1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Vấn đề thương hiệu trong phát triển du lịch ở Việt Nam hiện nay

7 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 135,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn - ngành kinh tế dịch vụ tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng, xã hội hoá cao và nội dung văn hoá sâu sắc; có khả năng thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của các ngành, lĩnh vực khác, đem lại hiệu quả nhiều mặt về kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, đối ngoại và an ninh, quốc phòng.

Trang 1

VẤN ĐỀ THƯƠNG HIỆU TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

ĐỖ THỊ QUYÊN Tóm tắt

Du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn - ngành kinh tế dịch vụ tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng, xã hội hoá cao và nội dung văn hoá sâu sắc; có khả năng thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của các ngành, lĩnh vực khác, đem lại hiệu quả nhiều mặt về kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị, đối ngoại và an ninh, quốc phòng Trong bối cảnh hiện nay, thương hiệu có vai trò quan trọng trong việc quyết định hướng

đi, tầm nhìn, chuỗi giá trị tạo dựng, thậm chí là sự sinh tồn của doanh nghiệp/ngành trên thị trường trong và ngoài nước Thực tiễn ngành công nghiệp không khói đã phát triển mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu và nhu cầu tham quan du lịch của công chúng vượt ra khỏi giới hạn lãnh thổ quốc gia Do

đó, việc thiết lập/tạo dựng thương hiệu doanh nghiệp trong phát triển du lịch không chỉ là mục tiêu, nhiệm vụ của cá nhân, tổ chức mà còn là mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược mang tầm quốc gia trong bối cảnh hiện nay

Từ khóa: Thương hiệu, du lịch, thương hiệu du lịch

Abstract

Tourism is a top important economic sector - a mixed service economy, interdisciplinary, inter-regional, highly socialized and profound cultural content; it is capable of strongly promoting the development of other industries and fields, bringing many benefits on economic, cultural, social, political, external relation, security and national defense fields In the current context, the brand plays

an important role in determining the direction, vision, value chain of creation, even the survival of the business/industry on the domestic and foreign markets Practically, smokeless industry has strongly developed on a global scale and the need to travel is beyond national territory limits Therefore, the establishment/developing brand of enterprises in tourism development is not only the goals and tasks

of individuals and organizations but also the strategic objectives and tasks at national level in the current context.

Keywords: Brand, travel, tourism brand

Đặt vấn đề

Ngành Du lịch hiện nay đang đóng

vai trò quan trọng và là một ngành

kinh tế mũi nhọn có tiềm lực và

tiềm năng lớn góp phần thúc đẩy chuyển dịch

cơ cấu kinh tế, thu hút nguồn lực kinh tế và

nguồn ngoại tệ lớn trong phát triển kinh tế

đất nước; bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn

hóa, tài nguyên thiên nhiên; tạo nhiều việc

làm, nâng cao đời sống nhân dân; đẩy mạnh

quá trình hội nhập quốc tế, quảng bá hình ảnh

đất nước, con người Việt Nam Tuy nhiên, bên

cạnh những thành tựu đã đạt được, du lịch

Việt Nam còn bộc lộ nhiều hạn chế: “Du lịch

phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thế

mạnh và kỳ vọng của xã hội: Sản phẩm du lịch chưa thực sự hấp dẫn và có sự khác biệt; khả năng cạnh tranh chưa cao; chất lượng dịch

vụ du lịch chưa đáp ứng yêu cầu; hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch chưa cao; công tác xúc tiến quảng bá du lịch còn nhiều hạn chế…” [2]

Tạo dựng thương hiệu, phát huy lan tỏa thương hiệu nhằm nâng cao năng lực kinh doanh, góp phần làm cho ngành Du lịch Việt Nam không chỉ thực sự là một ngành kinh tế mũi nhọn mà còn có sức thu hút, hấp dẫn và thỏa mãn hài lòng nhu cầu du khách trong và ngoài nước, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa Việt, di sản văn hóa của đất nước,… là việc

