Vận dụng công nghệ dạy học hiện đại vào dạy học thực hành nghề sửa chữa máy công cụ theo phương pháp dự án ở khoa Cơ khí động lực trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Vinh Vận dụng công nghệ dạy học hiện đại vào dạy học thực hành nghề sửa chữa máy công cụ theo phương pháp dự án ở khoa Cơ khí động lực trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Vinh luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học bách khoa hà nội
Luận văn thạc sĩ khoa học Ngành: Sư phạm kỹ thuật
Vận dụng Công nghệ dạy học hiện đại vào dạy học thực hành nghề Sửa chữa máy công cụ theo phương pháp Dự án ở khoa Cơ khí
Động lực trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vinh
Nguyễn thanh bình
Hà nội 2006
Trang 21
Mục lục
mục lục
Mở đầu
Chương 1 - Cơ sở lý luận
1 1 Tổng quan về công nghệ dạy học:
1.1.1 Quan niệm về dạy và học theo cách tiếp cận thông tin
1.1.2 Quan niệm về công nghệ dạy học
1.1.2.1 Công nghệ dạy học là gì? 1.1.2.2 Vì sao phải sử dụng công nghệ trong dạy và học? 1.1.3 Vai trò của công nghệ mới trong cải cách giáo dục 1.1.4 Đa phương tiện và vai trò của nó trong việc dạy và học 1.1.5 Các thành tựu của các ngành khoa học kỹ thuật khác với việc dạy và học 1.1.6 Về bài giảng theo công nghệ dạy học hiện đại 1.1.6.1 Bản chất của công nghệ dạy học 1.1.6.2 Đặc điểm của Công nghệ dạy học 1.2 Tổng quan về phương pháp dự án
1.2.1 Khái niệm về phương pháp dạy học (PPDH)
1.2.2 Khái niệm về phương pháp dự án
1.2.3 Sơ lược lịch sử phát triển của dạy học dự án:
1.2.4 Cơ sở triết học và tâm lý học
1.2.5 Một số đặc điểm của dạy học Dự án
1.2.6 Cấu trúc dạy học Dự án:
1.2.7 Đặc điểm cấu trúc của dạy học Dự án
1.2.8 Tính ưu việt và hạn chế của việc dạy học bằng phương pháp Dự án 1.3 Kiểm tra đánh giá kết quả học tập
1.3.1 Mục đích của việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập
1.3.2 Những hình thức kiểm tra trong dạy thực hành
trang
2
5
11
11
11
11
11
13
14
15
16
18
20
20
21
21
21
22
22
23
24
26
30
31
31
32
Trang 32
Chương 2 - Thực trạng việc vận dụng dạy học môn học thực hành SCMCC tại khoa CKĐL trường ĐHSPKT Vinh 2.1 Đội ngũ giáo viên của khoa CKĐL trường ĐHSPKT Vinh 2.1.1 Giáo viên trực tiếp tham gia dạy THKT
2.1.2 Cơ sở vật chất phục vụ dạy học
2.2 Cơ sở lý luận của việc vận dụng PPDA vào dạy học áCMCC
2.2.1 Nghề sửa chữa máy công cụ ở trường ĐHSPKT Vinh
2.2.1.1 Đối tượng nghiên cứu của ngành học
2.2.1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của môn học
2.2.1.3 Chương trình nội dung nghề sữa chữa máy công cụ
2.2.2 Vận dụng phương pháp dự án với việc thực hiện các nhiệm vụ dạy học
2.2.2.1 Phương pháp dự án với nhiệm vụ phát triển
2.2.2.2 Phương pháp dự án với nhiệm vụ giáo dục
2.2.2.3 Vận dụng phương pháp dự án với việc nâng cao chất lượng dạy học
2.2.3 Thực trạng dạy học môn học sửa chữa máy công cụ
2.2.4 Thực trạng về sử dụng phương pháp trong dạy thực hành
2.2.5 Thực trạng về việc sử dụng phương tiện dạy thực hành
51
52
58
55
Trang 43
3.2 Quy trình vận dụng chung 3.2.1 Cấu trúc bài giảng điện tử
3.2.2 Công nghệ soạn bài CAI
3.3 Xây dựng cấu trúc chung cho bài dạy thực hành theo PPDA
3.3.1 Cơ sở vận dụng dạy học định hướng dự án
3.3.2 Vận dụng cụ thể quy trình dạy học định hướng dự án trên cơ sở cấu trúc chung
3.3.3 Quy trình bài dạy thực hành theo theo dạy học định hướng dự án
3.4 Tính ưu việt của PPDH định hướng dự án so với phương pháp truyền thống trong dạy thực hành sửa chữa máy công cụ 3.4.1 Sự giống nhau về cấu trúc
3.4.2 Sự khác nhau về cấu trúc
3.5 Xây dựng cấu trúc chung cho bài dạy thực hành theo dạy học định
hướng hành động 3.5.1 Nguyên tắc lựa chọn bài giảng thực hành
3.5.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao tính định hướng dự án
3.6 Một số bài soạn cụ thể trong chương trình các môn học nghề
SCMCC tại khoa Cơ khí Động lực – Trường ĐHSPKT
Trang 54 PhÇn phô lôc
Trang 6Lời cảm ơn
Với tình cảm chân thành, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu, các Giáo sư, Giảng viên Trường Đại học Bách khoa Hà Nội và các thầy cô tham gia giảng dạy lớp Cao học SPKT tại vinh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả được học tập, nghiên cứu đề tài
Xin cảm ơn toàn thể các bạn bè, đồng nghiệp và gia đình quan tâm động viên, giúp đỡ tác giả trong quá trình thực hiện đề tài
Đặc biệt xin chân thành cảm ơn GS - TS Nguyễn Xuân Lạc người trực tiếp hướng dẫn và dành nhiều thời gian, công sức và trí tuệ để chỉ dẫn giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Do điều kiện về thời gian cũng như do hạn chế về trình độ của bản thân, thêm vào đó vấn đề nghiên cứu còn mới mẻ đề tài không tránh khỏi thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp, bổ sung của hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Hà nội, Ngày 01.10.2006
