1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Marketing trong tổ chức đào tạo của các trường văn hóa nghệ thuật Việt Nam hướng đến tự chủ

7 21 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 146,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xu hướng tự chủ đặt ra yêu cầu có tính khách quan về ứng dụng marketing trong quản trị các trường đại học nói chung và các trường đại học văn hóa nghệ thuật nói riêng. Đây là cách tiếp cận phù hợp với nhu cầu vừa cấp bách, vừa lâu dài về một hệ thống công cụ (marketing) giúp cho các trường đại học văn hóa nghệ thuật tiếp tục phát triển trong cơ chế mới và hội nhập sâu hơn vào nền giáo dục hiện đại thế giới.

Trang 1

V Ă N HÓ A

1 Tự chủ đại học - xu thế tất yếu của giáo

dục hiện đại

Xu hướng chung trên thế giới hiện nay là

chuyển dịch từ mô hình nhà nước kiểm soát

sang các mô hình có mức độ tự chủ cao hơn

đối với trường đại học Tại Việt Nam, thực tế

cho thấy ở một số mô hình như Trường Đại

học Ngoại thương, Trường Đại học Sư phạm

Kỹ thuật Tp Hồ Chí Minh, Trường Đại học Tôn

Đức Thắng,… tự chủ đã tạo động lực cho các trường phát huy được mọi khả năng, nguồn lực cần thiết nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong đào tạo cũng như nâng cao mức thu nhập của giảng viên và cán bộ công nhân viên Việc tự chủ của các trường đại học đang thúc đẩy sự phát triển của thị trường đào tạo, đồng thời làm tăng tính cạnh tranh giữa các trường đại học, tạo động lực để nâng cao chất lượng đào tạo và chất lượng lao động của nền kinh tế, xã hội Mặt khác, tự chủ tài chính cũng huy động

MARKETING TRONG TỔ CHỨC ĐÀO TẠO CỦA CÁC TRƯỜNG VĂN HÓA NGHỆ THUẬT VIỆT NAM

HƯỚNG ĐẾN TỰ CHỦ

ĐINH CÔNG TUẤN *

Tóm tắt

Xu hướng tự chủ đặt ra yêu cầu có tính khách quan về ứng dụng marketing trong quản trị các trường đại học nói chung và các trường đại học văn hóa nghệ thuật nói riêng Đây là cách tiếp cận phù hợp với nhu cầu vừa cấp bách, vừa lâu dài về một hệ thống công cụ (marketing) giúp cho các trường đại học văn hóa nghệ thuật tiếp tục phát triển trong cơ chế mới và hội nhập sâu hơn vào nền giáo dục hiện đại thế giới Tuy nhiên, marketing đào tạo ở nước ta chưa được nhận thức và thực hiện với tư cách một công cụ, một mắt xích quan trọng bậc nhất trong công nghệ giáo dục và quản trị đại học Điều

đó đặt ra vấn đề cần phải nghiên cứu ứng dụng marketing một cách hệ thống, từ nhiều phương diện nhằm góp phần nâng cao năng lực quản trị, chất lượng đào tạo của các trường đại học văn hóa nghệ thuật, tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam.

Từ khóa: Giáo dục đại học, marketing, marketing đào tạo, tự chủ đại học, văn hóa nghệ thuật Abstract

The trend of self-control imposes an objective requirement on marketing applications in the administration of universities in general and of culture and arts universities in particular This is an approach that suits both the urgent and the long-term needs of a tool system (marketing) that helps the arts and culture universities continue to develop in new mechanisms and integrate stronger into World modern education However, training marketing in our country has not been realized and implemented

as a tool, a most important link in educational technology and university management That raises the question of researching application of marketing systematically, from many aspects in order to contribute to improving the management capacity, training quality of cultural and art universities, creating high quality human resources for the development of Vietnamese cultural industries.

Keywords: Higher education, marketing, training marketing, self-control university, arts and culture

Trang 2

Tự chủ sẽ tạo điều kiện và cơ hội để các cơ sở

đào tạo đổi mới, vận hành tốt hơn khi “họ được

là chính mình” Trong gần một thập kỷ qua, vấn

đề tự chủ trong giáo dục đại học Việt Nam đã

có nhiều chuyển biến tích cực Từ chỗ toàn bộ

hệ thống giáo dục đại học chịu sự quản lý chặt

chẽ về mọi mặt của Nhà nước, đến nay nhiều

trường đại học đã và đang dần được trao

quyền tự chủ, thực hiện lộ trình phù hợp chính

sách/luật pháp về giáo dục đại học ngày nay

Trong Điều lệ trường đại học, ban hành

theo Quyết định số 153/2003/QĐ-TTg ngày

30/7/2003 của Thủ tướng Chính phủ tại Điều

10 đã nêu rõ: “Trường đại học được quyền tự

chủ và tự chịu trách nhiệm theo quy định của

pháp luật về quy hoạch, kế hoạch phát triển nhà

trường, tổ chức các hoạt động đào tạo, khoa học

và công nghệ, tài chính, quan hệ quốc tế, tổ chức

và nhân sự” [11] Luật Giáo dục ban hành tháng

7 năm 2005, ở Điều 14 đã đề cập đến việc thực

hiện phân công, phân cấp quản lý giáo dục,

tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm

của cơ sở giáo dục Nghị quyết số

14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 của Chính phủ về Đổi mới

cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam

giai đoạn 2006 - 2020 cũng khẳng định tầm

quan trọng của việc hoàn thiện chính sách

phát triển giáo dục đại học theo hướng bảo

đảm quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của cơ

sở giáo dục đại học, sự quản lý của Nhà nước

và vai trò giám sát, đánh giá của xã hội đối

với giáo dục đại học, theo đó đổi mới cơ chế

quản lý “cần chuyển các cơ sở giáo dục đại học

công lập sang hoạt động theo cơ chế tự chủ,

có pháp nhân đầy đủ, có quyền quyết định và

chịu trách nhiệm về đào tạo, nghiên cứu, tổ

chức, nhân sự và tài chính; xóa bỏ cơ chế bộ

chủ quản, xây dựng cơ chế đại diện sở hữu nhà

nước đối với các cơ sở giáo dục đại học công

lập” [2] Thông tư liên tịch số

07/2009/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 15/4/2009 của Bộ GD&ĐT

và Bộ Nội vụ Hướng dẫn quyền tự chủ, tự chịu

trách nhiệm về việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức

bộ máy, biên chế đối với đơn vị sự nghiệp công

lập giáo dục và đào tạo đã nêu rõ quyền tự chủ

của đơn vị trong việc xác định nhiệm vụ xây

dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện; trong việc

tổ chức bộ máy và biên chế trong đơn vị; trong

việc tuyển dụng, quản lý và sử dụng cán bộ,

Chính phủ về Đổi mới quản lý giáo dục trong

giai đoạn 2010 - 2012 cũng nêu rõ việc đổi mới

quản lý giáo dục đại học bao gồm quản lý nhà nước về giáo dục và quản lý của các cơ sở đào tạo là khâu đột phá để tạo ra sự đổi mới toàn diện của giáo dục đại học [12]… Gần đây nhất, Luật Giáo dục đại học sửa đổi và được ban hành 2019 [8] đã chính thức tạo hành lang pháp lý cho quá trình tự chủ đại học ở nước

ta - một xu thế tất yếu, không thể đảo ngược Như thế, xu hướng tự chủ buộc các trường đại học phải cạnh tranh nâng cao chất lượng, tạo uy tín và xây dựng thành công thương hiệu thì mới có khả năng thu hút người học Những trường chậm đổi mới, trì trệ trong nâng cao chất lượng, ít đầu tư cho đội ngũ giảng viên,

cơ sở vật chất và khoa học giáo dục hiện đại thì sẽ bị tụt hậu và khó khăn trong tuyển sinh Hiện nay, thí sinh càng ngày càng có sự cân nhắc, lựa chọn kỹ lưỡng về chất lượng, uy tín của trường, của ngành nghề theo học và nhất

là khả năng có việc làm sau khi ra trường Điều này sẽ tạo nên cuộc đua giữa các thí sinh để được vào học trường đại học phù hợp ngành nghề yêu thích, có uy tín, chất lượng tốt đồng thời cũng là cuộc đua giữa các trường trong việc nâng cao chất lượng và phát triển những ngành đào tạo mới phù hợp thực tiễn thị trường lao động hiện nay

Trong bối cảnh đó, các trường đại học đào tạo văn hóa nghệ thuật cũng không phải là một ngoại lệ Ngày nay, hoạt động văn hóa nghệ thuật không chỉ phục vụ đời sống tinh thần thuần túy cho người dân, hay là “Mặt trận” trong hoạt động tuyên truyền của Nhà nước,

mà đã thực sự trở thành một ngành kinh tế, ngành công nghiệp đặc biệt, mang tên: công nghiệp văn hóa/công nghiệp sáng tạo, và đang ngày càng có đóng góp lớn cho tăng trưởng của nền kinh tế cũng như phát triển văn hóa - xã hội Như thế, khu vực đào tạo văn hóa nghệ thuật cũng được quan niệm như đào tạo ngành nghề, tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, giống như các trường đại học trong lĩnh vực khác Sự tác động của các chính sách xã hội hóa giáo dục của Việt Nam, chính sách tăng cường tính tự chủ cho các trường đại học đã làm cho lĩnh vực giáo dục thực tế đã và đang vận động