Trang 2

V Ă N HÓ A

làm cần thiết, có ý nghĩa trong bối cảnh Việt

Nam hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh

mẽ của ngành kinh tế du lịch trên toàn cầu

1 Nhận diện thương hiệu và thương hiệu

du lịch

Theo hiệp hội Marketing Hoa Kỳ (AMA),

thương hiệu (brand) là “một tên gọi, thuật ngữ,

ký hiệu, biểu tượng hay hình vẽ, hay sự kết hợp

giữa chúng, nhằm nhận diện các hàng hóa hay

dịch vụ của người bán hay một nhóm người

bán và phân biệt chúng với hàng hóa hay dịch

vụ của đối thủ cạnh tranh” [6] Như vậy, về mặt

kỹ thuật, thương hiệu là yếu tố hữu hình được

gắn trên sản phẩm (hàng hóa, dịch vụ) nhằm

khác biệt hóa sản phẩm với đối thủ cạnh tranh

Một số định nghĩa khác của các nhà quản trị

cho rằng, thực tế thương hiệu còn nhiều hơn

thế nữa, xây dựng thương hiệu không dừng ở

việc tạo nên cái tên, ký hiệu hay biểu tượng cho

sản phẩm mà làm sao để cái tên này (hoặc các

yếu tố thương hiệu khác) tạo ra những liên tưởng

tích cực trong tâm trí người tiêu dùng về sản

phẩm [6] khiến họ ưa thích và mua sản phẩm,

giúp sản phẩm đạt được các chỉ số mong đợi

về doanh thu và lợi nhuận

Theo ông Nguyễn Quốc Thịnh - Ban cố vấn

Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và

Cạnh tranh, thương hiệu từ góc nhìn tổng hợp

bao gồm 2 mặt:

Một là, những nỗ lực từ doanh nghiệp bao

gồm: 1) Sản phẩm [đặc tính (hình thức và nội

dung), công dụng (bao gồm cả tính an toàn),

dịch vụ bán]; 2) Bộ nhận diện (thẩm mỹ, phong

tục tập quán, văn hóa cộng đồng, truyền tải

thông điệp…); 3) Giao tiếp nội bộ (truyền

thông nội bộ, cam kết thương hiệu, nguyên

tắc giao tiếp, ứng xử, trách nhiệm xã hội, giá

trị đạo đức, nhân văn); 4) Văn hóa kinh doanh

(cách thức cung ứng sản phẩm, cách thức ứng

xử với cộng đồng, trách nhiệm xã hội, cam kết

thương hiệu)

Hai là, cảm nhận từ khách hàng bao gồm:

1) Nhận thức thương hiệu của khách hàng; 2)

Liên tưởng cảm nhận của khách hàng; 3) Lòng

trung thành của khách hàng [1]

Theo ông Phạm Đức Bình - CEO Công ty cổ

phần Công nghệ BNC Việt Nam, thương hiệu

sản của doanh nghiệp mà bất kỳ thành viên nào cũng muốn giữ” [1] Đó cũng là hình ảnh thiêng liêng trong mỗi cá nhân/thành viên/

bộ phận của doanh nghiệp, một tài sản không

dễ mất giá trong chính doanh nghiệp Thương hiệu không đơn giản chỉ là cái tên hay logo mà còn bao gồm cách tạo ra sản phẩm, cách thức cung ứng hàng hóa ra thị trường đến tay công chúng tiêu dùng thụ hưởng hàng hóa, là văn hóa ứng xử với khách hàng và đông đảo công chúng trong xã hội Thương hiệu còn chính là niềm tự hào khơi nguồn giá trị tinh thần cho đội ngũ nhân viên của doanh nghiệp Cũng theo ông Phạm Đức Bình thì việc chỉ chú trọng đến kết quả kinh doanh trước mắt mà không quan tâm đến hình ảnh chính là vết đứt trong phát triển, làm cho sự phát triển trở nên không bền vững

Theo sách Nhận diện thương hiệu - Những

điểm chạm thị giác, thương hiệu được hiểu đơn

giản: “Thương hiệu xuất hiện từ nhu cầu tạo ra

sự khác biệt cho sản phẩm của nhà sản xuất,… thương hiệu khởi đầu cho một mối quan hệ thực sự bền chặt và lâu dài” [8]

Chiến lược phát triển thương hiệu du lịch Việt Nam đến năm 2025, định hướng phát triển đến năm 2030 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

ngày 13/7/2016 đã đề ra các quan điểm, mục tiêu tổng quát và cụ thể, giải pháp phát triển thương hiệu du lịch Việt Nam, trong đó xây

dựng Định hướng phát triển thương hiệu du lịch

Quốc gia bao gồm: Tuyên bố về thương hiệu,

giá trị thương hiệu du lịch Việt Nam, tiêu đề và biểu trưng thương hiệu du lịch Việt Nam; phát triển thương hiệu du lịch vùng và địa phương trong mối quan hệ tổng thể và đồng bộ với việc xác lập các quan điểm, mục tiêu và giải pháp về phát triển thương hiệu du lịch Việt Nam

Thương hiệu là một thuật ngữ không còn

xa lạ đối với mỗi cá nhân và doanh nghiệp hiện nay Thương hiệu cá nhân, thương hiệu doanh nghiệp, thương hiệu vùng đất (địa lý),… là cái thể hiện dấu ấn nổi bật, đặc tính lạ - hiếm - độc đáo theo nghĩa tích cực không lẫn với bất cứ cái khác đang có, đang tồn tại Thương hiệu bao gồm các yếu tố hữu hình (giá trị vật chất)

và các yếu tố vô hình (giá trị mang ý nghĩa tinh

Trang 3

còn được gọi là Tài sản thương hiệu

Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ cho rằng, Tài

sản thương hiệu (brand equity) là giá trị của một

thương hiệu Từ quan điểm của người tiêu dùng,

tài sản thương hiệu được đánh giá dựa trên thái

độ của người tiêu dùng về những thuộc tính tích

cực của thương hiệu và những kết quả tích cực từ

việc sử dụng thương hiệu [6].

Thương hiệu giúp người tiêu dùng nhận

diện và phân biệt được sản phẩm khi mua

và sử dụng; tạo dựng niềm tin và lòng trung

thành của người tiêu dùng vào thương hiệu

nhất định; thương hiệu giúp người tiêu dùng

giảm thiểu những rủi ro trong các quyết định

mua và tiêu dùng hàng hóa dịch vụ (rủi ro kỹ

thuật (vận hành), thể chất (sức khỏe), tài chính,

xã hội, tâm lý, thời gian (chi phí cơ hội) Đối với

doanh nghiệp, thương hiệu là phương tiện

nhận dạng để mô tả hay phân biệt sản phẩm;

phương tiện hợp pháp để bảo vệ đặc tính độc

đáo của sản phẩm; cung cấp cho sản phẩm

những liên tưởng độc đáo; dấu hiệu về mức độ

chất lượng của sản phẩm; nguồn lợi thế cạnh

tranh cho sản phẩm Thương hiệu còn đóng

vai trò to lớn trong lĩnh vực văn hóa đối ngoại,

thúc đẩy quá trình giao lưu và hội nhập quốc

tế của nước ta nhanh hơn theo thời gian và

thẩm thấu sâu hơn theo bề dày lịch sử Thương

hiệu nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh

nghiệp du lịch, góp phần thúc đẩy kinh tế phát

triển, tăng nguồn thu, đặc biệt nguồn thu

ngoại tệ cho ngân sách quốc gia, tạo động lực

thúc đẩy sự phát triển của các ngành, lĩnh vực

kinh tế, văn hóa, xã hội khác

Từ tất cả các quan điểm trên đây về thương

hiệu, có thể rút ra một số vấn đề như sau:

1) Thương hiệu doanh nghiệp gắn liền với

sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp tạo ra,

phân phối cung ứng trên thị trường, nó gồm

những thành tố tạo cho sản phẩm, dịch vụ sự

khác biệt với sản phẩm, dịch vụ khác cùng loại,

phục vụ cùng một nhu cầu nhất định; thương

hiệu đem lại giá trị là toàn bộ nhận thức và

tình cảm của người tiêu dùng về các thuộc

tính, tính năng của sản phẩm, về thương hiệu,

ý nghĩa biểu tượng của thương hiệu và những

liên tưởng, niềm tin gắn với thương hiệu

doanh nghiệp

- Thành tố hữu hình: liên quan đến hình hài vật chất, có thể định lượng được, tạo nên

sự khác biệt cho sản phẩm hàng hóa (tên gọi,

ký hiệu, biểu tượng hay hình vẽ, số lượng/ chất lượng; quy cách kỹ thuật, hình thức/nội dung…), phương thức sản xuất và phân phối, trách nhiệm và đạo đức kinh doanh, quy tắc ứng xử trong và ngoài doanh nghiệp, v.v

- Thành tố vô hình: liên quan đến sự cảm nhận, nhận thức/tình cảm; niềm tin/lòng trung thành trong mỗi thành viên của doanh nghiệp cũng như của công chúng xã hội đã, đang và sẽ tin dùng sản phẩm, dịch vụ của

doanh nghiệp; chuỗi giá trị vô hình (khó lượng

hóa) mang lại niềm tin, ý nghĩa và động lực gắn

kết các thành viên chính trong nội bộ doanh nghiệp cũng như đông đảo công chúng xã hội

mà doanh nghiệp đã, đang và sẽ hướng tới để phục vụ trên thị trường mục tiêu

3) Thương hiệu là tài sản có giá trị của doanh nghiệp Giá trị tài sản này có được từ

sự đánh giá của khách hàng về sản phẩm và doanh nghiệp mang tên thương hiệu Giá trị này có được bằng cách xây dựng các thành tố của thương hiệu bao gồm mức độ cảm nhận, nhận biết thương hiệu, lòng trung thành với thương hiệu và thành tố khác

4) Thương hiệu cần được tạo dựng và bồi đắp trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp Bởi thương hiệu được hình thành dựa trên nền tảng của văn hóa doanh nghiệp, sự chia sẻ, nỗ lực, lan tỏa và gắn kết trách nhiệm của toàn thể các cá nhân, các bộ phận trong doanh nghiệp nhằm tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm, dịch vụ của họ về sự độc đáo trong văn hóa của doanh nghiệp tới khách hàng (công chúng)… Mục tiêu của bất kỳ doanh nghiệp nào trên thị trường cũng đều hướng tới lợi ích là những giá trị mang lại sự thỏa mãn

và hài lòng của khách hàng và lợi nhuận doanh nghiệp đạt được từ đó Do vậy, uy tín, quan hệ, thương hiệu doanh nghiệp phải luôn được tạo dựng, bồi đắp hàng ngày để duy trì mối quan

hệ tốt đẹp của doanh nghiệp - công chúng - thị trường, niềm tin của xã hội đối với nhà sản xuất, cung cấp và phân phối sản phẩm

5) Thương hiệu không chỉ đóng vai trò quan trọng đối với doanh nghiệp mà còn vô

Trang 4

V Ă N HÓ A

cùng quan trọng với khách hàng trong việc

nhận diện sản phẩm, lan tỏa thương hiệu, định

hướng khách hàng, dẫn dắt doanh nghiệp

hướng tới chất lượng mối quan hệ doanh

nghiệp - khách hàng, hình thành những

hành động tích cực của doanh nghiệp hướng

tới khách hàng, vì khách hàng, để lại dấu ấn

(thương hiệu) doanh nghiệp trong tâm trí khách

hàng.

2 Tạo dựng thương hiệu trong phát triển du

lịch Việt Nam

Trong những năm gần đây, ngành kinh tế

du lịch trong nước và thế giới phát triển mạnh,

nhu cầu du lịch trong và ngoài nước ngày càng

gia tăng và gần như trở thành nhu cầu thiết

yếu không thể thiếu đối với cá nhân và hộ gia

đình Những chuyến du lịch tham quan, nghỉ

dưỡng trong và ngoài nước của người dân trở

nên thường xuyên hơn, khoảng cách giữa các

chuyến đi ngày càng ngắn hơn, quãng đường

đi xa hơn, thời gian du lịch kéo dài hơn cũng

như các yêu cầu thụ hưởng dịch vụ du lịch

ngày càng đòi hỏi chất lượng cao hơn

Cũng giống các ngành nghề, lĩnh vực

khác trong nền kinh tế, kinh tế thị trường và

hội nhập quốc tế đã tạo ra nhiều cơ hội cho

sự xuất hiện và phát triển các tổ chức doanh

nghiệp du lịch ngoài thành phần kinh tế nhà

nước Sự tác động của cơ chế thị trường và

môi trường hoạt động làm cho mô hình công

ty, doanh nghiệp du lịch vừa và nhỏ phát

triển khá mạnh, số lượng ngày càng gia tăng

Sự cạnh tranh của các doanh nghiệp du lịch

trong nước và ngoài nước với nhau diễn ra

hết sức khốc liệt, một mặt tạo động lực phát

triển, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh

nghiệp; mặt khác, môi trường cạnh tranh khốc

liệt làm gia tăng sự lãng phí các nguồn lực của

doanh nghiệp, văn hóa doanh nghiệp có nguy

cơ bị mai một…

Tạo dựng thương hiệu trong phát triển

du lịch là một nhiệm vụ cấp bách của ngành

Du lịch nói riêng, lĩnh vực văn hóa đối ngoại

và phát triển kinh tế nói chung,… bởi thương

hiệu đóng vai trò quan trọng không chỉ đối với

người tiêu dùng, mà còn đối với doanh nghiệp

du lịch

Tạo dựng thương hiệu trong phát triển du

gồm khối lượng lớn các công việc liên quan trực tiếp đến ngành Du lịch và các ngành kinh

tế khác liên quan đến dịch vụ du lịch Về tính tổng hợp, liên ngành, liên vùng của ngành Du lịch hiện nay, Nghị quyết số 08/NQ-TƯ của Bộ

Chính trị đã nêu rõ: “Phát triển du lịch thực sự

là ngành kinh tế dịch vụ tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng, có trọng tâm, trọng điểm, hiệu quả, có thương hiệu và khả năng cạnh tranh cao;

xã hội hóa cao và có nội dung văn hóa sâu sắc; tăng cường liên kết trong nước và quốc tế, chú trọng liên kết giữa ngành Du lịch với các ngành, lĩnh vực khác trong chuỗi giá trị hình thành nên các sản phẩm du lịch” [2]

Tạo dựng thương hiệu trong phát triển du lịch hiện nay cần chú trọng tính đồng bộ, liên ngành, liên vùng sau đây:

Thứ nhất, tạo dựng thương hiệu doanh nghiệp phải dựa trên cơ sở xây dựng văn hóa doanh nghiệp bởi thương hiệu doanh nghiệp

bắt nguồn từ bản sắc văn hóa riêng của doanh nghiệp, từ nền tảng văn hóa doanh nghiệp Thương hiệu doanh nghiệp là những phần tử của văn hóa doanh nghiệp, nhưng chúng lại là một số phần tử nổi bật, kết tinh và có khả năng phát sáng trong “tảng băng văn hóa” doanh nghiệp có cả phần chìm và phần nổi Thương hiệu cũng có vai trò tạo nền tảng cho văn hóa doanh nghiệp Mối quan hệ của thương hiệu

và văn hóa doanh nghiệp cho thấy, việc xây dựng thương hiệu cũng giống như xây dựng

văn hóa doanh nghiệp là việc tạo nên giá trị

nền tảng - lấy định hướng khách hàng làm trung tâm làm cơ sở cho sự phát triển bền vững của

doanh nghiệp

Thứ hai, chú trọng việc tạo dựng các yếu

tố thuộc nội hàm thương hiệu doanh nghiệp

(không đi vào các yếu tố mang tính kỹ thuật thiết kế hình ảnh của thương hiệu như tên thương hiệu, logo, slogan, bao gói, nhãn hiệu…; chỉ đề cập đến yếu tố mang tính nội dung bên trong của thương hiệu) Thiết lập các dòng sản phẩm gắn với vùng du lịch, đa dạng các loại hình du lịch để phù hợp với các nhóm nhu cầu của công chúng trong và ngoài nước Phối kết hợp chặt chẽ giữa các ngành kinh tế dịch vụ như nhà hàng, khách sạn, vận chuyển hành khách, trung tâm dịch vụ thương mại,

Trang 5

tạo dựng chuỗi giá trị liên hoàn đảm bảo chất

lượng, giá cả phù hợp đáp ứng nhu cầu của du

khách trong và ngoài nước, v.v.1

Bên cạnh việc khai thác có hiệu quả tài

nguyên du lịch, phát triển các sản phẩm du

lịch đặc thù, có thương hiệu, chúng tôi muốn

nhấn mạnh đến việc tạo dựng chất lượng dịch

vụ du lịch - chuỗi giá trị hình thành sự cảm

nhận, niềm tin, lòng trung thành của khách

hàng với thương hiệu của doanh nghiệp; sản

phẩm chất lượng dịch vụ của doanh nghiệp

tạo ấn tượng tích cực/đẹp trong tâm trí khách

du lịch, làm cho họ tin tưởng tuyệt đối vào

doanh nghiệp, sẵn sàng mua và sử dụng sản

phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp khi có nhu

cầu mà không còn bận tâm đến nhiều sản

phẩm dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp

khác Cách thức để nhà sản xuất tạo ra một

sản phẩm giá trị là quan trọng nhưng cách nhà

cung ứng đưa đến người tiêu dùng/thụ hưởng

còn quan trọng hơn; cách thức để người tiêu

dùng có được một sản phẩm hoàn hảo không

khó nhưng cách làm thế nào để có một văn

hóa/văn minh tiêu dùng, sử dụng thì không

phải ai cũng làm được Đối với dịch vụ du lịch,

văn hóa tiêu dùng/thụ hưởng của du khách vô

cùng quan trọng, một trong những đặc tính

nổi bật của ngành dịch vụ du lịch chính là tính

đồng thời cùng lúc giữa sản xuất và tiêu dùng

Vì vậy, một tour/chương trình du lịch dành

cho du khách là một sự kết hợp hoàn hảo của

các nhà cung ứng (bao gồm nhiều nhà cung

ứng thuộc các lĩnh vực khác nhau tham gia:

