Bài viết khảo sát các đối tượng thờ phụng và đặc điểm lễ hội tại đền ông Hoàng Mười ở làng Xuân Am, từ đó chỉ ra tính địa phương, tính lịch sử cũng như sự tích hợp văn hóa thông qua tục thờ ông Hoàng Mười ở Nghệ An. Trên cơ sở đó, bài viết tập trung làm rõ sự mô hình hóa, biểu tượng hóa nhân vật ông Hoàng Mười trong điện thần tín ngưỡng Tứ phủ cũng như qua ghế của các thanh đồng
Trang 1ÔNG HOÀNG MƯỜI NGHỆ AN:
TỪ NGÔI ĐỀN THỜ Ở LÀNG XUÂN AM
NGUYỄN THỊ YÊN Tóm tắt
Trong tín ngưỡng Tứ phủ, ông Hoàng Mười được biết đến thông qua giá đồng là vị quan Hoàng trấn giữ đất Nghệ An có phong cách hào hoa phong nhã, giỏi thơ phú, hay ban tài phát lộc, nhất là lộc học hành Bài viết khảo sát các đối tượng thờ phụng và đặc điểm lễ hội tại đền ông Hoàng Mười ở làng Xuân
Am, từ đó chỉ ra tính địa phương, tính lịch sử cũng như sự tích hợp văn hóa thông qua tục thờ ông Hoàng Mười ở Nghệ An Trên cơ sở đó, bài viết tập trung làm rõ sự mô hình hóa, biểu tượng hóa nhân vật ông Hoàng Mười trong điện thần tín ngưỡng Tứ phủ cũng như qua ghế của các thanh đồng Ông Hoàng Mười
là một biểu tượng văn hóa đa nghĩa mang tính lịch sử; sự xuất hiện “Ông Hoàng Mười ở Nghệ An” trong điện thần Tứ phủ chính là kết quả của quá trình địa phương hóa các đối tượng thờ phụng của điện thần
Tứ phủ nói chung và các vị thần thuộc hàng Ông Hoàng nói riêng
Từ khóa: Thần Reahu, tín ngưỡng dân gian, người Khmer Nam Bộ
Abstract
In the faith of Four Realms worship, Hoang Muoi is known through the “go into a trance” ritual as the mandarin guarding Nghe An area, who has a gallant style, being good at poetry and always gives
a gift of fortune, especially education fortunes The article examines the objects of worship and the characteristics of festivals at temple of the great Hoang Muoi in Xuan Am village, thereby showing the locality, the historical characteristics as well as the cultural integration through the worship of the great Hoang Muoi in Nghe An Based on that, the article focuses on clarifying the modeling and symbolizing the great Hoang Muoi in the temple of Four Realms belief worship as well as through the aspect of ritual leader The great Hoang Muoi is a multi-layer cultural symbol carrying historical significance; the appearance of “the great Hoang Muoi in Nghe An” in the temple of the Four Realms is the result of the localizing worship objects in the temples of Four Realms in general and the gods of the Hoang family
in particular.
Keywords: Reahu Spirit, folk belief, Khmer people in the South
Trong tín ngưỡng Tứ phủ của người
Việt, ông Hoàng Mười thường xuyên
xuất hiện qua các giá đồng với hình
ảnh là vị quan Hoàng trấn giữ đất Nghệ An có
phong cách hào hoa phong nhã, giỏi thơ phú
Trong điện thần Tứ phủ, tượng ông Hoàng
Mười cùng hàng với các ông Hoàng Bảy, ông
Hoàng Bơ,… có mặt ở hầu khắp các đền, phủ
hoặc điện thờ thuộc hệ thống Tứ phủ Tuy nhiên, nơi thờ tự chính của ông được biết đến
là ở Nghệ An và Hà Tĩnh với hai ngôi đền nổi tiếng nằm đối diện qua con sông Lam Đó là ngôi đền ông Hoàng Mười (tên chữ là “Mỏ Hạc linh từ”) ở làng Xuân Am, xã Hưng Thịnh, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An và đền Củi (tên chữ là “Khu Độc linh từ”) ở xã Xuân Hồng,
Trang 2V Ă N HÓ A
huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh Ngoài ra còn
có đền Cả - Dinh đô quan Hoàng Mười (cũng là
“Mỏ Hạc linh từ”) nằm ở phường Trung Lương,
thị xã Hồng Lĩnh, tỉnh Hà Tĩnh Truyền thuyết
dân gian Nghệ An cho rằng, ông Hoàng Mười
là con của Đức vua cha Bát Hải Động Đình hóa
thân thành các vị tướng từng cai quản vùng
đất này như Uy Minh Vương Lý Nhật Quang -
con trai của Lý Công Uẩn, cai quản châu Nghệ