Trang 71.1.1 Quan niệm về dạy và học theo cách tiếp cận thông tin
1.1.1.1 Quan niệm về dạy và học
1.1.1.2 Phương pháp sư phạm tương tác
1.1.2 Quan niệm về công nghệ dạy học và phương tiện dạy học
1.1.2.1 Công nghệ dạy học là gì?
1.1.2.2 Vì sao phải sử dụng công nghệ trong dạy và học?
1.1.3 Vai trò của công nghệ thông tin và truyền thông mới đối với giáo dục 1.1.3.1 Phân loại các mô hình giáo dục theo cách tiếp cận thông tin
1.1.3.2 Vai trò của công nghệ mới trong cải cách giáo dục
1.1.4 Về việc sử dụng một vài loại công nghệ dạy học
1.1.4.1 Về công nghệ sử dụng máy chiếu hăt (overhead)
1.1.4.2 Đa phương tiện và vai trò của nó trong việc dạy và học
1.1.5 Các thành tựu của các ngành khoa học kỹ thuật khác với việc dạy và học 1.1.6 Về e- learning và các trường lớp ảo
1.1.7 Về bài giảng theo công nghệ dạy học hiện đại
1.1.8 Về vai trò và vị trí của nhà giáo đại học trong thời đại thông tin
1.2.7 Đặc điểm cấu trúc của dạy học Dự án
2.1.8 Ví dụ minh họa cấu trúc dạy học dự án trong thực hành kỹ thuật
Trang 82.1.9 Tính ưu việt và hạn chế của việc dạy học bằng phương pháp Dự án
2.2 Cơ sở lý luận của việc vận dụng phương pháp dự án vào dạy học sữa chữa máy công cụ
2.2.1 Nghề sửa chữa máy công cụ ở trường ĐHSPKT Vinh
2.2.1.1 Đối tượng nghiên cứu của ngành học
2.2.1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ của ngành học
2.2.1.3 Chương trình nội dung nghề sữa chữa máy công cụ
2.2.2 Vận dụng phương pháp dự án với việc thực hiện các nhiệm vụ dạy học 2.2.2.1 Phương pháp dự án với nhiệm vụ phát triển
2.2.2.2 Phương pháp dự án với nhiệm vụ giáo dục
2.2.2.3 Vận dụng phương pháp dự án với việc nâng cao chất lượng dạy học Chương II:
Thực trạng việc vận dụng dạy học môn học thực hành sửa chữa máy công cụ tại khoa cơ khí động lực trường đại học sư phạm kỹ thuật Vinh
2.1 Đội ngũ giáo viên của khoa cơ khí động lực trường đại học sư phạm kỹ thuật Vinh
2.1.1 Giáo viên trực tiếp tham gia dạy THKT
2.1.2 Cơ sở vật chất phục vụ dạy học
2.1.3 Chương trình môn học thực hành sửa chữa máy công cụ
2.1.4 Thực trạng dạy học môn học sửa chữa máy công cụ
2.1.5 Thực trạng về sử dụng phương pháp trong dạy thực hành
2.1.6 Thực trạng về việc sử dụng phương tiện dạy thực hành
2.1.7 Thực trạng về hình thức tổ chức học thực hành
2.2 Đánh giá chung và khuyến nghị hướng giải quyết
Chương III: Vận Dụng Công nghệ dạy học hiện đại và phương pháp Dự
án vào dạy thực hành giáp mặt Môn học Sửa chữa máy công cụ
3.1 Cơ sở xây dựng quy trình vận dụng công nghệ dạy học
3.2 Quy trình vận dụng chung:
Trang 93.3 Xây dựng cấu trúc chung cho bài dạy thực hành theo phương pháp dự án 3.4 Tính ưu việt của PPDH định hướng dự án so với phương pháp truyền thống trong dạy thực hành sửa chữa máy công cụ
3.5 Xây dựng cấu trúc chung cho bài dạy thực hành theo dạy học định hướng hành động
3.6 Một số bài soạn cụ thể trong chương trình các môn học nghề Sửa chữa máy công cụ tại khoa Cơ khí Động lực – Trường ĐHSPKT Vinh
Chương IV: Thực nghiệm sư phạm
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khoả
Phần phụ lục
Trang 10Danh môc c¸c thuËt ng÷ viÕt t¾t
3 §HSPKTV §¹i häc S ph¹m Kü thuËt Vinh
Trang 11Trong bối cảnh toàn cầu hoá, khoa học công nghệ phát triển mạnh, đặc biệt là công nghệ thông tin, đã tác động mạnh mẽ tới nội dung lao động kỹ thuật trong sản xuất, dịch vụ, đòi hỏi người lao động có năng lực hoạt động thích ứng với kỹ thuật cao Như vậy hệ thống đào tạo kỹ thuật nghề nghiệp phải hết sức coi trọng các hoạt động thực hành để nâng cao kỹ năng hoạt động của người lao
động nghề nghiệp cũng như trong cuộc sống xã hội
Đào tạo nghề theo định hướng kinh tế thị trường, có nhiều thành phần kinh tế, dưới sự quản lý của nhà nước là nhằm đáp ứng và thoả mãn nhu cầu của thị trường lao động, nhu cầu tự do lựa chọn nơi làm việc, tự do tuyển lao động phù hợp với yêu cầu sản xuất kinh doanh và những quy định của bộ luật lao động Từ
đó đào tạo nghề cần tác động mạnh và giảm thiểu tình trạng mất cân đối giữa cung và cầu của thị trường lao động Đào tạo nghề không những cần tăng quy mô, đa dạng hoá các loại hình đào tạo, mở rộng ngành nghề mới đáp ứng nhu
Trang 12cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động mà còn đặc biệt quan tâm đến chất lượng đào tạo cho dù đào tạo ở loại hình nào
Bài học lớn nhất cho sự thành công của nền giáo dục Việt Nam hơn nửa thế kỷ qua chính là sự quán triệt nguyên lí giáo dục của Đảng thể hiện trong thực tiễn sinh động" Học đi đôi với hành; giáo dục kết hợp với sản xuất; lí luận gắn liền với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội"
Như vậy, giáo dục và đào tạo trong đó có sự nghiệp đào tạo GVKT đứng trước một thách thức mới của xã hội là đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hoá đất nước Để đáp ứng được mục tiêu đó đòi hỏi hoạt động đào tạo GVKT nói chung và trường ĐHSPKT nói riêng cần phải có sự
đổi mới cả về mục tiêu, nội dung, phương pháp giảng dạy Tăng cường công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học sư phạm vào trong các hoạt động giảng dạy các môn học, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường
1 1 2 Thực trạng dạy và học môn:" Sửa chữa máy công cụ" tại trường Đại Học Sư phạm kỹ thuật Vinh
Khoa Cơ khí Động lực là một trong những khoa của nhà trường đã và đang nhận được sự đầu tư của chương trình Dự án giáo dục kỹ thuật và dạy nghề thuộc
dự án ADB Cùng với các chuyên gia của Ban quản lý dự án Quốc gia, nhà trường đã chỉ đạo cho khoa đổi mới xây dựng chương trình đào tạo nghề "Nguội sửa chữa máy công cụ", đề xuất các giải pháp giảng dạy các môn học theo chương trình dự án trên các thiết bị giảng dạy được đầu tư của ban quản lý dự án Quốc gia tại xưởng thực hành của trường
Quá trình đào tạo kỹ thuật thực hành bao gồm các khâu có quan hệ chặt chẽ với nhau: Mục tiêu - Nội dung - Phương pháp - phương tiện - tổ chức quá trình và
đánh giá Trong đó khâu phương pháp đào tạo cần đặc biệt coi trọng Để hình thành năng lực thực hành của người lao động kỹ thuật cần đảm bảo cho học sinh
được luyện tập, thí nghiệm, thực hành tại nhà trường và tại cơ sở sản xuất Bởi vậy, phương pháp đào tạo cần đề cao tính tích cực tham gia của học sinh vào
Trang 13quá trình học tập Các bài dạy lí thuyết cần gắn sát và liên hệ sâu sắc với thực tiễn Các bài dạy sản xuất, dạy thực hành phải tạo điều kiện về mặt thời gian và phương tiện kỹ thuật để học sinh chủ động thực hiện Với yêu cầu này, trường
ĐHSPKT Vinh và khoa Cơ khí Động lực nói riêng đã đáp ứng tương đối đầy đủ
về phương tiện và trang bị dạy học, cũng như đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn cao và chuyên nghiệp Để tích cực hoá người học thì hoạt động "tiếp nhận tri thức" phải thay bằng hoạt động tự tìm tòi, tự khám phá tri thức của người học trong mỗi bài học Vì lẽ đó bài giảng cũng như giáo trình không thể tồn tại dưới dạng "thông báo tri thức" mà nhất thiết phải là một phương tiện, tài liệu tạo cơ hội cho người học tự nghiên cứu, tự tìm tòi, khám phá để giải quết bài toán nhận thức (những tình huống có vấn đề) Điều này có nghĩa là khi thiết kế bài giảng, người giáo viên ngoài việc chú trọng tới tri thức nội dung, thì cần phải đặc biệt quan tâm tới tri thức phương pháp
Thực trạng đó dẫn đến việc nghiên cứu ứng dụng quan điểm dạy học định hướng hành động cụ thể, vận dụng công nghệ dạy học hiện đại, dạy học định hướng Dự án vào việc dạy học thực hành tại trường ĐHSPKT Vinh nói chung và môn học thực hành sửa chữa máy công cụ nói riêng là một vấn đề cấp thiết hiện nay
1 1 3 Quan điểm định hướng hành động phù hợp với mục tiêu đào tạo Giáo viên kỹ thuật vào việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng
đào tào nghề
Việc nghiên cứu ứng dụng quan điểm dạy học mới vào việc đổi mới phương pháp dạy học bộ môn trong lĩnh vực dạy nghề ở nước ta đã bắt đầu được chú ý từ những năm 90, tuy nhiên vẫn còn thiên về nghiên cứu lý luận tác giả một mặt trình bày quan điểm dạy học mới, mặt khác đưa ra các giải pháp đồng
bộ giảng dạy các nội dung cụ thể Song việc vận dụng vào thực tế còn nhiều hạn chế, chất lượng đào tạo nghề chưa thực sự được nâng cao
Trường ĐHSPKT Vinh đã tiến hành dạy môn "Phương pháp giảng dạy bộ môn" từ năm học 2000 theo quan điểm dạy học mới, kết hợp với việc đầu tư
Trang 14nghiên cứu hoàn thiện chương trình, nội dung môn học (Lý luận dạy học chuyên ngành) để phục vụ cho việc giảng dạy trong và ngoài trường Nhưng bên cạnh đó việc nghiên cứu ứng dụng, phát triển lý luận dạy học chuyên ngành cho các môn học trong trường còn nhiều hạn chế Đặc biệt, các môn học thực hành nói chung
và môn học sửa chữa máy công cụ nói riêng của chuyên ngành cơ khí động lực
đến nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu đầy đủ hệ thống lý luận dạy học
Trong dạy nghề, các bài toán kỹ thuật với đặc trưng riêng, mang tính kỹ thuật là đối tượng nhận thức của người học nghề Do vậy, phương pháp dạy học nên được thể hiện như một quy trình hướng dẫn hoạt động nhận thức của người học và hình thành năng lực tư duy độc lập, sáng tạo cho họ Các hoạt động của người học và người dạy là cơ sở để người giáo viên lựa chọn phương pháp thích hợp trong quá trình tích cực hoạt động học tập Theo đó khi lựa chọn phương pháp cần đặc biệt chú ý tới một số vấn đề:
- Tạo tính chủ động cho người học, tìm cách đơn giản hoá đối tượng nhận thức nhằm tạo cảm giác có đủ khả năng chiếm lĩnh đối tượng nhận thức của người học
- Tạo không khí thuận lợi, động viên người học phát biểu ý kiến, trình bày suy nghĩ và ý tưởng
- Tăng cường, phát vấn, đàm thoại, thăm dò ý kiến, liên hệ thực tế, phân tích, tổng hợp, tổng kết nhằm kích thích tư duy độc lập và sáng tạo của học
Việc ứng dụng quan điểm dạy học mới trong lý luận dạy học chuyên ngành kỹ thuật là một vấn đề có tính thời sự, cấp thiết nhằm nâng cao chất lượng dạy học của các trường dạy học của các trường đại học, Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật và bồi dưỡng nghiệp vụ cho các giáo viên ở các trường nghề nhằm mục tiêu trang bị cơ sở lý luận của môn học này cho đội ngũ GVKT cả nước Vì vậy, việc triển khai nghiên cứu đề tài" Vận dụng Công nghệ dạy học hiện đại vào dạy thực hành giắp mặt nghề sửa chữa máy công cụ bằng phương pháp Dự án ở khoa
Trang 15CKĐL trường ĐHSPKH Vinh" là công việc cấp thiết tại trường ĐHSPKT Vinh hiện nay
1 2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
• Đề xuất những giải pháp mới cho việc giảng dạy môn thực hành sửa chữa máy công cụ tại trường ĐHSPKT Vinh theo quan điểm của Công nghệ dạy học hịên đại, dạy học định hướng dự án nhằm nâng cao hiệu quả trong quá trình dạy học thực hành
• Hoàn thiện cấu trúc chương trình môn học thực hành sửa chữa máy công
cụ của chuyên ngành cơ khí động lực
• Xây dựng nội dung cụ thể cho môn học thực hành sửa chữa máy công cụ 1.3.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
• Đối tượng nghiên cứu: Quá trình dạy học thực hành Sửa chữa máy công cụ tại trường ĐHSPKT Vinh
• Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động dạy và học thực hành theo quan điểm của Công nghệ dạy học hịên đại và dạy học định hướng dự án tại trường
ĐHSPKT Vinh
1.4 Nhiệm vụ nghiên cứu
• Nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các nội dung các tài liệu về Công nghệ dạy học hiện đại, quan điểm dạy học định hướng Dự án và lý luận dạy học chuyên ngành
• Khảo sát thực trạng giảng dạy môn học thực hành sửa chữa máy công cụ tại trường ĐHSPKT Vinh và đề xuất giải pháp
• Xây dựng chương trình tổng quát môn học, xác định mục tiêu và cấu trúc nội dung môn học theo quan điểm dạy học mới
• Vận dụng công nghệ dạy học hiện đại, dạy học định hướng dự án vào giảng dạy, xây dựng một số bài giảng điển hình của môn học
• Thực nghiệm sư phạm
Trang 161 5 Phương pháp nghiên cứu
• Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Đọc, nghiên cứu các tài liệu liên quan
đến nội dung môn học, nghiên cứu quan điểm về công nghệ dạy học hiện
đại, dạy học định hướng Dự án trong lý luận dạy học chuyên ngành
• Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Sử dụng phiếu điều tra trên đối tượng là sinh viên và GVKT cơ khí động lực, đồng thời tiến hành quan sát trực tiếp thông qua việc dự lớp để khảo sát thực trạng giảng dạy của môn học
• PP chuyên gia: Lấy ý kiến của GV dạy thực hành, các cán bộ quản lý về chương trình giảng dạy, về nội dung, phương pháp, phương tiện giảng dạy
1 6 Giả thuyết khoa học
Vận dụng dạy học định hướng Đề án, có thể xây dựng được cấu trúc bài dạy thực hành kỹ thuật nhằm nâng cao hiệu quả dạy học thực hành môn học
"Sửa chữa máy công cụ" ở khoa cơ khí động lực trường ĐHSPKT Vinh
Trang 17chương i:
Cơ sở lý luận về việc áp dụng công nghệ dạy học hiện
đại vào giảng dạy thực hành
1 1 tổng quan về công nghệ dạy học:
1.1.1 Quan niệm về dạy và học theo cách tiếp cận thông tin
1.1.1.1 Quan niệm về dạy và học
Các nhà tâm lý học và giáo dục học sư phạm đã tốn rất nhiều công sức để tranh luận về vấn đề vừa cổ xưa vừa luôn luôn mới mẻ: Thế nào là học? Thế nào là dạy? ở đây để bàn về công nghệ dạy học trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên thông tin, chúng ta cần nhìn nhận, quan niệm về dạy và học một cách hợp lý từ cách tiếp nhận thông tin
Trước hết xin nêu một quan niệm về học
Học là quá trình tự làm biến đổi mình và làm phong phú mình bằng cách
chọn nhập và xử lý thông tin từ môi trường xung quanh
Rõ ràng định nghĩa này rất rộng, nó bao gồm các yếu tố: Thông tin từ môi trường xung quanh, thu nhập và xử lí và tự tự biến đổi bản thân
Từ quan điểm đó, có thể đưa ra một quan niệm sóng đôi với nó về dạy
Dạy là việc giúp cho người học tự mình chiếm lĩnh những kiến thức, kỹ năng và hình thành hoặc biến đổi những chuẩn mực ứng xử
Theo quan niệm này, dạy không phải là truyền thụ kiến thức, càng không phải cung cấp kiến thức đơn thuần, mà chủ yếu là giúp người học tự mình chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, thay đổi và hình thành chuẩn mực ứng xử
Để có thể giúp người học trong việc chọn nhập và xử lý thông tin, người dạy học phải trải nghiệm các quá trình đó Một hoạt động trải nghiệm quan trong tạo giúp người học tích luỹ được kinh nghiệm chọn nhập và xử lý thông tin chính là nghiên cứu khoa học Do đó người dạy, nhất là người dạy ở bậc đại học, phải gắn liền với nghiên cứu khoa học
Trang 181.1.1.2 Phương pháp sư phạm tương tác
Khi nói về phương pháp sư phạm tương tác, các tác giả công trình đã nêu 3 tác nhân mà phương pháp đó quan tâm: người học, người dạy và môi trường Họ nhấn mạnh: người học là người đi học chứ không phải là người được dạy (tính tình nguyện và chủ động), nhiệm vụ của người dạy là giúp đỡ người học, phục vụ người học để làm nảy sinh tri thức ở người học, còn môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh và bên trong người học là tác nhân quan trọng ảnh hưởng đế việc dạy và học Các tác nhân này hợp thành một bộ ba có thể biểu diễn bằng 3E theo tiếng pháp (étudiant, enseignant, environnement) theo cách tiếp cận thông tin đã nêu trên, môi trường là nơi chứa thông tin
1.1.2 Quan niệm về công nghệ dạy học và phương tiện dạy học
1.1.2.1 Công nghệ dạy học là gì?
Trong nền kinh tế thị trường, công nghệ là một loại hàng hoá có thể mua bán qua phương thức chuyển dao công nghệ, vì lợi ích chung của người mua công nghệ và người bán nhu cầu, định nghĩa công nghệ một cách chặt chẽ, được nhiều tổ chức và chuyên gia quốc tế quan tâm Một trong những định nghĩa được tổng hợp qua nhiều tư liệu hiện hành
Trước hết phải hiểu thế nào là công nghệ dạy và học Công nghệ theo chữ latin được ghép từ technic (công cụ và vật liệu) và logic (các cách tiếp cận khác nhau để giải quyết vấn đề)
Công nghệ là một hệ thống phương tiện, phương pháp và kỹ năng nhằm vận dụng quy luật khách quan, tác động vào một đối tượng nào đó, đạt một hiệu quả xác định cho con người
Với định nghĩa này, dạy học cũng là một công nghệ, chuyển giao được:
Công nghệ dạy học là một hệ thống phương tiện, phương pháp và kỹ năng (thậm chí nghệ thuật), tác động vào con người, hình thành một nhân cách xác định
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về công nghệ dạy học trong giới không chuyên Tuy nhiên, các chuyên gia về lĩnh vực này thường quan niệm công nghệ
Trang 19dạy học là một quá trình tích hợp phức tạp trong đó có các vấn đề liên quan với mọi khía cạnh của việc học được khái niệm hoá, phân tích, xây dựng và quyết
định thông qua sự tương tác giữa con người, kỹ thuật, ý tưởng và các nguồn lực giữa một khung cảnh tổ chức nào đó
Nói gọn hơn, công nghệ dạy học là một quá trình khoa học trong đó các nguồn nhân lực và vật lực được sử dụng hợp lý vào việc giảng dạy và học tập Với góc độ đó, công nghệ dạy học chưa được quan niệm như một sản phẩm (product) và như là một quá trình (process)
- Với quan niệm như là một sản phẩm, công nghệ dạy học bao gồm các quy trình, sự thực hành và vật liệu để dạy học Sản phẩm phải bao gồm sản phẩm không thực thể (non-physical) (học tập chương trình hoá, học tập cá thể hóa, kỹ năng dạy học ) và sản phẩm thực thể (physical) (máy ghi âm, máy video, máy vi tính, máy chiếu, )
- Với quan niệm như một quá trình, công nghệ dạy học bao gồm các chức năng liên quan với việc quản lí các tổ chức và nguồn nhân lực, việc nghiên cứu,
đảm bảo hậu cần, sử dung và thiết lập hệ thống
Có nhiều cách phân loại công nghệ, nhưng để phù hợp với cách tiếp cận thông tin, chúng tôi cho rằng có thể phân thành 2 loại: công nghệ truyền thống và công nghệ mới Công nghệ mới, khác với công nghệ truyền thống, là các công nghệ gắn với công nghệ thông tin và truyền thông mới (new information and communication technology - NICT)
1.1.2.2 Vì sao phải sử dụng công nghệ trong dạy và học ?
- Về công nghệ dạy và học nói chung Tác dụng của các giác quan trong việc tiếp nhận và lưu trữ tri thức:
Công nghệ nói chung là một hợp phần của môi trường, người dạy, người học có tác dụng hỗ trợ các tương tác trong quá trình dạy và học Công nghệ giúp tối đa hoá thời gian mà việc học tập thự sự diễn ra, tối thiểu hoá các lao động cấp thấp, tạo thuận lợi cho các mối quan hệ tương tác
Để hiểu rõ hơn vai trò của công nghệ và phương tiện dạy học, tác giả xin
Trang 20dành vài số liệu thống kê, nêu tác dụng của các loại giác quan trong quá trình thu nhận và lưu trử tri thức
Tỷ lệ trung bình về vai trò của các giác quan trong việc thu nhận tri thức như sau:
- Các quy luật tâm sinh lý nêu trên cần được đặc biệt lưu ý khi lựa chọn công nghệ và phương tiện hỗ trợ việc dạy và học
- Đối với công nghệ mới, vấn đề sử dụng chúng vào quá trình dạy và học lại có tầm quan trọng lớn hơn Vì sao vậy?
Chúng ta đang sống đầu thế kỷ 21, sống trong thời đại thông tin, thời đại mà nhân loại đang quá độ sang nền kinh tế tri thức, mà đặc điểm của nó là sự bùng
Trang 21nổ thông tin, tri thức Chính NICT đã trực tiếp sinh ra thời đại này, thời đại mà khối lượng thông tin nói chung tăng nhanh theo hàm mũ Trong khung cảnh đó, cũng có thể nhờ công nghệ mới, mới có khả năng chọn nhập từ bể cả thông tin
đó, những thông tin cần thiết và có thể xử lý nhanh chóng chúng để biến thành tri thức
Ngoài ra, công nghệ mới là một khía cạnh văn hoá của thế giới mới, và như mọi thứ văn hoá, nó sẽ được tiếp nhận tốt nhất ở tuổi trẻ, nó giúp người học định hướng tư duy và chuẩn mực ứng xử của mình trong thời đại mới Thông qua dạy học làm cho thế hệ trẻ nhanh chóng làm quen với công nghệ mới, hình thành phong cách văn hoá mới
1.1.3 Vai trò của công nghệ thông tin và truyền thông mới đối với giáo dục 1.1.3.1 Phân loại các mô hình giáo dục theo cách tiếp cận thông tin
Theo cách tiếp cận thông tin, tại "Hội nghị Paris về GDĐH trong thế kỷ 21" do UNESCO tổ chức 10/ 1998 người ta có tổng kết 3 mô hình giáo dục trong bảng 1 Trong các mô hình trên, mô hình "tri thức" là mô hình giáo dục hiện đại nhất hình thành khi xuất hiện thành tựu quan trọng nhất của NICT - mạng Internet (Bảng 1) Cùng với mô hình mới nhất này những yếu tố thay đổi sâu sắc sau đây trong giáo dục đang xuất hiện:
- Yếu tố thời gian sẽ không còn ràng buộc chặt chẽ: xuất hiện khả năng giáo dục không đồng bộ
- Yếu tố không gian sẽ không còn ràng buộc quá câu thúc: xuất hiện khả năng sinh viên tham gia học tập mà không cần đi đến trường đại học;
- Giá thành toàn bộ của giáo dục giảm nhiều, vì xuất hiện các lớp ảo có tính hỗ trợ lớn mà không cần trường lớp kiểu thông thường;
- Sự chuyển giao tri thức không còn chiếm vị trí hàng đầu của giáo dục nữa: sinh viên phải học cách truy tìm thông tin họ cần, đánh giá và xử lý thông tin để biến thành tri thức qua giao tiếp;
Trang 22Bảng 1
Mô hình Trung tâm Vai trò người học Công nghệ
Truyền thống người dạy Thụ động Bảng/TV/Radio
- Mối quan hệ người dạy - người học theo chiều dọc sẽ được thay thế bởi quan
hệ theo chiều ngang, người dạy trở thành người thúc đẩy, chuyên gia hướng dẫn hay đồng nghiệp, người học phải thực sự chủ động và thích nghi Nhóm trở nên rất quan trọng vì là môi trường để đối thoại, tư vấn, hợp tác
- Thị trường giáo dục sẽ được toàn cầu hoá vì không còn bị ràng buộc về không gian Ngôn ngữ trở thành một yếu tố thúc ép mạnh
- Việc đánh giá không còn dựa nhiều kết quả như hiện nay, mà dựa nhiều hơn vào quá trình tiêu hoá tri thức để trở thành lành nghề, biểu hiện ở năng lực tiến hành nghiên cứu, thích nghi, giao tiếp, hợp tác
- Sự khác biệt giữa các loại hình và cấp bậc giáo dục (tiểu học, trung học, giáo dục dạy nghề ) sẽ ít quan trọng hơn trước đây, và giáo dục thường xuyên sẽ trở thành quan trọng nhất
Nói tóm lại, ở bước ngoặt đi vào nền văn minh trí tuệ hiện nay, NICT đang tạo
ra những thay đổi mang mầm mống của một cuộc cách mạng giáo dục thực sự, ở
đó những cơ cấu cứng nhắc theo truyền thống về mối quan hệ "không gian - thời gian -trật tự thang bậc"sẽ bị phá vỡ
1.1.3.2 Vai trò của công nghệ mới trong cải cách giáo dục
Nhận thức được vai trò của NICT trong việc thúc đẩy giáo dục nói riêng và sự hình thành nền kinh tế tri thức nói chung, một số quốc gia đã hết sức chú ý đến việc tạo điều kiện triệt để công nghệ mới đó trong giáo dục Xin nêu vài ví dụ
- Trong "Chiến lược mới về giáo dục" của Hàn Quốc được xây dựng vào cuối thế kỷ 20 có đặt mục tiêu là xây dựng một nền giáo dục sao cho bất cứ người dân
Trang 23cứ ở đâu, bất cứ ở thời điểm nào Và chính vì mong muốn đạt được mục tiêu gần như là huyền thoại ấy mà trong chiến lược giáo dục nói trên, cựu thổng thống Hàn Quốc Kim Yung Sam đã quyết thành lập một trung tâm công nghệ đa phương tiện (multimedia) phục vụ giáo dục tại Xêun mà chính ông làm trưởng ban trù bị xây dựng Chiến lược này có kỳ vọng lớn là biến xã hội Hàn Quốc thành một xã hội học tập, các công dân tương lai của Hàn Quốc thành những người "công dân của thế giới", có khả năng sống hoà hợp và khả năng cạnh tranh với các dân tộc khác
- ở Nhật Bản tại học viện Quốc gia Giáo dục Đa phương tiện (National Institute of Multimedia Education - NIME) tại Tokyo có xây dựng một Hệ thống Hợp tác Không gian SCS (Space Collaboration System) bao gồm mạng lưới vệ tinh liên đại học của nhật bản với 133 đầu cuối đặt tại 100 trường đại học Nhật Bản (1998) và trung tâm đặt tại NIME, dùng công nghệ thực tại ảo (virtual reality) liên kết đào tạo sau đại học và đại học SCS có thể được sử dụng để cùng chia sẻ các lớp học, các cuộc thảo luận, các hội thảo từ các địa điểm xa nhau Hiện nay theo quy định của bộ văn hoá giáo dục Nhật Bản, trong số 124 tín chỉ phải đạt để được cấp bằng cử nhân người ta chấp nhận 60 tín chỉ học qua SCS Trong bài báo của Takachi Sakamoto, Viện trưởng NIME có một câu kết luận
đầy ấn tượng," cải cách đại học thực sự được bắt đầu từ trong không trung"
1.1.4 Về việc sử dụng một vài loại công nghệ dạy học
1.1.4.1 Về công nghệ sử dụng máy chiếu hăt (overhead)
Trước khi nói về công nghệ mới, tác giả xin nhấn mạnh một loại công nghệ truyền thống hết sức quan trọng và thông dụng, nhưng nhiều trường đại học nước
ta chưa có ý thức khai thác triệt để: đó là công nghệ dạy học ovehead
Có thể nói ovehead là một trong những loại công cụ có hiệu quả nhất phục vụ dạy học vì những ưu điểm sau:
- Sử dụng được tốt cả hai loại hình dạy học thuyết giảng và thảo luận: dùng các
bộ giấy trong chuẩn bị trước để thuyết giảng hoặc dùng giấy trong và bút dạ màu
Trang 24để viết ý kiến, thảo luận ý kiến trình bày tại chỗ