vận chuyển, ăn nghỉ, vui chơi giải trí, mua

sắm,… trong đó nhà cung ứng chính - chủ thể

kết nối các nhà cung ứng khác với du khách

chính là công ty/doanh nghiệp du lịch) với du

khách, sự nhịp nhàng đến đồng điệu giữa các

nhà sản xuất và người tiêu dùng dịch vụ…

Chuỗi giá trị tạo ra được tiêu dùng tại chỗ,

cái còn lại chính là những ấn tượng đẹp, độc

đáo, nổi bật mà hành trình du lịch được ghi lại

trong tâm trí mỗi du khách Đó chính là một

sản phẩm du lịch hoàn hảo, giá cả phải chăng,

chất lượng chuỗi dịch vụ tốt (ăn, ở, đi lại, vui

chơi), thái độ ân cần chu đáo lịch sự của người

dẫn tour/công ty tổ chức tour; là sự phối kết

hợp nhịp nhàng của các đối tác liên quan; là

bảo sức khỏe và sự an toàn của khách trong mỗi chuyến đi v.v

Khi thiết lập sản phẩm cho du khách, cần quan tâm đến điểm khác biệt là những liên tưởng thuận lợi và độc đáo về sản phẩm và điểm tương đồng so với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh (những liên tưởng tương đồng về chủng loại sản phẩm nhằm đảm bảo tính hợp pháp và đáng tin cậy của một sản phẩm trong chủng loại sản phẩm đang có trên thị trường)

Ví dụ, cùng một sản phẩm du lịch trọn gói thì điểm khác biệt của sản phẩm có thể xác định là thời gian (bắt đầu, kết thúc, thời gian phân chia trong lộ trình), điểm đến trong lộ trình, chất lượng các dịch vụ: đi lại, ăn ở, vui chơi; thái độ phong cách người dẫn tour của doanh nghiệp, các bộ phận liên quan đến toàn bộ tour của du khách…; điểm tương đồng có thể xác định là

số ngày của gói, giá cả… Chẳng hạn, tour du lịch nước Nga vào mùa thu là đẹp và phù hợp nhất với người Việt Nam (phong cảnh, thời tiết); mùa đông thời tiết rất lạnh, mùa hè thời tiết lại quá nóng cho việc di chuyển tham quan trong lộ trình…)

Thứ ba, chú trọng công tác quảng bá hình ảnh thương hiệu Thương hiệu doanh nghiệp

cần được xây dựng, vun đắp và lan tỏa trong suốt quá trình hoạt động của doanh nghiệp Xây dựng thương hiệu doanh nghiệp là một nhiệm vụ quan trọng, nhưng duy trì, phát triển chúng còn quan trọng và cấp thiết hơn nhiều Bản thân hoạt động du lịch vừa mang nội hàm của hoạt động văn hóa, hoạt động truyền thông, đồng thời vừa là hoạt động kinh tế Hơn nữa, du lịch còn là ngành kinh tế dịch vụ tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng, quốc tế

Công tác quảng bá hình ảnh thương hiệu

du lịch nên được quan tâm ở các khía cạnh sau:

- Xây dựng và định vị thương hiệu du lịch quốc gia gắn với hình ảnh và sản phẩm du lịch chủ đạo, độc đáo, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc, bản sắc vùng miền, địa phương và các tộc người đặc trưng trên cả nước

- Thương hiệu du lịch cần được lan tỏa từ chính chuỗi giá trị (đa dạng loại hình và sản phẩm du lịch/đa dạng về mức độ chất lượng dịch vụ, giá cả dịch vụ) mà doanh nghiệp/

Trang 6

V Ă N HÓ A

ngành tạo ra đáp ứng nhu cầu xã hội hiện

nay (Lan tỏa từ nội bộ doanh nghiệp ra bên

ngoài tới khách hàng; lan tỏa từ khách hàng

tới khách hàng thông qua sự cảm nhận và

niềm tin của khách hàng đối với sản phẩm

dịch vụ của doanh nghiệp mà khách hàng đã

có những trải nghiệm thực tế)

- Đẩy mạnh hoạt động quảng bá, xúc tiến

điểm đến quốc gia, điểm đến địa phương và

các sản phẩm, dịch vụ đặc sắc của du lịch Việt

Nam ở nước ngoài; đẩy mạnh hoạt động tuyên

tuyền, quảng bá và xúc tiến du lịch ở trong

nước bằng các hình thức và phương tiện khác

nhau, phát triển marketing điện tử phục vụ

xúc tiến quảng bá du lịch; phát huy vai trò của

cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong

hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch2

Thứ tư, xây dựng cơ chế, chính sách, lộ trình

cho phát triển thương hiệu ngành Du lịch [4]

nhằm thực hiện tốt mục tiêu nhiệm vụ “Chiến

lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020,

tầm nhìn đến năm 2030” của Chính phủ Trong

đó, cần chú trọng:

- Tăng cường đầu tư ngân sách nhà nước,

thu hút các nguồn lực xã hội đầu tư phát triển

ngành Du lịch, phát triển thương hiệu du lịch,

bao gồm nâng cao năng lực, phát triển sản

phẩm, phát triển và duy trì các hoạt động liên

quan theo định hướng các giá trị thương hiệu

du lịch; khuyến khích các nhà đầu tư chiến

lược đầu tư hình thành các khu dịch vụ du lịch

phức hợp, dự án dịch vụ du lịch quy mô lớn,

các trung tâm mua sắm, giải trí chất lượng cao

tại các điểm đến du lịch

- Xây dựng cơ chế, mô hình hợp tác hiệu

quả giữa Trung ương, địa phương và doanh

nghiệp (của mô hình ngành kinh tế tổng hợp,

có tính liên ngành, liên vùng) trong xây dựng,

phát triển và quảng bá thương hiệu du lịch

- Xây dựng cơ chế quản trị thương hiệu

du lịch thông qua quản trị chất lượng sản

phẩm, quản lý và khai thác tài nguyên du lịch;

áp dụng các quy trình quản lý, giám sát chất

lượng; xây dựng cơ chế phối hợp với các cơ

quan liên quan trong bảo hộ, bảo vệ thương

hiệu du lịch

- Xây dựng cơ chế phối hợp với các ngành

truyền thông, tạo sức mạnh tổng hợp trong xây dựng và quảng bá thương hiệu, hình ảnh điểm đến Việt Nam ở trong và ngoài nước một cách thống nhất và mang đậm bản sắc riêng

- Tập trung thu hút đầu tư phát triển các khu, điểm du lịch quốc gia theo quy hoạch; phát triển cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật, các sản phẩm du lịch đặc thù, nổi trội dựa vào các giá trị văn hóa và tự nhiên nổi bật Coi trọng phát triển du lịch xanh, sản phẩm du lịch thân thiện môi trường và xã hội

- Tăng cường công tác đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ về xây dựng thương hiệu du lịch Xây dựng các tài liệu hướng dẫn phát triển thương hiệu cho sản phẩm, xây dựng tiêu chuẩn chất lượng dịch

vụ và tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn và kiểm tra thực hiện các chương trình về nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ và xúc tiến thương hiệu du lịch

Thứ năm, nâng cao ý thức của người dân, doanh nghiệp và cộng đồng trong xây dựng,

bảo vệ hình ảnh, môi trường, góp phần phát triển bền vững, không ngừng nâng cao uy tín, thương hiệu và sức thu hút của du lịch Việt Nam trên thị trường quốc tế Nâng cao vai trò của cộng đồng trong phát triển du lịch cộng đồng, xây dựng cộng đồng du lịch văn minh, thân thiện trong ứng xử với khách du lịch; phát huy vai trò của các tổ chức xã hội nghề nghiệp liên quan đến du lịch Tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, minh bạch, bình đẳng, thuận lợi cho cá nhân, doanh nghiệp tham gia kinh doanh du lịch Khuyến khích doanh nghiệp đổi mới, sáng tạo, đa dạng hoá các loại hình, sản phẩm du lịch phù hợp với định hướng phát triển ngành Du lịch; khuyến khích cá nhân, doanh nghiệp khởi nghiệp kinh doanh du lịch, đặc biệt ở những địa phương vùng sâu, vùng

xa, ven biển và hải đảo…

Kết luận

Tạo dựng thương hiệu doanh nghiệp nói chung và trong phát triển du lịch nói riêng nhằm nâng cao năng lực kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch trong nước trước áp lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, tập đoàn nước ngoài, giữ vững sự ổn định và phát triển