An và Nguyễn Xí - là một bậc quan khai quốc
công thần, sau khi đánh tan giặc Minh xâm
lược được Lê Lợi phân công cai quản đất Nghệ
An, Hà Tĩnh Ngoài ra, ông Hoàng Mười còn
được gắn với tướng Lê Khôi - người đã giúp Lê
Lợi đánh tan giặc Minh, khi đất nước thái bình,
ông phụng mệnh vua làm Tổng trấn châu
Hoan, cai quản vùng đất Nghệ An, Hà Tĩnh
Ông hóa thân về trời ở cửa Sót và được người
dân lập đền thờ gọi là “Đức thánh minh”
Vậy ông Hoàng Mười là ai, tại sao có tên gọi
ông Hoàng Mười ở Nghệ An? Trong bài viết
này chúng tôi sẽ tập trung tìm hiểu ông Hoàng
Mười ở đền làng Xuân Am, xã Hưng Thịnh,
huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An (gọi tắt là
đền Xuân Am) để qua đó làm rõ biểu tượng
ông Hoàng Mười trong tục thờ của địa phương
này qua mối liên hệ với ông Hoàng Mười của
điện thần Tứ phủ
1 Ông Hoàng Mười đền Xuân Am - từ đối
tượng thờ phụng đến điện thần
Trước hết, có thể thấy, cả ba ngôi đền lớn
thờ ông Hoàng Mười ở Nghệ An, Hà Tĩnh đều
nằm ở vị trí sông nước, trong đó hai ngôi đền
là đền Cả - Dinh đô quan Hoàng Mười (thị xã
Hồng Lĩnh) và đền Xuân Am đều có tên chữ là
“Mỏ Hạc linh từ” Sở dĩ có tên gọi này là vì cả hai
ngôi đền đều tọa lạc ở vị trí giao nhau của các
con sông lớn tạo hình thế phong thủy mỏ hạc
Cụ thể, đền Cả nằm ở vị trí giao nhau của sông
Minh Giang, sông Lam và sông La, còn đền
địa thế trước mặt là sông Mộc, phía sau là sông Vĩnh uốn khúc, tạo thành hình thế con chim hạc Điều đó cho thấy, có thể yếu tố sông nước hay là tục thờ thủy thần là xuất phát điểm của tục thờ ông Hoàng Mười
Theo tác giả Thái Huy Bích, người trực tiếp dịch và chú giải các sắc phong của đền Xuân
Am, thì hiện còn 12 đạo sắc phong cho các
vị thần của làng được lưu giữ ở nhà thờ họ Nguyễn (là dòng họ của ông Nguyễn Duy Lạc, vốn là một trong bốn vị thần được sắc phong của làng) Sắp xếp các thần theo thứ tự trên dưới theo sắc phong như sau:
1/ Khâm sai Tiết chế Nghệ An, Quảng Nam, Thuận Hoá đẳng xứ, kiêm thuỷ bộ chư doanh, Bình chương quân quốc trọng sự, Thái uý, Vị Quốc công, (Trung đẳng thần) - thần Lê Khôi 2/ Thái bảo Phúc Quận công, (tôn thần) 3/ Đặc tiến phụ quốc thượng tướng quân Cẩm y vệ Thần Vũ, (tôn thần) - thần Nguyễn Duy Lạc
4/ Song đồng Ngọc Nữ, (tôn thần) [2] Đền thờ ông Hoàng Mười tại làng Xuân Am,
xã Hưng Thịnh, huyện Hưng Nguyên được xây dựng vào thời Hậu Lê [4, tr.7], bị bốc dỡ vào năm 1961, đến năm 1995 mới được tôn tạo lại Theo kết quả khảo sát hồi cố của Nguyễn Thị Thanh Giang, trước năm 1961 đền thờ ông Hoàng Mười ở làng Xuân Am được bài trí như
trong Sơ đồ 1.
Tuy nhiên, sau khi tôn tạo lại vào năm 1995,
đền lại có bài trí điện thần như trong Sơ đồ 2.
So sánh Sơ đồ 1 và 2 cho thấy, sự thay đổi lớn nhất của điện thờ hiện nay là việc hoán đổi vị trí thờ Đức Thánh Hai thành ông Hoàng Mười ở cung cấm; thêm bàn thờ và bài vị ông Hoàng Mười ở Thượng điện; đồng thời bổ sung thêm các ban thờ của điện thần Tứ phủ như bàn thờ Tứ phủ Quan Hoàng ở Trung điện;
Trang 3là Vua cha Ngọc Hoàng Thượng đế, tiếp phía
trước là Ngũ vị Tôn quan, bên trái có thêm bàn
thờ Thập nhị Tiên Cô, bên phải thêm Tứ phủ
Trần triều…
Như vậy, cho đến sau năm 1995 đền thờ
làng Xuân Am mới chính thức đặt tượng và
bàn thờ cùng bài vị ông Hoàng Mười Nếu căn
cứ vào thứ tự các vị thần được sắc phong của
làng thì “Đức Thánh Hai” tương ứng với thần Lê
Khôi, “Đức Thánh Tư” là ông Nguyễn Duy Lạc
Như vậy “Đức Thánh Hai” chính là thần Lê Khôi
và là ông Hoàng Mười
Một câu hỏi đặt ra là nếu theo thứ tự sắc phong thì Song đồng Ngọc Nữ phải là
vị thánh thứ tư, tuy nhiên ở đây ngôi vị này lại thuộc về ông Nguyễn Duy Lạc, đồng thời thiếu ngôi vị “Đức Thánh Cả” Vậy phải chăng ngôi vị Thánh Cả là của Song đồng Ngọc Nữ?