- Có thể sử dụng linh hoạt bằng những thủ thuật đơn giản: che lấp và cho xuất hiện từng phần, lồng ghép hình bằng nhiều tờ giấy trong vẽ các thành phần
- Tương đối rẻ tiền, dễ phổ cập
Nên lưu ý rằng sử dụng ovehead là cả một quy trình công nghệ chứ không chỉ
đơn giản là việc có chiếc máy và dùng máy tuỳ tiện Ví dụ về một vài điều sơ
đẳng:
- Để chuẩn bị giấy trong cần tóm tắt phần muốn trình bày thật gọn, làm nổi bật bằng những từ khoá, không sử dụng giấy trong để chiếu bài viết lên màn hình Cần chuẩn bị giấy trong sao cho cử toạ dễ nhìn rõ đồng thời đảm bảo tính thẩm
mỹ (không dùng kiểu chữ rối rắm và màu sắc loè loẹt, nên nhớ, chẳng hạn nguyên tắc 3 con 6: 6 dòng trên một tờ, 6 từ trên một dòng, mỗi chữ nhỏ nhất 6 mm)
- Khi trình bày cần nhìn vào cử toạ, nếu cần nhớ nội dung trình bày thì nhìn vào
tờ giấy trong, không nhìn lên màn hình, nhưng không sử dụng động tác này liên tục gây nhàm chán Khi cần thu hút sự chú ý của cử toạ vào diễn giả thì tắt máy Như vậy việc dùng overhead gắn liền với việc đổi mới phương pháp và phong cách dạy học của giảng viên chứ không đơn giản là sử dụng thiết bị Với những
ưu điểm và tính vạn năng của ovehead, có thể chọn công nghệ dạy học nhờ overhead để phát động một phong trào đổi mới phương pháp dạy và học
1.1.4.2 Đa phương tiện và vai trò của nó trong việc dạy và học
Khi nói đến NICT phục vụ dạy và học, trước hết cần nói đến công nghệ đa phương tiện (multimedia)
- Thế nào là multimedia? Người ta có thể giải thích từ multimedia theo nghĩa
đen của thuật ngữ đó bằng cách dẫn ra nhiều phương tiện Tuy nhiên với tư cách
là một thuật ngữ gắn với công nghệ thông tin, có thể hiểu multimedia là phương pháp giới thiệu thông tin bằng máy tính, sử dụng nhiều phương tiện truyền thông tin như văn bản, đồ hoạ và âm thanh, cùng với sự gây ấn tượng bằng tương tác Nói gọn hơn, có thể hiểu:
Trang 25Multimedia = digital text, audio- visual media + hyperlink
Thật vậy, kỹ thuật siêu liên kết (hyperlink) của công nghệ thông tin đã giúp kết nối mau lẹ nhiều cơ sở dữ liệu gồm mọi loại văn bản, đồ hoạ, âm thanh trở thành một nguồn tư liệu đa năng, phong phú, và tăng tốc độ tương tác giữa người sử dụng và nguồn dữ liệu
- Với sự tiến bộ nhanh chóng của công nghệ thông tin và vi điện tử, các công cụ lưu giữ thông tin ngày càng có sức chứa lớn, chẳng hạn một CD - ROM thông thường có dung lượng 700 MB, có thể chứa được cỡ 250.000 văn bản, cho phép ghi các hình ảnh động có màu sắc kèm âm thanh, các đĩa DVD còn có sức chứa lớn hơn; các thanh từ, thẻ từ, ổ đĩa cứng tí hon động cơ (magnetic stick, card, hand drive ) có thể chứa hàng trăm MB, cho phép ghi một số khối lượng lớn dữ liệu và hình ảnh chất lượng cao Kèm với công cụ lưu trữ thông tin, công cụ thu nhận và sao chép thông tin tiện lợi với giá hạ rất nhanh tạo điều kiện để ghi sao
và chế tạo các đĩa CD, DVD đa phương tiện Đó là các máy ảnh digital, các ổ đĩa cho phép ghi đĩa CD với giá không quá cao, và các đĩa CD trắng
Các đĩa CD, DVD chứa multimedia là công cụ rất quan trọng hỗ trợ giảng dạy
và học tập Nhờ đó người ta có thể soạn thảo các từ điền bách khoa chứa rất nhiều văn bản, hình ảnh tĩnh, âm thanh, hình ảnh động có âm thanh thuận tiện cho việc tra cứu Điều đó tạo điều kiện để người ta có thể giới thiệu các bảo tàng nghệ thuật tạo hình, bảo tàng âm nhạc trên CD và DVD Một trong những từ điển bách khoa thông dụng trên CD là từ điền ENCARTA của Microsoft trên 5 đĩa CD (version 2002), một kho dữ liệu lớn phục vụ học tập và giảng dạy
Do tính phong phú và cơ động của CD, DVD chứa multimedia, đây có thể là phương tiện thuộc công nghệ mới hỗ trợ dạy và học linh động nhất trong điều kiện Việt Nam hiện nay, khi phương tiện INTERNET chưa phổ cập Các trường
đại học và cao đẳng nên tạo cho giảng viên và sinh viên thói quen sử dụng các công cụ này
1.1.5 Các thành tựu của các ngành khoa học kỹ thuật khác với việc dạy và học
Trang 26Sự tiến bộ kỳ diệu của công nghệ thông tin kết hợp với những thành tựu trong các khoa học khác đã tạo nên các công cụ, phương tiện và môi trường làm việc nói chung và áp dụng để dạy học nói riêng hết sức hữu hiệu ở đây tác giả xin lưu ý hai thành tựu quan trọng của tin học áp dụng vào toán học và các khoa học thực nghiệm
- Đối với toán học: máy vi tính không chỉ thực hiện được cực nhanh chóng việc tính toán trên các con số như máy tính trước đây mà chúng còn giúp tính và biểu diễn kết quả tính toán ra các biểu thức bằng chữ cho phép các phép tính giải tích,
đại số, tìm nghiệm phương trình vi phân, đạo hàm riêng Các phần mềm nổi tiếng về lĩnh vực này MATHEMATHICA, MAPLE, MATLAP không chỉ giúp các nhà khoa học công nghệ tìm được nhanh chó các lời giải của các bài toàn phức tạp này sinh từ thực tế mà còn là công cụ và phương tiện để tính năng hiệu quả của việc giảng dạy toán học Hiện nay, đối mặt với các phần mềm rất mạnh này, trong việc dạy toán nảy sinh hai quan điểm trái ngược nhau Một số người cho răng phương pháp dạy toán như trước đây không hề cần thay đổi, việc dạy tư duy toán học vẫn như vậy, chỉ khi nào cần tính toán mới cần áp dụng các phần mềm tính toán Một số người khác lại cho rằng mọi công cụ tính toán đã có sẵn, chỉ cần dạy biết cách sử dụng các phần mềm tính toán, không cần học lý thuyết nhiều Theo tác giả, hai xu hướng nói trên đều cực đoan và không đúng Rõ ràng phương pháp dạy toán buộc phải thay đổi khi đối mặt với các phần mềm tính toán rất mạnh đã có, nhưng nên thay đổi theo hướng dành nhiều thời gian để giảng dạy sâu về lý luận, về những khái niệm bản chất của vấn đề Dù sao một điều không thể chối cãi là muốn dạy toán tốt trong thời đại hiện nay, những người dạy toán không thể không làm quen với các phần mềm tính toán nói trên Chỉ khi họ hiểu sâu về tính năng và tác dụng của các phần mềm đó họ mới rút ra được phương pháp dạy toán tối ưu, và chắc chắn phương pháp đó sẽ khác trước đây không ít
- Đối với các khoa học thực nghiệm: Sự vận động của các sự vật, sự hình thành
Trang 27nhất định Với bộ máy của máy vi tính và tốc độ tính toán rất lớn hiện nay, người
ta có thể đưa ra mô hình các sự vật nào đó, lập trình mô tả các định luật ràng buộc sự vận động của chúng, từ đó xác định được lộ trình vận động của các sự vật ấy trong các điều kiện nhất định, mô phỏng sự vận động của chúng trong tự nhiên Người ta gọi cách đó là mô phỏng nhờ máy tính (computational simulation) Trong dạy học, các thực nghiệm mô phỏng là công cụ giúp tư duy sâu sắc hơn về các hiện tượng tự nhiên Bằng cách lập trình không phức tạp lắm
ta có thể khảo sát lại chẳng hạn các bài toán chuyển động của vật ném nghiêng trong trọng trường có tính đến sức cản của không khí, bài toán dao động của con lắc có biên độ lớn, bài toán chuyển động của thái dương hệ theo định luật Kepler
có bổ sung phần hiệu chính Einstein vào luật hấp dẫn theo thuyết tương đối tổng quát mọi kết quả thu được sẽ gần với thực tế Như vậy, các thực nghiệm mô phỏng nhờ máy tính giúp giảng dạy các môn khoa học sinh động hơn, giúp hiểu các quy luật tự nhiên sâu sắc hơn, giảng viên dạy các khoa học tương ứng nên làm quen với công nghệ này
1.1.6 Về e- learning và các trường lớp ảo
Internet là một hệ thống gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau trên toàn thế giới, tạo điều kiện cho các dịch vụ truyền thông dữ liệu như đăng nhập
từ xa, truyền các tệp tin, thư tín điện tử và các nhóm thông tin Người ta đánh dấu thời điểm xuất hiện Internet bởi sự kiện phó tổng Mỹ Al Gore thông báo khai trương một lĩnh vực hoạt động mới, các xa lộ thông tin, vào năm 1993
Với việc sử dụng Internet trong dạy và học người ta nói nhiều đến e-Learning (học tập điện tử)
- Vậy e-Learning là gì? Theo các tác giả công trình có 3 tiêu chuẩn cơ bản để xác
Trang 28Internet tiêu chuẩn, chẳng hạn giao thức TCP/IP (Transfer Control Protocol/ Internet Potocol) và trình duyệt Web, vì chúng tạo nền tảng cho một sự phân phát vạn năng
3) e-L thực hiện theo một quan điểm rộng nhất về việc học - các giải pháp học tập không còn bị ràng buộc bởi các mô hình đào tạo truyền thống e-L là một dạng của học tập từ xa, nhưng học tập từ xa không phải là e-L
Rõ ràng là e-L phản ánh tác dụng to lớn của NICT vào việc đổi mới dạy và học, thể hiện rõ rệt nhất cuộc cách mạng trong giáo dục do công nghệ mới đem lại
- Nhiều trường đại học ảo, lớp học ảo đã xuất hiện trên thế giới và bắt đầu xuất hiện ở nước ta, trong đó việc học diễn ra chủ yếu bằng giao tiếp qua mạng Internet Triển vọng của loại hình học tập này rất to lớn vì nó giúp thực hiện được
ước mơ gần như huyền thoại của mọi người học là có thể hấp thụ một nền giáo dục chất lượng cao đối với bất cứ người nào, bất cứ ở đâu, bất cứ ở thời điểm nào E- leaning là phương hướng tất yếu mà nền giáo dục Việt Nam phải đầu tư chuẩn bị, và phải chuẩn bị một cách khẩn trương, nếu không muốn bị tụt hậu quá
xa Việc chuẩn bị cho phương hướng này không chỉ ở hạ tầng Internet và các trang bị kỹ thuật khác mà còn ở công nghệ dạy, học, đánh giá tương ứng với loại hình dạy và học đó
Với điều kiện hiện tại ở Việt Nam, tác giả cho rằng: nên bắt đầu bằng cách sử dụng e-mail trong tương tác giữa thầy và trò ở đại học, và tạo các Web site của trường đại học hướng dẫn học tập và giới thiệu nguồn tư liệu học tập cho sinh viên
1.1.7 Về bài giảng theo công nghệ dạy học hiện đại
Một bài giảng theo công nghệ dạy học hiện đại (công nghệ dạy học bằng máy tính) cần đáp ứng đồng thời hai yêu cầu cơ bản sau:
- Là một bài dạy giáp mặt đạt chuẩn mực sư phạm
- Là một bài dạy từ xa qua mạng (LAN, WAN, ), người học có thể tái hiện đầy
đủ những gì giáo viên cung cấp
ở đây chuẩn mực sư phạm được hiểu là những tiêu chí / yêu cầu cơ bản đảm
Trang 29bảo cho quá trình dạy học (là quá trình thực hiện hai hoạt động tương tác: dạy của thầy và học của trò) khả thi (dạy được và học được) và hiệu quả (dạy tốt và học tốt)
Khía niệm về bài gỉng trên đây được hiểu theo nghĩa cụ thể:
- Bài: Là một hay nhiều trang web có đặc trưng của bài giảng giáp mặt với bảng
đen truyền thống (viết và vẽ to, theo trình tự sư phạm, trong ít nhất ba khung: tiêu
đề, dàn bài và diễn hoạ chi tiết) được soạn trên máy tính, dưới dạng chữ, hình
ảnh, , tĩnh hoặc động, với màu sắc, âm thanh phối hợp nếu cần, có thể xem, trình diễn có tương tác; học viên có thể sao in (trực tiếp hoặc qua mạng), tái hiện và tương tác theo ý muốn để tự học, ôn tập và tự kiểm tra
- Giảng: giáo viên có thể thực hiện bài giảng bằng lời hoặc không, giáp mặt qua máy tính, máy chiếu đa phương tiện hay từ xa qua mạng LAN, WAN, có thể
điều khiển việc thể hiện bài giảng, theo ý đồ sư phạm, bằng những thao tác đơn giản, với bàn phím, chuột, các siêu liên kết (hyperlink), ngay trên các trang tài liệu này
chỉ với các trang web kiểu khung (fram page), với danh mục sổ (collapsible list, như trong Ms FrontPage 2003, chẳng hạn) và siêu liên kết bằng bookmark, mới đáp ứng các yêu cầu trên
Những bài trình diễn Ms PowerPoint với những ưu điểm nổi bật, như:
- Đáp ứng rất đầy đủ với chất lượng và hiệu quả cao các yêu cầu về trình diễn, giới thiệu, những nội dung khái quát, toát yếu, ;
- Dễ học, dễ thực hành (thiết kế trình chiếu) ,
nhưng trong dạy học lại không đáp ứng những chuẩn mực sư phạm quen thuộc của một bài giảng giáp mặt
Những trang web la liệt tiêu mục và pop-up, như thường thấy trên mạng internet cũng vậy, không thích hợp cho bài dạy học trên lớp nhưng rất thích hợp cho tài liệu tra cứu, tự học,
* vài lưu ý về công nghệ dạy học hiện đại:
Một công nghệ (phương tiện, phương pháp và kỹ năng) dạy học chỉ có tác
Trang 30dụng tốt khi được sử dụng theo quan điểm công nghệ và quan điểm hệ thống Theo quan điểm công nghệ:
- Phải có phương tiện (máy tính, máy chiếu, ) thích hợp và điều kiện vận hành tương ứng,
- Người dạy có tay nghề (kiến thức, phương pháp và kỹ năng về tin học cũng như chuyên môn, ) đủ để làm chủ quá trình dạy học, như ứng tác linh hoạt khi phát hiện thiếu hoặc thừa thời gian dạy học so với kế hoạch đã định,
- Người học phải có học liệu thích hợp và biết ứng xử ngang tầm với những thuận lợi do công nghệ hiện đại đem lại
Theo quan điểm hệ thống:
Công nghệ dạy học hiện đại là một hệ thống con trong hệ thống công nghệ dạy học nói chung, vì thế phải được sử dụng trong mối tương quan với công nghệ dạy
học truyền thống, theo phương châm đúng lúc, đúng chỗ và đúng độ (trình độ,
mức độ, ) đảm bảo cho quá trình dạy học không chỉ khả thi mà còn hiệu quả
1.1.8 Về vai trò và vị trí của nhà giáo đại học trong thời đại thông tin
Thời đại thông tin đã tạo những cơ hội mới, nhưng cũng đặt nhà giáo đại học trước những thử thách mới Vậy nhà giáo đại học phải làm gì trước tình hình đó? Tư liệu về hội nghị Paris về GDĐH có nêu tóm tắt yêu cầu đối với một "nhà giáo mới" ở đại học:"phải làm chủ được môi trường công nghệ thông tin và truyền thông mới, đồng thời phải chuẩn bị về mặt tâm lí cho một sự thay đổi cơ bản về vai trò của họ"
Theo các mô hình thông tin và mô hình tri thức vai trò của nhà giáo thay đổi một cách cơ bản so với mô hình truyền thống, họ không còn là người truyền thụ kiến thức, mà là người hỗ trợ hướng dẫn tìm chọn và xử lý thông tin Từ đó có người hỏi: vậy thì vị trí của nhà giáo trong thời đại mới như thế nào, họ có bị "ra rìa" không, câu ngạn ngữ "không thầy đố mày làm nên" của dân ta có còn đúng nữa không?
Thật vậy, trong khi nhấn mạnh đến tầm quan trọng từ xa, Hội nghị Pari về giáo dục đại học cho rằng: trong giáo dục phương thức giáo dục mặt đối mặt vẫn
Trang 31chiếm vị trí hàng đầu Tác dụng của sự tương tác trong việc dạy và học được nhấn mạnh ở mọi nơi, đặc biệt trong mô hình tri thức trong vai trò của nhóm Có thể nói khi nhấn mạnh sự tương tác, vị trí của một đối tác có bề dày kinh nghiệm sống, kinh nghiệm xử lí thông tin sẽ nổi trội, sự đóng góp của đối tác đó cho tập thể sẽ rất lớn không phải bằng sự độc quyền về thông tin và tri thức có tính đẳng cấp, mà bằng trí tuệ và sự uyên bác của mình Rõ ràng là nhà giáo đại học có thể
và cần phải khẳng định vị trí của mình trong các mối tương tác đó
Nhà giáo đại học hiện nay có sứ mạng đi đầu để chuẩn bị cho cuộc cách mạng thực sự về giáo dục Vai trò tiên phong đó sẽ nâng vị trí của nhà giáo đại học lên rất nhiều so với trước đây Với cơ hội mà NICT đưa lại, những kinh nghiệm và ý tưởng có giá trị thực sự của bất kỳ một cá nhân nhà giáo nào cũng được truyền bá rộng rãi đến số lượng người học đông hơn nhiều so với trước đây, không chỉ giới hạn trong bốn bức tường lớp học, mà có thể lan rộng ra cả nước và thậm chí vượt qua mọi biên giới quốc gia, điều đó làm cho vị trí của nhà giáo đại học thực sự
được nâng lên cao hơn nhiều so với trước đây
Rõ ràng là vị trí nhà giáo đại học trong thời đại thông tin không hề giảm, và có cơ hội tăng lên Tuy nhiên việc có giữ vững và nâng cao được vị trí đó hay không còn tuỳ thuộc vào sự phấn đấu của bản thân từng nhà giáo để đáp ứng được yêu cầu của thời đại mới Chúng ta có thể hy vọng trước những vận hội và thách thức của thời đại mới, đa số nhà giáo đại học chúng ta sẽ không bị "ra rìa"
Trang 321.2 phương pháp dạy học dự án
1.2.1 Khái niệm về phương pháp dạy học (PPDH)
PPDH là một phạm trù đa nghĩa, ở đây chỉ xin nêu ra một cách khái quát như sau: PPDH là tổ hợp các hình thức của GV và HS trong quá trình dạy học, trong
đó GV đóng vai trò chỉ đạo, HS đóng vai trò tích cực chủ động nhằm đạt mục
đích dạy học
1.2.2 - Khái niệm về phương pháp dự án
Trong các tài liệu hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về phương pháp dạy học Dự án Một số tác giả như Gudjons [26], hanes [28] sử dụng khái niệm này như một hình thức dạy học Một số khác như Ghott [29], Frey [27] giải thích khái niệm này như một nguyên tắc dạy học hay phương pháp dạy học phức hợp
Trong giới hạn của đề tài chúng tôi sử dụng khái niệm Frey: “ Dạy học dự án là một phương pháp phức hợp Bằng phương pháp này thầy và trò cùng nhau giải thích những vấn đề không chỉ về lý thuyết mà còn về một thực tiễn một nhiệm vụ học tập, tạo điều kiện để trò tham gia và quyết định trong tất cả các giai đoạn học tập Kết quả là tạo ra được một sản phẩm lao động nhất định” [27] Phương pháp này còn tích hợp những kinh nghiệm trong cuộc sống thường ngày vào đào tạo và thống nhất hài hòa công việc trí óc hay chân tay
1.2.3 Sơ lược lịch sử phát triển của dạy học dự án:
Thuật ngữ Dự án ( Projekt ) có nguồn gốc từ tiếng la tinh “ Proicere ” và ngày nay được hiểu theo nghĩa là dự án cần được thực hiện nhằm đạt mục đích đã đề
ra
Trên thế giới, khái niệm dự án từ lâu đã được sử dụng trong lĩnh vực GD&ĐT
Có nhiều cách khác nhau giải thích về nguồn gốc của dạy học Dự án Những nghiên cứu mới đây chứng tỏ rằng khái niệm Dự án được sử dụng từ Pháp vào
đầu thế kỷ XVIII Từ đó tư tưởng dạy học đề án được lan rộng sang Đức và một
số nước châu Âu khác vào cuối thế kỷ XIX được thực hiện ở Mỹ, ở Liên Xô cũ khái niệm dự án trước đây không được sử dụng trong GD&ĐT Tuy vậy một số
Trang 33tư tưởng tương tự như dạy học Dự án có thể tìm thấy trong các trường phổ thông lao động, như tư tưởng về GD lao động của Blonski hay của Makarenco
Các nhà sư phạm Mỹ những năm đầu của thế kỷ XX đã góp phần quan trọng trong việc xây dựng cơ sở lý luận dạy học Dự án
Ban đầu các nhà sư phạm thống nhất với nhau rằng, dạy học Dự án là một phương pháp dạy học dành cho việc giải quyết vấn đề về mặt thực hành và đưa ra
ba đặc điểm cơ bản của phương pháp này là:
+ Sự kết hợp nhiều giác quan trong học tập và học theo kiểu tự khám phá, tìm tòi
có tác dụng to lớn đối với việc phát triển động cơ và hứng thú của HS
1.2.5 Một số đặc điểm của dạy học Dự án
+ Tính phức hợp của nhiệm vụ học tập:
Đặc điểm này đòi hỏi sự học tập không chỉ giới hạn trong một nội dung mà liên quan đến nhiều bộ môn hay nhiều nội dung khác Ví dụ trong “Đề án tổ chức
Trang 34nhau như cách thức tổ chức, khả năng mua các loại đồ dùng cần thiết, kiến thức
về văn hóa truyền thống, khả năng văn nghệ, kiến thức về mời và đón tiếp khách
+ Kết hợp giữa lý thuyết và thực hành
Trong dạy học dự án không chỉ nhận thức khoa học về mặt lý thuyết mà điều chủ yếu là sự vận dụng các tri thức lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn, ví dụ, trong ”đề án tổ chức một buổi sinh nhật”, hoạt động sinh nhật được thực hiện trên cơ sở kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết (về phong tục tập quán ) và hoạt động thực hành
+ Tạo ra sản phẩm
Trong quá trình thực hiện đề án, HS tạo ra các sản phẩm của đề án đó là những kết quả của hoạt động và có thể công bố được những sản phẩm này, có thể là các
đồ vật cụ thể - Ví dụ: Một hệ thống đánh lửa trên sa bàn Sản phẩm của đề án còn
có thể là kết quả của những hoạt động không tạo ra của cải, vật chất, chẳng hạn những báo cáo thí nghiệm
+ Tính tự tổ chức và tự chịu trách nhiệm của HS
Trong quá trình thực hiện đề án, HS được tham gia quyết định và tự quyết định trong các giai đoạn của quá trình dạy học, đặc biệt trong việc xây dựng kế hoạch
và thực hiện đề án Trong chừng mực phù hợp, trò có thể tham gia xác định đề án
và đánh giá đề án
+ Gắn liền với hoàn cảnh
Các đề tài của đề án nên xuất phát từ hoàn cảnh gần gủi với thực tiễn và chứa
đựng một vấn đề cần phải giải quyết, phù hợp với khả năng của người học Ví dụ về” Đề án chăn nuôi gia súc”, đề tài này cần được gắn liền với tình hình thực tiễn của địa phương HS cần thấy được chăn nuôi để cải tạo đời sống của nhân dân địa phương góp phần tăng trưởng kinh tế là hợp lí
+ Định hướng vào hứng thú của học sinh:
Dạy học theo dự án giúp phát triển động cơ học tập của người học, khi đề tài của dự án phù hợp với hứng thú và nhu cầu của họ Mặt khác, hứng thú của HS
Trang 35+ Việc học tập mang tính xã hội
Hình thức làm việc phổ biến trong việc thực hiện đề án là việc làm trong nhóm
và có sự phối hợp làm việc giữa các cá nhân Thông qua sự phối hợp thực hiện công việc trong nhóm HS được rèn luyện ý thức phương pháp cùng cộng tác lao
động
+ Vấn đề cần giải quyết trong đề án
Vấn đề cần giải quyết ít nhất phải có hai cách thức giải quyết Ví dụ: ”Đề án thiết kế chế tạo hệ thống bôi trơn” HS có thể đưa ra các phương án:
- Mua thiết bị cũ về lắp
- Mua mới toàn bộ
- Vận dụng các thiết bị hiện có và mua thêm
Trên cơ sở những phương án đề ra, cùng nhau phân tích lựa chọn phương án phù hợp nhất với yêu cầu của đề tài và điều kiện thực tế
1.2.6 Cấu trúc dạy học Dự án:
Về cấu trúc của dạy học Dự án có nhiều cách mô tả khác nhau Cấu trúc dạy học Dự án theo Frey[27]
Trang 36Sơ đồ 2.1 Cấu trúc dạy học Dự án theo Frey
Kết thúc đề án
Phân tích ý tưởng đề án ( Kết quả là dự thảo đề án )
Thực hiện đề án
Lập kế hoạch đề án ( Kết quả là kế hoạch đề án ) Hình thành ý tưởng đề án
Lại ý tưởng
Trang 37+ Hình thành ý tưởng đề án:
- Xuất phát từ thực tiễn xã hội và từ nội dung chương trình đào tạo: Khi GV đặt
ra nhiệm vụ thì đặc trưng công việc của đề án có thể được lập kế hoạch và thực hiện tốt hơn Tuy nhiên, trách nhiệm, hứng thú của người dạy đối với công việc
có thể bị hạn chế
- Xuất phát từ người học: Khi đó đề án thường phù hợp với hứng thú người học,
tính tự chịu trách nhiệm với công việc của họ cao hơn, nhưng có thể khó cho việc lập kế hoạch đề án theo chương trình đào tạo
+ Phân tích ý tưởng đề án:
Các nhóm học phải tập thảo luận ý tưởng đề án có thể phát triển thành đề án
Đối với việc thảo luận GV cần phải khuyến khích động viên để HS có thể bày tỏ suy nghĩ Các mục tiêu phân tích gồm: hứng thú của người học, giá trị đề án đối với việc đào tạo, khả năng thực hiện và giá trị sử dụng của đề án
Sau khi thảo luận, nếu ý tưởng đề án không khả thi, cần phải xây dựng lại ý tưởng Trường hợp ý tưởng khả thi, HS cần tiếp tục sơ bộ xác định thời gian, lĩnh vực công việc cần phải làm, kết quả đạt được
+ Lập kế hoạch dự án
Xác định cụ thể những công việc phải làm Phân công các công việc đó theo nhóm và cá nhân Lập kế hoạch cho từng việc: Thời gian, phương tiện, phương pháp tiến hành, vật liệu cần sử dụng
Một dự án có thể chia nhiều nhóm thực hiện, ngược lại có thể nhiều nhóm cùng thực hiện một đề án
+ Thực hiện đề án:
mọi thành viên tham gia đề án thực hiện công việc được giao, theo kế hoạch để giải quyết vấn đề của đề án, họ phải vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm của bản thân và tham khảo ý kiến của người khác Những kết quả trung gian trong quá trình thực hiện, được tự kiểm tra hoặc qua GV kiểm tra, tạo nên nững thông tin phản hồi cần thiết
Trang 381.2.7 Đặc điểm cấu trúc của dạy học Dự án
• Bao gồm hai giai đoạn: Giai đoạn nhà sáng chế tìm tòi phát minh bắt đầu từ
những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống và trong kỹ thuật, nhà phát minh hình thành ý tưởng, sau đó nhà phát minh tìm hiểu trong kho tàng kiến thức, kinh nghiệm của loài người xem đã có cách giải quyết vấn đề đó hoặc tương tự như thế chưa? Nếu chưa thì nêu tất cả các giải pháp và lựa chọn một giải pháp thích hợp Hoặc đề xuất một giải pháp mới hay xây dựng kiến thức mới, làm công cụ giải quyết Giai đoạn tiếp theo là của nhà sản xuất công nghệ:
1 Trên cơ sở giải pháp của nhà phát minh, lập kế hoạch thực hiện
2 Thực hiện theo kế hoạch để tạo ra sản phẩm
3 Đánh giá sản phẩm và đưa ra thực tế sử dụng
Như vậy bằng cấu trúc dạy học dự án, HS làm quen và dần hình thành tư duy sáng tạo trong kỹ thuật, theo kiểu các nhà phát minh đồng thời cũng làm quen với việc tổ chức quản lý sản xuất Trong quá trình này họ trực tiếp thực hiện các thao tác vật chất, qua đó hình thành và phát triển kỹ năng trong lao động
• Cấu trúc dạy học Dự án phù hợp với cấu trúc tâm lý của hoạt động kỹ thuật:
Từ sơ đồ của Frey Chúng ta nhận thấy một hệ thống các hành động được sắp xếp khoa học, hệ thống các hành động đó tương ứng với các mục đích cụ thể và mỗi hành động gồm các thao tác tương ứng với các điều kiện và phương tiện hành
động Quá trình hành động đó là cơ sở để hình thành kỹ năng trong lao động
Đồng thời sự hình thành kiến thức được xem là sự hình thành các hành động trí tuệ, là hành động ngôn ngữ trong Nó bắt đầu từ hành động vật chất và trải qua giai đoạn hành động ngôn ngữ ngoài
Trang 39• Cấu trúc dạy học Dự án hoàn toàn phù hợp với nội dung dạy nghề sữa chữa máy công cụ
Đặc điểm cơ bản nhất của nghề sữa chữa máy công cụ là tính thực tiễn Bất cứ
bài giảng kỹ thuật sữa chữa máy công cụ nào cũng gắn với một sản phẩm kỹ thuật và quá trình sản xuất công nghệ cụ thể Nói cách khác giữa nội dung môn học và quá trình sản xuất công nghệ có mối quan hệ biện chứng và luôn phù hợp với nhau
Mặt khác cấu trúc của dạy học dự án như trên đã phân tích, mang đầy đủ đặc trưng của quá trình sản xuất công nghệ Bản chất của dạy học Dự án là vận dụng kiến thức để giải quyết những vấn đề thực tế qua đó tạo nên sản phẩm Đây cũng chính là bản chất của quá trình dạy học nghề sữa chữa máy công cụ được gắn với nội dung cụ thể, có thể coi Dự án là sự vận động bên trong của nội dung nghề sữa chữa máy công cụ bởi vậy có thể nói, dạy học Dự án hoàn toàn phù hợp với nghề sữa chữa máy công cụ
2.1.8 Ví dụ minh họa cấu trúc dạy học dự án trong thực hành kỹ thuật
Một GV trong kế hoạch có 4 buổi để hướng dẫn HS thực hiện dự án với mục
đích và yêu cầu sau:
- Rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào giải quyết những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống
- Nâng cao khả năng tự học
- Phải có sản phẩm đúng thời gian và thông qua việc hoàn thành sản phẩm tiếp thu thêm được những hiểu biết mới trong buổi gồm các giai đoạn sau:
Bước 1 : Hình thành ý tưởng
- Học sinh chia các nhóm thảo luận ý tưởng để đạt được mục đích yêu cầu của
GV Các nhóm bàn luận, GV đến các nhóm động viên đưa ra các ý tưởng
- ý tưởng của HS các nhóm tập trung vào hướng bảo dưỡng và sữa chữa hệ thống bơm dầu hộp trục chính máy tiện
Bước 2 phân tích ý tưởng đề án
Trang 40GV: đi các nhóm phát vấn để HS suy luận Tại sao các em lại chọn thiết bị này? HS: nhóm 1 với ý tưởng bảo vệ sửa chữa hệ thống bơm dầu hộp trục chính máy tiện lập được
- Họ đã có một số hiểu biết về máy tiện song chưa nắm được cấu tạo, nguyên lý hoạt động của bơm dầu pít tông mà hàng ngày họ vẫn thấy
- Họ rất muốn có một hệ thống bơm dầu pít tông do chính tay họ bảo dưỡng và sữa chữa
- Họ thấy phòng thực hành sửa chữa máy công cụ có đủ điều kiện cho họ thực hiện ý tưởng đó
- Thời gian 4 buổi để hoàn thành công việc
Bước 3 Giai đoạn lập kế hoạch
- Buổi 1: Thành viên thứ nhất đi mượn đồ: Tuốc nơ vít 2, 4 cạnh, clê 14 ữ 17, kìm B, 2 thành viên còn lại: Xác định mức độ hư hỏng thiết bị trong hệ thống bơm dầu pít tông, dự trù thiết bị thay thế, dự đoán số tiền cần mua thiết bị
- Buổi 2: Cả 3 cùng đi mua thiết bị
- Buổi 3: một thành viên sửa chữa những hư hỏng nhỏ như các đường ống, bầu lọc của hệ thống bơm dầu pít tông 2 thành viên còn lại đo đạc kiểm tra chất lượng của các thiết bị trong hệ thống bơm dầu pít tông
- Buổi 4: Cả nhóm thực hiện tiếp công việc, nhóm nào xong trước giúp đỡ các nhóm khác hoàn thành nốt công việc Cuối buổi kiểm tra lại thiết bị đã sửa chữa, thu dọn vệ sinh mang để trả
Bước 4: Thực hiện đề án
Tất cả theo kế hoạch đã phân công thực hiện nhiệm vụ cụ thể của mình
- Sau buổi đầu tiên: Nhóm xác định được dầu không lên, các viên bi ở cửa van
bị hỏng, lò xo nén bị hỏng
- Buổi 2: Cả nhóm đi mua thiết bị
- Buổi 3: Thành viên sửa chữa nhỏ đã hoàn thành công việc của mình sau đó chuyển sang giúp 2 bạn cùng thực hiện công việc