Xây dựng bài giảng theo phương pháp tiếp cận mô đun môn đo lường điện tử trình độ cao đẳng nghề ngành điện tử công nghiệp tại trường Cao đẳng công nghiệp Việt Hung Xây dựng bài giảng theo phương pháp tiếp cận mô đun môn đo lường điện tử trình độ cao đẳng nghề ngành điện tử công nghiệp tại trường Cao đẳng công nghiệp Việt Hung luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
PHÙNG BÁ YÊN
3
Xây d ựng bài giảng theo phương pháp tiếp cận mô đun môn
đo lường điện tử trình độ cao đẳng nghề ngành điện tử công nghi ệp tại trường Cao đẳng công nghiệp Việt - Hung
LU ẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGÀNH SƯ PHẠM KỸ THUẬT
Trang 2B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu và làm việc khẩn trương cùng với sự giúp đỡ
và chỉ bảo tận tình của PG S Lương Duyên Bình, Giảng viên Nguyễn Hương Giang đến nay luận văn của tôi đã hoàn thành
Tôi xin chân thành cảm ơn:
Các thầy, cô hướng dẫn khoa học: PGS Lương Duyên Bình, Giảng viên Nguyễn Hương Giang
Các đơn vị: Khoa Sư Phạm Kỹ Thuật, Khoa Điện Tử Viễn Thông, Viện Đào Tạo Sau Đại Học trường ĐHBK Hà Nội, Khoa Điện – Điện tử trường CĐCN Việt – Hung
Xin cảm ơn Ban Giám Hiệu, giáo viên Khoa Điện – Điện tử và các thầy cô giáo, sinh viên Cao Đẳng Nghề khóa 31, khóa 32 trường CĐCN Việt – Hung đã tạo điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Toàn thể gia đình, bạn bè, người thân và đồng nghiệp đã quan tâm, động viên giúp đỡ để tác giả hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày 28 tháng 11 năm 2011
Tác giả
Phùng Bá Yên
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những gì viết trong luận văn này là do sự tìm hiểu, học hỏi
và nghiên cứu của bản thân cùng với sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình của PGS Lương Duyên Bình, Giảng viên Nguyễn Hương Giang
Luận văn này chưa được ai bảo vệ tại bất kỳ một hội đồng nào cũng như chưa từng được công bố trên bất kỳ phương tiện thông tin nào
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những lời cam đoan trên
Hà Nội, ngày 28 tháng 11 năm 2011
Tác giả
Phùng Bá Yên
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2-1 Bảng phân bố số phòng học lý thuyết và phòng học chuyên
môn, trường CĐCN Việt Hung
47
Bảng 2-2
Bảng kết quả phỏng vấn giáo viên về nội dung và hình thức của chương trình môn học đo lường điện tử tại trường CĐCN Việt -Hung
55
Bảng 2-3 Bảng khảo sát học sinh về việc chuẩn bị cho bài kiểm tra 57 Bảng 2-4 Bảng kết quả học sinh về việc chuẩn bị cho bài kiểm tra 57 Bảng 3-1 Các mô đun thành phần của mô đun đo lường điện tử 61
Bảng 4-1 Bảng điểm kiểm tra học sinh lớp 31 CĐN điện tử học theo
Bảng 4-2 Bảng điểm kiểm tra học sinh lớp 32 CĐN điện tử học theo
Bảng 4-3 Bảng điểm kiểm tra học sinh lớp 31 CĐN điện tử học theo
Bảng 4-4 Bảng khảo sát mức độ hài lòng của học sinh lớp 31 CĐN
Bảng 4-5 Bảng kết quả và mức độ hài lòng của học sinh lớp 31 CĐN
Bảng 4-6 Bảng điểm kiểm tra học sinh lớp 32 CĐN điện tử học theo
Bảng 4-7 Bảng khảo sát mức độ hài lòng của học sinh lớp 32 CĐN
Bảng 4-8 Bảng kết quả và mức độ hài lòng của học sinh lớp 32 CĐN
Trang 7DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1-4 Chương trình cấu trúc theo mô đun kết hợp môn/ bài 29
Sơ đồ 1-5 Cấu trúc lôgic của quá trình trình bày theo phương
pháp thuyết trình
36
Sơ đồ 1-6 Các hình thức giáo viên tổ chức dạy học trong
phương pháp đàm thoại gợi mở
36
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 3-11 Sơ đồ mạch đo điện áp có điện trở phụ nối tiếp vôn
met
100
Hình 3-13 Cách mắc bộ nắn và điện kế khung quay trong đồng
hồ đo
104
Trang 10Chương 3 - XÂY DỰNG ĐỀ CƯƠNG BÀI GIẢNG THEO PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN
MÔ ĐUN MÔN ĐO LƯỜNG ĐIỆN TỬ TRÌNH ĐỘ2 60
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đào tạo theo mô đun là cách thức đào tạo có nhiều ưu điểm, đặc biệt với đào tạo nghề, điều đó được thể hiện qua những lý luận và thực tiễn đã được áp dụng ở nhiều nước trong khu vực và trên thế giới
Ngày nay khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão, hàng ngày, hàng giờ làm thay đổi bộ mặt sản xuất, cơ cấu ngành nghề luôn biến động, nhiều nghề mới được xuất hiện, nhiều nghề cũ mất đi, các nghề còn lại thường xuyên phát triển Quan niệm học một nghề để kiếm sống, để phục vụ suốt đời “Một nghề cho chí còn hơn chín nghề” đã không còn phù hợp nữa “Học suốt đời” đã trở thành nhu cầu cần thiết cho mọi người và cho sự phát triển của xã hội Thực hiện việc “cần gì học ấy, học để hành nghề học để chuyển đổi vị trí làm việc, học để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng nhu cầu xã hội Như vậy quá trình đào tạo theo niên chế với kế hoạch cứng nhắc đã trở thành lỗi thời và kém hiệu quả “Học suốt đời” để phù hợp với sự phát triển của xã hội đã trở thành nhu cầu tất yếu Để thực hiện được vấn đề này cần phải quan tâm, đổi mới phương pháp sư phạm dạy nghề
Cụ thể là phải chuyển đổi phương pháp đào tạo từ đào tạo truyền thống theo niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ ở giáo dục chuyên nghiệp và đào tạo theo mô đun ở đào tạo nghề, nhằm mục đích tạo điều kiện cho người học cần gì
học ấy, học suốt đời để không ngừng nâng cao năng lực nghề nghiệp mà không cần học lại những điều đã biết, đã được học Dạy học theo mô đun tích hợp giữa lý thuyết với thực hành “học đi đôi với hành”, “lý luận gắn liền với thực tiễn” nhằm nâng cao được chất lượng dạy và học
Trong những năm gần đây, nhà nước ta cũng đã nỗ lực thực hiện việc dạy học theo mô đun Bộ LĐTB & XH đã ban hành các chương trình đào tạo trung cấp nghề
và cao đẳng nghề kết hợp giữa mô đun và môn học, tuy nhiên dạy học theo mô đun đang là vấn đề khó khăn và mới mẻ đối với các trường dạy nghề của nước ta trong
đó có trường CĐCN Việt – Hung
Trang 13Trường CĐCN Việt – Hung trực thuộc Bộ Công Thương đã có 34 năm xây dựng
và phát triển, trong những năm qua nhà trường đã đào tạo và cung cấp cho xã hội hàng chục nghìn kỹ thuật viên và công nhân viên có tay nghề cao cho xã hội, đóng góp một phần nhỏ vào sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa của đất nước Tuy nhiên để đáp ứng được những yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc
tế, chiến lược đào tạo của nhà trường vẫn còn tồn tại không ít những khó khăn cần được giải quyết Một trong những vấn đề đó là thay đổi phương pháp đào tạo từ phương pháp dạy học truyền thống theo niên chế sang phương pháp đào tạo theo
mô đun (theo chương trình đào tạo của Bộ LĐTB & XH ban hành) Đây cũng là yếu
tố quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục cho học sinh khi ra trường đáp ứng được đòi hỏi khắt khe của thị trường lao động trong xã hội
Với tư cách là một giáo viên hiện đang công tác giảng dạy tại nhà trường, tôi nhận thấy chất lượng đào tạo có ý nghĩa vô cùng quan trọng đến sự tồn tại và phát triển của nhà trường trong thời gian tới