Để làm rõ điều này, dưới đây chúng tôi lần lượt tập trung phân tích về lai lịch của từng vị thần
Sơ đồ 1 Sơ đồ bài trí điện thờ đền Ông Hoàng Mười ở làng Xuân Am trước năm 1961 (Nguồn: [6])
Sơ đồ 2 Sơ đồ bài trí điện thờ đền Ông Hoàng Mười ở làng Xuân Am năm 1995 (Nguồn: [6])
Trang 4V Ă N HÓ A
được thờ ở làng Xuân Am trong mối liên hệ
với ông Hoàng Mười
* Thần Song đồng Ngọc Nữ
Có nhiều cách giải thích khác nhau về Song
đồng Ngọc Nữ Theo Thái Huy Bích, căn cứ vào
cuốn Bách thần sự tích (?) thì Song đồng Ngọc
Nữ là con gái Cao Biền (giữ chức An Nam đô
hộ sứ, thời nhà Đường, Trung Quốc) Ở Hưng
Nguyên có nhiều nơi thờ Cao Sơn Cao Các và
Song đồng Ngọc Nữ Tương tự, trong sách Tục
thờ thần và thần tích ở Nghệ An, tác giả Ninh
Viết Giao cũng cho biết Song đồng Ngọc Nữ
là con của thần Cao Sơn, thường lấy của riêng
giúp người nghèo đói, mồ côi, đau ốm… [7,
tr.260]
Ở xã Nghĩa Hợp, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ
An còn có một ngôi đền mang tên là Song
đồng Ngọc Nữ nằm bên dòng sông Con nổi
tiếng linh thiêng Tương truyền, mỗi khi có
người chết đuối khó tìm xác, nếu người thân
đến đền cầu khẩn “hai Bà” thì xác sẽ trôi về, nổi
lên ở khúc sông dưới chân đền… Sự tích của
ngôi đền này gắn với câu chuyện hai chị em họ
Trần bị chết đuối được hổ vùi xác dưới gốc cây
thị thuộc vị trí ngôi đền hiện nay [11]
Theo cuốn Lý lịch di tích đền Ông Hoàng Mười
lưu tại đền, trong tín ngưỡng dân gian, Song
đồng Ngọc Nữ là con của Ngọc Hoàng Thượng
đế, luôn được hầu hạ bên cạnh Thượng đế, khi
đầu thai xuống trần gian thường được gửi vào
nhà quyền quý để làm vua, làm tướng hoặc làm
công chúa, dân làng nhiều nơi tin rằng làng
mình có được Kim đồng (cậu bé Vàng), Ngọc
nữ (cô bé Ngọc) và tôn làm Thành hoàng Làng
Xuân Am có nhiều con sông chảy qua, nhân
dân từng phải chống chọi với mưa bão, lũ lụt,
họ tôn Song đồng Ngọc Nữ làm đương cảnh
Thành hoàng, làm bà chúa bản đền như Mẫu
Thoải để cứu giúp nhân dân qua những trận
cuồng phong Đồng thời, Song đồng Ngọc Nữ
còn đại diện cho tương lai, mầm mống của sự
Tư liệu thực địa của Nguyễn Thị Thanh Giang còn cho biết: theo ông Trương Văn Thìn (người trước đây từng làm ông từ ở đền), Song đồng Ngọc Nữ có biệt tài chữa bệnh giúp dân [9] Như vậy, theo quan niệm của địa phương này thì Song đồng Ngọc Nữ có nguồn gốc thiên thần, là con gái Vua cha Ngọc Hoàng được đầu thai ở trần gian, sinh ở vùng sông nước nên được tôn làm Mẫu Thoải với ngôi vị
là Thành hoàng làng và là bà chúa bản đền, có công năng chống chọi cuồng phong, chữa bệnh giúp dân và đại diện cho sự sinh sôi nảy nở… Xét về tổng thể, lai lịch này có nhiều điểm tương đồng với lai lịch của Mẫu Liễu Hạnh ở Phủ Dày (Nam Định)
Từ đây có thể đoán định, Song đồng Ngọc
Nữ với tư cách là con của thần Cao Sơn có thể
là lớp tín ngưỡng có trước của ngôi đền, được xây dựng theo phong thủy ở vị trí “mỏ hạc” của làng Xuân Am Trong quá trình tồn tại, Song đồng Ngọc Nữ đã được địa phương hóa thành Mẫu Thoải với tư cách là bà chúa bản đền Và vì là bà chúa bản đền nên Song đồng Ngọc
Nữ chính là vị Thánh Cả với danh nghĩa là vị thần có trước, về sau mới lần lượt kết tập thêm các vị thần khác như Lê Khôi (Đức Thánh Hai), Đức Thánh Ba và Nguyễn Duy Lạc (Đức Thánh Tư), giống như là sự kết tập các vị thần trong
Tứ phủ vào điện thần của Mẫu Liễu Hạnh Và như vậy, nếu xét về vị thế trong Tứ phủ thì Song đồng Ngọc Nữ thuộc hàng Mẫu còn ông Hoàng Mười thuộc hàng Ông Hoàng
Trong tôn giáo Trung Hoa ta thấy có cặp Kim Đồng và Ngọc Nữ hầu cận bên cạnh Ngọc Hoàng Thượng đế và có thể tiếp biến của nó
là cặp Thiện Tài và Long Nữ xuất hiện cùng với Quán Thế Âm [14] Như vậy, Song đồng Ngọc
Nữ (phổ biến ở Nghệ An) có thể cũng là một biến thể của Ngọc Nữ và Long Nữ của văn hóa Trung Hoa rồi được bản địa hóa, địa phương
Trang 5Lê Khôi là vị thần có lai lịch khá rõ ràng Ông
có tên thụy là Vũ Mục, công thần khai quốc nhà
Lê sơ, là cháu của Lê Lợi, tham gia khởi nghĩa
Lam Sơn, lập nhiều công lao được Lê Thái Tổ lên
ngôi phong cho là Kỳ Lân Hổ Vệ tướng quân,
hàm Nhập nội thiếu úy, tước Đình Thượng hầu
và được điều làm trấn thủ Hóa châu (nay thuộc
Thừa Thiên Huế) Năm 1446, ông làm tiền quân
tiến đánh Chiêm Thành, đánh đến thành Đồ
Bàn, bắt được vua Chiêm là Bí Cai, lúc đem
quân trở về, ông mắc bệnh, mất ở chân núi
Long Ngâm, cửa biển Nam giới (tức cửa Sót),
thuộc địa phận Hà Tĩnh ngày nay [9] Sau khi
ông mất, triều đình nhà Lê đã làm quốc tang
và an táng thi hài ông tại chóp núi Long Ngâm
Đền thờ Lê Khôi được xây dựng năm Đinh Mão
(năm 1477), ngay sau khi ông mất một năm
Hàng năm, lễ hội đền được tổ chức long trọng
vào ngày giỗ của ông (3 tháng Năm) [8]
Vậy Lê Khôi là nhân vật lịch sử có thật, từng
trấn thủ ở châu Hóa thuộc khu vực Thừa Thiên
Huế, có đền thờ và mộ táng tại chính nơi ông
mất ở cửa Sót thuộc tỉnh Hà Tĩnh ngày nay Tại
đây ông được thờ phụng với tên gọi là Chiêu
Trưng Đại vương chứ không gắn với tên gọi
ông Hoàng Mười như ở làng Xuân Am
Ta biết rằng nằm sát ngôi đền thờ ông
Hoàng Mười ở làng Xuân Am còn có một ngôi
mộ được xây cất bề thế gọi là “Lăng Đức Hoàng
Mười” Truyền thuyết ở đây kể về sự tích ngôi
mộ theo một motip khá quen thuộc: Ông là
tướng đi đánh giặc bị thương, đầu đứt gần lìa
khỏi cổ, trên đường về quê rẽ vào hàng nước
hỏi bà bán hàng “Tôi có về được quê không?”,
bà bán hàng nước nói: “Nếu uống được nước
thì về được quê” Ông xuống ngựa uống được
nước và tiếp tục phi ngựa về quê thì mất Ngựa
còn cất tiếng hí vang, dân làng nghe tin xuống
đến nơi thì mối đã vùi ông thành mộ ở vị trí
ngôi mộ ông Hoàng Mười hiện nay Theo đó,
dạng hình tròn bằng đất Khu lăng mộ bề thế như hiện nay được xây dựng từ năm 1997 và đến năm 2000 được nâng cấp lại [6]
Có thể thấy, ngày giỗ ông Hoàng Mười (10 tháng Mười) và ngôi mộ ông Hoàng Mười ở làng Xuân Am không có liên quan đến ngày giỗ cũng như ngôi mộ của Lê Khôi Tuy nhiên, điểm chung giữa Lê Khôi và “Ông Hoàng Mười” trong truyền thuyết dân gian là cả hai đều là tướng đi đánh giặc và chết trên đường trở về quê Phải chăng sự tồn tại ngôi mộ ông Hoàng Mười cạnh ngôi đền chính là lý do khiến ngôi đền “Mỏ Hạc linh từ” làng Xuân Am trở thành đền ông Hoàng Mười?
* Thần Nguyễn Duy Lạc
Theo gia phả họ Nguyễn ở làng Xuân Am
và thần tích của làng, ông Nguyễn Duy Lạc sinh năm1558, mất năm 1639, vốn là tướng giúp vua Lê chúa Trịnh dẹp loạn, được triều đình phong chức nhiều lần Trước khi mất, ngài cống cho làng 100 quan tiền và 2 mẫu ruộng, nhân dân mến đức, phục uy, tôn làm hậu thần
và thờ phụng tại đền [6]
Theo đó, trong số 4 vị thần được thờ phụng tại đền Ông Hoàng Mười hiện nay, ngoài Đức Thánh Ba chưa rõ lai lịch thì Nguyễn Duy Lạc
là vị thần có nguồn gốc tại làng Ông là tướng đánh giặc nhưng sống thọ và chết tại làng, trước khi mất có công đức cho làng Có lẽ vì ông là một trong 4 vị thần của làng nên các sắc phong thần của đền được dòng họ Nguyễn của ông cất giữ; trong lịch trình lễ hội của đền hàng năm (10 tháng Mười) có tổ chức lễ rước sắc rất long trọng từ nhà thờ họ Nguyễn
về đền, sau đó lại làm lễ rước sắc về nhà thờ như cũ Đặc biệt, trước đây còn có lễ khai điển (15 tháng Ba) - là lễ kiểm tra bằng sắc, cũng có nghi lễ rước sắc từ nhà thờ họ Nguyễn ra đền với những hoạt động yết cáo, lễ đại lễ, lễ dâng hương, lễ tạ và các hoạt động vui chơi thể
Trang 6V Ă N HÓ A
thao và văn nghệ, trò chơi dân gian (hát chầu
văn, thi chọi gà, đánh cờ người, đua thuyền
trên sông Mộc ) về cơ bản tương tự như hoạt
động lễ hội dịp 10 tháng Mười Qua đây cho
thấy dòng họ Nguyễn đã cất giữ các sắc phong
của đền từ lâu đời, có thể là liên quan đến vị
trí quan trọng của thần Nguyễn Duy Lạc cũng
như dòng họ Nguyễn ở làng Xuân Am trong
quá khứ
Như vậy, bài vị ông Hoàng Mười mới chính
thức có ở đền làng Xuân Am sau năm 1995,
còn trước đó, vị trí này thuộc về Đức Thánh Hai
