câu hỏi, hoặc câu trần thuật để biểu thị Phần trả lời đã có thể dùng các câu ngắn gọn hoặc các nhóm từ để biểu thị Trong 4 đến 5 phương án lựa chọn có một phương án hoặc một vài phương án đúng, các phương án còn lại là sai, còn gọi là phương án nhiễu Căn cứ vào câu dẫn và các phương án lựa chọn khác nhau còn phân thành:
* Câu nhiều lựa chọn khẳng định
Trong các phương án lựa chọn của câu nhiều lựa chọn theo hình thức khẳng định,
có một hoặc một vài phương án đúng còn các phương án khác đều là làm nhiễu Khi trả lời yêu cầu lựa chọn ra một phương án hoặc tất cả các phương án đúng
* Câu nhiều lựa chọn phủ định
Các phương án lựa chọn của câu nhiều lựa chọn có một đáp án sai, khi đưa ra đáp
án yêu cầu đối tượng thi tìm ra đáp án sai này
* Câu nhiều lựa chọn theo hình thức tốt nhất chỉ có một phương án đúng (tốt nhất), còn các phương án khác, tuy ở một mức độ nào cũng đúng nhưng chúng đều không phải là đúng nhất
* Câu nhiều lựa chọn suy diễn
Câu nhiều lựa chọn suy diễn là căn cứ vào quan hệ của hai sự vật đã đưa ra để suy diễn, lý luận cho quan hệ của hai sự vật khác Cách thức đưa ra phương án của nó vẫn là lựa chọn một phương án thích hợp nhất trong một số phương án lựa chọn
* Câu nhiều lựa chọn hỗn hợp
Câu nhiều phương án lựa chọn hỗn hợp là do một số đơn độc hoặc một số nhóm đáp
án đơn độc không giống nhau tạo nên
• Ưu điểm của câu nhiều lựa chọn:
Trang 3727
- Thích hợp sử dụng cho tài liệu nhiều loại tầng bậc nhận thức
- Trả lời thuận tiện
- Đọc đề thi tiết kiệm thời gian, sức lực và đánh giá khách quan
- Cơ hội đoán đúng đáp án giảm đi Nếu đối tượng thi toàn bộ làm dựa vào đoán thì cơ hội đoán đúng ở mỗi câu đúng sai là 50%, còn cơ hội để đoán đúng ở câu có 5 phương án lựa chọn chỉ là 20% Đối với toàn bộ bài trắc nghiệm mà nói, thì cơ hội điểm số có được để có thể qua kì thi mà toàn bộ lại dựa vào đoán là bằng
0
- Số lượng câu để tạo nên một lần trắc nghiệm cũng khá lớn, phạm vi lấy mẫu đề thi cũng rộng, tính đại diện mạnh, vì thế nó chính là phương pháp áp dụng nhiều để tiêu chuẩn hoá trắc nghiệm
- Giáo viên có thể dùng loại câu hỏi này để kiểm tra - đánh giá những mục tiêu dạy học khác nhau
- Xác định mối tương quan nhân quả
- Nhận biết những điều sai lầm
- Ghép các kết quả hay các điều quan sát được với nhau
- Định nghĩa các khái niệm
- Tìm nguyên nhân của một số sự kiện
- Nhận biết điểm tương đồng giữa hai hay nhiều vật
- Xác định nguyên lí hay ý niệm tổng quát từ những sự kiện
- Xác định thứ tự hay cách sắp đặt nhiều vật
- Xét đoán vấn đề đang được tranh luận dưới nhiều quan điểm
- Độ tin cậy cao hơn Yếu tố đoán mò hay may rủi giảm đi nhiều so với các loại TNKQ khác khi số phương án lựa chọn tăng lên
Tính giá trị tốt hơn Với bài viết trắc nghiệm có nhiều câu trả lời để lựa chọn, người
ta có thể đo được khả năng nhớ, áp dụng các nguyên lý, định luật, tổng quát hoá… rất hữu hiệu
Trang 3828
- Thật sự khách quan khi chấm bài Điểm số của bài trắc nghiệm khách quan không phụ thuộc vào chữ viết, khả năng diễn đạt của học sinh và trình độ người chấm bài…
• Nhược điểm của câu nhiều lựa chọn:
- Viết câu hỏi rất khó khăn Vì việc biên soạn và đáp án chính xác vừa có khác biệt bản chất nhưng về bề mặt là có những chỗ tương đồng như 3, 4 phương án nhiễu, thực sự không phải là một việc dễ dàng
- Các nhân tố để đoán đúng đáp án đã giảm đi so với câu đúng sai nhưng nó vẫn tồn tại
- Loại câu hỏi này khó soạn vì phải tìm câu trả lời đúng nhất, còn những câu còn lại gọi là câu nhiễu thì cũng có vẻ hợp lý Ngoài ra phải soạn câu hỏi thế nào đó
để đo được các mức trí năng cao hơn mức biết, mức hiểu
- Có những học sinh có óc sáng tạo, tư duy tốt, có thể tìm ra những câu trả lời hay hơn đáp án thì sẽ làm cho học sinh đó cảm thấy không thoả mãn
- Các câu hỏi nhiều lựa chọn có thể không đo được khả năng phán đoán tinh
vi và khả năng giải quyết vấn đề khéo léo, sáng tạo một cách hiệu nghiệm bằng loại câu hỏi TNTL soạn kĩ
- Ngoài ra, tốn kém giấy mực để in đề các loại câu hỏi này so với các loại câu hỏi khác và cũng cần nhiều thời gian để học sinh đọc nội dung câu hỏi
• Những gợi ý cho việc biên soạn câu hỏi nhiều lựa chọn:
Để sử dụng có hiệu quả các câu hỏi nhiều lựa chọn, chúng ta cần xem xét các nội dung sau:
- Đây có phải dạng câu hỏi trắc nghiệm thích hợp nhất để sử dụng không?
- Có phải mỗi phần chính của câu trắc nghiệm đều trình bày một vấn đề được giải thích chặt chẽ?
- Có phải những phần chính của câu trắc nghiệm đều bắt đầu bằng một câu khẳng định không?
- Nếu sử dụng, những từ mang nghĩa phủ định có được nhấn mạnh đặc biệt không?
Trang 39- Các phương án trả lời có giống nhau về độ dài và dạng trình bày?
- Có phải chỉ có một phương án đúng hoặc một phương án rõ ràng nhất không?
- Các phương án nhiễu có hợp lý để giảm yếu tố đoán mò không?
- Câu trắc nghiệm không có các gợi ý về mặt ngôn từ tới câu trả lời đúng?
- Các phương án trả lời bằng chữ có sắp xếp theo thứ tự bảng chữ cái?
- Các phương án trả lời bằng số có sắp xếp theo thứ tự các con số?
- Có cần tránh các đáp án “tất cả các phương án trên đều đúng” hoặc “không
có phương án nào đúng” (sử dụng hạn chế và phù hợp)?
1.2.3.3 So sánh Trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan
Cả hai phương pháp, TNKQ và TNTL, đều là những phương pháp hữu hiệu
để đánh giá kết quả học tập Cần nắm vững bản chất từng phương pháp và công nghệ triển khai cụ thể để có thể sử dụng mỗi phương pháp đúng lúc, đúng chỗ
- Khó soạn câu hỏi - Dễ soạn câu hỏi
- Dễ sai về nội dung, diễn đạt câu hỏi thiếu chính xác
- Ít sai vì diễn đạt, nội dung rõ ràng
Mức độ phức
tạp khi viết câu
hỏi và tổ hợp đề
- Dễ chuẩn bị đáp án, hướng dẫn chấm
- Khó xây dựng đáp án hướng dẫn chấm, xây dựng đáp án
Trang 40- Tốn nhiều thời gian cho việc
cử Vấn đề đoán
kỹ càng
- Dễ đánh giá được các mức nhận thức cao ( phân tích, tổng hợp, đánh giá )
Tính giá trị của
đề thi
Bao quát toàn bộ chương trình nên có thể đánh giá chính xác hơn, có thể có độ giá trị cao hơn
- Không bao quát toàn bộ chương trình nên có thể tính giá trị không cao
- Khó phân tích đánh giá câu hỏi
Bảng 1.1: Bảng so sánh Trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan