Mục tiêu xây dựng nông thôn mới mà Đảng và Nhà nước ta đề ra thực chất là xây dựng các làng, xã, ấp, bản có cuộc sống no đủ, văn minh, môi trường văn hóa lành mạnh. Vì vậy, đi đôi với nâng cao đời sống kinh tế - xã hội, việc nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống có ý nghĩa rất quan trọng.
Trang 1V Ă N HÓ A
BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
CHỬ THỊ THU HÀ *
Tóm tắt
Mục tiêu xây dựng nông thôn mới mà Đảng và Nhà nước ta đề ra thực chất là xây dựng các làng,
xã, ấp, bản có cuộc sống no đủ, văn minh, môi trường văn hóa lành mạnh Vì vậy, đi đôi với nâng cao đời sống kinh tế - xã hội, việc nâng cao đời sống văn hóa tinh thần, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống có ý nghĩa rất quan trọng Việt Nam là đất nước của 54 dân tộc, trong đó 53 dân tộc thiểu số hầu hết sinh sống ở vùng nông thôn nơi biên viễn xa xôi của Tổ quốc Vậy nên, bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của các dân tộc thiểu số có vai trò vô cùng quan trọng đối với công cuộc xây dựng nông thôn mới nói riêng và trong sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam nói chung.
Từ khóa: Bảo tồn, phát huy, giá trị văn hóa, xây dựng nông thôn mới, dân tộc thiểu số
Abstract
The goal of new rural development set by the Party and Government means building villages, communes and hamlets with well-fed, civilized life and healthy cultural environment Therefore, along with improving the social and economic life, improving the cultural and spiritual life, preserving and promoting the traditional cultural values are very important Vietnam is a country with 54 ethnic groups, of which 53 ethnic minorities live mostly in rural areas where are almost located at the remote borders of the country So preserving and promoting the cultural values of ethnic minorities plays an extremely important role in the process of new rural development in particular and in the cause of national development in Vietnam in general.
Keywords: Preservation, promotion, cultural values, new rural development, ethnic minorities
1 Sự cần thiết phải bảo tồn, phát huy giá trị
văn hóa của các dân tộc thiểu số trong xây
dựng nông thôn mới
Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khẳng
định: “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát
triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định
chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn,
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi
trường sinh thái của đất nước” [2] Xuất phát từ
nhận thức đó, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra
nhiệm vụ thực hiện Chương trình xây dựng
nông thôn mới nhằm phục vụ yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Sẽ không có một nước công nghiệp nếu nông nghiệp và nông thôn còn lạc hậu và đời sống nhân dân
còn thấp kém Mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh mà Đảng
và Nhà nước ta hướng tới mãi chỉ là khẩu hiệu nếu đời sống vật chất và tinh thần của già nửa dân số của đất nước sống nơi nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo không được cải thiện và nâng cao Chính vì vậy, để Nghị quyết
số 26-NQ/TW của Đảng đi vào hiện thực, ngày
4/6/2010, Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới đã được Thủ tướng Chính
phủ chính thức phê duyệt; cùng với đó, Bộ tiêu
Trang 2một nông thôn mới với đời sống kinh tế phát
triển, đời sống vật chất và tinh thần của cư dân
nông thôn được nâng cao; bộ mặt nông thôn
được xây dựng theo quy hoạch với cơ cấu hạ
tầng hiện đại, môi trường cảnh quan xanh -
sạch - đẹp; trật tự an ninh được giữ vững; dân
trí nâng cao; bản sắc văn hóa dân tộc được
giữ gìn và phát huy… Như vậy, nhìn một cách
tổng thể, Chương trình xây dựng nông thôn
mới hướng đến mục tiêu cải thiện toàn diện
bộ mặt nông thôn Việt Nam để các vùng nông
thôn trên đất nước ta trở thành những miền
quê đáng sống, cả về đời sống vật chất và
hưởng thụ tinh thần
Đi đôi với việc nâng cao đời sống kinh tế
xã hội, việc nâng cao đời sống văn hóa tinh
thần, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa
truyền thống trong công cuộc xây dựng nông
thôn mới có ý nghĩa rất quan trọng Vì vậy, xây
dựng văn hóa nông thôn cần được xác định là
trọng tâm của quá trình xây dựng nông thôn
mới Xây dựng văn hóa nông thôn mới chính là
góp phần xây dựng và phát triển văn hóa, con
người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển
bền vững đất nước trong thời kỳ hội nhập
Văn hóa Việt Nam là nền văn hóa của 54
dân tộc cùng chung sống trên dải đất hình
chữ S Đặc trưng của văn hóa Việt Nam chính
là sự thống nhất trong đa dạng các sắc màu
văn hóa của 54 dân tộc, trong đó không thể
không nói tới những giá trị văn hóa độc đáo
của 53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam Giá trị văn
hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số có
thể ví như những sợi chỉ màu lấp lánh cùng
dệt nên tấm thảm rực rỡ của nền văn hóa Việt
Nam Và hơn thế, bản sắc văn hóa của các dân
tộc thiểu số còn tạo nên sức hấp dẫn lạ kỳ cho
du khách quốc tế khi đặt chân đến Việt Nam
Chính vì vậy, giữ gìn và phát huy bản sắc văn
hóa của các dân tộc thiểu số trong xây dựng
nông thôn mới không chỉ là giữ gìn hồn cốt
cho các bản làng vùng nông thôn miền núi nói
riêng và cho đất nước nói chung, mà còn góp
phần quan trọng làm thay đổi tình hình kinh
tế - xã hội của các địa phương, nâng cao thu
nhập cho người dân nếu chính quyền và cộng
đồng biết khai thác hiệu quả giá trị văn hóa
truyền thống của đồng bào các dân tộc
hóa các dân tộc thiểu số trong phong trào xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020
Để thực hiện xây dựng đời sống văn hóa nông thôn mới, trong đó giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số được bảo tồn và phát triển, thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta thể hiện sự quan tâm sâu sắc tới với đề này Ngày 6/5/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 581/
QĐ-TTg về việc phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020, trong đó, xác định một
trong những mục tiêu quan trọng là: Tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo tồn, kế thừa và phát huy các giá trị tốt đẹp của văn hóa dân tộc, vừa phát huy mạnh mẽ tính đa dạng, bản sắc độc đáo của văn hóa các dân tộc anh em, vừa kiên trì củng cố và nâng cao tính thống nhất trong đa dạng của văn hóa Việt Nam, tập trung xây dựng những giá trị văn hóa mới, đi đôi với việc mở rộng và chủ động trong giao lưu quốc tế, tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới, làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc, bắt kịp
sự phát triển của thời đại Tiếp đó, nhiều đề án
được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt như: “Đề
án Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu
số Việt Nam đến năm 2020” (theo Quyết định số 1270/QĐ-TTg ngày 27/7/2011); “Đề án bảo tồn, phát huy giá trị tác phẩm văn học, nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam” (theo Quyết định số 1558/QĐ-TTg ngày 5/8/2016); “Đề án kiểm kê, sưu tầm, bảo quản, trưng bày, tuyên truyền di sản văn hóa truyền thống điển hình của các dân tộc thiểu số Việt Nam giai đoạn 2017 - 2020” (theo
Quyết định số 2493/QĐ-TTg ngày 22/12/2016); Quyết định số 18/2011/QĐ-TTg ngày 18/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đối với người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số,… nhằm hướng đến mục tiêu bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số trong bối cảnh hiện nay
Là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác văn hóa,
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) cũng
đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn các địa phương trong công tác xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở Ngày 21/1/2011, Bộ VHTTDL ban
Trang 3V Ă N HÓ A
hành Thông tư số 04/2011/BVHTTDL quy định
về việc thực hiện nếp sống văn minh trong
việc cưới, việc tang, lễ hội; ngày 18/1/2019 Bộ
trưởng Bộ VHTTDL ra Quyết định số
209/QĐ-BVHTTDL phê duyệt Đề án Bảo tồn, phát huy
trang phục truyền thống các dân tộc thiểu số Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay Các địa phương
trong cả nước cũng kịp thời xây dựng, ban
hành văn bản hướng dẫn, chỉ đạo, triển khai
thực hiện tiêu chí 06 (về cơ sở vật chất văn hóa)
và tiêu chí 16 (về văn hóa) trên địa bàn quản
lý Công tác tuyên truyền được tăng cường với
nhiều hình thức phong phú, đa dạng, các giải
pháp bảo tồn, phát huy văn hóa truyền thống
được triển khai; từ đó tác động đến nhận thức
của các cấp ủy Đảng, chính quyền, ban ngành,
đoàn thể và mọi tầng lớp nhân dân về trách
nhiệm, nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hóa
nông thôn mới phong phú, lành mạnh; giữ
gìn, phát huy những tinh hoa văn hóa dân tộc
trong cuộc sống hiện nay Nhiều nét đẹp văn
hóa dân tộc trong thời gian qua được phục hồi
và phát huy
Tính từ thời điểm Thủ tướng Chính phủ ban
hành Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng
nông thôn mới vào năm 2010 cho đến nay,
Chương trình đã đi được 2 chặng đường (giai
đoạn 2010 - 2016 và giai đoạn 2016 - 2020)
Trải qua chặng đường 10 năm, phong trào
“Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”
đã diễn ra sôi nổi, rộng khắp các địa phương
trên cả nước, tạo ra nhiều thay đổi tích cực đối
với diện mạo vùng nông thôn, đặc biệt là vùng
đồng bào dân tộc thiểu số Riêng đối với tiêu
chí văn hóa gắn với xây dựng nông thôn mới,
theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn [4], kết quả của phong trào đã
tạo dựng môi trường văn hóa lành mạnh, đa
màu sắc trong đời sống văn hóa tinh thần của
người dân nông thôn, góp phần gìn giữ, bảo
tồn bản sắc văn hóa dân tộc Các địa phương
đã quan tâm hơn đến nâng cao hiệu quả hoạt
động của các thiết chế văn hóa cơ sở1 hoặc
theo mô hình xã hội hóa các khu trung tâm thể
thao - giải trí2; hoặc theo hướng giao cho cộng
đồng quản lý, vận hành Một số địa phương
đã tổ chức các tuyến du lịch trải nghiệm làng
truyền thống Nhiều lễ hội truyền thống lành mạnh được phục hồi, góp phần gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời gắn kết mối quan hệ cộng đồng, bảo vệ bản làng, bảo vệ rừng và các tài nguyên thiên nhiên của đất nước Các trò chơi dân gian như ném còn, ném pao, đánh yến, đẩy gậy, kéo co, đi cà kheo, đi xe cút kít, chơi quay,… được các địa phương đưa vào thành nội dung thi đấu trong các hội thao, hội diễn các cấp và trở thành môn ngoại khóa trong nhiều trường học Các câu lạc bộ (CLB) văn nghệ như hát then, đàn tính, hát dân ca,… được thành lập tới cấp xã, thôn như: CLB hát then - đàn tính của dân tộc Tày, Nùng; hát Soong cộ của dân tộc Sán Dìu; hát Sình của người Cao Lan; hát Páo Dung của dân tộc Dao, múa khèn của người Hmông, xòe của dân tộc Thái; sôang, cồng chiêng của các dân tộc Tây Nguyên; nhạc ngũ âm của người Khmer; múa Lăm vông của người Lào,… được thành lập ở nhiều địa phương đã thu hút mọi lứa tuổi, giới tính tham gia Các nghề thủ công truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số cũng được khuyến khích khôi phục vừa giúp bảo tồn vốn tri thức tộc người, vừa góp phần tăng thu nhập, tạo công ăn việc làm cho người dân để họ gắn bó lâu dài với quê hương, xứ sở Theo tư liệu điền dã của tác giả bài viết tại
xã Ba Vì, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội - nơi có 98% dân số là người Dao Quần chẹt sinh sống,
từ khi địa phương triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới, không chỉ bộ mặt trụ sở UBND xã Ba Vì và diện mạo cảnh quan 3 thôn người Dao (Hợp Nhất, Hợp Sơn, Yên Sơn) đều thay đổi khang trang, sạch đẹp, mà nhiều bản sắc văn hóa truyền thống của người Dao nơi đây cũng được khôi phục, gìn giữ như: Lễ cầu
bình an (niêu dụ nhắt), lễ tạ ơn (bủa phẳn chiu),
lễ cúng mụ (xíp pèng miến), lễ cúng vía (chua vần), lễ sinh nhật (xuốt xiển hoi), hôn nhân
theo phong tục người Dao (chìn cha), đám
tang (phủng kèn tạy/bùa đòi), lễ cấp sắc (chẩu đàng), tết nhảy (nhiàng chầm đao), tiếng nói,
trang phục, nghề thuốc nam truyền thống
Để thực hiện xây dựng nông thôn mới, xây dựng đời sống văn hóa mới, chủ trương bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống
Trang 4chức chính trị - xã hội như Hội phụ nữ, Đoàn
thanh niên, đang tìm biện pháp để tiếp tục
tuyên truyền hiệu quả đối với người dân trong
việc khôi phục và phát huy bản sắc văn hóa
truyền thống Hội người cao tuổi động viên
hội viên mặc trang phục truyền thống khi đi
họp Một số dòng họ người Dao nhắc nhở con
cháu mặc trang phục truyền thống trong các
ngày lễ của dòng họ… Cho đến nay, dù xã Ba
Vì chưa hoàn thành được 19 tiêu chí trong xây
dựng nông thôn mới và mặc dù đang sống tại
một địa bàn chịu tác động mạnh mẽ của quá
trình đô thị hóa, nhưng cộng đồng người Dao
nơi đây ngày càng có ý thức trong việc bảo tồn
văn hóa tộc người
Những biểu hiện đáng mừng trên không
phải là duy nhất đối với cộng đồng người dân
tộc thiểu số ở thành phố Hà Nội, mà còn phổ
biến ở nhiều địa phương trong cả nước Mọi
cấp chính quyền từ tỉnh đến xã, thôn đều nhận
thức được tầm quan trọng của việc bảo tồn,
phát huy giá trị văn hóa truyền thống các dân
tộc thiểu số Chính vì vậy, nhiều di sản văn hóa
quý báu của đồng bào có điều kiện được tôn
vinh, nhân rộng trong cộng đồng Tiêu biểu
như huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh với trên
96% dân số là đồng bào dân tộc, nơi đây, sau
gần 10 năm triển khai Chương trình xây dựng
nông thôn mới, một đời sống văn hóa nông
thôn đậm đà bản sắc văn hóa của các dân tộc
anh em sinh sống trên địa bàn huyện ngày
thêm khởi sắc Nhiều môn thể thao, trò chơi
dân gian của đồng bào các dân tộc trong toàn
huyện được quan tâm phục hồi Các CLB văn
nghệ được thành lập tại 8/8 xã, thị trấn trong
toàn huyện, trong đó chú trọng nội dung sinh
hoạt là truyền dạy các làn điệu dân ca đặc
trưng Ủy ban nhân dân huyện Bình Liêu có
chính sách hỗ trợ hàng năm cho mỗi CLB văn
nghệ cấp xã là 30 triệu để đảm bảo cho hoạt
động tập luyện, biểu diễn, giao lưu Các lễ hội
truyền thống (hội đình Lục Nà, hội tháng Ba,
hội Kiêng gió) và lễ hội mới hình thành (hội
hoa Sở) được tổ chức đúng quy định; phù hợp
với thuần phong mỹ tục địa phương; phần hội
diễn ra phong phú, hấp dẫn nhờ việc khai thác
các trò chơi, dân nhạc, dân vũ đặc trưng của
tỏa, lôi cuốn, góp phần thu hút đông đảo nhân dân và du khách tham gia [9, tr.131-132]
Đó là một số minh chứng cho thấy sự nỗ lực của các địa phương trong công cuộc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa tộc người, xây dựng đời sống văn hóa nông thôn mới, từng bước đưa văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, góp phần xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo tinh thần của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII)
Tuy vậy, công cuộc xây dựng văn hóa nông thôn mới, đặc biệt, sự nghiệp bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống cũng gặp những thách thức không nhỏ Sự biến đổi và mai một bản sắc văn hóa đang là nguy cơ đối với nhiều tộc người, kể cả những tộc người cư trú nơi vùng biên viễn xa xôi của tổ quốc như huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh Đồng bào các dân tộc thiểu số nơi đây đã và đang chịu tác động của kinh tế thị trường, của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế nên nhiều giá trị văn hóa truyền thống bị biến đổi nhanh chóng Điều dễ nhận thấy nhất là sự thay đổi về kiến trúc nhà ở truyền thống của đồng bào Những ngôi nhà gạch đất của người Tày, người Sán Chỉ, nhà trình tường của người Dao đã tồn tại
từ nhiều đời nay trở nên không đạt tiêu chuẩn theo tiêu chí về nhà ở Có thể nói, nhà ở dân cư
là một trong những tiêu chí khó đối với nhiều địa phương, đặc biệt là các xã có nhiều đồng bào dân tộc ở các thôn bản miền núi như Bình Liêu Nhiều gia đình có tâm lý ỷ lại sự hỗ trợ của nhà nước; những ngôi nhà truyền thống không được tôn tạo, tu sửa mà bị phá đi xây bằng gạch bê tông, không có mẫu thiết kế đặc thù Điều đó làm mất đi nét đặc trưng văn hóa
về kiến trúc nhà ở truyền thống trên địa bàn huyện Đi đến các thôn bản, dù là những nơi
có 100% đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, nhưng nếu không được giới thiệu thì khó có thể phát hiện ra đó là thôn/bản của người Dao, người Tày hay người Sán Chỉ vì nét đặc trưng văn hóa về nhà ở của từng dân tộc đã không còn Cùng với sự biến đổi của ngôi nhà truyền thống là sự biến đổi tập quán trong sinh hoạt
Trang 5V Ă N HÓ A
như: cách chế biến thức ăn, tổ chức bữa ăn
trong nhà bếp, cách bảo quản hạt giống và
lương thực, thực phẩm Một số tập quán tốt
đẹp trước kia nay đã mất, như các sinh hoạt
bên bếp lửa: hát then, kể chuyện cổ tích Vai
trò của già làng, trưởng bản trong việc trao
truyền các giá trị văn hóa không còn thấy rõ
nét khi thực hiện nhất thể hóa chức danh Bí
thư chi bộ đồng thời là trưởng thôn/bản Việc
tìm một người đủ tiêu chuẩn vừa là bí thư chi
bộ, trưởng bản, vừa nắm vững phong tục,
tập quán và các giá trị văn hóa truyền thống
của cộng đồng vẫn còn gặp nhiều hạn chế [9,
tr.131-132]
Một biểu hiện biến đổi và mai một văn hóa
truyền thống rõ nét mà nhiều địa phương,
nhiều tộc người đang gặp phải, đó là trang
phục truyền thống Dù trang phục truyền
thống ngày càng được người dân ý thức rõ
hơn về vai trò trong nhận diện bản sắc tộc
người; được người dân mặc nhiều hơn trong
những ngày lễ tết truyền thống, nhưng nguy
cơ biến đổi, thậm chí mai một bản sắc đối với
trang phục truyền thống vẫn đang diễn ra Sự
biến đổi được thể hiện trong quá trình làm ra
bộ trang phục truyền thống, trong kiểu dáng
và cách trang trí trang phục Đặc biệt, một
số dân tộc quá ít người với dân số chưa đến
1.000 người như Rơ Măm, Ơ Đu, Thổ, Chứt,
không thấy bóng dáng của trang phục truyền
thống [10, tr.52] Chia sẻ về những khó khăn
gặp phải trong việc sưu tầm trang phục truyền
thống của người Dao Quần Chẹt, ông Lê Khắc
Nhu - Trưởng phòng Dân tộc huyện Ba Vì cho
biết: “Chúng tôi đặt một bà thợ thêu ở thôn Yên
Sơn làm bộ quần áo xưa của nam giới Dao, khi
đến lấy thì phàn nàn rằng chiếc cổ áo này phải
là cổ đứng, hình tròn, nhưng bà nói áo của đàn
ông Dao Ba Vì vẫn mặc như vậy Chúng tôi muốn
lưu giữ chiếc quần xưa của đàn ông Dao nhưng
chẳng ai còn Chúng tôi phải vào tận Huế, đặt
người ta làm chiếc quần vải tấm trắng, may kiểu
chân què, cạp lá tọa” [Tài liệu PVS, 2014] Chiếc
quần chẹt nữ của người Dao ở Ba Vì nay được
may cải tiến theo kiểu bổ đũng nên khoảng
cách hai ống thu hẹp lại chỉ khoảng 900, giống
Váy của một số thầy cúng chỉ khâu ghép bởi
4 đến 5 mảnh vải thay vì 7 mảnh tượng trưng cho 7 thánh sư như trước kia Ở nhiều địa phương như Thái Nguyên, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Quảng Trị, Kon Tum, Phú Yên, đều có chung thực trạng nhiều bộ trang phục sản xuất ra được cải biên khác xa với trang phục truyền thống về chất liệu, màu sắc, cách thức cắt may Hình ảnh các đồ vật thời hiện đại cũng đã xuất hiện trên các môtip hoa văn của trang phục dân tộc Bru - Vân Kiều và Pa Cô ở Quảng Trị như máy bay, tên lửa, cây cột điện [11, tr.111] Việc sử dụng trang phục lại càng biến đổi Hiện nay, rất nhiều tộc người thiểu
số ở các địa phương trong cả nước đều mặc trang phục hàng ngày theo kiểu Âu hóa như người Kinh Họ chỉ mặc trang phục truyền thống trong các dịp lễ tết theo phong tục của cộng đồng, nhưng thường thêm hoặc bớt đi một vài thành tố Tuy nhiên, sự biến đổi và mai một cần lưu tâm hơn hết đó là một bộ phận không nhỏ người dân, nhất là lớp trẻ không thích mặc quần áo truyền thống, thậm chí cảm thấy không tự tin khi mặc quần áo truyền thống để tiếp xúc với người khác tộc Đơn cử như trong đám cưới hỗn hợp dân tộc, đặc biệt với người Kinh, khi đi đón dâu hoặc đưa dâu về nhà thông gia người Kinh, người Dao ở Ba Vì thường không mặc trang phục truyền thống
mà mặc quần áo Âu hoá hoặc áo dài của người Kinh Theo họ, đến cộng đồng người Kinh nên mặc áo dài cho tiện giao tiếp với người Kinh; mặc quần áo Dao sẽ không phù hợp, không thích khách khứa của thông gia người Kinh nhìn bằng con mắt khác lạ Tình trạng này diễn ra phổ biến ở nhiều dân tộc khác, chẳng hạn như dân tộc Tà Ôi/PaKo và Bru - Vân Kiều
ở Quảng Trị, “trong ngày cưới, chúng ta không còn thấy cô dâu, chú rể khoác trên mình những
bộ trang phục truyền thống mang đậm bản sắc của dân tộc mà thay vào đó là những bộ comple, váy nhiều tầng, đi giày da như người Việt Điều này, vô hình trung chính các thanh, thiếu niên này đang giấu đi nguồn gốc dân tộc mình bằng việc ăn mặc theo những mốt quần
áo hiện đại đang thịnh hành ở giới trẻ trong cả nước, ứng xử theo lối của người Kinh, nói tiếng
Trang 6càng hiện đại bấy nhiêu” [11, tr.111]
Nguy cơ biến đổi, mai một không chỉ biểu
hiện ở các thành tố văn hóa vật chất mà còn
hiện diện trong các thành tố văn hóa tinh
thần Sự suy giảm ngôn ngữ mẹ đẻ của nhiều
tộc người thiểu số ở nước ta hiện nay đang
ở mức báo động Dưới tác động của công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và quan hệ dân tộc,
việc giao lưu, tiếp xúc ngôn ngữ và sử dụng
những ngôn ngữ có ưu thế trong đời sống
chính trị, kinh tế, xã hội ngày càng trở nên phổ
biến Trong bối cảnh đó, ngôn ngữ tộc người,
nhất là những tộc người có dân số ít dễ rơi
vào tình trạng yếu thế và có nguy cơ bị tiêu
vong Hiện nay, ngôn ngữ Phù lá, Pà Thẻn, Lô
lô, Bố y đang thuộc nhóm các ngôn ngữ suy
yếu với số lượng người nói chỉ vài nghìn hoặc
hơn nghìn người và đang chịu áp lực mạnh
của các ngôn ngữ trong vùng như tiếng Thái,
tiếng Tày, tiếng Hmông Ngôn ngữ của người
Cống, Sila, Rơmăm, Brâu, Pu Péo thuộc nhóm
các ngôn ngữ nguy cấp với số người sử dụng
chỉ trên vài nghìn người và có xu hướng bị mất
ở thế hệ trẻ Và có những ngôn ngữ hầu như đã
chết như tiếng Clao (Tung Xán, Hoàng Su Phì,
Hà Giang), tiếng Tống (Yên Sơn, Tuyên Quang),
tiếng Thủy (Chiêm Hoá, Tuyên Quang), tiếng Ơ
đu (huyện Con Cuông và huyện Tương Dương,
Nghệ An), tiếng Tu Dí (Mường Khương, Lào
Cai) Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa
hiện nay, thực trạng đáng báo động này sẽ
tiếp tục diễn ra và có thể đẩy nhanh các ngôn
ngữ suy yếu đến sự tiêu vong Đây là một điều
đáng tiếc, bởi đối với một dân tộc, mất tiếng
mẹ đẻ ngang với mất linh hồn
Là một sinh hoạt văn hóa tinh thần không
thể thiếu trong đời sống nhân dân, lễ hội
truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu
số đang được nhiều địa phương chú trọng
khôi phục, gìn giữ và phát triển nhằm tạo ra
đời sống tinh thần phong phú cho người dân
và tăng sức hấp dẫn cho du lịch địa phương
Tuy nhiên, dưới tác động của giao lưu, hội
nhập, lễ hội truyền thống của các tộc người
thiểu số cũng đang có sự biến đổi theo hướng
mở rộng về quy mô tổ chức từ cấp thôn/
biến đổi này khiến nhiều lễ hội không còn là của riêng một dân tộc cụ thể mà có sự tham gia của nhiều tộc người quanh vùng, của du khách thập phương Vì vậy, tính chất của lễ hội, không gian thiêng của lễ hội phần nào bị ảnh hưởng bởi sự can thiệp sâu của chính quyền địa phương, của truyền thông, thị hiếu của
du khách Bên cạnh đó, hiện tượng “Kinh hóa”
lễ hội truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số không phải là hiếm Địa phương này bắt chước địa phương kia dẫn đến kịch bản lễ hội của vùng này, dân tộc này na ná giống với vùng khác, dân tộc khác Một số cuộc thi đương đại như thi ẩm thực, thi trang phục, thi người đẹp,… được đưa vào các lễ hội truyền thống mang yếu tố trình diễn chứ không phải là lễ hội
tự nhiên vốn có Sự biến đổi này phần nào làm mất đi nét đặc trưng văn hóa trong lễ hội của từng tộc người, từng vùng miền
Xây dựng đời sống văn hóa nông thôn mới
là xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh, tích cực, đậm bản sắc dân tộc Trong xây dựng đời sống văn hóa mới cho đồng bào dân tộc thiểu số, việc chú trọng gìn giữ các hình thức tín ngưỡng dân gian là vô cùng quan trọng Bởi mọi phong tục, lễ thức của đồng bào như các nghi lễ trong chu kỳ đời người, các lễ thức trong năm,… đều gắn với tín ngưỡng, và có thể nói, đời sống tín ngưỡng chi phối hầu hết mọi lĩnh vực văn hóa tinh thần của tộc người
Để xây dựng đời sống văn hóa nông thôn mới đậm đà bản sắc dân tộc, nhiều địa phương trong thời gian qua đã khuyến khích, tạo điều kiện cho các hình thức tín ngưỡng dân gian của đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển Tuy vậy, trong xu thế phát triển của đời sống tâm linh không tránh khỏi những hiện tượng tiêu cực như mê tín dị đoan, thương mại hóa đời sống tâm linh với những biểu hiện cụ thể như xem bói, giải hạn, nhập hồn, đốt vàng mã tràn lan… Nguy hại hơn, lợi dụng chính sách tự
do tín ngưỡng tôn giáo của Đảng và Nhà nước
ta, nhiều tôn giáo mới, giáo phái lạ lành ít dữ nhiều đã xuất hiện và len lỏi tới các xóm làng, thôn bản vùng đồng bào dân tộc thiểu số Sự khác biệt trong giáo lý và sinh hoạt tôn giáo đã
Trang 7V Ă N HÓ A
tác động không nhỏ làm thay đổi lối sống và
các mối quan hệ trong gia đình, dòng họ, cộng
đồng Những tín đồ theo đạo đã bỏ đi nhiều
phong tục tập quán truyền thống tốt đẹp của
tộc người mình, làm nảy sinh mâu thuẫn trong
gia đình, dòng họ; thậm chí gây ra điểm nóng
về an ninh chính trị cho địa phương
Như vậy, trong 10 năm qua, các địa phương
trên cả nước đều tích cực triển khai xây dựng
nông thôn mới theo Bộ tiêu chí được Chính phủ
ban hành nhằm kiến tạo bộ mặt nông thôn văn
minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại nhằm đáp ứng
yêu cầu của sự phát triển đất nước trong thời kỳ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trong xây dựng
nông thôn mới, xây dựng đời sống văn hóa cho
cư dân nông thôn được coi là nền tảng tinh
thần, là động lực cho sự phát triển kinh tế xã hội
của mỗi địa phương Bảo tồn, phát huy giá trị
văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc
luôn được đề cao bởi đó là hồn cốt, là bản sắc
của mỗi làng quê Việt Nam Thời gian qua, công
tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa các dân tộc
thiểu số trong xây dựng nông thôn mới đã đạt
được nhiều thành tựu quan trọng, nhưng vẫn
còn một số hạn chế, bất cập cần giải quyết để
việc bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền
thống thực sự hiệu quả trong thời gian tới
3 Một số vấn đề đặt ra đối với bảo tồn, phát
huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số gắn với
xây dựng nông thôn mới trong thời gian tới
Một vấn đề phổ biến hiện nay là sự biến
đổi văn hóa đã và đang diễn ra mạnh mẽ ở
hầu hết các tộc người trên đất nước ta Văn
hóa truyền thống của các tộc người biến đổi
dưới tác động của sự thay đổi môi trường tự
nhiên, kinh tế - xã hội, trong đó có sự lựa chọn
thay đổi của chính các chủ thể văn hóa Biến
đổi là cần thiết, nó giúp cho các tộc người
thiểu số thích ứng với môi trường sống mới,
thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu để phát triển và
hội nhập Tuy nhiên, nếu biến đổi theo hướng
phai nhạt dần bản sắc riêng, biến đổi theo
hướng hòa lẫn với văn hóa của các tộc người
láng giềng thì điều đó thật đáng tiếc đối với
chính tộc người và đối với quốc gia dân tộc
bởi đất nước mất đi những tài sản văn hóa vô
Rõ ràng, trong tiêu chí xây dựng nông thôn mới có nội dung phải giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tuy nhiên, muốn bảo tồn
và phát huy hiệu quả thì trước hết cần phải xác định được các giá trị văn hoá nào được coi là tốt đẹp, còn phù hợp với thời đại Đi đôi với việc bảo tồn cũng cần loại bỏ những yếu tố văn hóa không phù hợp với thuần phong mỹ tục, làm hạn chế sự phát triển chung của tộc người Ngoài ra, cũng cần quan tâm đến việc tiếp thu những yếu tố văn hóa mới phù hợp với sự phát triển chung của đất nước, của thời đại Chính vì vậy, việc nhận diện các yếu tố văn hóa nào là tích cực để bảo tồn, phát huy; những yếu tố nào là lỗi thời không còn phù hợp với điều kiện mới là một vấn đề cần đặt
ra đối với các cấp chính quyền, các nhà quản
lý văn hóa và cộng đồng tộc người trong quá trình xây dựng đời sống văn hóa nông thôn mới Bởi, nếu nhận diện đúng, thì tài sản văn hóa dân tộc không những được gìn giữ mà còn ngày càng giàu có hơn; nhưng nếu nhận diện sai thì hậu quả vô cùng tai hại, chúng ta sẽ mất
đi những di sản văn hóa quý báu mà cha ông
đã dày công tạo dựng Bài học sâu sắc về một giai đoạn trước đổi mới, do nhìn nhận sai về các loại hình tín ngưỡng của các dân tộc vì cho
là hoạt động mê tín dị đoan, phản văn hóa, cản trở đến việc xây dựng đời sống văn hóa xã hội chủ nghĩa, nên nhiều loại hình tín ngưỡng dân gian của cả người Kinh và người dân tộc thiểu số bị hạn chế, thậm chí cấm đoán Kết quả đã làm nghèo, thui chột đi nhiều loại hình tín ngưỡng dân gian, mà kéo theo đó là những sinh hoạt cộng đồng, nghệ thuật diễn xướng
vô cùng quý giá
Vấn đề thứ hai đặt ra là xác định phải làm
gì để bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống Bảo tồn không có nghĩa phải giữ nguyên vẹn cái truyền thống Bảo tồn cần gắn với phát triển, bảo tồn đi liền với phát huy Phát huy giá trị văn hóa nghĩa là làm cho những tinh hoa của nền văn hóa tộc người được nảy nở, phát triển cả bề rộng và chiều sâu trong môi trường sống của tộc người ở xã hội đương đại Vì vậy, biến đổi văn hóa không mâu thuẫn với bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của tộc người
Trang 8phương và gắn với lợi ích của tộc người Trong
quá trình xây dựng nông thôn mới, việc bảo
tồn, phát huy giá trị văn hóa gắn với phát triển
kinh tế - xã hội đã được triển khai ở tất cả các
địa phương trong cả nước, nhưng trong thực
tế có địa phương làm tốt, cũng có nơi làm chưa
tốt, thậm chí chưa đúng định hướng hoặc rập
khuôn theo một mô thức chung dẫn đến mất
cái riêng, cái đặc trưng về bản sắc văn hóa của
từng vùng miền
Thời gian qua, có nhiều giải pháp được các
nhà quản lý, nhà nghiên cứu đưa ra nhằm thực
hiện hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy
các giá trị văn hóa truyền thống của các tộc
người thiểu số như: giải pháp về tuyên truyền,
vận động; về cơ chế, chính sách; về đào tạo,
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đặc biệt
cán bộ văn hóa cấp cơ sở; về đẩy mạnh công
tác nghiên cứu, sưu tầm các giá trị văn hóa
truyền thống; về tăng cường môi trường sống
cho các thực hành văn hóa truyền thống Các
giải pháp nêu ra rất quan trọng và cần thiết
Tuy nhiên, quan trọng hơn hết là làm sao để
nâng cao ý thức, trách nhiệm, sự chung tay
góp sức của cả cộng đồng đối với công tác
bảo tồn, phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc
trong xây dựng nông thôn mới Tôn trọng sự
quyết định, động viên sự tham gia của chủ thể
văn hóa là rất cần thiết bởi họ chính là người
sáng tạo, thực hành, thụ hưởng nền văn hóa,
và xây dựng nông thôn mới kết quả cuối cùng
chính là phục vụ lợi ích của nhân dân Vì vậy,
vấn đề nữa cần đặt ra là làm sao lôi kéo được
sức dân trong xây dựng nông thôn mới và mấu
chốt là phải xây dựng con người văn hóa theo
tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9,
khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con
người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển
bền vững đất nước
Hòa cùng xu thế cả nước đang đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập
quốc tế sâu rộng, các vùng nông thôn Việt Nam
đang được xây dựng, chỉnh trang toàn diện để
xây dựng nông thôn mới bắt kịp sự phát triển
của thời đại và trở thành những miền quê
“đáng sống” Vì vậy, bên cạnh các tiêu chí cần
đạt được về cơ sở vật chất, đời sống kinh tế - xã
tộc trong phong trào xây dựng nông thôn mới
có vai trò quan trọng như là mạch nguồn để giữ gìn bản sắc, như cội rễ để đảm bảo sự phát triển bền vững Phát huy tính sáng tạo và vai trò của người dân nông thôn trong phong trào xây dựng nông thôn mới chính là chìa khóa của sự thành công để nông thôn mới thật sự
“của dân, do dân, vì dân”
Thay lời kết
Trong 10 năm thực hiện xây dựng đời sống văn hóa nông thôn mới, với 2 trên 19 tiêu chí (tiêu chí thứ 6 về cơ sở vật chất văn hóa và tiêu chí 16 về văn hóa) đã bao quát khá toàn diện mọi lĩnh vực đời sống văn hóa của nông thôn mới từ yêu cầu đạt chuẩn về cơ sở hạ tầng như xây mới các thiết chế văn hóa, sử dụng cơ sở vật chất văn hóa nhằm củng cố và phát triển
hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở; cho đến yêu cầu đạt chuẩn các nội dung mềm của đời sống văn hóa, biểu hiện trong các phong trào cụ thể
về xây dựng “gia đình văn hóa”, “thôn văn hóa”,
“làng văn hóa”, “bản văn hóa”, “tổ dân phố văn hóa”, “khu dân cư văn hóa”…
Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc chỉ là một nội dung nhỏ nằm trong tiêu chuẩn xây dựng đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, phong phú, thuộc tiêu chí 16 về văn hóa nhưng lại có vai trò và ý nghĩa lớn trong xây dựng đời sống văn hóa mới tiên tiến, đậm
đà bản sắc dân tộc cho các vùng nông thôn trên cả nước, đặc biệt là vùng dân tộc thiểu số
và miền núi, bởi đó là những giá trị cốt lõi của đời sống văn hóa dân tộc
Công tác bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu
số ở các địa phương trên cả nước trong thời gian qua đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, mà trước hết biểu hiện ở nhận thức và
ý thức ngày càng cao của các cấp chính quyền cùng người dân về giá trị, vai trò của văn hóa truyền thống trong xây dựng đời sống văn hóa nông thôn mới Nhiều yếu tố văn hóa truyền thống đã và đang được khôi phục, gìn giữ và phát huy tốt trong đời sống đương đại, làm lành mạnh, phong phú đời sống văn hóa tinh thần cho người dân vùng nông thôn và góp
Trang 9V Ă N HÓ A
phần xây dựng con người Việt Nam mới xã hội
chủ nghĩa Tuy nhiên, trên con đường hội nhập
và phát triển, văn hóa truyền thống của các tộc
người đang biến đổi mạnh mẽ Biến đổi để loại
bỏ cái lỗi thời và tiếp thu những tinh hoa văn
hóa của các tộc người láng giềng nhằm tránh
tụt hậu là điều cần thiết Nhưng loại bỏ gì, tiếp
thu gì, để không đánh mất mình, mà ngược
lại, còn phát huy, phát triển được những giá trị
văn hóa riêng biệt, độc đáo, những đặc trưng
văn hóa của mỗi tộc người, đó mới là điều cốt
yếu Giao lưu và tiếp biến theo kiểu hòa trộn
đến mức khó nhận diện bản sắc, thậm chí dẫn
đến mai một bản sắc tộc người là điều cần suy
ngẫm và đặt ra trong phong trào xây dựng
nông thôn mới thời gian tới
C.T.T.H
Chú thích
1 Hải Dương đã triển khai chương trình 10
năm xây dựng nhà văn hóa thôn, khu dân cư giai
đoạn 2006 - 2016; Vĩnh Phúc, Lạng Sơn, Phú Thọ,
Hà Tĩnh có chính sách hỗ trợ về xây dựng cơ sở
vật chất đối với thiết chế văn hóa cấp xã, thôn
2 Nhiều địa phương đã hình thành khu thể
thao - văn hoá giải trí theo hướng xã hội hóa bao
gồm sân bóng đá mini, bể bơi, sân chơi thiếu nhi,
sân bóng chuyền, câu lạc bộ thể hình, cầu lông
Tài liệu tham khảo
1 Ban Chấp hành Trung ương (1998), Nghị
quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương
Đảng (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn
hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc,
Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16/7/1998
2 Ban Chấp hành Trung ương (2008), Nghị
quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung
ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông
thôn, Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5/8/2008.
3 Ban Chấp hành Trung ương (2014), Nghị
quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành Trung
ương Đảng (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn
hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát
triển bền vững đất nước, Nghị quyết số 33-NQ/
4 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
(2017), Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng Nông thôn mới năm 2017, số 10658/BNN-VPĐP ngày
25/12/2017
5 Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2018), Dự thảo Báo cáo hội nghị sơ kết thực hiện tiêu chí văn hóa trong Bộ tiêu chí quốc gia xây dựng xã nông thôn mới và công tác xây dựng đời sống văn hóa nông thôn mới.
6 Cục Văn hóa cơ sở, Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch (2013), Tài liệu nghiệp vụ Văn hóa cơ sở,
Lưu hành nội bộ, Nxb Hà Nội
7 Cục Văn hóa cơ sở, Bộ Văn hóa, Thể thao và
Du lịch (2019), Kỷ yếu Hội thảo khoa học Bảo tồn
và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong xây dựng nông thôn mới, Hải Phòng.
8 Chử Thị Thu Hà (2014), Văn hóa vật chất của người Dao ở Ba Vì, Hà Nội trong bối cảnh hiện nay,
Luận án Tiến sĩ Nhân học
9 Tô Đình Hiệu (2019), “Bảo tồn giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số trong bối cảnh xây dựng nông thôn mới ở huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng
Ninh”, in trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học Bảo tồn
và phát huy giá trị văn hóa trong đồng bào dân tộc thiểu số, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Viện Văn
hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam
10 Nguyễn Thị Ngân (2013), “Trang phục truyền thống tại Bảo tàng Văn hóa các dân tộc Việt Nam và sự thay đổi trang phục trong xã hội
hiện đại”, in trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học Giải pháp để bảo tồn, phát huy trang phục truyền thống các dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay, Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch
11 Thanh Tùng, Thanh Trâm (2013), “Trang phục truyền thống dân tộc Tà ôi/PaKo và Bru - Vân Kiều Quảng Trị - Thực trạng và giải pháp bảo
tồn”, in trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học Giải pháp
để bảo tồn, phát huy trang phục truyền thống các dân tộc thiểu số trong giai đoạn hiện nay, Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch
Ngày nhận bài: 2 - 3 - 2020 Ngày phản biện, đánh giá: 10 - 5 - 2020 Ngày chấp nhận đăng: 25 - 6 - 2020