Trang 7

trong bối cảnh Việt Nam hội nhập quốc tế

Tạo dựng thương hiệu doanh nghiệp là tạo

dựng những giá trị cốt lõi của doanh nghiệp

Bên cạnh việc tạo dựng những yếu tố mang

tính nhận diện bên ngoài, cần chú trọng đến

những yếu tố nhận diện bên trong của thương

hiệu, những giá trị ẩn sâu làm nền móng cho

sự phát triển bền vững của doanh nghiệp Suy

cho cùng, đó là những giá trị tạo nên sự hài

lòng, thỏa mãn của du khách, sự tin tưởng

của cơ quan quản lý chức năng và mục tiêu

chất lượng - hiệu quả doanh nghiệp đạt được

Doanh nghiệp lấy sự phụng sự khách hàng làm

đầu, lấy sự hài lòng và lợi ích của khách hàng

làm tiêu chí đạt tới lợi nhuận; định vị “hình ảnh

tin dùng, niềm tin vững chắc trong tâm trí du

khách/công chúng” thông qua việc tạo ra, cung

cấp và làm thỏa mãn, hài lòng du khách/công

chúng khi họ sử dụng các sản phẩm và dịch vụ

du lịch của doanh nghiệp Thương hiệu không

đơn thuần tạo dựng hình ảnh mà còn tạo ra

giá trị doanh nghiệp Vì vậy, tạo dựng thương

hiệu là xây dựng giá trị tạo nên sự trường tồn

và lan tỏa của doanh nghiệp trên thị trường

Tạo dựng thương hiệu trong phát triển du lịch

đòi hỏi sự chung tay, chung sức đồng bộ của

doanh nghiệp (du lịch, các ngành kinh tế dịch

vụ liên quan), nhà nước và cộng đồng; từ trung

ương đến địa phương; giữa các cơ quan chức

năng, ban ngành; giữa các khu vực vùng miền

Đ.T.Q

(PGS.TS, Trưởng khoa Xuất bản, Phát hành,

Trường ĐHVHHN)

Chú thích

1 Điều này đã được nêu và phân tích rõ trong

“Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch Việt Nam

đến năm 2025, định hướng phát triển đến năm

2030” theo Quyết định số 2714/QĐ-BVHTTDL

ngày 03/8/2016; Chiến lược phát triển thương hiệu

du lịch Việt Nam đến năm 2025, định hướng phát

triển đến năm 2030 theo Quyết định số 2522/QĐ-

BVHTTDL ngày 13/7/2016

2 Vấn đề này được nêu rõ trong Quyết định

số 2151/QĐ-TTg ngày 11/11/2013 của Thủ tướng

Chính phủ phê duyệt Chương trình Xúc tiến du

lịch quốc gia giai đoạn 2013 - 2020.

1 Báo Văn hóa, Viện Nghiên cứu Chiến lược

Thương hiệu và Cạnh tranh (2018), Văn hóa

doanh nghiệp và đạo đức kinh doanh, Kỷ yếu hội

thảo, Hà Nội

2 Bộ Chính trị (2017), Nghị quyết số 08-NQ/

TW ngày 16/1/2017 về Phát triển du lịch trở thành

ngành kinh tế mũi nhọn.

3 Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2014), Quyết định số 3455/QĐ-BVHTTDL ngày 20/10/2014 về

Phê duyệt Chiến lược Marketing du lịch đến năm 2020.

4 Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2016), Quyết định số 2522/QĐ-BVHTTDL ngày 13/7/2016 về

Phê duyệt Chiến lược phát triển thương hiệu du lịch Việt Nam đến năm 2025, định hướng phát triển đến năm 2030.

5 Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2016), Quyết định số 2714/QĐ-BVHTTDL ngày 03/8/2016 về

Phê duyệt đề án Chiến lược phát triển sản phẩm du lịch Việt Nam đến năm 2025, định hướng phát triển đến năm 2030.

6 Phạm Lan Hương (chủ biên) (2014), Quản

trị thương hiệu, Nxb Tài chính, Hà Nội.

7 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

Việt Nam (2017), Luật Du Lịch số 09/2017/QH14

ngày 19 tháng 6 năm 2017

8 RIO Book (2018), Nhận diện thương hiệu

Những điểm chạm thị giác, Nxb Lao động, Hà Nội.

9 Thủ tướng Chính phủ (2011), Quyết định

số 2473/QĐ-TTg ngày 30/12/2011 về Phê duyệt

Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm

2020, tầm nhìn đến năm 2030.

10 Thủ tướng Chính phủ (2013), Quyết định

số 201/QĐ-TTg ngày 22/01/2013 về Phê duyệt

“Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”.

11 Thủ tướng Chính phủ (2013), Quyết định

số 2151/QĐ-TTg ngày 11/11/2013 Phê duyệt

Chương trình Xúc tiến du lịch quốc gia giai đoạn

2013 - 2020.

12 Trường Đại học Kinh tế quốc dân (2012),

Quản trị quan hệ khách hàng: Lý thuyết và thực tiễn ứng dụng ở Việt Nam, Kỷ yếu hội thảo quốc

gia, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội

Ngày nhận bài: 17 - 12 - 2018 Ngày phản biện, đánh giá: 12 - 6 - 2019 Ngày chấp nhận đăng: 25 - 6 - 2019

Ngày đăng: 24/02/2021, 10:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w