Được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của PGS Lương Duyên Bình, Giảng viên Nguyễn Hương Giang và các thầy cô giáo trong Khoa Sư Phạm Kỹ Thuật, Khoa Điện Tử Viễn thông - Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội, tác giả đã chọn đề tài:
“ Xây dựng bài giảng theo phương pháp tiếp cận mô đun môn đo lường điện tử trình độ cao đẳng nghề ngành điện tử công nghiệp tại trường CĐCN Việt – Hung” Làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp thạc sĩ sư phạm kỹ thuật, chuyên ngành “Lý luận và phương pháp dạy học – SPKT Điện Tử” với mong muốn đóng
góp một phần công sức nhỏ bé của mình vào sự phát triển chung của nhà trường
2 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng chương trình, đề cương và hồ sơ bài giảng môn đo lường điện tử trình
độ cao đẳng nghề ngành điện tử công nghiệp theo phương pháp tiếp cận mô đun tại trường CĐCN Việt – Hung
Trang 143 Đối tượng nghiên cứu
Bài giảng mô đun đo lường điện tử trình độ cao đẳng nghề ngành điện tử công nghiệp tại trường CĐCN Việt – Hung
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu tổng quan cơ sở lý luận và phương pháp dạy học theo phương pháp tiếp cận mô đun
- Đánh giá thực trạng đào tạo của trường CĐCN Việt – Hung nói chung và môn học Đo Lường Điện Tử nói riêng
- Soạn chương trình, đề cương và hồ sơ bài giảng cho mô đun Đo Lường Điện Tử trình độ cao đẳng nghề ngành điện tử công nghiệp tại trường CĐCN Việt – Hung
5 Giới hạn của đề tài
- Xây dựng đề cương bài giảng cho mô đun đo lường điện tử trình độ cao đẳng nghề ngành điện tử công nghiệp tại trường CĐCN Việt – Hung
- Thực nghiệm sư phạm tại khoa Điện - Điện tử trường CĐCN Việt- Hung
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Vận dụng lý luận về dạy học theo mô đun vào việc soạn đề cương bài giảng cho mô đun đo lường điện tử trình độ cao đẳng nghề ngành điện tử công nghiệp tại trường CĐCN Việt – Hung
- Nâng cao chất lượng giảng dạy ngành điện tử công nghiệp tại trường CĐCN Việt – Hung
7 Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu lý luận:
- Phân tích và tổng hợp các tài liệu có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của
đề tài để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
* Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Tổ chức thực nghiệm sư phạm tại khoa Điện - Điện tử trường CĐCN Việt- Hung
Trang 15- Tổ chức trao đổi ý kiến của những người có kinh nghiệm trong giảng dạy, khảo sát lấy ý kiến của các chuyên gia và sinh viên để xây dựng nội dung chương trình và thiết kế bài giảng theo mô đun
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và các danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục của luận văn, nội dung của luận văn bao gồm 4 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận để xây dựng bài giảng cho mô đun dạy học
- Chương 2: Đánh giá thực trạng giảng dạy các môn học nói chung và môn Đo
Lường Điện Tử nói riêng tại trường CĐCN Việt - Hung
- Chương 3: Xây dựng nội dung chương trình và đề cương bài giảng môn học
Đo Lường Điện Tử theo mô đun
- Chương 4: Thực nghiệm sư phạm
Trang 16
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN ĐỂ XÂY DỰNG BÀI GIẢNG CHO MÔ ĐUN
DẠY HỌC 1.1 KHÁI NIỆM VỀ MÔ ĐUN VÀ MÔ ĐUN DẠY HỌC
1.1.1 Khái niệm về mô đun trong kỹ thuật
Thuật ngữ mô đun được dùng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực kỹ thuật: kiến trúc, xây dựng, kỹ thuật điện, kỹ thuật điện tử, kỹ thuật vũ khí, kỹ thuật du hành vũ trụ…trong các lĩnh vực kỹ thuật khác nhau, thuật ngữ mô đun có nội hàm khác nhau
Mô đun trong kỹ thuật có những đặc tính chung là:
- Mô đun là một đơn vị, một khâu, một bộ phận có tính độc lập tương đối của một hệ thống phức tạp có cấu trúc tổng thể
- Mô đun được chế tạo theo thể thức tiêu chuẩn hóa, thống nhất hóa với hệ thống các thông số xác định
- Do đó, trong kỹ thuật công nghệ, mô đun được chế tạo hàng loạt để dùng chung, lắp lẫn trong các tổ hợp kỹ thuật khác nhau, đây chính là ưu thế nổi bật của
kỹ thuật mô đun Do đó có thể chế tạo hàng loạt các mô đun có chất lượng cao để dùng chung, lắp lẫn trong nhiều hệ thống kỹ thuật khác nhau nên công nghệ mô đun
đã tạo ra được bước phát triển nhảy vọt về năng suất, chất lượng, hiệu quả trong nền sản xuất nâng cao chất lượng cuộc sống cho xã hội
1.1.2 Khái niệm về mô đun dạy học
Mô đun dạy học được chuyển hóa từ khái niệm mô đun trong kỹ thuật vào các lĩnh vực giáo dục (giáo dục đại học, dạy nghề, giáo dục thường xuyên) Trong các lĩnh vực kể trên, mô đun cũng được định nghĩa khác nhau (giáo dục đại học
được định nghĩa là tín chỉ, giáo dục dạy nghề được định nghĩa là mô đun)
Người ta coi mô đun dạy học là một đơn vị, một bộ phận của nội dung, chương trình dạy học được tổ chức theo một nhiệm vụ hay một chủ thể học tập nhất định Trong dạy nghề mô đun đào tạo nghề là “một bộ phận công việc được phân
Trang 17chia hợp lý trong toàn bộ kiến thức và kỹ năng của một nghề Nó có tính độc lập tương đối về nội dung đào tạo
Tùy theo mục đích và cách thức tiếp cận, đào tạo đã có nhiều cách quan niệm và định nghĩa về mô đun dạy học khác nhau, theo định nghĩa của L.D’Hainaut đưa ra: “Mô đun dạy học là một đơn vị chương trình dạy học tương đối độc lập, được cấu trúc một cách đặc biệt nhằm phục vụ cho người học, nó chứa đựng cả mục tiêu dạy học, nội dung dạy học, phương pháp dạy học và hệ thống công cụ đánh giá kết quả lĩnh hội, gắn bó chặt chẽ với nhau thành một thể hoàn chỉnh” Hoặc theo định nghĩa của Dacum: “Mô đun là một phần kiến thức và kỹ năng trọn gói của nghề được phân chia một cách logic theo từng công việc hợp thành nghề đó, có mở đầu và có kiến thức rõ ràng, và về nguyên tắc công việc này không thể chia nhỏ được nữa Kết quả là một sản phẩm cụ thể”
Vậy hiện nay trong giáo dục và đào tạo theo mô đun chưa có sự thống nhất, định nghĩa về mô đun dạy học Vì vậy định nghĩa mô đun dạy học có thể thay đổi tùy theo bối cảnh cụ thể mà nó được áp dụng Trong luận văn này tác giả sẽ sử dụng
định nghĩa về mô đun dạy học của L.D’Hainaut đưa ra để nghiên cứu và làm luận
văn của mình
1.1.3 Đặc điểm của mô đun dạy học (mô đun đào tạo)
Ngoài một số đặc trưng của mô đun kỹ thuật, mô đun dạy học còn một số đặc trưng khác Theo L.D’Hainaut, mô đun dạy học có những đặc trưng cơ bản sau:
- Hàm chứa một tập hợp những tình huống dạy học, được tổ chức xung quanh một chủ thể, nội dung dạy học được xác định một cách tường minh
- Có một hệ thống mục tiêu dạy học được xác định một cách xứng đáng, cụ thể, rõ ràng, có tính khả thi, có thể quan sát được Hệ thống mục tiêu này sẽ định hướng quá trình dạy học
- Có một hệ thống test điều khiển quá trình dạy học nhằm đảm bảo sự thống nhất hoạt động dạy, hoạt động học và kiểm tra, đánh giá để phân hóa con đường lĩnh hội tiếp theo
Trang 18- Chứa đựng nhiều con đường lĩnh hội, theo những cách thức khác nhau để chiếm lĩnh cùng một nội dung dạy học, đảm bảo cho người học tiến lên theo những nhịp độ riêng để đi đến mục tiêu nhất định.