gắn với sắc phong của ngài Lê Khôi Được biết,
đền Củi (xã Xuân Hồng, huyện Nghi Xuân, tỉnh
Hà Tĩnh) cũng là ngôi đền thờ Mẫu có từ lâu đời,
sau khi Lê Khôi mất người dân mới đặt bài vị Lê
Khôi để phối thờ [5] Có lẽ việc phối thờ bài vị Lê
Khôi với tư cách ông Hoàng Mười ở làng Xuân
Am cũng tương tự như ở đền Củi, tuy nhiên, có
thể vì làng Xuân Am có thần Nguyễn Duy Lạc
là người làng, lại sở hữu nhiều đạo sắc phong,
trong đó có sắc phong cho thần Lê Khôi, nên
vai trò của nữ thần (Song đồng Ngọc Nữ) với tư
cách là Đức Thánh Cả mờ nhạt hơn so với các
vị nam thần? Có thể vì lý do này mà trong tâm
thức người dân làng Xuân Am thì ông Hoàng
Mười còn được đồng nhất với thần Nguyễn
Duy Lạc, vốn cũng là vị tướng của làng
2 Ông Hoàng Mười đền Xuân Am - nhìn từ
lễ hội
Trong 4 vị được thờ tại đền, ông Nguyễn
Duy Lạc có lễ kỵ vào ngày 10 tháng Hai; Đức
Thánh Ba không có; Song đồng Ngọc Nữ kỵ
ngày 26 tháng Chạp, còn ông Hoàng Mười
(Đức Thánh Hai - Lê Khôi) kỵ ngày 10 tháng
Mười gắn với lễ hội ông Hoàng Mười
Một câu hỏi đặt ra là tại sao lễ hội ông
Hoàng Mười ở làng Xuân Am lại không được tổ
chức vào ngày 3 tháng Năm là ngày kỵ của Lê
Khôi như ở đền chính của Lê Khôi bên Hà Tĩnh
tháng Mười? Chúng tôi cho rằng mấu chốt của vấn đề chính là ở cái tên “Ông Hoàng Mười” gắn với việc tổ chức lễ hội vào ngày 10 tháng Mười trùng với dịp tết Cơm mới vốn rất phổ biến ở Việt Nam, còn được gọi là tết Song thập (hay tết Trùng thập, hoặc tết Hạ nguyên) Trước hết, tết Cơm mới không chỉ phổ biến ở người Kinh (Việt) mà còn là một tết lớn ở các tộc người thiểu số với ý nghĩa mừng mùa lúa mới gắn với những nghi lễ riêng của từng tộc người Chẳng hạn, người Xơ Teng (một nhánh của người Xơ Đăng) ở Tây Nguyên có hai nghi lễ liên quan là nghi lễ ăn lúa mới tổ chức vào khoảng tháng 9 dương lịch trước khi thu hoạch và nghi
lễ mừng mùa thu hoạch tổ chức vào khoảng tháng 12 dương lịch) [16, tr.97-109] Người Tày có tết Cơm mới tương ứng với tết mừng Cốm mới, gắn với nghi lễ thờ cúng tổ tiên
Ở người Kinh, do tiếp thu văn hóa Trung Hoa nên tết Cơm mới còn có các tên gọi khác là tết Trùng thập, Song thập hoặc tết Hạ nguyên Tết Hạ nguyên vào rằm tháng Mười, được cho
là ngày vua Hạ Vũ giải tai ách cho nhân sinh, nên còn gọi là “Hạ Nguyên Giải Ách Thuỷ Quan Ðại Ðế Thắng Hội”, hay còn gọi là “Hạ Nguyên Thuỷ Quan Thánh Ðản”, “Tết lúa mới”… [3] Hạ
Vũ là một vị vua huyền thoại cổ đại nổi tiếng với việc chống lũ lụt và xác lập chế độ cha truyền con nối bằng cách thành lập nhà Hạ cùng nhân cách đạo đức ngay thẳng của mình Ông được Đạo giáo tôn là Thủy Quan Đại Đế, thần đản là ngày Tết Hạ Nguyên [12] Như vậy,
Hạ Vũ thuộc Thủy quan (Thoải phủ), có lẽ liên quan tới truyền thuyết Hạ Vũ là vị vua trị thủy sống ở vùng sông nước
Phải chăng việc làng Xuân Am coi ngày 10 tháng Mười là ngày kỵ của ông Hoàng Mười
- một vị thần cũng có nguồn gốc thủy thần, đối lập với ngày đản của Thủy Quan Đại Đế là có hàm ý về mối liên hệ về cội nguồn văn hóa giữa tục thờ ông Hoàng Mười ở đây với truyền
Trang 7Mười là ngày cây thuốc tụ được khí âm dương,
kết được sắc tứ thời (Xuân, Hạ, Thu, Đông) trở
nên tốt nhất, vì vậy các thầy thuốc rất coi trọng
ngày tết này [13] Cũng như vậy, theo Phan Kế
Bính, tết Trùng thập “phần nhiều là của các nhà
đồng cốt và nhà thầy thuốc mới ăn thôi… Các
nhà thầy thuốc thì vì thu lễ thu tiền mà ăn Tết,
một là để cung cấp, hai là để khoản đãi các đệ
tử và các bạn hàng” [1, tr.56] Vậy việc “các nhà
đồng cốt” coi 10 tháng Mười là ngày lễ của họ
có lẽ là liên quan đến nghề nghiệp chữa bệnh
bằng liệu pháp tinh thần của họ Trong thực tế,
ở các gia đình có tổ nghề cúng Then của người
Tày ở Tuyên Quang, hiện vẫn còn giữ tục cúng
Cốm mới (người dân gọi nôm na là “làm cốm”),
là dịp cúng mừng được mùa của người đứng
đầu dòng họ Then với ý nghĩa làm lễ, “nộp
thuế” cho Ngọc Hoàng
Dù có các tên gọi khác nhau, nhưng theo