Trang 3

V Ă N HÓ A

theo hướng như một loại hình dịch vụ đặc

biệt, dù là kinh doanh hay dịch vụ công, dịch

vụ bất vụ lợi

2 Marketing trong công tác đào tạo tại các

trường văn hóa nghệ thuật

2.1 Marketing giáo dục đại học trên thế

giới

Trên thế giới, đã từ lâu những kiến thức về

kinh tế, quản trị/quản lý,… đã được ứng dụng

vào tổ chức và vận hành các cơ sở giáo dục đại

học, đặc biệt là trong hoạt động marketing

Điều đó đã tạo ra hiệu quả đào tạo cao cả về

chất và lượng Các thương hiệu khổng lồ trong

lĩnh vực đào tạo ngày nay có sức mạnh thu hút

toàn cầu không khác gì các thương hiệu nổi

tiếng trong lĩnh vực kinh tế, góp phần rất lớn

vào tăng trưởng kinh tế của các quốc gia có

thương hiệu đó Nói cách khác, marketing là

một công cụ hết sức quan trọng không thể

thiếu đối với sự phát triển giáo dục đại học

hiện đại

Tại nhiều trường đại học trên thế giới, để

quản lý và thu hút người học từ khắp các quốc

gia và vùng lãnh thổ, họ đã có nhiều nghiên

cứu về marketing giáo dục đại học và đã

xây dựng những đội ngũ marketing chuyên

nghiệp “Từ những tên tuổi đại học lớn như

Havard, Oxford, Cambridge… tới các trường

đại học nhỏ, mỗi trường đều có bộ phận

truyền thông riêng Còn ở Ấn Độ, hiệp hội

các trường đại học ở nước này còn thành lập

riêng cả một Hội đồng truyền thông và quan

hệ công chúng nhằm giúp đỡ, tập huấn cho

cán bộ truyền thông ở các trường đại học” [5]

Theo giáo sư E Mark Hanson (Đại học

California, USA), các trường công lập và tư

thục chú trọng đầu tư, sử dụng các kỹ thuật

marketing chuyên nghiệp vào các hoạt động

giáo dục của mình, bởi vì cả hai nhóm trường

này cùng phải giải quyết những vấn đề tương

tự như nhau, bao gồm tạo dựng thương hiệu,

huy động các nguồn lực, tuyển dụng nhân sự,

phát triển chương trình, thỏa mãn khách hàng

Cùng với đó, việc giải quyết các vấn đề lựa

chọn thị trường mục tiêu, các kênh thông tin

là cách thức mà các trường đại học giao tiếp

với công chúng và ngược lại [3]

Các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới

hiện nay có sự thay đổi về tư duy với quan

dục đại học là một loại hình dịch vụ đem lại lợi nhuận Thương hiệu trở thành vấn đề sống còn cho sự tồn tại và phát triển của cơ sở đào tạo Vì vậy, hầu hết các trường đại học đều có

bộ phận truyền thông Vấn đề phát triển chiến lược quảng cáo và khuyến mãi nâng cao hiệu quả đào tạo được quan tâm bởi những cách tiếp cận để quảng cáo và chiến lược xúc tiến trở thành các công cụ truyền thông hiệu quả trong việc xác định các trạng thái sẵn sàng mua của khách hàng và gia tăng sự hiểu biết của khách hàng về các các sản phẩm hoặc dịch

vụ giáo dục đại học [4]

Với mục đích hướng dẫn cho đội ngũ chuyên gia giáo dục đại học sử dụng mạng xã hội để tiếp thị và truyền thông, Rachel Reuben

đã tiến hành khảo sát 148 trường đại học và cao đẳng của 4 nước khác nhau là Mỹ, Úc, Canada, New Zealand, và đưa ra kết luận là các phương tiện truyền thông marketing xã hội (như Facebook page, Myspace, Flickr, YouTube, del.icio, us) sẽ ngày càng được sử dụng thay thế cho trang website của các trường trong hoạt động truyền thông tuyển sinh… [9] Cùng với đó, có khá nhiều các nghiên cứu, tham luận hội thảo quốc tế liên quan trực tiếp tới marketing trong giáo dục đại học Chẳng hạn, Kotler và Fox (1995), McGrath (2002), Hemsley-Brown và Oplatka (2006) và Coita (2014) luận giải và nhấn mạnh tầm quan trọng của marketing đối với giáo dục đại học Trong các nghiên cứu của Kotler và Fox (1995), Robinson và Long (1987), Owlia và Aspinwall (1996), Reavill (1998), Kanji và Tambi (1999)

đã bàn sâu về người có nhu cầu học, sinh viên đang theo học các trường đại học với tư cách khách hàng của trường đại học - một đối tượng trọng yếu mà marketing giáo dục hướng tới Tiếp cận lý thuyết phân khúc thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu và định vị thương hiệu trong trường đại học được các tác giả như Akonkwa (2009) và Ana Camelia Gordan (2013) nghiên cứu khi ứng dụng khoa học marketing vào lĩnh vực đào tạo đại học Marketing mix trong giáo dục đại học đã được thảo luận từ vài chục năm nay bởi các đại biểu như Jonathan Ivy (2008) và Ioan-Constantin Enache (2011)… Qua đó, các cơ sở giáo dục đại học đều nhận thức được sự cần thiết của marketing đối với

Trang 4

cung cấp các giá trị gồm: chất lượng giáo dục,

vị trí xếp hạng và danh tiếng… Nói cách khác,

marketing là một yếu tố chủ chốt trong công

nghệ giáo dục hiện đại

Về marketing trong đào tạo tại các trường

đại học văn hóa nghệ thuật, những vấn đề

được chú trọng như: Hướng dẫn thực hành

marketing nghệ thuật, chiến lược và biện pháp

marketing cho các tổ chức nghệ thuật, đặc

biệt là xác định chiến lược sản phẩm (product)

đào tạo, một yếu tố trọng yếu có mối liên hệ

với các yếu tố khác trong marketing mix ứng

dụng trong giáo dục đại học

Một số nước khu vực châu Á như Hàn Quốc,

Singapore, Nhật Bản, Trung Quốc, hiện đang

có nhiều hoạt động khá mạnh về maketing

đào tạo với nhiều hình thức tổ chức hướng

tới mô hình tư vấn tuyển sinh và đào tạo khối

ngành văn hóa nghệ thuật Hầu hết các trường

tại Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản đều áp

dụng mô hình tư vấn tuyển sinh thông qua

các hình thức như: Thường xuyên tổ chức các

hội chợ giao lưu giới thiệu sản phẩm có liên

quan đến ngành nghề đào tạo, các buổi biểu

diễn văn nghệ, các hoạt động giao lưu văn hóa

quốc tế Qua đó, còn sử dụng marketing hợp

tác - giao lưu quốc tế với các nước trong khu

vực và trên thế giới Các học viện giao lưu quốc

tế trong các trường đại học ở các nước này đã

áp dụng maketing đào tạo khá thành công với

những kết quả đáng ghi nhận, thu hút được

rất nhiều sinh viên quốc tế theo học, trong đó

có các ngành học liên quan đến văn hóa nghệ

thuật [13]

Nhìn chung, đối với các cơ sở đào tạo văn

hóa, nghệ thuật ở nước ngoài, việc ứng dụng

marketing mix như là một khâu có tầm quan

trọng sống còn, góp phần làm nên thành

công, đẳng cấp và thương hiệu cho các trường

đại học ấy

2.2 Marketing trong công tác đào tạo tại

các trường đại học văn hóa nghệ thuật ở Việt

Nam

Tự chủ đào tạo đại học đã tạo sức nóng cho

thị trường giáo dục ở Việt Nam Sự cạnh tranh

giữa các trường đang diễn ra ngày càng quyết

liệt Để thu hút người học đòi hỏi các trường

không chỉ khẳng định mình qua việc nâng cao

cấp thông tin, khuếch trương thương hiệu, tư vấn đến với đối tượng khách hàng Nếu xem giáo dục đại học cũng là một thị trường thì hoạt động marketing trong giáo dục là điều rất cần thiết Thông qua hoạt động marketing giáo dục, nhà trường không chỉ nắm bắt được nhu cầu của người học, nhà tuyển dụng, phụ huynh sinh viên, xã hội mà còn có kế hoạch xây dựng các sản phẩm giáo dục chất lượng cao thỏa mãn nhu cầu khách hàng; tạo các kênh thông tin đến khách hàng, đặc biệt là sinh viên tiềm năng để thu hút, củng cố thương hiệu nhà trường trong tâm trí của sinh viên và của

xã hội [13]