- Có tính độc lập tương đối xét về nội dung dạy học Vì vậy để học một mô đun người học phải có những điều kiện tiên quyết về kiến thức, kỹ năng, thái độ Học xong một mô đun, người học có khả năng ứng dụng những điều đã học vào môi trường hoạt động
- Mô đun dạy học có nhiều cấp độ: Mô đun lớn, mô đun nhỏ, mô đun thứ cấp
+ Một mô đun lớn thường tương đương với số tiết học của một chương hoặc vài chương, mục tiêu của mô đun này mang tính tổng quát
+ Một mô đun nhỏ thường nằm trong mô đun lớn nó thường là một vài mục, một bài hoặc một chương Mục tiêu của tiểu mô đun chuyên biệt và đánh giá kiểm tra tương ứng, Sau khi học xong tiểu mô đun này người học chuyển tới mô đun tiếp theo và cứ thế người học hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình
1.1.4 Chức năng của mô đun dạy học
Với những đặc trưng kể trên, mô đun dạy học có chức năng rất quan trọng trong việc tổ chức quá trình dạy học
- Mỗi mô đun dạy học là một phương tiện tự học hiệu nghiệm vì nó tương ứng với một chủ đề dạy học xác định, lại được phân chia thành từng phần nhỏ (tiểu
mô đun) với hệ thống mục tiêu chuyên biệt và các test đánh giá tương ứng Sau khi học xong tiểu mô đun này, người học tiến tới tiểu mô đun tiếp theo và cứ như thế người học hoàn thành nhiệm vụ học tập Tâm lý dạy học đã chứng minh rằng: Nếu phân chia nhiệm vụ học tập thành những phần nhỏ, hướng dẫn cho người học từng bước làm việc độc lập, tiến hành củng cố và đánh giá sau mỗi phần nhỏ thì sẽ giúp cho người học có động cơ học tập hơn nhằm nâng cao được chất lượng học tập
- Do tính độc lập tương đối về nội dung dạy học, có thể “lắp ghép”, “tháo gỡ”, các mô đun về xậy dựng những chương trình dạy học đa dạng, phong phú, đáp ứng yêu cầu dạy học theo kiểu phân hóa, cá thể hóa, theo nhịp độ của cá nhân Nhờ
Trang 19khả năng “lắp ghép” của các mô đun người học dưới sự hướng dẫn của giáo viên có thể thiết kế được chương trình học tập riêng cho mình và học tập theo nhịp độ để đạt được mục tiêu Khi cần chuyển sang ngành học khác họ lại “tháo gỡ”các mô đun đã tích lũy được, sử dụng các mô đun phù hợp và “lắp ghép” thêm các mô đun mới để đạt được mục tiêu dạy học mới mà không phải học lại từ đầu như kiểu tổ chức dạy học truyền thống Các mô đun dạy học có tính chất “lắp ghép” và “Tháo gỡ” sẽ tránh được tình trạng bỏ trống hoặc trùng lặp nội dung dạy học như kiểu tổ chức dạy học truyền thống
- Do mô đun dạy học được biên soạn theo một số chuẩn mực nên có thể dùng chung, lắp lẫn trong nhiều ngành học Nó rất thuận lợi trong việc tổ chức đào tạo, cải cách nội dung, phương pháp, tổ chức biên soạn và cung cấp giáo trình, tài liệu học tập, các phương tiện kỹ thuật dạy học, các dụng cụ nghiên cứu và thí nghiệm cho người học
- Do có mô đun dạy học có thể dùng chung, lắp lẫn nên người ta có thể tổ chức các nhóm chuyên gia giỏi biên soạn chương trình, tài liệu có chất lượng cao, đảm bảo tính kinh tế của việc xuất bản và cung cấp tài liệu học tập
- Mô đun dạy học có nhiều cấp độ, ở các mô đun lớn và mô đun thứ cấp thì tính chất “lắp ghép” và “tháo gỡ” thể hiện nổi trội Chúng thường được dùng để thiết kế các chương trình dạy học Ở các mô đun nhỏ (tiểu mô đun) thì tính chất tự học lại thể hiện nổi trội Mô đun nhỏ là tài liệu tự học có hiệu quả của người học Tính “lắp ghép” và “tự học”có quan hệ biện chứng với nhau Đó là những quan điểm cần lưu ý khi biên soạn mô đun và sử dụng mô đun để thiết kế chương trình dạy học Khái niệm mô đun dạy học ngoài ý nghĩa của một đơn vị chương trình dạy học, nó còn thể hiện đặc trưng của cách thiết kế chương trình dạy học và biên soạn tài liệu dạy học
1.1.5 Cấu trúc của một mô đun dạy học
Theo L.D’Hainaut, một mô đun dạy học gồm 3 bộ phận chủ yếu sau:
- Hệ vào (Entrance system)
Trang 20- Hệ ra (Exit system)
Ba bộ phận này là một chỉnh thể thống nhất, đó là sự căn bản hóa nội dung và phương pháp dạy học
a Hệ vào gồm:
- Tên gọi hay tiêu đề của mô đun
- Giới thiệu vị trí, tầm quan trọng và lợi ích của việc học theo mô đun
- Nêu rõ các kiến thức, kỹ năng cần có trước
- Hệ thống mục tiêu của mô đun
- Test đầu vào của mô đun
b Thân mô đun gồm: Là một bộ phận chủ yếu của mô đun, nó chứa đầy đủ nội
dung dạy học được trình bày theo một cấu trúc rất rõ ràng, thân mô đun gồm một loạt các tiểu mô đun (về lý thuyết và thực hành) kế tiếp nhau
- Mỗi thân mô đun gồm bốn phần:
+ Phần mở đầu, giống hệ vào của mô đun
+ Nội dung và phương pháp học tập
+ Phần tổng hợp
+ Test trung gian
c Hệ ra gồm:
- Một bản tổng kết chung
- Một bản kiểm tra đánh giá kết thúc
- Hệ thống chỉ dẫn để tiếp tục học tập tùy theo kết quả tự học mô đun của người học Nếu đạt tất cả mục tiêu của mô đun, người học chuyển sang mô đun tiếp theo Nếu không qua được phần lớn các test kết thúc thì người học cần học lại những tiểu mô đun chưa đạt hoặc mô đun phù đạo
Hệ vào
Thân
mô đun
Hệ
ra
Sơ đồ 1.1: - Cấu trúc của một mô đun dạy học
Trang 21Thông thường để dạy học theo mô đun thuận lợi, cần thiết phải có số công
cụ để tạo thành một loại “gói hàng trí dục” bao gồm:
- Những bản hướng dẫn:
+ Cho giáo viên hướng dẫn giảng dạy
+ Cho học viên học tập
+ Kết hợp cả hai bản hướng dẫn trên cho cả học viên và giáo viên
- Giáo trình: Đó là những tài liệu chứa đựng những thông tin cần thiết ứng với các dạng hoạt động học tập khác nhau
- Hệ thống test: Để điều khiển quá trình dạy học, đảm bảo mối quan hệ ngược bên trong và bên ngoài
1.1.6 Ưu điểm và nhược điểm của dạy học theo cách tiếp cận mô đun
a Ưu điểm
- Nhanh chóng và kịp thời bổ sung được những kiến thức và kỹ năng nghề phù hợp với sự biến đổi nhanh chóng của khoa học kỹ thuật và công nghệ, có điều kiện để được đào tạo, bám sát được yêu cầu của sản xuất Vì đây là hệ thống mở nên có thể bổ sung hoặc thay đổi các đơn nguyên học tập một cách dễ dàng
- Mục tiêu đào tạo và cấu trúc nội dung đa dạng, thời gian đào tạo ngắn, phù hợp với nhu cầu đào tạo của người học cũng như người sử dụng lao động
- Đào tạo ban đầu và nâng cao trình độ là một quy trình được thực hiện kế tục và thường xuyên, tạo điều kiện cho người lao động có thể nhanh chóng đi vào nghề nghiệp cũng như có thể nâng cao trình độ chuyên môn, nghề nghiệp tới đỉnh cao của tri thức khi có điều kiện học tập
- Nội dung đào tạo được tích hợp giữa lý thuyết và thực hành, thực hiện tốt nguyên lý “Học đi đôi với hành” để nâng cao chất lượng dạy và học
- Nâng cao tính mền dẻo, tính linh hoạt của quá trình đào tạo nghề nghiệp, tạo điều kiện liên thông giữa các nghề, đặc biệt với các nghề trong cùng lĩnh vực kỹ thuật nhờ việc sử dụng chung một số mô đun đơn vị
- Hiệu quả kinh tế vào đào tạo cao vì hầu hết các kiến thức và kỹ năng đều có
Trang 22- Tạo điều kiện cho giáo viên trong quá trình hướng dẫn giảng dạy nhờ những quy định và hướng dẫn cụ thể đối với giáo viên, giáo viên ít mất thời gian phải hướng dẫn lại lý thuyết, từ đó dành nhiều thời gian hơn cho việc hướng dẫn thực hành
b Nhược điểm
- Thiếu tính hệ thống chặt chẽ của từng bộ phận khoa học kỹ thuật
- Cấu trúc nội dung đào tạo hoàn chỉnh theo toàn khóa của một nghề kém logic
- Việc trang bị kiến thức kỹ thuật cơ bản cho một nghề diện rộng để đào tạo khả năng phát triển lâu dài cũng như tạo nên tính thích ứng cao của người học với
sự biến đổi của khoa học công nghệ bị hạn chế bởi thời gian đào tạo và cấu trúc logic của quá trình đào tạo vì những kiến thức này được coi là chưa cần thiết đối với đào tạo ngắn hạn
- Đào tạo theo mô đun có thể kém hiệu quả đối với những nghề, những môn học mà phần thực hành chiếm quá ít, hoặc các chuẩn đánh giá không được quy định
rõ ràng
- Đào tạo theo mô đun tốn kém hơn vì biên soạn chương trình, tài liệu giảng dạy phức tạp, phương tiện kỹ thuật, thiết bị dạy học và phòng học chuyên môn tốn kém
- Giáo viên cần có trình độ cao cả lý thuyết và thực hành và phải được bồi dưỡng phương pháp về đào tạo theo mô đun
1.2 ĐÀO TẠO THEO NĂNG LỰC THỰC HIỆN
1.2.1 Khái niệm về năng lực thực hiện
- Năng lực thực hiện (Competency) là khả năng thực hiện được các hoạt động (nhiệm vụ công việc) trong nghề theo tiêu chuẩn đặt ra đối với từng nhiệm vụ, công việc đó trong điều kiện cụ thể
- Năng lực thực hiện là các kỹ năng, kiến thức, thái độ đòi hỏi đối với một người để thực hiện hoạt động có kết quả ở một công việc hay một nghề cụ thể
Trang 23- Đào tạo theo năng lực thực hiện (Competency Based training) là phương thức đào tạo dựa chủ yếu vào những tiêu chuẩn quy định cho một ngành nghề, trình
độ đào tạo chứ không dựa vào thời gian như trong đào tạo truyền thống
- Khái niệm trung tâm trong phương thức đào tạo “mới”này là năng lực thực hiện (NLTH), nó được sử dụng làm cơ sở để lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá quá trình cũng như kết quả học tập Đào tạo theo NLTH chứa đựng trong nó những yếu tố cải cách, thể hiện ở chỗ nó gắn rất chặt chẽ với yêu cầu của chỗ làm việc, của người sử dụng lao động, của các ngành nghề
1.2.2 Đặc đểm của đào tạo dựa trên năng lực thực hiện
- Đặc điểm cơ bản nhất có ý nghĩa trung tâm của đào tạo theo NLTH là nó định hướng và chú trọng vào kết quả, đầu ra của quá trình đào tạo, điều đó có ý nghĩa là: Từng người học có thể làm được cái gì trong một tình huống lao động nhất định theo tiêu chuẩn đề ra Trong đào tạo theo NLTH, một người có NLTH là người phải:
+ Có khả năng làm được cái gì đó (Điều này có liên quan đến nội dung chương trình đào tạo)
+ Có thể làm được những cái đó tốt như mong đợi (Điều này có liên quan tới việc đánh giá kết quả học tập của người học dựa vào tiêu chuẩn nghề) Mỗi người học làm được thông thạo cái gì đó sau một thời gian học tập dài, ngắn khác nhau tùy thuộc chủ yếu vào khả năng, nhịp độ học của người đó Người học thực sự được coi
là trung tâm và có cơ hội phát huy tính tích cực, chủ động của mình, người học được phép tích lũy mô đun về những gì đã học trước đó, không phải học lại những điều đã học một khi đã được công nhận là đã thông thạo, có khả năng thực hiện chúng theo tiêu chuẩn quy định
1.2.3 M ô đun kỹ năng hành nghề (MKH)
Đào tạo theo mô đun là phương pháp đào tạo theo tiếp cận mục tiêu dựa trên năng lực thực hiện (NLTH) trong đó nội dung đào tạo được chia thành các mô đun với tính mở, tính mền dẻo và linh hoạt cao, phù hợp với thị trường lao động luôn
Trang 24Mô đun đào tạo là đơn vị chương trình dạy học tương đối độc lập được cấu trúc một cách đặc biệt bao gồm mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học và hệ thống công cụ đánh giá kết quả lĩnh hội, chúng gắn bó với nhau như một chỉnh thể
và có tính độc lập tương đối
Khác với các môn học, các mô đun đào tạo được xây dựng dựa trên logic của hoạt động nghề nghiệp, trong đó tích hợp lý thuyết với kỹ năng thực hành nghề nghiệp hướng tới mục tiêu đào tạo theo năng lực thực hiện các công việc và nhiệm
vụ trong nghề Mỗi mô đun là chương trình đào tạo năng lực thành phần cần thiết để thực hiện một công việc, các mô đun có thể kết hợp với nhau linh hoạt để hình thành nên một chương trình đào tạo đáp ứng nhu cầu đào tạo năng lực cho một nghề Một việc làm hay một phần việc làm phù hợp với nhu cầu cá nhân người học, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và với cấu trúc của nghề
a.Khái niệm mô đun kỹ năng hành nghề: Mô đun kỹ năng hành nghề
(MKH) - (Module of Employable Skillsm- MES) là một phần nội dung đào tạo của một hoặc một số nghề hoàn chỉnh, được cấu trúc theo các mô đun tích hợp giữa lý thuyết và thực hành mà sau khi học xong học sinh có thể ứng dụng được để hành nghề trong xã hội Đây là một khái niệm linh hoạt, bởi lẽ phạm vi hành nghề của mỗi nghề là hết sức đa dạng: diện nghề có thể rộng, hẹp, trình độ nghề có thể cao, thấp khác nhau, tùy theo yêu cầu của người sử dụng lao động
b Cấu trúc của mô đun: Nội dung đào tạo của mỗi mô đun được chia thành
từng phân tố gọi là đơn nguyên học tập Mỗi đơn nguyên học tập trình bày một vấn
đề chuyên biệt về kiến thức và kỹ năng của một nghề nào đó, có thể dùng cho cả người học và người dạy
Mỗi đơn nguyên học tập được cấu trúc bởi các phần sau đây:
- Mục tiêu cho người học
- Danh mục các phương tiện, thiết bị, vật tư, … cần cho việc học tập
- Danh mục các đơn nguyên học tập có liên quan
- Tài liệu học tập của đơn nguyên
- Các câu hỏi, bài kiểm tra để đánh giá kết quả học tập
Trang 25Đơn nguyên học tập gồm có các loại chính sau:
- Loại hình hoạt động
- Loại thông tin về kỹ thuật, thiết bị, công cụ
- Loại thông tin về vật liệu, phương pháp
- Loại thông tin về biểu đồ, sơ đồ
- Loại lý thuyết
- Loại an toàn lao động
Trên đây là những loại đơn nguyên mang tính đặc thù, còn thông thường nội dung của một đơn nguyên thường bao gồm một số hoặc có khi tất cả các phạm trù
kể trên, khi đó đơn nguyên sẽ được phân loại theo yêu cầu mà nó phải đạt được Các loại đơn nguyên thuộc một phạm trù nào đó của một nghề Nếu được xác định với khuôn khổ thích hợp sẽ có khả năng dùng chung rất lớn cho nhiều nghề Khả năng dùng chung của các đơn nguyên rất quan trọng vì nó mang lại hiệu qủa cao trong đào tạo
1.3 QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO NGHỀ THEO MÔ ĐUN
1.3.1 Tình hình thực tế về đào tạo nghề theo mô đun
1.3.1.1 Trên thế giới
- Công nghệ mô đun hóa nội dung và tổ chức đào tạo theo học phần đã được
áp dụng rộng dãi ở nhiều nước trong đào tạo đại học, đào tạo nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên mấy thập kỷ qua Ở các nước phương tây tiêu biểu là Mỹ, người
ta tổ chức đào tạo đại học trên cơ sở tính tự lực cao của sinh viên Điều này thể hiện rất rõ trong chương trình các trường đại học của họ, Các trường đại học này thực hiện phân hóa, cá thể hóa trong quá trình đào tạo, lấy tự học và tự học có hướng dẫn của giáo viên là chính Dạy học theo mô đun là phương pháp dạy học quan trọng Ở đây nhiệm vụ của sinh viên là: Xác định được mục tiêu học tập, xây dựng kế hoạch học tập, đáp ứng yêu cầu mục tiêu đề ra
- Các nước trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Singgapo,…cũng tiếp thu và vận dụng kỹ thuật mô đun hóa nội dung dạy học và tổ chức đào tạo theo học
Trang 26- Các tổ chức quốc tế như UNESCO, WHO cũng có nhiều đóng góp khuyến khích về việc nghiên cứu và ứng dụng mô đun đào tạo của họ
+ Tại hội nghị quốc tế về “Triển khai áp dụng mô đun trong đào tạo” tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan) tháng 12 năm 1977 và tại Paris (Pháp) tháng 01/1985 đã kiến nghị “Sử dụng các mô đun là thích hợp và cần thiết cho mọi đối tượng đào tạo các nước không có nền kinh tế phát triển, đầu tư tổng thể cho giáo dục bị hạn chế nên quan tâm đến đào tạo theo mô đun
+ Nhiều tài liệu biên soạn theo mô đun đã được các tổ chức này công bố như:
“Khái niệm về mô đun đào tạo kỹ năng lao động cần thiết” của ban đào tạo nghề
thuộc văn phòng lao động quốc tế, “Cẩm nang cho giáo viên về quản lý giáo dục” của tổ chức UNESCO khu vực châu Á Thái Bình Dương, một số sách giáo khoa vật
lý đại cương ở Mỹ cũng đã được biên soạn theo mô đun
- Từ năm 1988, Viện nghiên cứu đại học và giáo dục chuyên nghiệp đã bắt đầu nghiên cứu khả năng và điều kiện để áp dụng mô đun dạy học trong đào tạo và
tổ chức đào tạo theo học phần Năm 1989, công bố kết quả nghiên cứu đề tài “thí sinh tự học” Đề tài này mối chỉ được phác thảo khả năng tổ chức để sinh viên đại học học tập một cách tự lực đạt tới mục tiêu đào tạo, đồng thời kiến nghị một số hình thức đào tạo trên cơ sở sinh viên tự học
- Năm 1990, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đã tổ chức cuộc hội thảo với sự tài trợ của ILO nhằm tìm hiểu khả năng ứng dụng phương thức đào tạo nghề theo mô đun ở Việt Nam
Trang 27- Tháng 5 năm 1992 Trung tâm phương tiện kỹ thuật dạy nghề cũng đã tổ chức cuộc hội thảo về phương pháp tiếp cận đào tạo nghề theo mô đun với sự tài trợ của UNDP
- Trong ngành Y tế có một số tài liệu đề cập sơ bộ lý luận về dạy học theo
mô đun và thiết kế nội dung dạy học theo mô đun
- Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đã triển khai nghiên cứu và có quyết định coi hình thức “tự học có hướng dẫn” là một hình thức đào tạo đại học ở nước ta
- Từ năm 1993 các trường như Đại học Tổng Hợp Hà Nội, Đại học Bách Khoa thành phố Hố Chí Minh, viện đại học Đà Lạt đã công bố chương trình đào tạo mới đào tạo theo tín chỉ Tuy nhiên việc biên soạn và dạy theo chương trình này chỉ
mới bắt đầu thực hiện đại trà ở các Học viện, các trường Đại học, cao đẳng từ năm
2010
- Năm 1998, Sở Giáo Dục và Đào Tạo Thành Phố Hồ Chí Minh kết hợp với SWISSCONTACT thực hiện dự án “Tăng cường các Trung tâm dạy nghề” cho ra đời bộ hướng dẫn chương trình đào tạo nghề theo mô đun
- Năm 2001, Tổng Cục Dạy nghề phối hợp với tổ chức SWISSCONTACT tại Thành Phố Hồ Chí Minh thực hiện xây dựng “Tài liệu giới thiệu bộ chương trình đào tạo nghề theo mô đun” Tài liệu được biên soạn bởi nhóm chuyên viên xây dựng chương trình Thành Phố Hồ Chí Minh thuộc dự án “Tăng cường các Trung Tâm Dạy Nghề” Tài liệu này là công trình nghiên cứu của nhiều cá nhân và tập thể,
cụ thể các thành viên gồm:
- Các công nhân lành nghề: Xây dựng biểu đồ phân tích nghề
- Nhóm cố vấn kỹ thuật: Đại diện các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh dịch vụ cung cấp thông tin về yêu cầu và tiêu chuẩn tuyển dụng lao động khả năng phát triển của nghề nghiệp trong tương lai
- Chuyên viên xây dựng chương trình: Chịu trách nhiệm về phương pháp xây dựng chương trình
- Các chuyên gia chuyên đề: Là những giảng viên nhiều năm kinh nghiệm
Trang 28- Đại diện của cơ quan quản lý dạy nghề trực thuộc tổng cục dạy nghề: chịu trách nhiệm pháp lý cho toàn bộ hoạt động xây dựng chương trình
- Các giáo viên của các Trung Tâm Dạy Nghề đang trực tiếp giảng dạy cung cấp thêm thông tin về thực tiễn đào tạo nghề ngắn hạn tại các Trung Tâm Dạy Nghề
1.3.1 3 Ở trường CĐCN Việt - Hung
Năm 2009 thực hiện chỉ đạo của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo nhà trường tiến hành biên soạn chương trình, giáo trình nội bộ đào tạo theo học chế tín chỉ ở hầu hết các môn học trong lĩnh vực giáo dục chuyên nghiệp (Đại học và cao đẳng chuyên nghiệp) và được áp dụng giảng dạy năm 2010
Trong lĩnh vực dạy nghề năm học 2008 nhà trường tiến hành biên sọan chương trình và giảng dạy theo mô đun ở một số môn học theo chương trình khung của Bộ Lao Động Thương Binh & Xã Hội (ở bậc Cao đẳng nghề) nhưng đến nay vẫn chỉ dừng lại ở đó, phần vì thiếu phòng học chuyên môn, trang thiết bị thực hành nên phần lớn các mô đun (bao gồm lý thuyết và thực hành) vẫn được tách ra riêng
rẽ là dạy xong mô đun lý thuyết sau đó dạy mô đun thực hành
Tóm lại: Phương pháp dạy học theo cách tiếp cận mô đun mới được áp dụng nên hiện nay chúng ta chưa có đầy đủ những tài liệu được biên soạn theo phương pháp tiếp cận mô đun cũng như trang thiết bị và phòng học chuyên môn còn thiếu
Ở giáo dục chuyên nghiệp (Đại học và Cao đẳng) cũng đang dần hoàn thiện việc biên soạn chương trình đào tạo và giảng dạy theo học chế tín chỉ
1.3.2 Các loại cấu trúc chương trình đào tạo nghề
1.3.2.1 Chương trình cấu trúc theo hệ thống môn/bài học
Trong kiểu trương trình này, các môn học được thiết kế độc lập, riêng rẽ và được sắp xếp tổ chức theo trương trình đào tạo như “những lát cắt ngang”, gồm các môn chung, các môn kỹ thuật cơ sở, các môn lý thuyết chuyên môn và phần thực hành nghề được bố trí ở cùng trương trình học
Trang 29phương thức tổ chức dạy học cơ bản “lớp bài”
- Chương trình đào tạo nghề theo môn học giúp người học hình thành kiến thức một cách có hệ thống theo logic của các bộ môn khoa học, do vậy người học
có khả năng tư duy sáng tạo và tiềm năng phát triển nghề nghiệp Loại chương trình đào tạo này phù hợp với đội ngũ lao động kỹ thuật có trình độ cao đòi hỏi nhiều khả năng tư duy sáng tạo, có năng lực phân tích bản chất của các sự vật, hiện tượng để tìm ra các giải pháp mới.Tuy vậy chương trình đào tạo theo kiểu môn học cũng có những hạn chế sau:
- Kỹ năng hành nghề chỉ được hình thành sau một thời gian học tập tương đối dài ở trường (thường là sau khóa học)
- Không tạo điều kiện cho người học tự lựa chọn để phù hợp với điều kiện cá nhân như học vấn, tài chính, thời gian…
- Khó khăn khi thay đổi chương trình
Sơ đồ 1.2 - Chương trình cấu trúc theo hệ thống môn\bài học
Thực hành nghề
Các môn học lý thuyết chuyên
ô Các môn kỹ thuật cơ sở
Các môn chung
Trang 30- Không tạo điều kiện cho sự liên thông giữa các trình độ cũng như các phương thức đào tạo
1.3.2.2 Chương trình đào tạo cấu trúc theo mô đun
Chương trình theo hệ thống mô đun là loại chương trình gồm nhiều mô đun được sắp xếp thành một hệ thống logic Thiết kế chương trình theo mô đun là cách thiết kế hiện đại và hệ thống trong dạy học hiện nay, nhất là trong lĩnh vực đào tạo nghề Nếu so sánh với loại chương trình theo hệ thống môn học, thì các kiến thức,
kĩ năng thái độ trong một mô đun được tích hợp từ nhiều môn học như (sơ đồ 1.3)
và được sắp xếp tổ chức trong chương trình như các lát cắt dọc không theo thời gian Điều này có nghĩa là người học sau khi học xong và đạt kết quả một hoặc một
số mô đun riêng rẽ theo nhu cầu sử dụng có thể ra trường đi làm được ngay mà không nhất thiết phải theo học cả khóa học
1.3.2.3 Chương trình đào tạo cấu trúc mô đun kết hợp môn học
- Kiểu chương trình đào tạo này ra đời nhằm phát huy những ưu điểm và hạn chế bớt nhược điểm của hai kiểu đào tạo nghề nói trên, ở nước ta từ những năm
1980 đã sử dụng kiểu Chương trình đào tạo này (do thụy điển đưa vào) và đã cho ra kết quả tốt
Sơ đồ 1.3 - Chương trình đào tạo cấu trúc theo mô đun
Thực hành nghề Các môn học lý thuyết Các môn kỹ thuật cơ sở Các môn chung
Trang 31- Hiện nay thông qua dự án giáo dục kỹ thuật và dạy nghề với vốn vay ODA của ngân hàng phát triển Châu Á, Các trường trọng điểm đã và đang xây dựng, triển khai các chương trình đào tạo kết hợp theo kiểu này như (sơ đồ 1.4)
Trong chương trình đào tạo kết hợp, nội dung các môn học chung và các môn
lý thuyết kỹ thuật cơ sở của nghề được tổ chức thành các môn học hoặc học phần độc lập và được sắp xếp theo các lát cắt ngang, nội dung môn lý thuyết chuyên môn nghề được tổ chức thành các nội dung cần thiết đưa vào phần thực tập từng kỹ năng thành các mô đun độc lập, trọn vẹn và được sắp xếp theo các lát cắt dọc (sơ đồ 1.4) Chương trình đào tạo nghề kiểu này tạo được khả năng tốt để tổ chức quá trình đào tạo nghề một cách linh hoạt, năng động, giảm thiểu được những trùng lặp
về nội dung do có sự tích hợp giữa lý thuyết kỹ thuật chuyên môn nghề và thực hành nghề có điều kiện để đào tạo bám sát được thị trường lao động Tuy vậy chương trình đào tạo kiểu này cũng có những nhược điểm đó là: khó thực hiện được đào tạo theo năng lực thực hiện cũng như đào tạo liên thông giữa các trình độ đào tạo
Sơ đồ 1.4 - Chương trình đào tạo cấu trúc mô đun kết hợp môn học
Thực hành nghề Các môn học lý thuyết chuyên môn
Các môn kỹ thuật cơ sở Các môn chung
Trang 321.3.3 Ưu điểm và nhược điểm của chương trình đào tạo nghề theo mô đun 1.3.3.1 Ưu điểm
- Nhanh chóng và kịp thời bổ xung những kiến thức và kỹ năng nghề phù hợp với sự biến đổi nhanh chóng của tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ, có điều kiện để đào tạo bám sát được yêu cầu của sản xuất Vì vậy đây là hệ thống mở nên có thể bổ xung hoặc thay đổi các đơn nguyên học tập một cách rễ ràng
- Mục tiêu đào tạo và các cấu trúc nội dung đa dạng, thời gian đào tạo ngắn, phù hợp với nhu cầu của người học cũng như nhu cầu của người sử dụng lao động
- Đào tạo ban đầu và nâng cao trình độ là một quy trình được thực hiện kế tục và thường xuyên, tạo điều kiện cho người lao động có thể nhanh chóng đi vào nghề nghiệp cũng như có thể nâng cao tay nghề hoặc trình đô chuyên môn khi có điều kiện
- Nội dung đào tạo được tích hợp giữa lý thuyết và thực hành, thực hiện tốt nguyên lý “Học đi đôi với hành” để nâng cao chất lượng đào tạo
- Nâng cao tính mền dẻo, linh hoạt của quá trình đào tạo nghề, tạo điều kiện liên thông giữa các nghề, đặc biệt đối với các nghề cùng một lĩnh vực kỹ thuật nhờ việc sử dụng chung một số mô đun đơn vị
- Học sinh có thể tự học, tự đánh giá nhờ các hướng dẫn, các bài tập kiểm tra, trắc nghiệm sau khi học xong mỗi mô đun đơn vị
- Tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên trong quá trình hướng dẫn giảng dạy nhờ những quy định và hướng dẫn cụ thể đối với giáo viên
- Có điều kiện thực hiện cá nhân hóa cao trong đào tạo nhờ việc đánh giá khả năng, trình độ của từng học viên trước khi học và hướng dẫn lựa chọn các mô đun thích hợp để đạt được yêu cầu học tập của học sinh cũng như mục tiêu đào tạo của nhà trường
- Tăng tính tự lập, tự sáng tạo của học sinh, thúc đẩy động cơ học tập của học sinh nhằm nhanh chóng lĩnh hội kiến thức kỹ năng nghề nghiệp
1.3.3.2 Nhược điểm
- Thiếu tính hệ thống chặt chẽ của từng bộ môn khoa học kỹ thuật
Trang 33- Cấu trúc nội dung đào tạo hoàn chỉnh theo toàn khóa của một nghề kém phần lôgic
- Việc trang bị kiến thức kỹ thuật cơ bản cho một nghề diện rộng để tạo khả năng phát triển lâu dài cũng như tạo nên tính thích ứng cao của người học với sự biến đổi của khoa học công nghệ bị hạn chế bởi thời gian đào tạo và cấu trúc logic của quá trình đào tạo Mặt khác những kiến thức này thường được coi là “chưa cần thiết” đối với đào tạo ngắn hạn
- Đào tạo theo mô đun có thể kém hiệu quả đối với những nghề, những môn học mà phần thực hành chiếm khá ít hoặc khi các chuẩn đánh giá không được quy định rõ ràng
- Đào tạo theo mô đun tốn kém hơn nhiều so với phương pháp đào tạo truyền thống, vì biên soạn tài liệu phức tạp, phương tiện, phòng học chuyên môn, trang thiết bị giảng dạy cần hoàn chỉnh theo quy định
- Giáo viên phải có trình độ cao về chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm đồng thời được bồi dưỡng phương pháp giảng dạy theo mô đun
1.3.4 Lập kế hoạch bài giảng theo mô đun
Bản thiết kế bao gồm đầy đủ các yếu tố để giáo viên căn cứ vào đó thực thi quá trình dạy học, hướng dẫn người học đạt được mục tiêu học tập và đánh giá mức
độ đạt được mục tiêu đó
Khi bắt đầu lập kế hoạch bài dạy giáo viên cần suy nghĩ và trả lời các câu hỏi: Vì sao? Ai? Cái gì? Như thế nào? Ơ đâu? Khi nào? Có như vậy kế hoạch bài dạy (soạn giáo án) mới sát thực, trọng tâm, hướng vào người học, trình tự các bước lập kế hoạch như sau:
1.3.4.1 Những thông tin chung về dạy học
- Tên môn học
- Tên bài dạy lý thuyết /thực hành
- Đối tượng học
- Số lượng người học
Trang 341.3.4.2 Viết mục tiêu học tập
- Mục tiêu trong kế hoạch bài dạy (giáo án) thuộc loại mục tiêu chuyên biệt Các mục tiêu học tập phải được viết đúng cấu trúc và phải đảm bảo sao cho sau khi đọc mục tiêu người học hiểu rõ mình phải làm được gì sau khi học xong bài đó Mục tiêu bài học phải được công bố trước, viết ngay trong tài liệu dạy học và giới thiệu cho người học ngay đầu buổi học, tiết học
1.3.4.3 Viết nội dung học tập
- Liệt kê các nội dung cần thiết: Nội dung phải bám sát mục tiêu, đảm bảo phủ kín các mục tiêu học tập, không sai lệch mục tiêu, cần loại bỏ những nội dung quá chi tiết hoặc không phù hợp với bài dạy, cần tránh viết thừa, viết thiếu so với nội dung
- Sắp xếp các nội dung lại cho hợp lý: Sắp xếp hợp lý về mặt logic nhận thức của người học, Sắp xếp hợp lý trong việc thực hiện giáo án, nhất là trong việc dạy thực hành
- Phân bố thời gian: Thời gian được phân bố hợp lý không chỉ phụ thuộc vào lượng nội dung mà còn phụ thuộc vào mức độ cần thiết dạy và học Không nhất thiết tất
cả các mục vì nó có những mục tiêu có thể yêu cầu người học tự đọc sách, tự nghiên cứu
1.3.4.4 Dự kiến cách bắt đầu bài dạy
- Có nhiều cách bắt đầu bài dạy như: Ôn bài cũ, kiểm tra bài cũ, nêu tầm quan trọng của bài mới, bắt đầu từ một sự kiện, hiện tượng có thật liên quan chặt chẽ đến bài dạy, nhưng đều nhằm mục đích chuẩn bị về tâm lý, tạo động cơ thu hút người học hoặc tạo hưng phấn định hướng cho người học trước khi bắt đầu vào bài mới
1.3.4.5 Chọn phương pháp dạy học theo mô đun
- Đây là bước hết sức quan trọng đối với tiến trình dạy học Để chọn được các phương pháp dạy học phù hợp, giáo viên cần căn cứ vào các yếu tố sau:
+ Mục tiêu học tập (kiến thức, kỹ năng, thái độ)
+ Đặc điểm của đối tượng người học (số lượng người học, độ tuổi, trình độ, kinh nghiệm đã có, động cơ học tập…)
Trang 35+ Tài liệu và phương tiện dạy học (Học liệu, giáo cụ trực quan, phương tiện
hỗ trợ, phần mền dạy học…)
+ Năng lực, sở trường, kinh nghiệm của giáo viên
+ Quỹ thời gian dành cho toàn bài và cho từng đơn vị nội dung bài học + Tính khả thi xét trên nhiều phương diện
1.3.4.6 Xác định và liệt kê các tài liệu dạy học
Tài liệu dạy học phải được xác định và liệt kê đầy đủ và phù hợp với bài dạy một
số học liệu có phương tiện dạy học có thể có sẵn sách giáo trình, sách tham khảo, một số khác do giáo viên tự biên soạn như phiếu học tập, bảng thực tập thí nghiệm…
1.3.4.7 Xác định phương tiện dạy học
Xác định và liệt kê những phương tiện dạy học cần thiết và phù hợp với phương pháp dạy học có sẵn hoặc giáo viên tự tạo
1.3.4.8 Xác định phương pháp kiểm tra, đánh giá thích hợp
- Nội dung và hình thức kiểm tra, đánh giá phải phù hợp với mục tiêu học tập của bài dạy Cần chú ý xác định số lượng câu hỏi phải đảm bảo đánh giá được tất cả các mục tiêu học tập, nhất là khi dùng câu hỏi trắc nghiệm khách quan đa lựa chọn
- Kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học: Theo các quan niệm mới, khi tổ chức dạy học cần tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, giáo viên phải tích cực kiểm tra đánh giá thường xuyên, liên tục bằng nhiều hình thức khác nhau trong quá trình dạy học, đa dạng hóa khâu kiểm tra đánh giá để có được thông tin ngược phục vụ cho quá trình dạy học có chất lượng cao
- Kiểm tra đánh giá cuối bài: Được tiến hành ngay sau khi kết thúc bài dạy hoặc sau khi người học ôn tập củng cố và câu hỏi phải bao trùm được mục tiêu bài dạy
1.3.4.9 Dự kiến phần kết thúc bài dạy
Khi kết thúc bài dạy giáo viên có thể tóm tắt bài, nhấn mạnh những điểm cần thiết, trọng tâm của bài hoặc yêu cầu học sinh tự tổng kết, đồng thời giáo viên
Trang 36giao bài tập về nhà, giới thiệu các học liệu và tài liệu tham khảo để học sinh có thể
tự tìm đọc
1.3.4.10 Mô tả cách tổ chức dạy học
Cách tổ chức dạy học cần phải đề cập đến trong giáo án, nhất là giáo án cho
bài dạy thực hành, vì ở đó phải dự liệu trước việc chia nhóm học viên, trang thiết bị cần thiết cho buổi học, người trợ giảng…
1.3.5 Phương pháp dạy học theo mô đun
1.3.5.1 Phân loại phương pháp dạy học
- Phân loại không phải là xếp các phương pháp cạnh nhau cho tiện sử dụng
mà là sắp xếp chúng trong một hệ thống toàn vẹn theo đúng những quy luật đã chi
phối chúng (phương pháp tiếp cận hệ thống):
+ Quy luật về mối liên hệ biện chứng giữa Mục tiêu - Nội dung - Phương pháp
+ Quy luật về sự thống nhất giữa phương pháp dạy và phương pháp học
- Phân loại phải tuân theo nguyên tắc về sự phát triển, có nghĩa là đi từ cấu trúc bên ngoài đến cấu trúc bên trong, đi từ cái rộng bao quát đến cái hẹp, cụ thể hơn
- Dựa theo các giai đoạn của quá trình dạy học (bước, khâu của quá trình dạy
học) người ta chia phương pháp dạy học thành 5 tập hợp:
+ Các phương pháp dạy học dùng khi nghiên cứu tài liệu mới
+ Các phương pháp dạy học dùng khi củng cố kiến thức
+ Các phương pháp dạy học dùng khi vận dụng phức hợp Kiến thức, Kỹ năng, Kỹ xảo
+ Các phương pháp dạy học dùng khi khái quát hoá và hệ thống hoá kiến thức
+ Các phương pháp dạy học dùng khi kiểm tra đánh giá kiến thức, kỹ năng,
kỹ xảo
- Dựa theo nguồn phát thông tin dạy học người ta lại chia mỗi tập hợp trên đây thành các nhóm sau:
+ Nhóm phương pháp dạy học dùng ngôn ngữ
+ Nhóm phương pháp dạy học trực quan
+ Nhóm phương pháp dạy học dựa trên công tác tự lực của người học
Trang 37- Dựa trên hoạt động cụ thể của Thầy và Trò trong quá trình dạy học người ta sẽ đặt tên cho từng phương pháp cụ thể trong các nhóm trên đây Như vậy mỗi nhóm phương pháp nói trên lại có thể có ít hay nhiều các phương pháp dạy học cụ thể mà
tên gọi phụ thuộc vào hoạt động của Thầy và Trò (ví dụ Thầy nói, trò nghe và ghi