truyền thống, tại các vùng quê nông thôn Việt
Nam, vào ngày này, mọi nhà thường nấu các
loại bánh làm từ gạo (tất cả sử dụng bằng loại
thóc mới thu hoạch) như bánh bột lọc, bánh
dầy, bánh dẻo Ngoài ra còn có xôi chè (các
loại đồ ăn gần giống với ngày lễ diệt sâu bọ
mùng 5 tháng Năm), đến giờ hoàng đạo thì
cúng gia tiên, thần linh, thổ địa [18]
Như vậy, sở dĩ tết Cơm mới ở Việt Nam có
nhiều tên gọi khác nhau bởi lẽ ở nó tích hợp
nhiều lớp nghĩa văn hóa từ tín ngưỡng nông
nghiệp bản địa của người Việt cổ đến các yếu tố
du nhập Theo đó, lễ hội đền Ông Hoàng Mười
ở làng Xuân Am tổ chức vào ngày 10 tháng
Mười, với ý nghĩa là ngày kỵ của ông Hoàng
Mười, chính là sự kết tập của các hình thức
tín ngưỡng của địa phương như tín ngưỡng
thờ thủy thần, tín ngưỡng nông nghiệp, tín
ngưỡng thờ Mẫu (ở đây là Song đồng Ngọc Nữ
với vị thế là Mẫu Thoải có vai trò điều hòa mưa
gió, chữa bệnh, sinh sôi nảy nở), tín ngưỡng
đã được biểu tượng hóa thông qua hình tượng ông Hoàng Mười mang đậm phong cách của người anh hùng xứ Nghệ
3 Ông Hoàng Mười Nghệ An trong tín ngưỡng Tứ phủ
3.1 Ông Hoàng Mười Nghệ An trong điện thần Tứ phủ
Ta biết rằng điện thần Tứ phủ của các ông
bà đồng được xây dựng trên cơ sở điện thần Tam phủ của các thầy pháp sư Theo đó, bên cạnh các đối tượng thờ phụng chính của Tam phủ như Phật, Pháp (Vua cha Ngọc Hoàng, Trần triều, Đức ông Cửa Suốt), Nam Tào Bắc Đẩu, Hạ ban (Ngũ hổ), thì điện Tứ phủ còn bổ sung thêm các ban như: Tam tòa Thánh Mẫu, Vua cha Bát Hải, Tứ vị Chầu Bà, Ngũ vị Tôn quan, Tứ phủ Quan Hoàng, cung Sơn trang, hai ông Lốt và các ban Cô, Cậu [17] Có thể thấy, điện thần Tứ phủ là sự thống nhất các hình thức tín ngưỡng của người Việt Nam trên
cơ sở tập hợp một cách hệ thống các vị thần linh trong bốn cõi (bốn phủ) của người Việt Nam, xét theo cả chiều không gian (địa lý), thời gian (lịch sử) và tôn giáo tín ngưỡng gắn với bối cảnh kinh tế, văn hóa và xã hội cụ thể Có thể xem xét tập hợp đó theo hàng dọc từ trên xuống dưới như sau:
- Hàng Mẫu: Là hàng các Thánh Mẫu biểu trưng cho không gian, thời gian cư trú của người Việt, cùng sự hội nhập văn hóa qua các thời kỳ lịch sử Căn cứ vào truyền thuyết và văn chầu thì Mẫu Thoải gắn với truyền thuyết Kinh Dương Vương kết hôn với con gái Long Vương ở vùng hồ Động Đình; Mẫu Thượng Ngàn tương ứng với Mẫu Âu Cơ gắn với thời kỳ vua Hùng dựng nước; Mẫu Thượng Thiên với hóa thân là Mẫu Liễu Hạnh gắn với thời kỳ Lê - Trịnh khoảng từ thế kỷ XVI, XVII
Tương ứng với hàng Mẫu là hàng Vua cha, nổi bật là Vua cha Ngọc Hoàng (Thiên phủ) và
Trang 8V Ă N HÓ A
Vua cha Bát Hải Động Đình (Thoải phủ), hóa
thân là Đức Thánh Trần
- Hàng Quan: Nếu xét về vị thế và lai lịch
thì có lẽ hàng Quan trong tín ngưỡng Tứ phủ
của người Việt là thuộc về hàng thờ phụng các
vị thánh có nguồn gốc vua chúa Chẳng hạn
như trong Ngũ vị Quan lớn thì Quan Đệ Nhất,
Quan Đệ Nhị và Quan Đệ Tứ được coi là có
nguồn gốc thiên thần (con vua ở thiên cung),
còn Quan Đệ Tam và Quan Đệ Ngũ cũng đều là
hoàng tử con vua Long Vương
- Hàng Chầu: Tương ứng với việc thờ phụng
các vị thánh nữ có công lao trong dựng nước
và giữ nước, được coi là hóa thân của các mẫu,
chẳng hạn như các vị công chúa, các tướng
lĩnh đánh giặc (như chầu Lục, chầu Bé, chầu
Bát Nàn, chầu Mười…)
- Hàng Ông Hoàng: Là hàng thờ phụng các
vị thánh nam có công lao với dân với nước, chủ
yếu là các tướng lĩnh có công đánh giặc, nhiều
người trong số đó bị tử trận, chẳng hạn như
tướng Lê Khôi ở Nghệ An
- Hàng Cô: Là hàng thờ các thiếu nữ chết
trẻ linh thiêng, tương ứng với các “Bà Cô” của
các gia đình, dòng họ Trường hợp hai cô gái
họ Trần chết đuối ở đền Song đồng Ngọc Nữ
(xã Nghĩa Hợp, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An) là
một ví dụ
- Hàng Cậu: Là hàng thờ các cậu bé chết trẻ
từ 1 - 9 tuổi linh thiêng, biểu tượng hóa thành
bé Thánh, tương ứng với các “Ông Mãnh” thờ
trong các gia đình, dòng họ