Trong khi đó ở Việt Nam, vấn đề marketing trong giáo dục đại học hầu như chưa được đặt ra đúng với tầm quan trọng của nó Việc ứng dụng marketing vào tổ chức đào tạo của trường đại học cũng chưa thực sự được quan tâm Bước đầu mới chỉ có một vài vấn đề liên quan đến marketing trong tuyển sinh đại học được quan tâm bàn luận và nghiên cứu ở các

cơ sở đào tạo, như: vai trò của tư vấn tuyển sinh với tư cách là một kênh truyền thông rất quan trọng nhằm giúp cho học sinh phổ thông có thể lựa chọn được trường, ngành, chuyên ngành theo sở thích của chính bản thân mình, tránh các trường hợp lựa chọn trường sai phải chọn lại gây lãng phí nguồn lực cho xã hội; công cụ truyền thông marketing cho việc tuyển sinh, trong đó sử dụng mạng xã hội facebook được cho là công cụ truyền thông có nhiều lợi ích nhất; xây dựng kế hoạch marketing nhằm phát triển hình ảnh của cơ sở đào tạo, xây dựng thương hiệu cho cơ sở đào tạo (tại Học viện Công nghệ Bưu chính viễn thông); đánh giá về quy trình truyền thông, công cụ truyền thông,

và truyền thông marketing tích hợp, sự vênh nhau giữa đánh giá kết quả hoạt động truyền thông do nhà trường tự đánh giá và khách hàng đánh giá, từ đó đưa ra các giải pháp

để hoàn thiện quy trình truyền thông và nội dung các công cụ truyền thông marketing (tại Trường Đại học Hà Tĩnh); ứng dụng marketing 7p trong công tác tuyển sinh (tại Trường Đại học Phương Đông); ứng dụng marketing dịch vụ giáo dục để tăng cường tuyển sinh và nâng cao thương hiệu nhà trường (tại Trường Đại học Lâm nghiệp)… Trong lộ trình tự chủ,

Trang 5

V Ă N HÓ A

các trường đại học đã nhận thức được sự cần

thiết phải tiến hành các hoạt động marketing

giáo dục đào tạo nhằm nắm bắt nhu cầu thị

trường, xác định thị trường mục tiêu và đào

tạo theo nhu cầu xã hội [7] Trường Đại học

Kinh tế Quốc dân đã xây dựng đề án “Nghiên

cứu lý thuyết marketing giáo dục bậc đại học,

áp dụng tìm hiểu nhu cầu và mong muốn của

sinh viên Trường Đại học Kinh tế Quốc dân với

chương trình giáo dục”

Nhìn chung, marketing đào tạo đại học

ở Việt Nam thường được hiểu là hoạt động

quảng bá cho cơ sở đào tạo nhằm mục đích

tuyển sinh Các hoạt động marketing đơn

thuần như: quảng cáo trên các ấn phẩm, tổ

chức các sự kiện, truyền thông qua điện thoại,

email, tờ rơi, truyền hình, e-marketing đã được

thực hiện khá bài bản ở nhiều trường đại học

[7] Phần lớn các trường đại học ở Việt Nam

chưa quan tâm nhiều đến yếu tố thương hiệu

và không đặt nặng vấn đề kinh doanh Trong

bối cảnh toàn cầu hóa, trong xu thế cạnh tranh

giữa các trường đại học và trong lộ trình tự chủ,

vấn đề thu hút sinh viên và xây dựng thương

hiệu là nhiệm vụ sống còn của các trường đại

học ở Việt Nam hiện nay Do đó, nhiều trường

đại học đã bắt đầu quan tâm đến phát triển

truyền thông bằng việc xây dựng chiến lược

truyền thông, xây dựng bộ phận truyền thông,

sử dụng các công cụ digital marketing, thúc

đẩy hoạt động truyền thông (PR)…

Các trường đại học văn hóa nghệ thuật

ở nước ta cũng đang trong xu hướng và quá

trình tiến tới tự chủ Hàng loạt vấn đề liên quan

cần phải giải quyết như: sản phẩm đào tạo

phải đáp ứng nhu cầu xã hội hiện tại và tương

lai; vấn đề kinh phí đào tạo phù hợp thị trường

đào tạo trong nước và quốc tế… Hiện nay, trên

phạm vi cả nước, ngoài các trường chuyên đào

tạo về lĩnh vực văn hóa nghệ thuật trực thuộc

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thì các trường

đào tạo thuộc các lĩnh vực khác như Sư phạm,

Nội vụ, Báo chí, Nhân văn hay các trường đại

học của địa phương, cũng mở những chuyên

ngành liên quan đến văn hóa nghệ thuật Điều

đó dẫn tới sự cạnh tranh gay gắt trong lĩnh vực

đào tạo này Các trường đại học văn hóa nghệ

thuật là những trường đặc thù, do đó sức cạnh

tranh càng trở nên mạnh mẽ Xu hướng tự chủ

đã đặt ra một yêu cầu có tính khách quan về

các trường đại học nói chung và các trường đại học trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật nói riêng Đây là cách tiếp cận phù hợp với nhu cầu vừa cấp bách, vừa lâu dài về một hệ thống công cụ (marketing) giúp cho các trường đại học văn hóa nghệ thuật tiếp tục phát triển trong cơ chế mới và hội nhập sâu hơn vào nền giáo dục hiện đại thế giới Điều đó trực tiếp góp phần vào phát triển nền văn hóa Việt Nam cũng như tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam hiện nay Đối với các trường đại học văn hóa nghệ thuật, việc vận dụng tốt chiến lược marketing sẽ giúp nhà trường tuyển sinh, nâng cao chất lượng đào tạo, giúp sinh viên và nhà tuyển dụng hiểu về mục tiêu, chất lượng, môi trường học tập

Marketing giáo dục đào tạo đã bước đầu được chú trọng tại một số trường đại học văn hóa nghệ thuật Một số cơ sở đào tạo, trong

đó có Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã xuất bản giáo trình và giảng dạy về marketing nghệ thuật, đồng thời đã có những nghiên cứu nhằm cung cấp những thông tin hữu ích cho việc xây dựng mô hình marketing đào tạo tại các trường đại học văn hóa nghệ thuật ở Việt Nam, xây dựng chiến lược về sản phẩm… Trường chú trọng đa dạng hóa các ngành, trình độ và loại hình đào tạo để thực hiện tốt nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường là cung cấp nguồn nhân lực đảm bảo về phẩm chất, kiến thức và kỹ năng nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của ngành và nhu cầu xã hội Từ

đó, góp phần khẳng định thương hiệu Đại học Văn hóa Hà Nội là một trong những trường đào tạo chất lượng cao về lĩnh vực văn hóa; đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực cán bộ văn hóa nghệ thuật cho cả nước

Trong những năm qua, các trường đại học văn hoá nghệ thuật đã thực hiện nhiều giải pháp để thu hút người học và đã thu được nhiều kết quả khả thi Trường Đại học Văn hóa Tp Hồ Chí Minh đã chú trọng hơn vấn đề marketing trong công tác tuyển sinh, từng bước triển khai các hoạt động như: Lập kế hoạch, phân công triển khai truyền thông tuyển sinh hướng nghiệp đối với từng đơn vị

và cá nhân cụ thể; triển khai đồng bộ nhiều hình thức truyền thông tuyển sinh hướng nghiệp; thường xuyên cải tiến công tác truyền

Trang 6

chức hoạt động marketing theo các bước: Tư

vấn tuyển sinh, đào tạo trên các trang mạng

xã hội như truyền hình, facebook, zalo ; đến

từng địa phương, cơ sở có các nguồn nhân lực

có nhu cầu để tư vấn tuyển sinh; đội ngũ giảng

viên đến từng lớp ôn mỹ thuật, gặp gỡ trao đổi

về chuyên ngành, môn học; tổ chức các hội

thi và giới thiệu sản phẩm của chuyên ngành

về thiết kế đồ họa; tổ chức mời các công ty

trong nước và nước ngoài tham dự các buổi lễ

tốt nghiệp, các buổi tuyển chọn và giới thiệu

việc làm; liên kết với các cơ sở đào tạo nước

ngoài… Nhiều trường không chỉ cải tiến, nâng

cao chất lượng công tác tuyển sinh mà còn đổi

mới chương trình đào tạo cũng như nâng cao

chất lượng đào tạo để thu hút người học

Tuy nhiên, hiện nay, các trường đại học văn

hóa nghệ thuật đang gặp phải những hạn chế

về công tác tuyển sinh ở một số ngành đặc thù,

tỷ lệ người theo học văn hóa nghệ thuật đang

giảm dần Chất lượng nguồn nhân lực, cơ sở vật

chất, hợp tác quốc tế và công bố quốc tế, còn

nhiều hạn chế Việc tổ chức liên kết giữa cơ sở

đào tạo với nơi sử dụng nguồn nhân lực chưa

thực hiện tốt Marketing trong công tác tuyên

truyền phục vụ đào tạo đại học tại các trường

văn hóa nghệ thuật chưa tạo được sức ảnh

hưởng, sự kết nối với nhu cầu về thông tin Việc

tư vấn, quyết định lựa chọn chuyên ngành với

người học chưa phù hợp năng lực nên không

tạo hứng thú và chưa thích nghi với sự phát

triển của xã hội Các trường đại học văn hóa

nghệ thuật chưa thực sự thành công trong việc

làm cầu nối kéo nhân lực đến nhà tuyển dụng,

nên số sinh viên khi ra trường tỷ lệ thất nghiệp

hoặc chuyển đổi ngành nghề khá cao Việc rèn

luyện kỹ năng để sinh viên sau khi tốt nghiệp

gắn bó với nghề lâu dài còn hạn chế [13]

Nhìn chung, marketing trong hoạt động

giáo dục đào tạo tại các trường đại học văn

hóa nghệ thuật ở Việt Nam vẫn còn là vấn đề

khá mới mẻ và bước đầu chủ yếu là các hoạt

động marketing trong công tác tuyển sinh

Điều đó dẫn đến không tránh khỏi những khó

khăn và hạn chế trong quá trình tự chủ của các

trường đào tạo văn hóa nghệ thuật

3 Vấn đề đặt ra

Trong xu thế tự chủ đại học, để ứng dụng

khoa học/công nghệ marketing vào tổ chức

cần tiếp cận nghiên cứu một cách có hệ thống

từ các phương diện như:

- Các phương pháp/cách thức ứng dụng khoa học/công nghệ marketing trong đào tạo đại học nói chung và đào tạo đại học văn hóa nghệ thuật nói riêng

- Động thái liên quan tới hoạt động marketing của các trường đại học có thương hiệu trên thế giới và các trường đại học có hoạt động liên quan marketing trong nước

- Nghiên cứu xây dựng mô hình và giải pháp marketing mix 7ps cho các trường đại học văn hóa nghệ thuật ở nước ta Với quan điểm tiếp cận dựa trên cơ sở lý thuyết: Giáo dục là một loại hình dịch vụ nên marketing mix trong giáo dục đại học xuất phát từ quan điểm 7Ps, bao gồm: Sản phẩm, giá cả, phân phối, xúc tiến/ truyền thông, con người, quy trình và bằng chứng hữu hình

Mặt khác, các cơ quan chức năng và viện nghiên cứu liên quan đào tạo đại học cần sưu tầm/dịch thuật và xuất bản tài liệu về marketing đào tạo của nước ngoài, làm tài liệu học tập và tham khảo cho những người có trách nhiệm ở các trường đại học trong nước nói chung và trường đại học văn hóa nghệ thuật nói riêng Tổ chức các cuộc hội thảo/tọa đàm khoa học với chủ đề liên quan marketing đào tạo ở các cấp độ Bộ chủ quản và cấp độ các nhà trường, học viện

Nếu các nghiên cứu marketing được ứng dụng một cách bài bản vào quản trị các trường đại học và các trường đại học thuộc lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, chắc chắn sẽ có những đóng góp lớn cho sự nghiệp đào tạo đại học cũng như sẽ có tác động tích cực đến xã hội như:

- Đóng góp cho việc xây dựng chủ trương, chính sách, pháp luật hoặc có tác động làm chuyển biến nhận thức của xã hội và tác động đối với ngành, lĩnh vực khoa học (đóng góp mới, mở ra hướng nghiên cứu mới thông qua các công trình công bố ở trong và ngoài nước)

- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp, cách

tổ chức thực hiện mô hình marketing đào tạo văn hóa nghệ thuật hướng tới tự chủ cho các trường đào tạo về văn hoá nghệ thuật trực thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch nói riêng

và trực thuộc các bộ, ngành khác nói chung

Trang 7

V Ă N HÓ A

- Đề xuất bổ sung chính sách của Bộ chủ

quản các trường đại học văn hóa nghệ thuật

phù hợp với quá trình tự chủ tài chính

- Nâng cao năng lực nghiên cứu của tổ

chức, cá nhân thông qua tham gia phát triển

các đề tài liên quan marketing đào tạo trong

lĩnh vực văn hóa nghệ thuật ở các trình độ thạc

sĩ, tiến sĩ

- Trực tiếp góp phần nâng cao năng lực

nghiên cứu, quản trị/điều hành của một số

trường văn hóa nghệ thuật như: Trường Đại

học Văn hóa Hà Nội, Trường Đại học Sân khấu

- Điện ảnh Hà Nội, Học viện Âm nhạc Quốc gia

Việt Nam…

Nhìn chung, nếu ứng dụng marketing vào

đào tạo trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, sẽ

tạo cơ hội cho các trường liên quan gỡ được

một loạt các vướng mắc khi tự chủ tài chính,

tạo các cơ hội thay đổi theo hướng tích cực,

nâng cao chất lượng đào tạo và chất lượng lao

động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, tăng

thu nhập cho giảng viên và cán bộ công nhân

viên trong nhà trường

Đ.C.T

Tài liệu tham khảo

1 Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ (2009),

Thông tư liên tịch số 07/2009/TTLT-BGDĐT-BNV

ngày 15/4/2009 Hướng dẫn quyền tự chủ, tự chịu

trách nhiệm về việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức

bộ máy, biên chế đối với đơn vị sự nghiệp công lập

giáo dục và đào tạo, https://thuvienphapluat.

vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Thong-tu-

lien-tich-07-2009-TTLT-BGDDT-BNV-huong-dan-

thuc-hien-quyen-tu-chu-tu-chiu-trach-nhiem-

thuc-hien-nhiem-vu-to-chuc-bo-may-bien-che-GDDT-87326.aspx

2 Chính phủ (2005), Nghị quyết số 14/2005/

NQ-CP ngày 02/11/2005 về Đổi mới cơ bản và

toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn

2006 - 2020,

https://thuvienphapluat.vn/van-

ban/giao-duc/Nghi-quyet-14-2005-NQ-CP-doi-

moi-co-ban-va-toan-dien-giao-duc-dai-hoc-Viet-Nam-giai-doan-2006-2020-5013.aspx

3 E Mark Hanson (1992), “Educational

Marketing and the Public Schools: Polices, Practices

and Problems”, https://www.semanticscholar.org/

paper/Educational-Marketing-and-the-Public-4 Karen A Berger & Harlan P Wallingford (2008), “Developing Advertising and Promotion Strategies for Higher Education”, https:// www.tandfonline.com/doi/abs/10.1300/ J050v07n04_05

5 “Nâng tầm thương hiệu giáo dục đại học bằng chiến lược truyền thông”, http:// giaiphapmarketing.vn/nang-tam-thuong-hieu-giao-duc-dai-hoc-bang-chien-luoc-truyen-thong/

6 Phillip Kotler (2002), Quản trị Marketing,

Nxb Thống kê, Hà Nội

7 Lê Quang (2015), “Ứng dụng marketing giáo dục trong các trường đại học của Việt Nam”,

Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng, số 159.

8 Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2005),

Luật Giáo dục,

https://thuvienphapluat.vn/van- ban/giao-duc/Luat-Giao-duc-2005-38-2005-QH11-2636.aspx

9 Rachel Reuben (2008),“The Use Social Media Higher Education for Marketing and Communications: A Guide for Professionals in Higher Education”, http://citeseerx.ist.psu.edu/ viewdoc/download?doi=10.1.1.534.79&rep=rep 1&type=pdf

10 Lâm Quang Thiệp (2016), “Tổng quan chính sách giáo dục Đại học Việt Nam và ý nghĩa đối với phát triển giáo dục đại học định hướng

nghề nghiệp”, in trong Báo cáo nghiên cứu số 2,

Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội

11 Thủ tướng Chính phủ (2003), Quyết định số 153/2003/QĐ-TTg ngày 30/7/2003 về

việc ban hành Điều lệ trường đại học, https://

thuvienphapluat.vn/van-ban/giao-duc/Quyet- dinh-153-2003-QD-TTg-Dieu-le-truong-Dai-hoc-51167.aspx

12 Thủ tướng Chính phủ (2010), Chỉ thị số

296/CT-TTg ngày 27/02/2010 về Đổi mới quản

lý giáo dục trong giai đoạn 2010 - 2012, https://

thuvienphapluat.vn/van-ban/xuat-nhap-khau/ chi-thi-296-ct-ttg-doi-moi-quan-ly-giao-duc-dai-hoc-101600.aspx

13 Trường Đại học Văn hóa Hà Nội (2020),

Mô hình và giải pháp marketing cho các trường đại học văn hóa, nghệ thuật trong điều kiện tự chủ đại học, Kỷ yếu Hội thảo khoa học.

Ngày nhận bài: 15 - 3 - 2019 Ngày phản biện, đánh giá: 22 - 3 - 2020

Ngày đăng: 24/02/2021, 10:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w