ché p => Phương pháp thuyết trình, hay Thầy đặt câu hỏi, Trò trao đổi, thảo luận
và phát biểu ý kiến => Phương pháp đàm thoại…)
- Dựa trên các thao tác trí tuệ - vật chất người ta lại có các phương pháp sau: + Phương pháp phân tích (analyst)
+ Phương pháp tổng hợp (synthesis)
+ Phương pháp so sánh (comparison)
+ Phương pháp diễn dịch (deduction)
+ Phương pháp quy nạp (induction)…
- Dựa theo cách thức tổ chức logic bên trong của sự nhận thức người ta lại chia
ra các kiểu phương pháp dạy học khác nhau với các loại Nội dung khác nhau:
+ Kiểu dạy học Thông báo – Tái hiện
+ Kiểu dạy học Làm mẫu - Bắt chước
+ Kiểu dạy học Nêu vấn đề Ơrixtic
+ Kiểu dạy học phức hợp chuyên biệt hoá
1.3.5.2 Một số phương pháp dạy học
1.3.5.2.1 Phương pháp thuyết trình
- Khái niệm: Phương pháp thuyết trình là phương pháp dùng lời nói sinh động của giáo viên để trình bày vấn đề
- Các yêu cầu đối với giáo viên:
+ Trình bày phải đảm bảo tính logic
+ Thu hút, duy trì sự chú ý và gây được hứng thú cho người học thông qua giọng nói, tốc độ, âm lượng, giải thích rõ các thuật ngữ mới, sau mỗi phần phải có kết luận (tiểu kết)
+ Kết hợp lời nói với điệu bộ nét mặt, biết đưa các lời trích dẫn đúng chỗ, thông qua việc trình bày giúp người học biết cách ghi chép
Trang 38+ Nên áp dụng kết hợp cùng các phương pháp khác
1.3.5.2.2 Phương pháp đàm thoại - gợi mở
- Khái niệm: Phương pháp đàm thoại gợi mở là phương pháp mà trong đó
thầy đặt ra một hệ thống câu hỏi mang tính chất nêu vấn đề để trò lần lượt trả lời đồng thời có thể trao đổi qua lại (thận chí tranh luận với nhau và cả với thầy) dưới
sự chỉ đạo của thầy Qua hệ thống hỏi – đáp trò lĩnh hội được nội dung bài học
Các yêu cầu đối với giáo viên:
+ Giáo viên phải làm cho người học ý thức được mục đích của việc đàm thoại
+ Lấy tri thức hiểu biết, kinh nghiệm của cá nhân hoặc tri thức người học làm xuất phát điểm
+ Giáo viên phải có kĩ năng đặt câu hỏi: Câu hỏi phải được dự kiến sẵn, phải chính xác, dễ hiểu, logic, phù hợp với trình độ người học; trong quá trình hỏi giáo
Trang 39viên cần khai thác tính tích cực, độc lập suy nghĩ, phát triển hứng thú nhận thức của người học và luôn bổ sung, hiệu chỉnh câu trả lời của người học
+ Trong quá trình đàm thoại, giáo viên cần chú ý tới toàn lớp, tránh tình trạng chỉ làm việc với các sinh viên khá và giỏi Giáo viên phải chủ động dẫn dắt lớp theo kế hoạch của mình
+ Giáo viên phải tổng kết, hệ thống lại kiến thức để người học nắm vững nội dung bài học
1.3.5.2.3 Phương pháp nêu vấn đề
- Khái niệm: Phương pháp dạy học nêu vấn đề là một tập hợp nhiều phương
pháp dạy học liên kết chặt chẽ và tương tác với nhau, trong đó phương pháp xây dựng tình huống có vấn đề giữa vai trò trung tâm chủ đạo, gắn bó các phương pháp dạy học khác (phương pháp thuyết trình, phương pháp đàm thoại…) tập hợp lại
thành một hệ thống toàn vẹn
- Các yêu cầu đối với giáo viên:
+ Giáo viên phải đặt ra trước người học một loạt những bài toán nhận thức
có chứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái phải tìm, nhưng chúng được cấu trúc lại một cách sư phạm, gọi là những bài toán nêu vấn đề
+ Khi đưa ra những bài toán nêu vấn đề, giáo viên phải xuất phát từ cái quen thuộc, cái đã biết, nó phải vừa sức với người học; không có đáp số chuẩn bị sẵn
+ Tình huống có vấn đề trong bài toán nêu vấn đề có thể là một tình huống nghịch lí và bế tắc, hoặc là một tình huống lựa chọn, hoặc là một tình huống tại sao
1.3.5.2.4 Phương pháp làm mẫu - quan sát
- Khái niệm: Phương pháp làm mẫu quan sát là phương pháp biểu diễn hành
động kĩ thuật kết hợp với lời giải thích do giáo viên thực hiện Mục đích của làm mẫu là giúp người học hình dung rõ ràng từng động tác riêng lẻ của kĩ thuật lao động và nhận thức trình tự các động tác ấy nhằm tạo cho họ khả năng lao động đã chỉ dẫn và tin tưởng vào sự đúng đắn của nó Người học quan sát, tái hiện, hình dung, phân tích… trên cơ sở đó hình thành động hình vận động
- Các yêu cầu đối với giáo viên:
+ Giáo viên phải giải thích cho người học hiểu rõ mục tiêu, nhiệm vụ, ý nghĩa của từng hành động sắp thực hiện, tạo động cơ, hứng thú, tâm thế sẵn sàng học tập cho người học
Trang 40+ Tăng cường kiểm tra khả năng nhận thức của người học
1.3.5.2.5 Phương pháp huấn luyện – luyện tập
- K hái niệm: Luyện tập là sự lặp đi lặp lại một hay nhiều hành động (động tác)
kĩ thuật một cách có kế hoạch, có hệ thống nhằm hình thành và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo
- Các yêu cầu đối với giáo viên:
+ Làm cho người học hiểu rõ mục đích (mục đích bao trùm và mục tiêu từng phần của hành động) và cách thức tiến hành công việc (trình tự và kĩ thuật tiến hành các động tác, thao tác…)
+ Làm cho người học nắm vững kiến thức cần thiết, đặc biệt là các biểu tượng, động hình vận động của hành động cần luyện tập Đây là cơ sở để người học có hứng thú, biến việc học tập thành nhu cầu, do đó người học tự lực luyện tập… + Tổ chức luyện tập với số lần thích hợp, theo trình tự nâng cao dần yêu cầu của hành động (đúng, chính xác, nhanh) với sự hỗ trợ của thiết bị, dụng cụ kĩ thuật tương ứng
+ Tăng cường công tác kiểm tra (GV) và tự kiểm tra, điều chỉnh (HS) đặc biệt là quá trình theo dõi, uốn nắn thường xuyên của GV trong suốt quá trình luyện tập
1.3.5.3 Nguyên tắc lựa chọn phương pháp dạy học
Mỗi phương pháp dạy học đều có những ưu và nhược điểm riêng của mình, không có phương pháp dạy học vạn năng, áp dụng cho mọi nội dung, mọi đối tượng dạy học Do đó, giáo viên phải biết lựa chọn và kết hợp hợp lí các phương pháp dạy học
Vậy việc lựa chọn phương pháp dạy học được tiến hành một cách tuỳ tiện, bất kì, hay bị rằng buộc bởi những tiêu chuẩn khoa học nào?
Câu trả lời cần được tìm kiếm ở các mối quan hệ của phương pháp dạy học với các yếu tố liên quan, đó là: Với mục tiêu dạy học, với nội dung dạy học, với nhu cầu, hứng thú, thói quen học tập của học sinh, năng lực, sở trường, kinh nghiệm sư phạm của giáo viên, với điều kiện giảng dạy và học tập
1.3.5.3.1 Chọn những phương pháp dạy học có khả năng cao nhất đối với việc thực hiện mục tiêu dạy học
Mỗi mô hình lí luận dạy học, phương pháp dạy học đều có những điểm mạnh, điểm hạn chế nhất định Nhưng khi xem xét việc thực hiện một mục tiêu dạy học nhất định thì có một số phương pháp dạy học có khả năng cao hơn các phương pháp dạy học khác Chẳng hạn nếu đặt mục tiêu nhanh chóng truyền thụ cho xong