Ngoài ra, sự hiện diện của Hổ (Ngũ Hổ) và
Rắn (thường là đôi Thanh Xà, Bạch Xà) là tượng
trưng cho các vị thần của rừng núi và sông nước
vốn là địa bàn cư trú lâu đời của người Việt
Như vậy, trong điện thờ của tín ngưỡng
Tứ phủ, tính theo hàng dọc từ trên xuống thì
ông Hoàng Mười thuộc hàng thứ tư (hàng Ông
hàng Cô, Cậu Hàng Ông Hoàng được gọi tên theo các thứ tự từ ông Hoàng Đệ Nhất tới ông Hoàng Mười, phần lớn các ông Hoàng đều có một lai lịch riêng gắn với công tích ở một địa phương cụ thể2
Về bài trí, trong điện thờ Tứ phủ, vị trí ở giữa
là Tam tòa Thánh Mẫu, bên trái là Tứ vị Chầu Bà, bên phải là Tứ phủ Quan Hoàng Ông Hoàng Mười thuộc hàng Địa phủ, mặc lễ phục màu vàng, rồi đến ông Hoàng Chín, ông Hoàng Bảy
và ông Hoàng Bơ
Phong cách và đặc điểm tính cách của ông Hoàng Mười được miêu tả qua văn chầu và thể hiện thông qua giá hầu ông Hoàng Mười trong nghi lễ hầu đồng Thường thì giá hầu ông Hoàng Mười luôn mang lại hứng khởi cho người tham dự với phong cách lịch lãm, giỏi thơ phú và đặc biệt là ban tài phát lộc, nhất là lộc học hành Tương truyền, ông Hoàng Mười thường phù hộ cho việc học hành thi cử, nên mỗi khi ông nhập đồng, các con nhang thường dâng tiền và lễ vật xin ông ban lộc học hành và thi cử cho con cái Qua đây có thể thấy, đã có
sự mô hình hóa hình tượng ông Hoàng Mười trong điện thần Tứ phủ so với hình tượng ông Hoàng Mười trong điện thần làng Xuân Am
3.2 Ông Hoàng Mười qua ghế thanh đồng
Trong đội ngũ thanh đồng thường phổ biến khái niệm “căn” để chỉ tính cách của các thanh đồng tương ứng với các vị thánh trong
hệ thống Tứ phủ Thường nam giới có “căn cô”,
“căn chầu” như “căn cô Chín”, “căn chầu Lục”; nữ giới có căn quan, căn ông hoàng như “căn ông Hoàng Bảy”, “căn ông Hoàng Mười”… Khoảng mấy thập niên gần đây còn xuất hiện hiện tượng một số vị thánh trong hệ thống Tứ phủ nhập đồng thông qua ghế các thanh đồng để trực tiếp chỉ đạo các việc tìm mộ, chữa bệnh,…
mà điển hình là sự xuất hiện nhân vật ông Hoàng Mười qua ghế thanh đồng Trần Ngọc
Trang 9qua ghế thanh đồng Trần Ngọc Ánh, ngoài
việc chỉ bảo tìm kiếm mồ mả các liệt sĩ, chữa
bệnh cho dân,… thì trong những trường hợp
cần thiết, cô Ánh còn được ông Hoàng “sang
tai” để cung cấp thông tin hoặc chỉ vẽ công
việc cho các gia chủ
Dưới sự chỉ đạo của ông Hoàng Mười, cô
Ánh đã giúp họ Hà ở Hà Tĩnh tìm hài cốt cố
Tổng Bí thư Hà Huy Tập (năm 2009) và tìm mộ
tướng quân Hà Mại (năm 2010), một danh
tướng thời Trần, đồng thời là cụ thủy tổ của họ
Hà ở Hà Tĩnh Cuốn sách Cuộc tìm kiếm hài cốt
cố Tổng Bí thư Hà Huy Tập của tác giả Hà Huy
Lợi là một tập ghi chép chân thực và chi tiết
về quá trình con cháu dòng họ Hà đi tìm mộ
cố Tổng Bí thư Hà Huy Tập, thể hiện vai trò chỉ
đạo tích cực của ông Hoàng Mười, qua đó tái
diễn lại một phần tâm tư nguyện vọng của các
chiến sĩ tiền bối cách mạng (Hà Huy Tập, Võ
Văn Tần…) đối với người đương đại
Khảo sát ông Hoàng Mười qua ghế cô đồng
Trần Ngọc Ánh cho thấy, cách giao tiếp của
ông với người trần là nhập đồng ghế cô Ánh
để giao tiếp một cách tự nhiên giống như giữa
người trần với người trần Ngoài ra, ông còn
“điều” vong các gia chủ về để gia chủ hỏi han
việc nhà, thường là các vong cậu bé (không
thấy trường hợp nào là cô bé) và các vong
tổ tiên của gia chủ Về ngôn ngữ, ông Hoàng
Mười nói tiếng Nghệ có pha giọng Bắc; về tính
cách, ông thể hiện sự hài hước, dí dỏm, nhã
nhặn, thân thiện; về học vấn, ông thể hiện là
người học thức cao, hiểu biết uyên thâm, biết
nhiều ngoại ngữ và tự giới thiệu bản thân là
“mệnh quan triều đình”; về sở thích, ông thích
hút thuốc lá, uống nước lọc… Với những đặc
điểm như vậy, ông Hoàng Mười trong nghi
lễ hầu đồng của cô Ánh thể hiện một phong
cách tự nhiên, độc đáo hơn so với các giá khác
Từ đó gợi cho người tiếp xúc liên tưởng về một
nhà hoạt động cách mạng của Nghệ An nửa đầu thế kỷ XX
Từ trường hợp ông Hoàng Mười qua ghế cô đồng Trần Ngọc Ánh cho thấy, một mặt, ông mang điểm chung trong tính cách của ông Hoàng Mười trong truyền thống; mặt khác, lại thể hiện những đặc điểm riêng mang tính thời đại, qua đó thể hiện sự vận động biến đổi mang tính lịch sử trong biểu tượng của các vị thánh trong điện thần Tứ phủ nói chung
Như vậy sự xuất hiện “Ông Hoàng Mười ở Nghệ An” trong điện thần Tứ phủ chính là kết quả của quá trình địa phương hóa các đối tượng thờ phụng của điện thần Tứ phủ nói chung và các vị thần thuộc hàng Ông Hoàng nói riêng Có thể nhận thấy, ông Hoàng Mười
là một biểu tượng văn hóa đa nghĩa mang tính lịch sử Tuy nhiên, có một điểm chung khá thống nhất về nhân vật này là ở mối liên hệ với vùng đất Nghệ An mà ta có thể nhận ra qua truyền thuyết, văn chầu và kể cả qua ghế các thanh đồng
N.T.Y
(PGS.TS, Viện Nghiên cứu Văn hóa,
Viện Hàn lâm KHXHVN)
Chú thích
1 Bài viết thuộc đề tài cấp Bộ của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, số Hợp đồng 190/
HĐKH-KHXH: Thực hành tín ngưỡng Tứ phủ của
người Việt từ sau vinh danh do PGS.TS Nguyễn Thị
Yên làm chủ nhiệm đề tài
2 Theo Ngô Đức Thịnh, trong Đạo Mẫu Việt
Nam, ông Hoàng Đệ Nhất là danh tướng của
Lê Lợi; ông Hoàng Đôi (Đệ Nhị) với hai nơi thờ mang những gốc tích khác nhau: Ông Hoàng Đôi ở Cẩm Phả là người Mán có công chống giặc bảo vệ dân lành, còn ông Hoàng Đôi ở Xứ Thanh
Trang 10V Ă N HÓ A
thì lại đồng nhất với Quan Triệu Tường, người có
công mở mang đất đai giúp dân sinh sống; ông
Hoàng Bơ (Ba) thờ ở đền Lảnh (Hà Nam) có công
phò vua đánh giặc; ông Hoàng Lục tức tướng
Trần Lựu có công chống giặc Minh; ông Hoàng
Bảy (ông Hoàng Bảy Bảo Hà) là viên quan triều
đình trấn giữ vùng Lào Cai, Yên Bái; ông Hoàng
Bát là người Nùng, còn ông Hoàng Mười là một
quan văn thời Lê, gốc Nghệ An [15, tr.75]
Tài liệu tham khảo
1 Phan Kế Bính (1999), Việt Nam phong tục,
Nxb Hà Nội, Hà Nội
2 Thái Huy Bích, “Những sắc phong tại
đền Hoàng Mười - xã Hưng Thịnh huyện
Hưng Nguyên”, http://hungnguyen.gov.vn/
hungnguyen/default/explorer/news
3 Trí Bửu, “Ý nghĩa ngày Rằm tháng Mười,
Rằm Hạ nguyên”, http://www.daophatngaynay
com/vn/van-hoa/22309-y-nghia-ngay-ram-thang-muoi-ram-ha-nguyen.html
4 Đền Ông Hoàng Mười (2009), Nxb Nghệ An,
Nghệ An
5 “Đền thờ Ông Hoàng Mười ở đâu?”, https://
gianganh.net/den-tho-ong-hoang-muoi-o-dau-2045.html
6 Nguyễn Thị Thanh Giang (2015), Đền thờ
Ông Hoàng Mười ở xã Hưng Thịnh, huyện Hưng
Nguyên, tỉnh Nghệ An, Luận văn Thạc sĩ, Học viện
Khoa học Xã hội, Hà Nội
7 Ninh Viết Giao (2000), Tục thờ thần và thần
tích ở Nghệ An, Nxb Nghệ An, Nghệ An.
8 “Khai hội lễ hội đền Lê Khôi”, https://
hatinh.gov.vn/tintucsukien/tintrongtinh/Pages/
KhaihộiLễhộiđềnLêKhôi.aspx?curpage=15
9 “Lê Khôi”, https://vi.wikipedia.org/wiki/
Lê_Khôi
10 Hà Huy Lợi (2010), Cuộc tìm kiếm hài cốt
cố Tổng Bí thư Hà Huy Tập, Sở Thông tin và Truyền
thông tỉnh Hà Tĩnh
11 “Ngôi đền ‘níu’ hàng trăm xác chết
đuối”, http://ngoisao.net/tin-tuc/thoi-cuoc/
chuyen-la/ngoi-den-niu-hang-tram-xac-chet-duoi-2964195.html
12 “Tết cơm mới Hạ Nguyên là gì và cách
com/tet-com-moi-ha-nguyen-la-gi-va-cach-cung-tet-com-moi-d28123.html
13 “Tết Trùng Thập - Ngày mồng 10 tháng 10
âm lịch”, http://lichvansu.wap.vn/phong-tuc-tap- quan/tet-trung-thap-ngay-mong-10-thang-10-am-lich-26850.html
14 “Thiện Tài đồng tử”, https://vi.wikipedia org/wiki/Thiện_Tài_đồng_tử
15 Ngô Đức Thịnh (2010), Đạo Mẫu Việt Nam,
Nxb Tôn giáo, Hà Nội
16 A Tuấn (2015), Nghi lễ nông nghiệp của
người Xơ Teng ở huyện Tu Mơ Rông, tỉnh Kon Tum,
Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
17 Nguyễn Thị Yên (2014), “Mẫu Thượng Ngàn: Sự tham gia của tín ngưỡng các tộc người
thiểu số vào điện thần Tứ phủ”, Tạp chí Văn hóa
dân gian, số 1 (151), tr.23-32.
18 “Ý nghĩa Tết Trùng Thập ngày 10-10 Âm lịch”, http://vansu.net/y-nghia-tet-trung-thap-ngay-10-10-am-lich
Ngày nhận bài: 20 - 8 - 2019 Ngày phản biện, đánh giá: 26 - 8 - 2019 Ngày chấp nhận đăng: 25 - 9 - 2019